Việc học tiếng Trung hiện đại đã trở thành nhu cầu lớn của nhiều tầng lớp người Việt Nam nhằm để giao lưu, tìm kiếm việc làm.Tiếng Trung cũng có ảnh hưởng lớn đối với tiếng Việt do sự gi
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐẠI NAM KHOA NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA TRUNG QUỐC
ĐỀ TÀI: Đối chiếu đại từ nhân xưng trong tiếng Việt và
tiếng Trung
Giảng viên hướng dẫn : Lê Thị Nhường
Sinh viên thực hiện : Đoàn Thị Huyền
Lớp : TT13-01
Mã sinh viên : 1357020055
Thanh Hóa, ngày 11 tháng 10 năm 2021
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Bố cục của đề tài 2
PHẦN NỘI DUNG 2
I CƠ SỞ LÍ LUẬN 2
1 Khái niệm đại từ nhân xưng 2
2 Chức năng của đại từ nhân xưng 3
3 Một số vấn đề về lý thuyết lịch sự và vai giao tiếp trong ngôn ngữ 4
II CÁC NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CỦA TIỂU LUẬN VỀ ĐẠI TỪ NHÂN XƯNG TRONG TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG TRUNG 5
1 Số lượng đại từ nhân xưng trong tiếng Việt và tiếng Trung 5
2 Chức năng ngữ pháp của đại từ nhân xưng trong tiếng Việt và tiếng Trung8 3 Chức năng lịch sự được thể hiện trong tiếng Việt và tiếng Trung 3.1.Chức năng thể hiện tính lịch sự của đại từ nhân xưng trong tiếng Việt 9
PHẦN KẾT LUẬN 10
TÀI LIỆU THAM KHẢO 11
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Tiếng Trung hiện nay là ngôn ngữ khá thông dụng ở Châu Á và cả trên thị trường quốc tế Các nhà doanh nghiệp Trung Quốc, Đài Loan đã đầu tư làm
ăn tại Việt Nam khá nhiều, dài từ Bắc chí Nam của Việt Nam Việc học tiếng Trung hiện đại đã trở thành nhu cầu lớn của nhiều tầng lớp người Việt Nam nhằm để giao lưu, tìm kiếm việc làm.Tiếng Trung cũng có ảnh hưởng lớn đối với tiếng Việt do sự giao thoa văn hóa lâu đời trong lịch sử của hai nước Hiện nay việc học tiếng Trung cũng trở nên dễ dàng hơn nhờ áp dụng các phương pháp cũng như các môn học bổ trợ cho ngành học này Trong đó có ngôn ngữ học đối chiếu là một bộ phận của ngôn ngữ học, nó nhằm xác định
rõ các đặc điểm của từng ngôn ngữ khi so sánh đối chiếu chúng với nhau để tìm ra những nét tương đồng và khác biệt giữa chúng để góp phần nâng cao việc học ngoại ngữ
Ngôn ngữ ra đời đáp ứng nhu cầu giao tiếp của xã hội Tùy theo hoàn cảnh, nội dung, mục đích giao tiếp mà người giao tiếp lựa chọn cách xưng hô sao cho phù hợp Việc sử dụng các đại từ nhân xưng trong hội thoại là rất quan trọng Bởi vì, các đại từ nhân xưng và lớp từ thể hiện thái độ tình cảm của người nói đối với người nghe hay đối tượng được nói tới
Đại từ nhân xưng tuy là một chủ điểm ngữ pháp nhỏ nhưng lại đóng vai
trò vô cùng quan trọng trong giao tiếp ở bất kỳ ngôn ngữ nào, đặc biệt là trong giao tiếp của người Việt Người nước ngoài nào khi học tiếng Việt cũng đều gặp khó khăn khi sử dụng các đại từ nhân xưng tiếng Việt trong giao tiếp Tương tự như vậy người Việt Nam khi học tiếng Trung cũng gặp phải nhiều khó khăn Vì vậy việc đối chiếu đại từ nhân xưng giữa tiếng Việt và tiếng Trung sẽ giúp những người học tiếng Trung hiểu rõ hơn về cách sử dụng các đại từ nhân xưng khi vận dụng ngôn ngữ này
Trang 42 Mục đích nghiên cứu
Đại từ nhân xưng là bộ phận không thể thiếu trong mỗi ngôn ngữ Vì vậy tôi lựa chọn đề tài: “ Đối chiếu đại từ nhân xưng trong tiếng Việt với tiếng
Trung” với mục đích chỉ ra sự khác nhau và giống nhau trong cách xưng hô cũng như văn hóa giao tiếp của người Việt và người Trung, miêu tả và phân tích cách sử dụng của các đại từ nhân xưng tiếng Trung trong các tình huống giao tiếp cụ thể, đồng thời đối chiếu các đại từ đó với các đại từ nhân xưng tương đương trong tiếng Việt để thấy được những điểm tương đồng cũng như những điểm khác biệt trong các ngôn ngữ này
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Tìm hiểu về các đại từ nhân xưng trong tiếng Việt và tiếng Trung, đồng thời
so sánh sự giống và khác nhau thông qua số lượng và chức năng của đại từ nhân xưng giữa tiếng Việt và tiếng Trung
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong tiểu luận này tôi sử dụng các phương pháp, thủ pháp sau đây:
- Phương pháp so sánh, đối chiếu
- Phương pháp miêu tả
- Phương pháp phân tích
- Phương pháp cải biến
- Phương pháp thống kê
5 Bố cục của đề tài
Tiểu luận này chúng tôi chia thành 3 phần :
Phần 1: Phần mở đầu
Phần 2: Phần nội dung
Phần 3: Phần kết luận
Trang 5PHẦN NỘI DUNG
I CƠ SỞ LÍ LUẬN
1 Khái niệm đại từ nhân xưng
Việc nghiên cứu các đại từ nhân xưng và lớp từ xưng hô trong tiếng Việt được rất nhiều nhà Việt ngữ quan tâm Mỗi tác giả đưa ra những khái niệm và cách phân loại khác nhau
- Bùi Minh Toán trong “Giáo trình ngữ pháp tiếng Việt 2007 Hà Nội:
NXBĐHSP” cho rằng: “Các đại từ xưng hô, người nói tự xưng (tôi, tao, chúng ta, chúng mình, chúng tớ), người nói gọi người nghe (mày, chúng mày, mi,…) hoặc chỉ người được nói tới (nó, hắn, thị, y, chúng, nó) Ngoài ra, trong tiếng Việt, nhiều danh từ chỉ quan hệ thân tộc được dùng như đại từ xưng hô: Ông, bà, anh, chị, em, cháu,…(dùng rộng trong giao tiếp xã hội) Trong đó, các đại từ xưng hô của tiếng Việt cũng phân biệt theo ngôi và số Còn các danh từ thân tộc dùng để xưng hô trong gia đình và trong xã hội không phân biệt theo ngôi, cùng một từ có thể dùng cả ba ngôi, tùy theo tình huống giao tiếp
- Nguyễn Hữu Quỳnh (1994: 163) quan niệm:" Đại từ xưng hô là đại từ
được dùng để xưng hô hoặc thay thế và trỏ người Đại từ xưng hô trong tiếng Việt gồm các đại từ chuyên dùng để xưng hô và các đại từ xưng hô lâm thời, mượn các danh từ biểu thị quan hệ thân thuộc hay quan hệ xã hội"
- Nguyễn Kim Thản trong “Nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt 1997 Hà
Nội: NXBGD” đã khái quát và chia đại từ thành hai loại: Đại từ thể từ và đại
từ vị từ Đại từ nhân xưng là một bộ phận của đại thể từ (bên cạnh đại từ qua lại, đại từ số từ và đại từ chỉ định) Ông cho rằng: “Đại từ nhân xưng dùng để trỏ người hay động vật, vật thể Đặc điểm ngữ pháp của nó giống đặc điểm ngữ pháp của danh từ ở chỗ không thể trực tiếp làm vị ngữ mà phải có hệ từ”
Ví dụ: Ta là ta, không thể là ai
Trang 6- Đinh Trọng Lạc trong “Phong cách học tiếng Việt 2004 Hà Nội: NXBGD.” cho rằng: “Bên cạnh các đại từ nhân xưng (tôi, tao, mày, nó, hắn,…) trong tiếng Việt còn dùng những từ chỉ quan hệ gia đình huyết tộc (ông, bà, cha,
mẹ, con, cháu) để xưng hô” Đinh Trọng Lạc chú trọng phân tích sắc thái biểu cảm của hệ thống đại từ nhân xưng tiếng Việt Ông cũng nhấn mạnh một số điểm cần lưu ý là: “Các đại từ nhân xưng của tiếng Việt không có sắc thái trung tính như trong tiếng Pháp, Nga, Hán,…”
Ông cũng miêu tả cách sử dụng các từ xưng hô và đại từ nhân xưng trong một
số tình huống thân mật, tình huống xã giao và tình huống thông báo khách quan
Thông qua công trình nghiên cứu chả mỗi tác giả tôi nhận thấy : Mỗi tác giả tuy có những khái niệm khác nhau nhưng hầu như đều cùng quan điểm khi cho rằng: Bên cạnh các đại từ nhân xưng đích thực, người Việt còn sử dụng các lớp từ khác dùng làm phương tiện xưng hô Đại từ nhân xưng là lớp
từ dùng để thay thế, chỉ trỏ đối tượng giao tiếp ở một ngôi xác định tương ứng với cương vị nói, nghe và cương vị được nói đến Hơn nữa, việc sử dụng các đại từ nhân xưng và lớp từ xưng hô còn thể hiện thái độ, tình cảm của người nói đối với người nghe hay đối tượng được nói đến
2 Chức năng của đại từ nhân xưng
Theo tác giả Tô Thị Kim Nguyên"1999 Chức năng xưng hô của danh từ, danh ngữ trong tiếng Việt Luận văn Thạc sĩ khoa học ngành Lí luận ngôn ngữ Trường Đại học Khoa học Huế ".Tác giả nghiên cứu các danh từ, danh ngữ được dùng làm phương tiện xưng hô trong tiếng Việt và giá trị ngữ nghĩa ngữ dụng của các danh từ, danh ngữ này trong các phong cách ngôn ngữ Tác giả cũng nhấn mạnh việc dùng các đại từ nhân xưng trong giao tiếp không thật phổ biến Do vậy, người Việt có xu hướng sử dụng các danh từ, danh ngữ làm phương tiện xưng hô Hơn nữa, các danh từ, danh ngữ khi thực hiện chức
Trang 7năng xưng hô thì sắc thái biểu cảm của chúng cũng rất đa dạng và phong phú
Có được điều này còn tùy thuộc vào mục đích, hoàn cảnh, đối tượng giao tiếp, tức là ai nói, nói với ai và nói trong hoàn cảnh như thế nào?
3 Một số vấn đề về lý thuyết lịch sự và vai giao tiếp trong ngôn ngữ
3.1 Lý thuyết lịch sự trong ngôn ngữ học
Lịch sự là một phạm trù gắn liền với lịch sử phát triển của các nền văn hoá, trong đó phản ánh các nền nếp văn hoá của dân tộc Mặt khác, lịch sự cũng gắn với sự phát triển văn hoá của từng cá nhân Như vậy, lịch sự được thực hiện bởi từng cá nhân trong từng nền văn hoá cụ thể Các chiến lược lịch sự là những phương thức mà mỗi cá nhân ý thức được trong nền văn hoá của mình
và cố gắng thực hiện chúng, nhưng việc thực hiện các chiến lược lịch sự phải được cộng đồng chấp nhận, tức là phải tuân theo các chế định xã hội Do đó một hành vi lịch sự ở nơi này lại có thể không phải là thích hợp với cách quan niệm về lịch sự ở một miền đất khác Mỗi dân tộc đều có những quan niệm khác nhau về tính lịch sự trong giao tiếp
Vấn đề lịch sự trong giao tiếp được các nhà ngôn ngữ học đặc biệt quan tâm
từ những năm 70 của thế kỷ XX Kể từ đó tới nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này Có thể kể đến những công trình của các tác giả như Brown và Levinson, Kerbrat - Orecchioni, Leech, Grice.Leech cho rằng các hoạt động giao tiếp phải tuân theo một quy tắc cơ bản: “Hãy lịch sự”, đó chính là các nguyên tắc lịch sự (Principles of Politeness) Nguyên tắc này không liên quan đến khái niệm thể diện mà liên quan đến khái niệm cái mất
và cái được (Leech, 1983: 132)
Theo Penelope Brown và Stephen Levinson, ý niệm về lịch sự bao giờ cũng gắn liền với ý niệm về thể diện vốn có tính phổ quát trong nhân loại(Brown P and Levinson S., 1987) Ý niệm về thể diện thì bao giờ cũng gắn liền với những niềm tin và những bảng giá trị nhất định Các niềm tin và bảng giá trị
Trang 8này thay đổi theo từng nền văn hoá, và trong mỗi nền văn hoá, thay đổi theo từng giai đoạn lịch sử
Như vậy, lịch sự là một nhân tố quan trọng trong giao tiếp xã hội Phép lịch
sự thể hiện qua mối quan hệ liên nhân trong tương tác, làm cho cuộc tương tác xã hội được hài hoà, các cá nhân tham dự cảm thấy dễ chịu, thoải mái và góp phần đưa cuộc tương tác đến thành công Do đó, để có thể tiếp xúc liên văn hoá, người học cần phải tìm hiểu, ngay từ đầu, các nguyên tắc lịch sự của ngôn ngữ mà mình đang học
3.2 Vai giao tiếp
Để có thể giao tiếp được với nhau, giữa những người tham gia giao tiếp phải
có một mối quan hệ qua lại nhất định, đó chính là quan hệ giao tiếp Quan hệ giao tiếp được xây dựng trên cơ sở hệ thống các mối quan hệ xã hội chung, trên cơ sở cấu trúc của xã hội đó
“Khi nói đến quan hệ giao tiếp là muốn nói đến mối quan hệ giữa các thành viên tham gia một cuộc giao tiếp cụ thể Là một “thực thể đa chức năng”, mỗi một người có rất nhiều vai từ ở trong gia đình đến ra ngoài xã hội”
(Nguyễn Văn Khang, 1999: 199) Một người đàn ông ở trong gia đình là cha trong quan hệ với con, là con trong quan hệ với cha, là chồng trong quan hệ với vợ, là anh trong quan hệ với em… Ở ngoài xã hội, anh ta có thể là thủ trưởng đối với nhân viên cấp dưới, nhưng lại là nhân viên trong quan hệ với thủ trưởng cấp trên, là thầy giáo trong quan hệ với học sinh… Tất cả những mối quan hệ đan xen ấy làm nên một mạng các quan hệ với rất nhiều vai khác nhau
Hoạt động giao tiếp bao gồm các nhân tố: nhân vật giao tiếp, thực tế được nói tới, hoàn cảnh giao tiếp, hệ thống tín hiệu được sử dụng làm công cụ Trong giao tiếp, nhân vật giao tiếp luôn phải lựa chọn sẽ nói gì, nói như thế nào và muốn có một sự lựa chọn đúng, người tham gia giao tiếp không thể không tính đến mối quan hệ giữa bản thân với các thành viên tham gia giao tiếp
Trang 9Các nhà ngôn ngữ học đã sử dụng thuật ngữ vai giao tiếp để thể hiện vị thế xã hội của nhân vật hội thoại Có thể nói, vai giao tiếp là cơ sở mà các nhân vật hội thoại dựa vào để tổ chức và biểu hiện vị thế xã hội của mình trong giao tiếp Vị thế xã hội có thể phụ thuộc vào giới tính và tuổi tác Căn cứ vào tuổi tác thì những người nhiều tuổi hơn ở bậc trên những người ít tuổi hơn Các cặp xưng hô trong tiếng Việt như: ông – cháu, chú – cháu, anh – em, chị - em, bác – tôi… phản ánh sự khác biệt về tuổi tác của các nhân vật giao tiếp
Như vậy, “vai giao tiếp” là một khái niệm đặc biệt quan trọng trong giao tiếp của người Việt Nguyễn Văn Khang quy mối quan hệ giữa bản thân người nói
và các thành viên giao tiếp về hai mối quan hệ chính: quan hệ quyền thế và quan hệ kết liên Người nói phải xác định được vai của người tham dự giao tiếp ở vào một quan hệ nào đó thì sẽ có sự lựa chọn phong cách ngôn ngữ tương ứng để giao tiếp sao cho thoả đáng Nếu vai của người giao tiếp ở vào quan hệ quyền thế thì phải chọn phong cách ngôn ngữ tương đối chính thức, còn khi vai của người giao tiếp ở vào quan hệ kết liên thì phong cách ngôn ngữ có phần tuỳ tiện, thoải mái hơn
II CÁC NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CỦA TIỂU LUẬN VỀ ĐẠI TỪ NHÂN XƯNG TRONG TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG TRUNG
1 Số lượng đại từ nhân xưng trong tiếng Việt và tiếng Trung
1.1 Đại từ nhân xưng trong Tiếng Việt
- Đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất:
+ Đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất số ít ( chỉ người đang nói):
Đối với ngôi thứ nhất số ít Khi nói chuyện với mọi người, tùy trường hợp, tương quan tuổi tác, liên hệ bà con, mức độ thân sơ, mà tự xưng bằng những đại từ nhân xưng khác nhau:
"Tôi", "tớ", "mình", "tao", "tau" với người bằng tuổi, ngang hàng hoặc bề trên đối với bề dưới
Trang 10"Con", với ông bà, cha mẹ, những người bà con ngang vai với ông bà cha mẹ, với thầy cô giáo; với những người già
"Cháu", với ông bà, chú bác cô dì, với những người ngang tuổi với ông bà cha mẹ
"Em", với anh chị; với những người hơn tuổi, hơn chức phận, với chồng (nếu người nói là nữ), hoặc người đàn ông nào mà đương nhân muốn dùng tiếng xưng hô này để biểu lộ tình cảm, với thầy cô giáo
"Anh", "chị" với các em, với những người mà đương sự coi là đàn em của mình
"Cô", "dì", "bác", "thím", "chú", "cậu", "mợ", với các cháu theo tương quan
họ hàng, với người nhỏ tuổi được đương sự coi như con cháu
" Ông, bà " đối với cháu chắt
"Mẹ", "má", "me", "ba", "bố", "tía", "cha", "dượng", "dì ", với các con
"Tôi", với tất cả mọi người khi bản thân lớn hơn hoặc ngang bằng
"Tao", "ta", với một số người khi đương sự không cần giữ lễ, hoặc muốn biểu
lộ uy quyền, hoặc sự tức giận, hỗn láo,
" Người ta" đối với vai vế ngang hàng, trong quan hệ gần gủi( trường hợp muốn bộc lộ sự giận dỗi )
Bên cạnh đó cũng có nhiều đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất dùng để chỉ về bản thân đặt trong mối liên hệ với tuổi tác, học vị, tôn giáo, chức vụ phần nhiều
có nguồn gốc từ Hán Việt như trẫm, bổn cung, bần tăng, bần ni, bần đạo, bổn quan, bổn công tử, bổn cô nương, bổn tướng, huynh, đệ, tỷ, muội, tại hạ, đệ tử
+ Đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất số nhiều: chúng tôi, chúng tao, chúng tớ, chúng mình, chúng ta, chúng em, bọn tao, bọn tau, bọn mình, bọn anh, bọn chị, bọn em, bọn chú, bọn bác, bọn dì,
- Đại từ nhân xưng ngôi thứ hai: