Đô thị có những đặc điểm sau đây:Thứ nhất: Là nơi cơ sở hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội phát triển có tính liên thông, đồng bộ.Thứ hai: Là nơi tập trung dân cư với mật độ rất cao, tối thiểu phải đạt mức nhất định tùy vào các quy ước mang tính chủ quan mà Nhà nước đặt ra.Thứ ba: Là nơi lực lượng sản xuất và phát triển được tập trung rất cao.Thứ tư: Là nơi có nếp sống, văn hóa của thị dân gắn liền với đặc điểm sinh hoạt, giao tiếp rất đặc thù khác với nông thôn.Thứ năm: Là nơi dễ tập trung, phát sinh các tệ nạn xã hội là thử thách đối với công tác quản lý.Thứ 6: Có địa giới hành chính và điều kiện sinh sống của người dân khá chật hẹp so với địa bàn nông thôn
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 2
1 Đặc điểm lịch sử hình thành và tính chất nổi bật của đô thị Việt Nam truyền thống 2
1.1 Đặc điểm lịch sử hình thành của đô thị Việt Nam truyền thống 2
1.1.1 Đặc điểm của đô thị 2
1.1.2 Lịch sử hình thành đô thị 3
1.2 Tính chất nổi bật của đô thị Việt Nam truyền thống 4
2 Liên hệ đô thị Hà Nội 10
2.1 Lịch sử hình thành đô thị Hà Nội 10
2.2 Các tính chất nổi bật của Hà Nội 14
KẾT LUẬN 20
Trang 3MỞ ĐẦU
Đô thị là nơi tập trung đông đúc dân cư chủ yếu là lao động phi nông nghiệp, cư dân sống và làm việc theo phong cách và lối sống khác ở nông thôn Lối sống ở đô thị được đặc trưng bởi những đặc điểm có nhu cầu cao tiếp thu nền văn hóa văn minh nhân loại nhanh chóng có đầu tư cơ sở hạ tầng, kinh tế
xã hội đầy đủ và thuận tiện
Ở góc độ xã hội, “Đô thị là một không gian cư trú của cộng đồng người sống tập trung và hoạt động trong những khu vực kinh tế phi nông nghiệp”
Ở góc độ pháp lý, đô thị được Luật Quy hoạch đô thị quy định như sau:
“Đô thị là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hóa hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế-
xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương, bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố, nội thị, ngoại thị của thị xã, thị trấn" Vì vậy
em xin chọn đề tài“đặc điểm lịch sử hình thành và tính chất nổi bật của đô thị
việt nam truyền thống.” Bài được vận dụng những kiến thức được học trong
học phần văn hóa nông thôn và đô thị để nêu ra những đặc điểm, lịch sử hình thành và tính chất nổi bật của đô thị việt nam truyền thống
Trang 4NỘI DUNG
1 Đặc điểm lịch sử hình thành và tính chất nổi bật của đô thị Việt Nam truyền thống
1.1 Đặc điểm lịch sử hình thành của đô thị Việt Nam truyền thống
1.1.1 Đặc điểm của đô thị
Theo đại từ điển Tiếng Việt, đô thị có thể hiểu là “nơi đông dân, tập trung buôn bán như thành phố, thị xã.”
Đô thị là nơi tập trung đông đúc dân cư chủ yếu là lao động phi nông nghiệp, cư dân sống và làm việc theo phong cách và lối sống khác ở nông thôn Lối sống ở đô thị được đặc trưng bởi những đặc điểm có nhu cầu cao tiếp thu nền văn hóa văn minh nhân loại nhanh chóng có đầu tư cơ sở hạ tầng, kinh tế
xã hội đầy đủ và thuận tiện
- Đô thị có những đặc điểm sau đây:
Thứ nhất: Là nơi cơ sở hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội phát triển có tính liên thông, đồng bộ
Thứ hai: Là nơi tập trung dân cư với mật độ rất cao, tối thiểu phải đạt mức nhất định tùy vào các quy ước mang tính chủ quan mà Nhà nước đặt ra
Thứ ba: Là nơi lực lượng sản xuất và phát triển được tập trung rất cao Thứ tư: Là nơi có nếp sống, văn hóa của thị dân gắn liền với đặc điểm sinh hoạt, giao tiếp rất đặc thù khác với nông thôn
Thứ năm: Là nơi dễ tập trung, phát sinh các tệ nạn xã hội là thử thách đối với công tác quản lý
Thứ 6: Có địa giới hành chính và điều kiện sinh sống của người dân khá chật hẹp so với địa bàn nông thôn
Trang 51.1.2 Lịch sử hình thành đô thị
Các đô thị Việt Nam ban đầu được hình thành trên cơ sở các trung tâm chính trị và quân sự, ở đó các tòa thành phục Vị cho mục đích phòng thủ và bên trong là nơi đồn trú của các thế lực phong kiến Bên cạnh phần "độ" còn tồn tại phần " thị ", là nơi tập trung các thợ thủ công sản xuất ra các hàng hóa tiêu dùng và những cư dân làm nghề buôn bán trao đổi hàng hóa cần thiết, đó
là những người không sản xuất nông nghiệp Như vậy thành thị đã ra đời, mang tính chất quân sự và kinh tế Các trung tâm này đóng vai trò chủ đạo của cả nước hay chỉ là trung tâm các địa phương Đó là các kinh đô của các triều đại phong kiến như Cổ Loa, Thăng Long, Huế và các ly sở cuả quan lại địa phương như tình ly, huyện ly, phủ ly như Nam Định, Sơn Tây, Bắc Ninh Trong điều kiện nền kinh tế hàng hóa chưa phát triển tính chất chính trị quân sự chi phối và trội
hơn tính chất kinh tế thương nghiệp
Theo tài liệu của Viện Sử học Việt Nam, đô thị đầu tiên ở Việt Nam xuất hiện khá muộn so với các nước trên thế giới và các đô thị cổ sau khi hình thành cũng không có sự phát triển liên tục mà thường thăng trầm cùng với sự thay đổi địa điểm kinh đô của các triều đại khác nhau Điều này cho phép các học giả đưa ra tổng kết quan trọng về lịch sử và tính chất của đô thị Việt Nam, đó là sự phát triển hay lụi tàn của các đô thị Việt Nam mang nhiều dấu ấn hành chính – chính trị hơn là thương mại, dịch vụ như nguyên lý ra đời đô thị ở hầu hết các nước, tức yếu tố “đô” trong “đô thị” lấn át yếu tố “thị” vốn là cơ bản để tạo thành đô thị
Đô thị ở Việt Nam hiện nay được tổ chức rải đều cả nước, chủ yếu theo không gian chùm đô thị Theo đó, chùm đô thị phía Bắc tập trung ở khu vực sông Hồng, nổi bật là TP Hà Nội, chùm đô thị phía Nam là khu vực đồng bằng sông Cửu Long với đô thị trung tâm là TP Hồ Chí Minh
Trang 61.2 Tính chất nổi bật của đô thị Việt Nam truyền thống
* Hình thành do nhà nước lập ra và quản lý khai thác
Theo Nghị định 42/2009/NĐ-CP ngày 07/5/2009 của Chính phủ quy định, đô thị là điểm dân cư tập trung các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, hội tụ đầy đủ các tiêu chuẩn do Nhà nước quy định, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một vùng lãnh thổ nhất định
Chính phủ thống nhất quy định về lập, trình và xét duyệt quy hoạch xây dựng đô thị trong phạm vi cả nước như sau:
- Lập quy hoạch:
+ Bộ Xây dựng lập và thẩm định đồ án quy hoạch chung đô thị loại đặc biệt, loại I, II và các loại khác khi cần thiết
+ Văn phòng kiến trúc sư trưởng và Sở Xây dựng lập và thẩm định đồ
án quy hoạch chung các đô thị còn lại, quy hoạch chi tiết của các đô thị
+ Ủy ban nhân dân các thành phố thuộc tỉnh, thị xã, huyện trình Ủy ban nhân dân tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương phê duyệt các đồ án quy hoạch chung các đô thị còn lại (từ loại III đến loại V) và các quy hoạch chi tiết của các đô thị Trước khi Ủy ban nhân dân tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương phê duyệt các đồ án quy hoạch chung đô thị loại III, IV, quy hoạch chi tiết trung tâm đô thị loại đặc biệt, I, II và các quốc lộ đi qua các đô thị tỉnh lỵ
Trang 7phải có ý kiến của Bộ Xây dựng bằng văn bản Trách nhiệm và quyền hạn quản
lý quy hoạch, xây dựng và kiến trúc đô thị của các cấp chính quyền:
- Chính phủ thống nhất quản lý quy hoạch xây dựng và kiến trúc đô thị trên địa bàn cả nước
- Các Bộ, ban, ngành có liên quan ở Trung ương giúp Chính phủ quản lý quy hoạch, xây dựng và kiến trúc đô thị trong phạm vi cả nước, trong đó Bộ Xây dựng có trách nhiệm ban hành các thông tư hướng dẫn thực hiện các quyết định của Chính phủ về quản lý quy hoạch xây dựng và kiến trúc đô thị
- UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm quản
lý quy hoạch xây dựng và kiến trúc đô thị trên địa bàn mình phụ trách
- Các sở, ban, ngành của địa phương, trong đó có Sở Quy hoạch Kiến trúc và Sở Xây dựng có trách nhiệm giúp UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện các quy định của Chính phủ, UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và bộ, ngành về quản lý quy hoạch xây dựng và kiến trúc đô thị theo sự ủy quyền của UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
- Các cơ quan chuyên môn có trách nhiệm giúp UBND các cấp tương ứng quản lý quy hoạch, xây dựng và kiến trúc đô thị theo sự ủy quyền của UBND và các cơ quan chuyên môn cấp trên
* Hoạt động nội thương là chủ yếu
Hoạt động nội thương hay còn gọi là thương mại nội địa phục vụ nhu cầu của ngườ tiêu dùng, đi lại, văn hóa trong nước Do vậy những nơi như đô thị thì kinh tế phát triển hoặc mức sống của người dân cao thì nhu cầu chi tiêu cho mua sắm sẽ lớn, ngành nội thương sẽ phát triển ở đô thị Nội thương phát triển được phải dựa vào sự tiến bộ của giao thông vận tải phù hợp vì các đô thị
Trang 8lớn có kinh tế phát triển lại đông dân cư, chất lượng cuộc sống cao và cơ sở hạ tầng tốt hơn các vùng khác
Hà Nội và TP Hồ Chí Minh là hai trung tâm thương mại, dịch vụ lớn và
đa dạng nhất nước ta bao gồm các trung tâm thương mại và các khu chợ như: chợ Đồng Xuân Hà Nội, trung tâm thương mại Tràng Tiền Hà Nội, chợ Bến Thành TP Hồ Chí Minh, trung tâm thương mại Sài Gòn
Thời gian gần đây, trung tâm thương mại không chỉ là nơi mua sắm thời trang, mà còn kết hợp với các siêu thị mini trong mua bán hàng tiêu dùng và thực phẩm Nhờ đó, mua sắm trong trung tâm thương mại rất tiện lợi, giúp tiết kiệm thời gian và chi phí đi lại rất nhiều Hàng hóa, dịch vụ kinh doanh tại siêu thị, trung tâm thương mại cũng bảo đảm đúng các quy định của pháp luật và thực hiện những yêu cầu cụ thể sau đây:
+ Có tên thương mại riêng hoặc tên thương mại của siêu thị hay trung tâm thương mại Nếu hàng hóa, dịch vụ không có tên thương mại riêng phải có tên hàng hóa, dịch vụ Phải ghi rõ xuất xứ của hàng hóa theo quy định của pháp luật
+ Có mã số, mã vạch đối với những loại hàng hóa có thể đăng ký mã số,
mã vạch Điều này giúp công tác quản lý sản phẩm và giám sát của khách hàng thuận lợi hơn
+ Ðối với hàng hóa là thực phẩm phải bảo đảm các tiêu chuẩn vệ sinh,
an toàn thực phẩm và ghi rõ thời hạn sử dụng trên bao bì đóng gói Nếu là nông sản, thực phẩm ở dạng tươi hoặc sơ chế không có bao bì đóng gói sẵn thì phải qua chọn lọc, phân loại, ghi rõ xuất xứ, chất lượng và thời hạn sử dụng tại giá hàng, quầy hàng
+ Tất cả các loại hàng hóa, dịch vụ kinh doanh tại siêu thị, trung tâm thương mại phải có giá bán được thể hiện rõ ràng trên nhãn hàng hóa, bao bì
Trang 9hàng hóa Nếu không, giá phải được niêm yết tại quầy hàng, điểm kinh doanh dịch vụ
+ Hàng hóa có bảo hành phải ghi rõ thời hạn và địa điểm bảo hành Qua đó chúng ta có thể thấy được tầm quan trọng của hoạt động nội thương ở đô thị Nội thương làm nhiệm vụ trao đổi hàng hóa, dịch vụ trong một quốc gia Nó đóng góp một sự phát triển không hề nhỏ và góp phần đẩy mạnh chuyên môn hóa sản xuất và phân công lao động theo vùng và lãnh thổ
* Tính cố kết lỏng lẻo
Công dân ở những đô thị mới này trở thành thị dân - người sống ở đô thị, không phải vì nhu cầu tự thân về nghề nghiệp mà họ trở thành thị dân bằng tài sản của họ, bằng tiền mua chung cư và nơi ở của họ đúng nghĩa chỉ là nơi sống sau những giờ làm việc ở môi trường khác Ngoài quan hệ ở cùng một khu vực sinh tồn ra, họ rất ít có quan hệ khác Yếu tố gắn kết cộng đồng ở đây rất mờ nhạt Và văn hóa cộng đồng ở đô thị mới mang tính pha tạp rất rõ, nó chưa định hình như những gì nảy sinh do nhu cầu cộng sinh bền vững trong quá khứ
Theo E Durkheim chính sự cố kết xã hội lỏng lẻo là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến quyết định tự tử của cá nhân Sự liên kết cá nhân với kiểm soát xã hội phải ở mức độ vừa phải, quá chặt chẽ hay quá lỏng lẻo đều khiến cá nhân rơi vào trạng thái cô đơn hoặc tuyệt vọng, sợ hãi và dẫn đến quyết định tự tử
Trong điều kiện và môi trường đô thị, con người phát hiện thêm nhiều năng lực ứng xử của mình Do đó có thể thúc đẩy sự phát triển văn hóa đô thị, song không phải lúc nào cũng theo hướng tiến bộ Trong sự phát triển văn hóa
đô thị không tránh được những chiều cạnh phát triển phi tiến bộ, phản tiến bộ
Vì thế trong cái gọi là văn hóa thị dân có cả những phản giá trị, phi giá trị, ví
Trang 10dụ thú tiêu khiển cờ bạc, nghiện hút, mại dâm Đây là kết quả và sự thể hiện tính hai mặt trong nhân cách người dân đô thị
Tính chất và cách thức ứng xử ở đô thị khác nông thôn, vì thường thiên
về quan hệ pháp luật, thị trường và thường phát triển hơn ở nông thôn, do đó khả năng khách quan hóa các quan hệ ứng xử của cư dân đô thị thường cao hơn Kết quả là văn hóa ứng xử ở đô thị thường lạnh lùng và ẩn danh hơn; cái tình người ẩn dưới những ứng xử mang tính khách quan, tính cưa đứt đục suốt
Mức độ cố kết của con người do đặc trưng của lối sống đô thị đã dẫn đến tính chất mối quan hệ xã hội, tất nhiên, cũng khác nhau giữa những con người sống trong một khu vực Xem xét trường hợp cụ thể ở TP.HCM nói riêng và các thành phố khác ở Việt Nam nói chung, có thể thấy một thực trạng là hiện nay, ngoài các công cụ mạng xã hội được xem như không gian công cộng phi vật thể để con người tương tác, kết nối nhau thì hầu như các không gian công cộng vật thể khác đang rất thiếu hoặc không đảm bảo chất lượng để phát huy hết vai trò của nó là mang con người đến gần nhau, một chất keo kết nối giúp con người có cơ hội tiếp xúc nhau, giảm tính phi định danh vốn có của đặc trưng đời sống đô thị
Nhưng nếu không gian công cộng mang đến nơi chốn cho con người gặp
gỡ, gắn kết với nhau Thông qua tương tác xã hội giúp con người khám phá được chính mình, người khác, và về môi trường sống mà mình thuộc về, giúp
họ có cảm giác liên kết cá nhân trong thế giới đầy biến đổi Từ đó nó tiến tới một bước quan trọng trong việc cố kết xã hội Hay nói cách khác đây chính là môi trường xã hội hóa của các cá nhân trong xã hội Nhìn chung tất cả những vai trò tổng hợp trên của không gian công cộng phục vụ cho con người và trở thành một thành tố không thể thiếu trong các xã hội và các thành phố Những vai trò này, nếu được thể hiện một cách rõ nét, sẽ mang đến một thành phố đẹp trong sự hài hòa, nên thơ, sinh động, tạo nên một nét riêng, một ấn tượng riêng
Trang 11đối với từng cá nhân đô thị Do vậy sự cố kết cộng đồng trong đô thị là rất quan trọng, nó mang con người đến gần nhau hơn
* Phân công lao động không rõ ràng, triệt để và chịu sự chi phối của nông thôn
rõ nét
Phân công lao động là sự phân chia lao động để sản xuất ra một hay nhiều sản phẩm nào đó mà phải qua nhiều chi tiết, nhiều công đoạn cần nhiều người thực hiện Có hai loại phân công lao động, đó là:
Thứ nhất, phân công lao động cá biệt là chuyên môn hóa từng công đoạn của quá trình sản xuất trong từng công ty, xí nghiệp, cơ sở Ví dụ sản xuất ra cái bàn thì cần người cưa, người bào, người đục Sản phẩm của họ làm ra chỉ nhằm thỏa mãn trực tiếp nhu cầu tiêu dùng của người sản xuất Vì vậy, kiểu sản xuất này được gọi là sản xuất tự cấp tự túc, do đó sản phẩm của họ làm ra không có tính trao đổi hoặc mua bán trên thị trường nên chưa được gọi là hàng hóa
Thứ hai, Phân công lao động xã hội là chuyên môn hóa từng ngành nghề trong xã hội để tạo ra sản phẩm ví dụ như sản xuất một chiếc xe máy, các chi tiết như lốp xe, sườn, đèn, điện mỗi chi tiết phải qua từng công ty chuyên sản xuất chi tiết đó cung cấp, sau đó mới lắp ráp thành chiếc xe máy Các sản phẩm này không còn giới hạn ở nhu cầu sử dụng của người sản xuất mà nó được trao đổi, mua bán, được lưu thông đến người sử dụng trong xã hội, lúc này sản phẩm
đó được gọi là hàng hóa
Phân công lao động có tác dụng mạnh mẽ đối với sản xuất, thúc đẩy kỹ thuật sản xuất phát triển, trước hết là thúc đẩy sử cải tiến của công cụ sản xuất, nâng cao năng xuất lao động Mác nói: “ sức sản xuất lao động nhất thiết phụ thuộc chủ yếu vào sự phân công lao động”, “sự phân công lao động đó làm cho người ta có thể sản xuất nhanh hơn do đó cũng rẻ hơn” Phân công lao động
Trang 12gắn liền chặt chẽ với công cụ sản xuất Khi nền sản xuất mới xuất hiện thì phân công lao động cũng phải đạt được trình độ tương ứng với nền sản xuất ấy
Khía cạnh này trung tâm của "sự kiểm soát" được thỏa thuận trong quan
hệ người lao động và người sử dụng lao động Đây là quyền của người sử dụng lao động trong việc xác định khi nào và địa điểm công việc được thực hiện, chứ không đơn giản chỉ là cách thức thực hiện công việc
- Do việc phân công lao động không rõ ràng đã ảnh hưởng đến kinh tế
đô thị và chịu sự chi phối của nông thôn ảnh hưởng đến tác phong của người lao động qua một số khía cạnh:
+ Khi phân công lao động không rõ ràng sẽ khiến cho giờ giấc làm việc thất thường Nếu phân công lao động không rõ ràng, triệt để sẽ khiến cho các sản phẩm đến tay người tiêu dùng không được như ý muốn
+ Làm việc có tính bảo thủ cao khiến cho tư duy làm việc hạn hẹp không
có sự đột biến
+ Giải quyết lấy được (làm liều, làm càn)
+ Giải quyết tình thế, lấy cái lợi trước mắt làm đầu, không chú ý đến mối lợi lâu dài sau này; lấy sự tiện lợi của mình làm trọng, không tính đến quyền lợi của người khác (vụ lợi, ích kỷ, thiếu tính cộng đồng)
2 Liên hệ đô thị Hà Nội
2.1 Lịch sử hình thành đô thị Hà Nội
Hà Nội là thủ đô của Việt Nam, là một trong hai thành phố trực thuộc trung ương của miền bắc Hà Nội là thành phố có diện tích lớn nhất Việt Nam, đồng thời cũng là thành phố có mật độ cao thứ hai trong 63 đơn vị hành chính cấp tỉnh Đây là nơi tập trung nhiều làng nghề truyền thống, đồng thời cũng là một trong ba vùng tập trung nhiều hội lễ của miền Bắc Việt Nam Nền ẩm thực