KHẢO SÁT VIỆC LƯU HÀNH NHÓM THUỐC GIẢM ĐAU HẠ SỐT TẠI MỘT SỐ NHÀ THUỐC QUẬN THANH KHÊ THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG BA THÁNG ĐẦU NĂM 2019 GV hướng dẫn: Phạm Tiến Dũng Khoa Dược – Đại học Duy Tân ĐÀ NẴNG, 2019 Trong thời gian làm đồ án, chúng em đã nhận được nhiều sự giúp đỡ từ Ban Giám hiệu nhà trường, đóng góp ý kiến và chỉ bảo tận tình từ các thầy cô và bạn bè. Chúng em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sự tri ân sâu sắc đến các thầy cô khoa Dược trường Đại học Duy Tân. Đặc biệt, chúng em xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy Phạm Tiến Dũng, giảng viên bộ môn PBL 496, người đã trực tiếp giúp đỡ, tận tình truyền đạt kiến thức cho chúng em hoàn thành tốt đồ án. Chúng em xin gửi lời cảm ơn đến các cô, chú, anh, chị phụ trách nhà thuốc và các anh, chị trình dược viên – những người đã nhiệt tình giúp đỡ, đã tạo điều kiện thuận lợi, giúp đỡ chúng em trong suốt quá trình thực hiện, hoàn chỉnh đồ án. Vì kiến thức còn hạn chế, trong quá trình thực hiện khó tránh khỏi những sai sót, rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của quý thầy cô và các bạn học cùng lớp để kiến thức của chúng em trong lĩnh vực này được hoàn thiện hơn. Chúng em xin chân thành cảm ơn! Đà Nẵng, tháng 06 năm 2019. Thực hiện Nhóm 8 DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT DANH MỤC CÁC BẢNG DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ ĐẶT VẤN ĐỀ 1 Chương 1. TỔNG QUAN 3 1.1. Đại cương về nhóm thuốc giảm đau hạ sốt 3 1.1.1. Định nghĩa 3 1.1.2. Tác dụng và cơ chế tác dụng. 3 1.1.3. Phân loại. 4 1.1.4. Một số thuốc chính 5 1.2. Đại cương về một số dạng bào chế thuốc giảm đau hạ sốt 9 1.2.1. Thuốc viên nén 9 1.2.2. Thuốc viên nang. 10 1.2.3. Thuốc đặt. 10 1.2.4. Thuốc dán tác dụng tại chỗ 11 1.2.5. Thuốc bột – thuốc cốm 12 1.2.6. Dung dịch thuốc – Siro thuốc 12 Chương 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14 2.1. Đối tượng nghiên cứu 14 2.2. Nội dung nghiên cứu 14 2.3. Phương pháp nghiên cứu 15 Chương 3. KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 17 3.1. Đặc điểm của các chế phẩm giảm đau hạ sốt lưu hành tại 70 nhà thuốc quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng 3 tháng đầu năm 2019 17 3.1.1. Các dược chất thuộc nhóm giảm đau hạ sốt. 17 3.1.2. Các dạng bào chế thuốc giảm đau hạ sốt và tỷ lệ giữa các dạng bào chế 18 3.1.3. Tỷ lệ giữa các chế phẩm giảm đau hạ sốt dạng đơn độc và dạng phối hợp 19 3.1.4. Tỷ lệ giữa các chế phẩm giảm đau hạ sốt sản xuất trong nước và chế phẩm giảm đau hạ sốt ngoại nhập. 22 3.2. Tình hình sử dụng nhóm thuốc giảm đau hạ sốt lưu hành tại 70 nhà thuốc quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng 3 tháng đầu năm 2019 25 3.2.1. Tình hình sử dụng chung. 25 3.2.2. Sự khác biệt về sử dụng thuốc giảm đau hạ sốt trong trường hợp có đơn và không có đơn 30 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 34 TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT STT Ký hiệu, chữ viết tắt Tiếng Anh Tiếng Việt 1 COX Cyclooxygenase 2 GĐHS Giảm đau hạ sốt 3 IL Interleukin 4 NSAID Non – Steroidal Anti – Inflammatory Drug Thuốc chống viêm không steroid 5 OTC Over – the – counter Thuốc không kê đơn 6 PG Prostagladin 7 TKTƯ Thần kinh trung ương 8 TKTV Thần kinh thực vật 9 TNF Tumor necrosis factor Yếu tố hoại tử u 10 TNHH Trách nhiệm hữu hạn DANH MỤC CÁC BẢNG Số hiệu bảng Tên bảng Trang 3.1. Số lượng chế phẩm giảm đau hạ sốt theo tên dược chất. 17 3.2. Số lượng chế phẩm giảm đau hạ sốt theo dạng bào chế. 18 3.3. Số lượng chế phẩm giảm đau hạ sốt dạng đơn độc và phối hợp theo tên dược chất. 20 3.4. Số lượng chế phẩm giảm đau hạ sốt dạng phối hợp có dược chất chính là Paracetamol theo số lượng dược chất. 20 3.5. Tỷ lệ phối hợp của các dược chất với Paracetamol trong chế phẩm giảm đau hạ sốt dạng phối hợp. 21 3.6. Số lượng chế phẩm giảm đau hạ sốt sản xuất trong nước và ngoại nhập theo tên dược chất. 22 3.7. Số lượng chế phẩm giảm đau hạ sốt sản xuất trong nước và ngoại nhập theo dạng chế phẩm. 23 3.8. Số lượng chế phẩm giảm đau hạ sốt sản xuất trong nước và ngoại nhập theo dạng bào chế. 24 3.9. Tỷ lệ khách hàng mua thuốc giảm đau hạ sốt trong tổng số người mua thuốc. 25 3.10. Tỷ lệ sử dụng các dược chất nhóm giảm đau hạ sốt. 26 3.11. Tỷ lệ sử dụng các dạng bào chế thuốc giảm đau hạ sốt. 27 3.12. Tỷ lệ sử dụng các dạng chế phẩm giảm đau hạ sốt. 28 3.13. Tỷ lệ sử dụng chế phẩm giảm đau hạ sốt dạng phối hợp theo số lượng dược chất trong thành phần. 28 3.14. Tỷ lệ sử dụng thuốc giảm đau hạ sốt sản xuất trong nước và ngoại nhập theo dạng chế phẩm. 29 3.15. Tỷ lệ khách hàng mua thuốc giảm đau hạ sốt theo hình thức mua. 30 3.16. Tỷ lệ sử dụng các dạng bào chế thuốc giảm đau hạ sốt theo hình thức mua. 31 3.17. Tỷ lệ sử dụng các dạng chế phẩm thuốc giảm đau hạ sốt theo hình thức mua. 32 3.18. Tỷ lệ sử dụng các chế phẩm giảm đau hạ sốt sản xuất trong nước và ngoại nhập theo hình thức mua. 33 DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ Số hiệu hình Tên hình Trang 1.1. Cơ chế gây sốt và tác dụng của thuốc hạ sốt. 4 3.1. Tỷ lệ phối hợp của các dược chất với Paracetamol. 22 3.2. Tỷ lệ số lượng chế phẩm giảm đau hạ sốt sản xuất trong nước và ngoại nhập theo dạng chế phẩm. 23 3.3. Tỷ lệ sử dụng các dược chất nhóm giảm đau hạ sốt. 26 ĐẶT VẤN ĐỀ Xã hội ngày một phát triển, mức sống ngày càng nâng cao cũng là lúc nhu cầu chăm sóc sức khỏe trở thành một trong những vấn đề được quan tâm hàng đầu. Khác với các thuốc chuyên khoa sâu như thuốc kháng sinh hay tim mạch, các thuốc giảm đau hạ sốt (GĐHS) đa phần được xếp vào nhóm thuốc bán không cần đơn của bác sĩ (OTC). Đặc biệt với đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa của nước ta, các triệu chứng sốt, đau nhức thông thường như đau đầu, đau răng, đau cơ,… là các chứng bệnh rất thường gặp. Do đó, nhóm GĐHS dần trở thành nhóm thuốc quen thuộc với tần suất sử dụng cao trong cộng đồng. Cũng chính vì vậy, thị trường thuốc GĐHS ở nước ta chưa bao giờ hết sôi động bởi sự cạnh tranh khốc liệt của các công ty dược phẩm trong nước lẫn nước ngoài. Cùng với sự tiến bộ của khoa học – công nghệ, các chế phẩm GĐHS ngày càng phong phú và đa dạng với hàng loạt biệt dược khác nhau. Chúng không ngừng được cải tiến để bắt mắt hơn về hình thức và tốt hơn về chất lượng, đặc biệt là ngày càng nhiều dạng bào chế khác nhau để phù hợp với các đối tượng sử dụng. Sự đa dạng của nhóm thuốc GĐHS giúp đáp ứng nhu cầu khách hàng tốt hơn. Tuy nhiên, chính điều này lại khiến cho người bệnh không khỏi lúng túng trong việc lựa chọn, sử dụng thuốc, từ đó dễ dẫn đến tình trạng sử dụng không hợp lý. Thậm chí, việc lạm dụng hay sử dụng không đúng cách còn có thể khiến người bệnh gặp phải những tác dụng không mong muốn, làm ảnh hưởng đến sức khỏe bởi thực tế nhóm thuốc GĐHS không vô hại như nhiều người vẫn nghĩ. Là một trong ba thành phố lớn của nước ta, nên thị trường thuốc GĐHS ở Đà Nẵng nói chung hay quận Thanh Khê – quận trung tâm của thành phố Đà Nẵng nói riêng cũng bị chi phối một cách rõ ràng bởi tình hình chung của cả nước. Do đó, để thúc đẩy sử dụng thuốc một cách an toàn, hợp lý, hiệu quả và kinh tế, việc nghiên cứu các thông tin về thuốc GĐHS là rất cần thiết. Tuy nhiên, qua quá trình tìm hiểu, nhóm nhận thấy đến nay có rất ít khảo sát, nghiên cứu chính thức đề cập đến vấn đề lưu hành nhóm thuốc GĐHS trên địa bàn thành phố Đà Nẵng. Vì những lý do trên, nhóm tiến hành thực hiện đề tài: “Khảo sát việc lưu hành nhóm thuốc giảm đau hạ sốt tại một số nhà thuốc quận Thanh Khê thành phố Đà Nẵng 3 tháng đầu năm 2019”, hướng tới 2 mục tiêu như sau: 1. Khảo sát đặc điểm của các chế phẩm GĐHS lưu hành tại 70 nhà thuốc quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng 3 tháng đầu năm 2019. 2. Khảo sát tình hình sử dụng nhóm thuốc GĐHS lưu hành tại 70 nhà thuốc quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng 3 tháng đầu năm 2019.
TỔNG QUAN
Đại cương về nhóm thuốc giảm đau hạ sốt
Thuốc GĐHS là những dược phẩm có hiệu lực giảm đau giới hạn trong các chứng đau nhẹ và trung bình, có tính cách khu trú như đau đầu, đau răng, đau dây thần kinh,… Ngoài tác dụng giảm đau, các thuốc này còn có hiệu lực hạ sốt và kháng viêm.
1.1.2 Tác dụng và cơ chế tác dụng
Chỉ có tác dụng với các chứng đau nhẹ, khu trú Tác dụng tốt với các chứng đau do viêm (Đau khớp, viêm cơ, viêm dây thần kinh, đau răng).
Khác với Morphin, các thuốc này không có tác dụng với đau nội tạng, không gây ngủ, không gây khoan khoái và không gây nghiện [2].
Các thuốc GĐHS làm giảm tổng hợp PG F 2α nên các thuốc này làm giảm tính cảm thụ của các ngọn dây cảm giác với các chất gây đau của phản ứng viêm như bradykinin, histamin, serotonin.
Ngoài ra, một số tác giả khác còn thấy nhóm thuốc này có tác dụng giảm đau ở các nơ – ron ngoại biên và trung ương [2], [9].
Với liều điều trị, các thuốc GĐHS chỉ có tác dụng hạ nhiệt trên những người sốt do bất kỳ nguyên nhân gì, không có tác dụng trên người thường.
Khi vi khuẩn, độc tố, nấm,… (Gọi chung là các chất gây sốt ngoại lai) xâm nhập vào cơ thể sẽ kích thích bạch cầu sản xuất các chất gây sốt nội tại như cytokin(IL 1 , IL 6 ), interferon, TNF α Chất này hoạt hóa PG synthetase, làm tăng tổng hợp PG(Đặc biệt là PG E 1 , E 2 ) từ acid arachidonic của vùng dưới đồi, gây sốt do làm tăng quá trình tạo nhiệt (Rung cơ, tăng hô hấp, tăng chuyển hóa) và giảm quá trình mất nhiệt (Co mạch da) [2], [9].
Thuốc GĐHS do ức chế PG synthetase, làm giảm tổng hợp PG, có tác dụng hạ sốt do làm tăng quá trình thải nhiệt (Giãn mạch ngoại biên, ra mồ hôi), lặp lại thăng bằng cho trung tâm điều nhiệt ở vùng dưới đồi.
Vì không có tác dụng đến nguyên nhân gây sốt, nên thuốc GĐHS chỉ có tác dụng chữa triệu chứng, sau khi thuốc bị giải trừ, sốt sẽ trở lại [2], [9].
Chất gây sốt ngoại lai
THUỐC HẠ SỐT Bạch cầu
TKTƯ Rung cơ, tăng hô hấp,…
Co mạch, tăng chuyển hóa,…
Hình 1.1 Cơ chế gây sốt và tác dụng của thuốc hạ sốt [2].
1.1.3.1 Dẫn xuất của acid salicylic.
Acid acetyl salicylic hay Aspirin (R 1 = –COCH 3 ; R 2 = –
OH); Methyl salicylat (R 1 = –H; R 2 = –OCH 3 ); Salicylamid
Nor – amidopyrin (R 1 = –CH 3 ; R 2 = – 5 CH 3 ; R 3 = –N(CH 3 )CH 2 SO 3 Na)
Biệt dược: Aspirin pH8, Acetyl – SAL,…
Tên khoa học: Acid – 2 – acethoxy benzoicOH[3]. Đặc điểm tác dụng:
Tác dụng hạ sốt và giảm đau trong vòng 1 – 4 giờ với liều 500 mg/lần.
Tác dụng chống viêm: Chỉ có tác dụng khi dùng liều cao, trên 3 g/ngày Liều thấp chủ yếu là hạ sốt và giảm đau.
Tác dụng thải trừ acid uric: Liều thấp (1 – 2 g/ngày) làm giảm thải trừ acid uric qua nước tiểu do làm giảm bài xuất chất này ở ống lượn xa Liều cao (2 – 5g/ngày) làm đái nhiều urat do ức chế tái hấp thu acid uric ở ống lượn gần.
Tác dụng trên tiểu cầu và đông máu:
+ Aspirin với liều thấp (40 – 325 mg/ngày) đã ức chế mạnh cyclooxygenase (COX) của tiểu cầu, làm giảm tổng hợp thromboxan A 2 nên làm giảm ngưng kết tiểu cầu Liều cao hơn, ức chế COX của thành mạch, làm giảm tổng hợp PG I 2 nên gây tác dụng ngược lại Nhưng tác dụng trên tiểu cầu mạnh hơn nhiều.
+ Liều cao Aspirin cũng làm giảm tổng hợp prothrombin, có thể là do đối kháng với Vitamin K Vì vậy, Aspirin có tác dụng chống đông máu.
Tác dụng trên ống tiêu hóa: Niêm mạc dạ dày – ruột sản xuất ra PG, đặc biệt là PG E 2 , có tác dụng làm tăng tạo chất nhầy và có thể là cả kích thích phân bào để thay thế cho các tế bào bị phá hủy Aspirin ức chế COX, làm giảm PG, tạo điều kiện cho acid hydro clorid và pepsin của dịch vị gây tổn thương cho niêm mạc sau khi
“hàng rào bảo vệ” bị suy yếu Vì vậy, không được dùng cho những người có tiền sử loét dạ dày và phải uống thuốc sau bữa ăn [2], [9].
Dược động học: Ở pH dạ dày , các dẫn xuất salicylic ít bị ion hóa cho nên dễ khếch tán qua màng, được hấp thụ tương đối nhanh vào máu rồi bị phân hủy thành acid salicylic, khoảng 50 – 80% gắn với protein huyết tương, bị chuyển hóa ở gan, thời gian bán thải khoảng 6 giờ Thải trừ qua nước tiểu 50% trong 34 giờ dưới dạng tự do, glucuro – hợp, acid salicylic và acid gentisic Nếu pH của nước tiểu base, thải trừ salicylic tăng [2], [9]. Độc tính:
Dùng lâu có thể gây “Hội chứng salicyle”: Buồn nôn, ù tai, nhức đầu, lú lẫn. Đặc ứng: Phù, mày đay, mẩn, phù Quincke, hen.
Xuất huyết dạ dày thể ẩn hoặc có thể nặng.
Nhiễm độc với liều trên 10g: Rối loạn cân bằng acid – base, có thể gây nhiễm toan và kiềm máu dẫn đến co giật, mê sảng và trụy tim mạch [2], [9].
Có thể gây kéo dài thời gian thai nghén và gây băng huyết sau sinh.
Hội chứng Reye: Viêm não và rối loạn chuyển hóa mỡ ở gan, xảy ra ở trẻ em dưới 12 tuổi, khi các trẻ này bị nhiễm vi – rút và được cho dùng Aspirin.
Giảm đau (Mức độ nhẹ và vừa): Đau đầu, đau cơ, đau khớp, đau bụng kinh Hạ sốt, trừ sốt xuất huyết và sốt do các vi – rút khác.
Chống viêm (Mức độ nhẹ): Viêm khớp dạng thấp, viêm xương khớp,…[11].
+ Người lớn: 325 – 625 mg (Uống cách khoảng 4 giờ).
+ Trẻ em: 50 – 75 mg/kg/ngày chia làm 4 – 6 lần (Tổng liều tối đa 3,6g). Viêm khớp: 1 – 4 g/ngày, trường hợp viêm mạn tính có thể tăng liều đến 6g/ngày, nhưng phải được theo dõi bởi bác sĩ điều trị.
Ngừa chứng huyết khối tĩnh mạch và động mạch: Dùng liều thấp (81 – 325mg x 1 lần/ngày) [13].
Mẫn cảm với Aspirin và các thuốc chống viêm không steroid (NSAID) khác. Tiền sử bệnh hen;
Bệnh giảm tiểu cầu; Loét dạ dày – tá tràng
Suy tim vừa và nặng; Suy gan; Suy thận [5].
Không dùng chung Aspirin với các thuốc chống đông máu, các NSAID và các glucocorticoid.
Người suy tim nhẹ, bệnh gan, bệnh thận.
Người già và trẻ em dưới 12 tuổi [5].
Tên khoa học: N – (4 – hydroxyphenyl) acetamid hay p – hydroxyacetanilid hay 4 – hydroxyacetanilid [3]. Đặc điểm tác dụng:
Paracetamol có cường độ và thời gian tác dụng tương tự Aspirin về giảm đau và hạ sốt Không có tác dụng chống viêm nên nhiều tác giả không xếp vào nhóm NSAID Thực ra, trên mô hình thực nghiệm, Paracetamol vẫn tác dụng chống viêm, nhưng phải dùng liều cao hơn liều giảm đau, vì trong ổ viêm có nồng độ cao các peroxid, làm mất tác dụng ức chế COX của Paracetamol Mặt khác, Paracetamol không ức chế sự hoạt hóa bạch cầu trung tính như các NSAID khác [2], [9].
Hấp thu nhanh qua tiêu hóa, sinh khả dụng là 80 – 90%, thời gian bán thải 2 giờ, hầu như không gắn vào protein huyết tương Chuyển hóa phần lớn ở gan và một phần nhỏ ở thận, cho các dẫn xuất glucuro và sulfo – hợp, thải trừ qua thận [2]. Độc tính:
Với liều điều trị thông thường, hầu như không có tác dụng phụ.
Liều cao và sử dụng kéo dài có thể gây hoại tử tế bào gan rất nguy hiểm Thuốc chữa trị là Acetylcystein [9].
Giảm đau hạ sốt, có thể thay thế Aspirin trong trường hợp chống chỉ định của chất này Có thể phối hợp với các thuốc giảm đau khác [12].
Người lớn: 0,5 – 1 g mỗi 4 – 6 giờ (Tối đa 4 g/ngày) [12].
Trẻ em: 10 mg/kg/lần x 3 – 4 lần/ngày.
Chống chỉ định: Ở người thiếu men Glucose – 6 – phosphat – dehydrogenase.
Đại cương về một số dạng bào chế thuốc giảm đau hạ sốt
Viên nén (Tabellae) là dạng thuốc rắn, mỗi viên là một đơn vị phân liều, dùng để uống, nhai, ngậm, đặt hoặc hòa với nước để uống, để súc miệng, để rửa, Viên nén chứa một hoặc nhiều dược chất, có thể thêm các tá dược độn, tá dược rã, tá dược dính, tá dược trơn, tá dược bao, tá dược màu, được nén thành khối hình trụ dẹt; thuôn (Caplet) hoặc các hình dạng khác Viên có thể được bao [4].
Theo như định nghĩa trên, viên nén có thể được bao (Viên nén bao đường, viên nén bao phim,…) hoặc không bao Ngoài ra, viên nén còn được bào chế dưới một số dạng đặc biệt như:
Viên nén sủi bọt (Effevercent);
Viên bao tan trong ruột;
Viên tác dụng kéo dài;…
1.2.1.2 Ưu điểm. Đã được chia liều 1 lần tương đối chính xác, diện tích sử dụng rộng.
Thể tích gọn nhẹ, dễ vận chuyển, mang theo người.
Dễ che dấu mùi vị khó chịu của dược chất.
Dược chất ổn định, tuổi thọ dài hơn dạng thuốc lỏng.
Dễ đầu tư sản xuất lớn, do đó giá thành giảm.
Viên nén sủi bọt: Sinh khả dụng cao; Thích hợp cho người khó nuốt và giảm kích ứng niêm mạc cho một số dược chất (Aspirin,…).
Viên nén bao phim: Bảo vệ được dược chất trước các yếu tố bên ngoài [7].
Không phải tất cả các dược chất đều chế được thành viên nén.
Với dược chất ít tan nếu bào chế viên nén không tốt, sinh khả dụng của thuốc có thể bị giảm khá nhiều.
Sinh khả dụng viên nén thay đổi thất thường, phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: Độ ẩm, nhiệt độ, tá dược, lực nén,… trong quá trình bào chế.
Viên nén sủi bọt: Kỹ thuật bào chế phức tạp; Khó khăn trong bào chế và bảo quản và không dùng được cho người kiêng muối, cho bệnh nhân suy thận.
Viên nén bao phim: Lớp vỏ bao có thể khó rã hoặc rã chậm, làm giảm sinh khả dụng của thuốc nếu bào chế không tốt [7].
Thuốc nang (Capsulae) là dạng thuốc uống chứa một hay nhiều dược chất trong vỏ nang với nhiều hình dạng và kích thước khác nhau Vỏ nang được làm chủ yếu từ gelatin hoặc polyme như hydroxypropyl methyl cellulose, Ngoài ra trong vỏ nang còn chứa các tá dược khác như chất hóa dẻo, chất màu, chất bảo quản, Thuốc chứa trong nang có thể là dạng rắn (Bột, cốm, pellet, ) hay lỏng, nửa rắn (Hỗn dịch, nhũ tương, bột nhão, ) [4].
Dễ bảo quản và vận chuyển, dễ sản xuất lớn.
Che dấu được mùi vị khó chịu của dược chất; Sinh khả dụng cao [7].
Các tá dược kích ứng niêm mạc đường tiêu hóa thì không nên đóng nang vì sau khi vỏ nang tan rã sẽ tập trung nồng độ thuốc cao tại nơi giải phóng thuốc [7].
Thuốc đặt (Suppositoria) là dạng thuốc rắn, chứa một hoặc nhiều dược chất, dùng để đặt vào các hốc tự nhiên của cơ thể Thuốc có thể có tác dụng tại chỗ hoặc toàn thân Khi đặt vào vị trí trên cơ thể, thuốc đặt thường chảy ra, mềm ở thân nhiệt hoặc hòa tan dần trong niêm dịch để giải phóng dược chất [4].
Thích hợp với các bệnh nhân tổn thương đường tiêu hóa, nôn mửa, hôn mê; các bệnh nhân quá trẻ, quá già hoặc rối loạn tâm thần.
Thích hợp với các dược chất gây tác dụng phụ trên ống tiêu hóa, có mùi vị khó chịu, dễ bị phân hủy bởi dịch dạ dày, hoặc dược chất bị chuyển hóa ở gan [8].
Sự hấp thu thuốc chậm, không hoàn toàn và thay đổi giữa các cá thể.
Sử dụng bất tiện, có thể gây viêm trực tràng.
1.2.4 Thuốc dán tác dụng tại chỗ
Thuốc dán tác dụng tại chỗ là những chế phẩm có chứa một hoặc nhiều dược chất trải đều hoặc dính trên một lớp vải hoặc một lớp phim dẻo và có tính bắt dính trên da, được chỉ định dán trên da, dược chất và các thành phần khác của thuốc hầu như không thấm qua da để di chuyển vào hệ tuần hoàn chung, mà chỉ nhằm phát huy tác dụng tại chỗ [4].
Thuốc hấp thu qua da vì vậy tránh được những yếu tố ảnh hưởng như: pH của dịch tiêu hóa, thức ăn trong dạ dày, chuyển hóa lần đầu qua gan,…
Bệnh nhân không cần phải dùng thuốc nhiều lần trong ngày và thời gian ban đêm không còn phải lo ngại [7].
Thường chỉ áp dụng đối với những dược chất có tác dụng mạnh, liều không quá 2 mg/ngày.
Các hoạt chất phải bền vững, không quá nhạy cảm và kích ứng da [7].
Thuốc bột (Pulveres): Là dạng thuốc rắn, gồm các hạt nhỏ, khô tơi, có độ mịn xác định, có chứa một hay nhiều loại dược chất Ngoài dược chất, thuốc bột còn có thể thêm các tá dược như tá dược độn, tá dược hút, tá dược màu, tá dược điều hương, vị, Thuốc bột có thể dùng để uống, pha tiêm hay dùng ngoài [4].
Thuốc cốm hay thuốc hạt (Granulae): Là dạng thuốc rắn có dạng hạt nhỏ xốp hay sợi ngắn xốp, thường dùng để uống với một ít nước hay một chất lỏng thích hợp, hoặc pha thành dung dịch, hỗn dịch hay siro Thuốc cốm chứa một hoặc nhiều dược chất, ngoài ra có thêm các tá dược như tá dược độn, tá dược dính, tá dược điều hương vị, tá dược màu, [4].
1.2.5.2 Ưu điểm của thuốc bột – thuốc cốm.
Kỹ thuật bào chế và trang thiết bị đơn giản, dễ đóng gói và vận chuyển. Thích hợp cho trẻ em. Ít xảy ra tương tác, tương kị giữa các dược chất trong cùng một đơn thuốc Sinh khả dụng cao hơn các dạng thuốc rắn khác [8].
1.2.5.3 Nhược điểm của thuốc bột – thuốc cốm.
Không thích hợp với các dược chất có mùi khó chịu và kích ứng niêm mạc đường tiêu hóa [8].
1.2.6 Dung dịch thuốc – Siro thuốc
Dung dịch thuốc (Solutiones): Là những chế phẩm lỏng trong suốt chứa một hoặc nhiều dược chất hoà tan, tức phân tán dưới dạng phân tử, trong một dung môi thích hợp (Nước, ethanol, glycerin, dầu,…) hay hỗn hợp nhiều dung môi trộn lẫn với nhau Do các phân tử trong dung dịch phân tán đồng nhất, nên các dung dịch thuốc đảm bảo sự phân liều đồng nhất khi sử dụng và độ chính xác cao khi pha loãng hoặc khi trộn các dung dịch với nhau [4].
Sirô thuốc (Sirupi): Là dung dịch uống chứa nồng độ cao đường trắng
(Sucrose) hay các loại đường khác trong nước tinh khiết, có chứa các dược chất hoặc các dịch chiết từ dược liệu [4].
1.2.6.2 Ưu điểm của dung dịch thuốc – Siro thuốc.
Dược chất hấp thu nhanh hơn so với các dạng thuốc rắn.
Tránh gây kích ứng niêm mạc đối với một số dược chất như: Natri bromid, natri iodid, cloral hydrat,…
Siro thuốc: Có thể che dấu được mùi vị khó chịu của một số dược chất, thích hợp dùng cho trẻ em [6].
1.2.6.3 Nhược điểm của dung dịch thuốc – Siro thuốc.
Dung dịch thuốc: Các dược chất thường không ổn định về mặt hóa học so với dạng rắn; Cần bao bì lớn và có khối lượng lớn hơn so với dạng thuốc rắn [4].
Siro thuốc: Dược chất có độ ổn định kém Các phản ứng hóa học và sự phát triển của vi khuẩn, nấm mốc có thể là nguyên nhân làm phân hủy dược chất [6].
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Các chế phẩm chứa dược chất GĐHS lưu hành tại một số nhà thuốc quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng 3 tháng đầu năm 2019.
Khách hàng đến mua thuốc GĐHS tại một số nhà thuốc quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.
Cụ thể, khảo sát được tiến hành trong thời gian từ tháng 01/2019 đến tháng 03/2019 tại 70 nhà thuốc trên địa bàn quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.
Nội dung nghiên cứu
2.2.1 Đặc điểm của các chế phẩm giảm đau hạ sốt lưu hành tại 70 nhà thuốc quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng 3 tháng đầu năm 2019
Các dược chất thuộc nhóm GĐHS và tỷ lệ số lượng chế phẩm của chúng trên thị trường.
Các dạng bào chế thuốc GĐHS và tỷ lệ giữa các dạng bào chế Tỷ lệ giữa các chế phẩm GĐHS dạng đơn độc và dạng phối hợp.
Tỷ lệ giữa các chế phẩm GĐHS sản xuất trong nước và ngoại nhập.
2.2.2 Tình hình sử dụng nhóm thuốc giảm đau hạ sốt tại 70 nhà thuốc quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng 3 tháng năm 2019
Tình hình sử dụng chung:
+ Tỷ lệ khách hàng mua thuốc GĐHS trong tổng số người mua thuốc;
+ Tỷ lệ sử dụng các dược chất thuộc nhóm GĐHS;
+ Tỷ lệ sử dụng các dạng bào chế;
+ Tỷ lệ sử dụng dạng đơn độc và phối hợp;
+ Tỷ lệ sử dụng chế phẩm sản xuất trong nước và ngoại nhập;
+ Tỷ lệ chi phí dành cho thuốc GĐHS trên tổng số tiền mua thuốc trong trường hợp mua nhiều khoản thuốc.
Sự khác biệt về sử dụng thuốc GĐHS trong trường hợp có đơn và không có đơn:
+ Tỷ lệ khách hàng mua thuốc GĐHS trong hai trường hợp;
+ Tỷ lệ lựa chọn các dạng bào chế trong hai trường hợp;
+ Tỷ lệ lựa chọn dạng đơn độc và phối hợp trong hai trường hợp;
+ Tỷ lệ lựa chọn chế phẩm GĐHS sản xuất trong nước và ngoại nhập trong hai trường hợp.
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng là phương pháp nghiên cứu mô tả Dùng công thức tính cỡ mẫu cho việc ước tính một tỷ lệ trong quần thể: n = P(1 P)
Trong đó: d 2 n: Cỡ mẫu cần nghiên cứu;
Hệ số tin cậy tra trong bảng tính sẵn ứng với mức tin cậy (1 – α) được chọn Với (1 – α) = 0,95 thì Z ( 1−α / 2 ) = 1,96;
P: Tỷ lệ ước tính dựa trên nghiên cứu thử hoặc nghiên cứu trước đó; d: Khoảng sai lệch cho phép giữa tỷ lệ thu được từ mẫu và tỷ lệ quần thể [1]. Qua khảo sát thử nhóm nhận thấy tỷ lệ người mua thuốc GĐHS chiếm khoảng 20% trong tổng số người mua thuốc Do đó, nhóm chọn P = 0,20.
Với mong muốn kết quả nghiên cứu sai khác không quá 5% so với tỷ lệ thực. Áp dụng công thức trên ta có: n = 1,96 2 x0,20 x (1 0,20) ≈ 246 (Lượt người) Theo Danh sách các cơ sở hành nghề0,05 2 y, dược trên địa bàn thành phố tính đến ngày 01/06/2019 do Sở Y tế Đà Nẵng công bố, tổng cộng hiện có 124 nhà thuốc đang hoạt động trên địa bàn quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng [16].
Trong 124 nhà thuốc, chọn ra 70 nhà thuốc để tiến hành khảo sát Với cỡ mẫu tính được là 246 lượt người mua thuốc GĐHS, số người mua thuốc GĐHS cần lấy tại mỗi nhà thuốc là:
Nhóm quyết định lấy 4 lượt người mua thuốc GĐHS tại mỗi nhà thuốc để khảo sát Vậy cỡ mẫu được làm tròn là 280 lượt người mua thuốc GĐHS.
2.3.2 Cách chọn mẫu và ghi nhận số liệu
Từ Danh sách nhà thuốc quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng, nhóm chọn ra
70 nhà thuốc để khảo sát bằng kỹ thuật chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản.
Tại mỗi nhà thuốc, nhóm tiến hành ghi chép thông tin của các chế phẩm GĐHS Đồng thời, trong thời gian đó nhóm ghi nhận lại thông tin về 4 lượt người đến mua thuốc GĐHS cũng như tổng số người đến mua thuốc.
Các kết quả được ghi nhận theo Mẫu ghi chép thông tin khách hàng mua thuốc giảm đau hạ sốt và Mẫu ghi chép thông tin các dạng bào chế thuốc giảm đau hạ sốt (Phụ lục 1).
Các kết quả được xử lý bằng phần mềm Microsoft Excel 2010.
KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
Đặc điểm của các chế phẩm giảm đau hạ sốt lưu hành tại 70 nhà thuốc quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng 3 tháng đầu năm 2019
3.1.1 Các dược chất thuộc nhóm giảm đau hạ sốt và tỷ lệ số lượng chế phẩm của chúng trên thị trường
Trên lý thuyết, nhóm thuốc GĐHS tương đối phong phú Tuy nhiên, qua khảo sát thực tế, số lượng dược chất nhóm GĐHS được bán tại các nhà thuốc trên địa bàn quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng lại khá ít, chỉ tập trung vào bốn dược chất chính sau đây (Xem bảng 3.1):
Bảng 3.1 Số lượng chế phẩm giảm đau hạ sốt theo tên dược chất
STT Dược chất Số lượng chế phẩm Tỷ lệ (%)
Qua thống kê ở bảng 3.1, có thể thấy số lượng chế phẩm GĐHS rất phong phú và đa dạng (135 chế phẩm) Tuy nhiên, thành phần chính của các chế phẩm này chỉ gồm bốn dược chất: Aspirin, Ibuprofen, và Paracetamol Trong đó, được sản xuất dưới nhiều chế phẩm khác nhau nhất là Paracetamol (130 chế phẩm, chiếm
Bởi lẽ, Paracetamol có tác dụng giảm đau, hạ sốt tốt, tương đối an toàn do ít tác dụng không mong muốn và đặc biệt là không gây tổn thương đường tiêu hóa và rối loạn đông máu như Aspirin [11] Cũng chính tác dụng không mong muốn này, lượng chế phẩm Aspirin trên thị trường hiện nay khá ít (5 chế phẩm, chiếm % tổng số chế phẩm) và chủ yếu được sản xuất dưới dạng thuốc kê đơn, có hàm lượng thấp (80mg, 81mg và 100mg) với chỉ định chính là phòng ngừa huyết khối (Aspilets
EC, Aspirin 100, Aspirin 81mg, Aspirin MKP 81).
3.1.2 Các dạng bào chế thuốc giảm đau hạ sốt lưu hành trên thị trường và tỷ lệ giữa các dạng bào chế
Kết quả về các dạng bào chế thuốc GĐHS được ghi nhận trong bảng 3.2.
Bảng 3.2 Số lượng chế phẩm giảm đau hạ sốt theo dạng bào chế
ST Dạng bào chế Số lượng chế phẩm Tỷ lệ (%)
4 Viên bao phim tan trong ruột 1 2,1 %
8 Viên nén giải phóng kéo dài 1 0,7 %
(*) Viên nén được hiểu là viên nén không bao.
Qua thống kê ở bảng 3.2, có thể thấy dạng bào chế của thuốc GĐHS hiện nay rất đa dạng (9 dạng bào chế): Đa số thuốc dùng theo đường tiêu hóa: Siro, thuốc bột sủi bọt, thuốc cốm, viên nang cứng và các loại viên nén.
Không có chế phẩm GĐHS nào dùng theo đường hô hấp, ngoài da và đường tiêm Tuy có sinh khả dụng cao nhưng đây là các đường dùng tương đối phức tạp, khó sử dụng và giá thành cao [6] Do đó thường không phổ biến với các nhóm thuốc thông thường như thuốc GĐHS.
Cụ thể hơn, các dạng bào chế phổ biến (Chiếm ≥ 15,0% tổng số chế phẩm) là: Viên nén (34,2%), viên nén sủi bọt (24,5%) và viên nén bao phim (16,1%).1 Đây là dạng bào chế được sản xuất nhiều nhất bởi lẽ những ưu điểm của nó như: Gọn nhẹ, tiện lợi, dễ sử dụng, dược chất ổn định, giá thành thấp,…[7].
Những dạng bào chế ít gặp nhất (Chiếm ≤ 2,00% tổng số chế phẩm) là: Viên nén giải phóng kéo dài (0,7%), thuốc cốm (1,4%) Ngoài ra, dạng bào chế đặc biệt như viên bao phim tan trong ruột chiếm tỷ lệ không cao bởi nó thường chỉ được sử dụng cho Aspirin (Aspilets EC, Aspirin 100, Aspirin 81mg) nhằm giảm tác dụng không mong muốn là gây loét dạ dày.
Những dạng bào chế khác như viên đặt trực tràng tuy có nhiều ưu điểm (Thích hợp với các đối tượng không uống được hoặc các đối tượng đặc biệt, các dược chất mùi vị khó chịu,…[8]) nhưng lại chưa được sản xuất nhiều Do đó, đây có thể sẽ là những hướng đầu tư tiềm năng nếu muốn tiếp tục khai thác thị trường thuốc GĐHS trong tương lai.
3.1.3 Tỷ lệ giữa các chế phẩm giảm đau hạ sốt dạng đơn độc và dạng phối hợp
Theo số lượng thành phần dược chất trong công thức bào chế, các chế phẩm GĐHS được chia làm hai nhóm là dạng đơn độc (Chỉ gồm một dược chất) và dạng phối hợp (Gồm từ hai dược chất trở lên).
Kết quả khảo sát số lượng chế phẩm thuộc hai nhóm này được thể hiện ở bảng sau (Xem bảng 3.3):
Bảng 3.3 Số lượng chế phẩm giảm đau hạ sốt dạng đơn độc và phối hợp theo tên dược chất
Dạng chế Dược chất Tổng cộng Tỷ lệ (%) phẩm
Aspirin Ibuprofen Paracetamol Đơn độc 5 3 15
Dạng chế Dược chất Tổng cộng Tỷ lệ phẩm (%)
Aspirin Ibuprofen Paracetamol Đơn độc 5 0 56 61 45,18
Dựa vào số liệu trong bảng 3.3, có thể thấy số lượng chế phẩm GĐHS theo dạng phối hợp và dạng đơn độc chênh lệch nhau không nhiều (Khoảng 1,21 lần). Trong đó, dạng phối hợp có số lượng lớn hơn (74 chế phẩm, chiếm 54,82% tổng số chế phẩm).
Có thể thấy các chế phẩm của Aspirin chỉ được điều chế dưới dạng đơn độc. Còn chế phẩm của Glycol salicylat (Salonsip) và Methyl salicylat (Salonpas,
Salonpas Liniment, Salonpas Gel, Salonpas Spray, Salonpas Paint Relief Patch, Thalapas) đều ở dạng phối hợp, nhưng số lượng không nhiều (Tổng cộng 7/ 74 chế phẩm GĐHS dạng phối hợp) Như vậy, số lượng thuốc GĐHS dạng phối hợp lớn là do sự đa dạng về thành phần dược chất trong chế phẩm chứa Paracetamol.
Qua quá trình khảo sát, nhóm nhận thấy trong công thức bào chế của các chế phẩm GĐHS dạng phối hợp chứa Paracetamol có thể có 2, 3, 4, hoặc lên tới 5 thành phần Cụ thể số lượng của từng loại được thể hiện ở bảng 3.4.
Bảng 3.4 Số lượng chế phẩm giảm đau hạ sốt dạng phối hợp có dược chất chính là Paracetamol theo số lượng dược chất
Số lượng dược chất Số lượng chế phẩm Tỷ lệ (%)
Từ bảng 3.4, có thể thấy các chế phẩm GĐHS dạng phối hợp chứa Paracetamol gồm 2 dược chất chiếm tỷ lệ nhiều nhất (31 chế phẩm, chiếm 46,26% tổng số chế phẩm dạng phối hợp chứa Paracetamol), sau đó là chế phẩm có thành phần gồm 3 dược chất (30 chế phẩm, chiếm 44,77% tổng số chế phẩm dạng phối hợp chứa Paracetamol). Để tìm hiểu xem những dược chất nào hay được phối hợp với Paracetamol, nhóm tiến hành khảo sát trên 67 chế phẩm GĐHS dạng phối hợp có dược chất chính là Paracetamol Kết quả được thể hiện ở bảng 3.5.
Bảng 3.5 Tỷ lệ phối hợp của các dược chất với Paracetamol trong chế phẩm giảm đau hạ sốt dạng phối hợp
ST Dược chất phối hợp Số lượng chế phẩm Tỷ lệ (%)
Từ bảng 3.5, có thể thấy để tăng tác dụng giảm đau, các nhà sản xuất đã phối hợp Paracetamol với Cafein, Codein phosphat, Tramadol HCl, hoặc tăng tác dụng giảm đau hạ sốt bằng cách kết hợp với Ibuprofen. Để tiện sử dụng trong việc điều trị các triệu chứng của bệnh cảm cúm, còn phối hợp Paracetamol với một số nhóm dược chất khác như:
Các dược chất nhóm kháng histamin H 1 (Clorpheniramin maleat, Loratadin) hay các chất có tác dụng co mạch (Pseudoephedrin HCl, Phenylephrin HCl) nhằm giảm nghẹt mũi, chảy mũi;
Các dược chất giảm ho (Dextromethorphan HBr), long đờm
(Guaifenesin); Các vitamin (Vitamin B 1 , Vitamin C).
Cụ thể, tỷ lệ phối hợp giữa các dược chất với Paracetamol được minh họa trong biểu đồ dưới đây (Xem hình 3.1):
Cafein Clorpheniramin maleat Dextromethorphan HBr
Hình 3.1 Tỷ lệ phối hợp của các dược chất với Paracetamol trong chế phẩm giảm đau hạ sốt dạng phối hợp
Như vậy, dược chất được phối hợp với Paracetamol nhiều nhất là các dược chất làm giảm nghẹt mũi, sổ mũi (Clorpheniramin maleat: 20,56%, Phenylephrin HCl: 17,75%) và ho (Dextromethorphan HBr: 15,88%) – vốn là các triệu chứng hay mắc cùng triệu chứng sốt, đau đầu nhất khi bị cảm cúm Trong đó, nhiều nhất là Clorpheniramin maleat (22/ 107 chế phẩm dạng phối hợp chứa Paracetamol).
3.1.4 Tỷ lệ giữa các chế phẩm giảm đau hạ sốt sản xuất trong nước và chế phẩm giảm đau hạ sốt ngoại nhập
Kết quả khảo sát về số lượng chế phẩm GĐHS sản xuất trong nước (Biệt dược nội), và ngoại nhập (Biệt dược ngoại) được thể hiện ở bảng 3.6.
Bảng 3.6 Số lượng chế phẩm giảm đau hạ sốt sản xuất trong nước và ngoại nhập theo tên dược chất
Xuất xứ Dược chất Tổng Tỷ lệ cộng (%) sản phẩm Aspirin Glycol Methyl Paracetamol salicylat salicylat
Tình hình sử dụng nhóm thuốc giảm đau hạ sốt lưu hành tại 70 nhà thuốc quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng 3 tháng đầu năm 2019
đa dạng về dạng bào chế Tuy nhiên, các dạng chủ yếu (Chiếm ≥ 10,00% tổng số thuốc GĐHS sản xuất trong nước) vẫn là những dạng thuốc có kỹ thuật bào chế đơn giản như: Viên nén bao phim (34,43%), viên nén (26,23%), thuốc bột sủi bọt (10,65%) Nguyên nhân là do sự hạn chế về tiềm lực kinh tế cũng như máy móc, công nghệ của của các công ty dược phẩm vừa và nhỏ trong nước.
Các dạng bào chế phức tạp hơn như thuốc xịt ngoài da (0,82%), viên nén sủi bọt (5,73%) tuy có sản xuất nhưng tỷ lệ còn thấp Đặc biệt, hai dạng bào chế là viên đặt trực tràng (Efferalgan 80, Efferalgan 150, Efferalgan 300) và viên nén giải phóng kéo dài (Tylenol 8h) lại chưa được các nhà sản xuất trong nước quan tâm mà đều là các chế phẩm ngoại nhập.
Về các chế phẩm GĐHS ngoại nhập, các dạng bào chế thông dụng nhất là: Thuốc bột sủi bọt, viên đặt trực tràng và viên nén sủi bọt (Mỗi dạng bào chế có 3 chế phẩm, chiếm 23,08% tổng số thuốc GĐHS ngoại nhập).
3.2.Tình hình sử dụng nhóm thuốc giảm đau hạ sốt tại 70 nhà thuốc quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng 3 tháng đầu năm 2019.
3.2.1 Tình hình sử dụng chung
3.2.1.1 Tỷ lệ khách hàng mua thuốc giảm đau hạ sốt trong tổng số người mua thuốc. Để xác định được nhu cầu của người bệnh, nhóm đã tiến hành đếm số lượt người mua thuốc GĐHS trong tổng số lượt người đến mua thuốc tại 70 nhà thuốc trên địa bàn quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng Kết quả được thể hiện ở bảng 3.9.
Bảng 3.9 Tỷ lệ khách hàng mua thuốc giảm đau hạ sốt trong tổng số người mua thuốc Đối tượng Số lượt người Tỷ lệ (%)
Tùy vào quy mô cũng như đặc thù kinh doanh mà mỗi nhà thuốc sẽ có số lượng nhóm thuốc (Phân chia theo tác dụng dược lý) và số lượng thuốc trong mỗi nhóm khác nhau Theo như quan sát, số lượng nhóm thuốc trung bình của các nhà thuốc là khoảng 7 – 10 nhóm thuốc Vì vậy, trong trường hợp nhu cầu sử dụng các nhóm thuốc là như nhau thì tỷ lệ mua mỗi nhóm thuốc vào khoảng 10,00 – 14,30%.
Từ kết quả ở bảng 3.9, tỷ lệ khách hàng mua thuốc GĐHS là 18,67% trong tổng số người đến mua thuốc Do đó, có thể thấy số lượng người đến mua thuốc GĐHS chiếm một tỷ lệ khá lớn Điều này chứng tỏ nhu cầu sử dụng thuốc GĐHS ở quận Thanh Khê nói riêng và thành phố Đà Nẵng nói chung là không nhỏ Vì vậy, có thể nói thị trường thuốc GĐHS là một thị trường hấp dẫn và rất giàu tiềm năng. Mặt khác, vấn đề tăng cường sử dụng thuốc GĐHS một cách hợp lý, an toàn, hiệu quả và kinh tế cũng cần được đặc biệt quan tâm.
3.2.1.2 Tỷ lệ sử dụng các dược chất thuộc nhóm giảm đau hạ sốt.
Kết quả về nhu cầu sử dụng của người bệnh đối với từng dược chất nhóm GĐHS được thể hiện ở bảng 3.10.
Bảng 3.10 Tỷ lệ sử dụng các dược chất nhóm giảm đau hạ sốt
STT Dược chất Số lượt mua Tỷ lệ (%)
Hình 3.3 Tỷ lệ sử dụng các dược chất nhóm giảm đau hạ sốt
Qua kết quả từ bảng 3.10 và hình 3.3, có thể thấy Paracetamol là dược chất có tỷ lệ sử dụng cao nhất (246 lượt mua, chiếm 87,86% tổng số lượt mua); Dược chất có tỷ lệ sử dụng thấp nhất là Aspirin (4 lượt mua, chiếm 1,43% tổng số lượt mua). Điều này cũng phù hợp với thực tế các chế phẩm chứa Paracetamol chiếm tỷ lệ lớn nhất trong tổng số chế phẩm GĐHS ghi nhận được tại 70 nhà thuốc trên địa bàn quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng như đã nhận xét ở phần 3.1.1 Chính nhu cầu rất lớn của thị trường là nguyên nhân khiến cho các chế phẩm GĐHS chứa Paracetamol ngày càng nhiều về số lượng và đa dạng về mẫu mã.
3.2.1.3 Tỷ lệ sử dụng các dạng bào chế.
Qua khảo sát thực tế, tỷ lệ sử dụng giữa các dạng bào chế thuốc GĐHS được thể hiện ở bảng 3.11.
Bảng 3.11 Tỷ lệ sử dụng các dạng bào chế thuốc giảm đau hạ sốt
ST Dạng bào chế Số lượt mua Tỷ lệ (%)
10 Viên bao phim tan trong ruột 2 0,71
15 Viên nén giải phóng kéo dài 0 0,00
(*) Viên nén được hiểu là viên nén không bao.
Từ bảng 3.11, có thể thấy viên nén là dạng bào chế được sử dụng nhiều nhất
(75 lượt mua, chiếm 26,78% tổng số lượt mua) Tiếp sau là viên nén sủi bọt (67 lượt mua, chiếm 23,93% tổng số lượt mua) và viên nén bao phim (59 lượt mua, chiếm 21,07% tổng số lượt mua).
Cũng bởi đây là những dạng bào chế tiện dùng, dễ bảo quản, phù hợp với nhiều đối tượng sử dụng khác nhau (Viên nén, viên nén bao phim) và dễ sử dụng, tác dụng nhanh (Viên nén sủi bọt) Do đó, đây cũng là những dạng bào chế tiềm năng để có thể tiếp tục đầu tư và nghiên cứu nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường.
3.2.1.4 Tỷ lệ sử dụng dạng đơn độc và phối hợp.
Kết quả về tình hình sử dụng các thuốc GĐHS theo dạng chế phẩm đơn độc và phối hợp được thể hiện ở bảng 3.12.
Bảng 3.12 Tỷ lệ sử dụng các dạng chế phẩm giảm đau hạ sốt
Dạng chế phẩm Số lượt mua Tỷ lệ (%) Đơn độc 156 55,71
Theo số liệu từ bảng 3.12, có thể thấy nhu cầu sử dụng thuốc GĐHS dạng đơn độc và dạng phối hợp chênh lệch không nhiều, khoảng 1,26 lần Trong đó các chế phẩm GĐHS dạng đơn độc được sử dụng nhiều hơn (156 lượt mua, chiếm 55,71% tổng số lượt mua). Để tìm hiểu kỹ hơn về nhu cầu sử dụng các chế phẩm GĐHS dạng phối hợp, xem dạng chế phẩm chứa bao nhiêu dược chất được sử dụng nhiều nhất, nhóm đã tiến hành khảo sát trên 124 lượt khách hàng mua thuốc GĐHS ở trên và thu được kết quả như sau (Xem bảng 3.13):
Bảng 3.13 Tỷ lệ sử dụng chế phẩm giảm đau hạ sốt dạng phối hợp theo số lượng dược chất trong thành phần
Số lượng dược chất Số lượt mua Tỷ lệ (%)
Qua bảng 3.13, ta có thể thấy chế phẩm GĐHS dạng phối hợp được sử dụng nhiều nhất là dạng phối hợp 2 dược chất (64 lượt mua, chiếm 51,61% tổng số lượt mua chế phẩm GĐHS dạng phối hợp).
Qua quan sát trên thực tế, nhóm nhận thấy các thuốc này thường là chế phẩm Paracetamol phối hợp với Cafein (Panadol Extra, Hapacol Extra, Tydol Plus,…) hoặc với Codein phosphat (Efferalgan – Codein, Tatanol Codein) để tăng cường hiệu lực giảm đau; phối hợp với Ibuprofen (Alaxan, Hapacol Đau nhức, Tatanol
Extra,…) để tăng cường tác dụng hạ nhiệt, giảm đau; hoặc với các hoạt chất
Clorpheniramin maleat (Padolmin), Loratadin (Cendocold), Phenylephrin HCl (Decolgen ND) để điều trị các triệu chứng của cảm cúm.
3.2.1.5 Tỷ lệ sử dụng chế phẩm sản xuất trong nước và ngoại nhập. Để biết được thị trường thuốc GĐHS quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng ưa chuộng sử dụng các chế phẩm sản xuất trong nước (Biệt dược nội) hay các chế phẩm ngoại nhập (Biệt dược ngoại), nhóm đã tiến hành khảo sát trên 280 lượt khách hàng mua thuốc GĐHS và thu được kết quả như sau (Xem bảng 3.14):
Bảng 3.14 Tỷ lệ sử dụng thuốc giảm đau hạ sốt sản xuất trong nước và ngoại nhập theo dạng chế phẩm
Dạng chế phẩm Biệt dược nội Biệt dược ngoại
Số lượt mua Tỷ lệ (%) Số lượt mua Tỷ lệ (%) Đơn độc 74 38,14 82 95,35
Dựa vào bảng 3.14, có thể thấy các chế phẩm GĐHS sản xuất trong nước được ưa chuộng hơn, với 194/ 280 lượt mua thuốc GĐHS, lớn hơn khoảng 2,25 lần so với số lượt mua chế phẩm ngoại nhập Điều đó chứng tỏ các sản phẩm thuốcGĐHS trong nước rất có lợi thế cạnh tranh bởi chất lượng tốt, giá thành phải chăng. Đối với các chế phẩm GĐHS sản xuất trong nước, dạng phối hợp được ưa chuộng sử dụng hơn (120 lượt mua, chiếm 61,86% tổng số lượt mua thuốc GĐHS sản xuất trong nước), phù hợp với đặc điểm dịch tễ bệnh cảm cúm ở nước ta.
Ngược lại, đối với các chế phẩm GĐHS ngoại nhập, dạng đơn độc lại được ưa chuộng sử dụng hơn (82 lượt mua, chiếm 95,35% tổng số lượt mua thuốc GĐHS ngoại nhập) Có thể nói đây chính là nguyên nhân mà các chế phẩm GĐHS ngoại nhập có mặt tại các nhà thuốc quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng chỉ chủ yếu là các chế phẩm đơn độc như đã nhận xét ở phần 3.1.4.
3.2.2 Sự khác biệt về sử dụng thuốc giảm đau hạ sốt trong trường hợp có đơn và không có đơn
3.2.2.1 Tỷ lệ khách hàng mua thuốc giảm đau hạ sốt có đơn và không có đơn.
Kết quả về tỷ lệ các loại hình mua thuốc được thể hiện ở bảng 3.16.
Bảng 3.15 Tỷ lệ khách hàng mua thuốc giảm đau hạ sốt theo hình thức mua
Hình thức mua Số lượt người Tỷ lệ (%)
Không Tự điều trị* 104 37,14 có đơn Theo tư vấn của dược sĩ 152 54,29
(*) Tự điều trị: Mua thuốc nhưng không hỏi ý kiến bác sĩ, dược sĩ.