CHƯƠNG TRÌNH HỘI THẢO “Phát triển công nghiệp chế biến nông sản và cơ giới hóa nông nghiệp trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4” 13:30 -14:00 Đón tiếp Đại biểu Học viện
Trang 1BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC
PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN NÔNG SẢN VÀ CƠ GIỚI HÓA
NÔNG NGHIỆP TRONG BỐI CẢNH CUỘC CÁCH MẠNG
CÔNG NGHIỆP LẦN THỨ 4
HÀ NỘI, THÁNG 9 NĂM 2019
Trang 3CHƯƠNG TRÌNH HỘI THẢO
“Phát triển công nghiệp chế biến nông sản và cơ giới hóa nông nghiệp
trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4”
13:30 -14:00 Đón tiếp Đại biểu Học viện Nông nghiệp VN
nông nghiệp và chiến lược phát triển ngành chế biến nông sản thực phẩm ở Việt Nam Học viện Nông nghiệp VN Báo cáo thực trạng và giải pháp phát triển
công nghệ bảo quản, giảm tổn thất sau thu hoạch ở Việt Nam
Viện Cơ điện nông nghiệp và Công nghệ sau thu hoạch
Đào tạo nguồn nhân lực phát triển cơ điện nông nghiệp, công nghệ sau thu hoạch và công nghệ chế biến đáp ứng cuộc cách mạng nông nghiệp 4.0 ở Việt Nam
Học viện Nông nghiệp VN
16:00 - 16:15 Nghỉ giải lao
17:30 - 17:45 Phát biểu kết luận Thứ trưởng Trần Thanh Nam
BAN TỔ CHỨC
Trang 5MỤC LỤC
Báo cáo công nghiệp chế biến nông sản và cơ giới hóa nông nghiệp - thực
trạng và giải pháp phát triển
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 1
Giải pháp trọng tâm trong công nghiệp chế biến nông sản Việt Nam
Hoàng Xuân Bình - Chủ tịch Hội DN VN tại Ba Lan 29
Công nghệ chế biến sâu: giải pháp để nâng cao giá trị gia tăng và sản xuất
bền vững cho rau qủa tươi Việt Nam
Trần Thị Định, Nguyễn Thị Quyên và Trần Thị Lan Hương 35
Thực trạng và giải pháp khoa học công nghệ phát triển công nghiệp chế biến
nông - lâm - thủy sản sau thu hoạch tại Việt Nam
Phạm Anh Tuấn 42
Tổng quan nghiên cứu ứng dụng công nghệ máy học (machine learning)
nâng cao quá trình quản lý chăm sóc cây trồng
Nguyễn Quang Huy và Nguyễn Thái Học 49
Đào tạo nguồn nhân lực phát triển cơ điện nông nghiệp, công nghệ sau thu hoạch và công nghệ chế biến đáp ứng cuộc cách mạng nông nghiệp 4.0 ở
Việt Nam
Nguyễn Thanh Hải, Giang Trung Khoa và Nguyễn Thị Hiên 60
Ứng dụng công nghệ iot và mạng cảm biến thông minh trong việc tự động
giám sát các quá trình chăn nuôi gia súc
Nguyễn Thái Học và Nguyễn Quang Huy 70
Cách mạng công nghiệp 4.0 trong lĩnh vực nông nghiệp và chiến lược phát
triển ngành chế biến nông sản thực phẩm ở Việt Nam
Trần Như Khuyên và Đặng Thanh Sơn 84
Cơ giới hóa khâu thu hoạch chuối cho vùng sản xuất chuối tập trung
Lê Vũ Quân 96
Robot - thế hệ nông dân mới của nhật bản và khả năng ứng dụng ở Việt Nam
Nguyễn Thị Hiên 106
Giải pháp phát triển chế biến sâu nông sản phục vụ xuất khẩu ở Việt Nam -
nghiên cứu trường hợp sản phẩm lúa gạo, cao su, cá tra
Quyền Đình Hà 118
Trang 6Tổng quan chính sách khuyến khích chế biến nông sản ở Việt Nam: thành tựu và bất cập
Nguyễn Phượng Lê và nhóm NCM Chính sách nông nghiệp 130
Tiếp cận nông nghiệp 4.0 nhằm thúc đẩy chuỗi giá trị gạo đặc sản séng cù tại khu vực miền núi phía bắc, Việt Nam
Bùi Thị Lâm, Trần Hữu Cường và Philippe Lebailly 144
Liên kết chuỗi từ cơ sở sản xuất bia, cơ sở sản xuất thức ăn chăn nuôi đến trang trại chăn nuôi lợn trên địa bàn Hà Nội
Trần Thị Thu Hương và Trần Hữu Cường 162
Tiếp cận chính sách thực phẩm theo chuỗi trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 tại việt nam và thành phố Đà Nẵng
Nguyễn Văn Phương và Đặng Thị Kim Hoa 179
Tác động của áp dụng công nghệ cao đến hiệu quả kinh tế từ sản xuất rau tại Mộc Châu, Sơn La
Nguyễn Đăng Học và Bùi Thị Khánh Hòa 184
Trang 7BỘ NÔNG NGHIỆP
VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Hà Nội, ngày tháng năm 2019
BÁO CÁO CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN NÔNG SẢN VÀ CƠ GIỚI HÓA NÔNG NGHIỆP - THỰC TRẠNG
VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN
PHẦN A CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN, BẢO QUẢN NÔNG SẢN VIỆT NAM
1 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN NÔNG LÂM THỦY SẢN
1.1 Kết quả đạt được
Thời gian qua, công nghiệp chế biến nông lâm thủy sản (gọi chung là nông sản) của cả nước đã có nhiều kết quả to lớn, góp phần phát triển sản xuất nông nghiệp và ổn định kinh
tế - xã hội của đất nước Thể hiện tập trung những kết quả chính sau:
- Góp phần tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu nông sản của cả nước: Từ năm 2013-2018
công nghiệp chế biến nông sản cả nước đã có bước phát triển mạnh trên cả quy mô và mức
độ hiện đại so với 5 năm trước (2007-2012), tốc độ tăng trưởng giá trị gia tăng hằng năm đạt khoảng 5-7% Nhờ công nghiệp chế biến nông sản tăng trưởng mạnh mà các mặt hàng nông sản xuất khẩu tăng bình quân khoảng 8-10%/năm trong 2 năm năm vừa qua; tiếp tục duy trì 10 nhóm mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu hàng năm từ 1,0 tỷ USD trở lên, trong
đó có 6 mặt hàng đạt kim ngạch trên 3 tỷ USD; năm 2018 xuất khẩu đạt 40,02 tỷ USD (tăng 9,6%)
- Bước đầu hình thành hệ thống công nghiệp chế biến nông sản:
+ Về số lượng: Đã hình thành và phát triển hệ thống công nghiệp chế biến bảo quản nông sản với trên 7.500 cơ sở quy mô công nghiệp gắn với xuất khẩu Ngoài ra còn có hàng vạn cơ sở chế biến nông sản nhỏ, lẻ, hộ gia đình rải khắp các địa bàn làm nhiệm vụ sơ chế
và chế biến phục vụ tiêu dùng nội địa Một số tập đoàn kinh tế lớn đã chú trọng đầu tư vào chế biến sản phẩm nông nghiệp; từ năm 2018 đến nay, đã có 30 dự án đầu tư lớn vào chế biến sản phẩm nông nghiệp đã hoạt động và đang triển khai trên cả nước với tổng vốn đầu
tư trên 20.000 tỷ đồng
+ Về công nghệ chế biến và chất lượng sản phẩm: Nhìn chung trình độ công nghệ chế biến nông sản Việt Nam đạt mức độ trung bình đến trung bình khá, một số ngành hàng hoặc một số sản phẩm có công nghệ và thiết bị chế biến tương đối hiện đại mang tầm của khu vực và thế giới, như chế biến hạt điều, chế biến lúa gạo, tôm, cá tra Bước đầu một số ngành hàng, các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế đã đầu tư đổi mới công nghệ, chú trọng áp dụng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật tiên tiến, đã đáp ứng được yêu cầu về chất lượng và ATTP đối với các thị trường khó tính như Mỹ, EU, Nhật Bản (các cơ sở chế biến nông lâm thủy sản của các công ty: Doveco, TH group, Masan, Lenger seagood Viet Nam, Nafood, Dabaco Bắc Ninh, Ba Huân, Minh Phú, Angifish,…
Trang 8- Góp phần chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp và thúc đẩy sản xuất nguyên liệu nông sản phát triển: Công nghiệp chế biến nông sản xuất khẩu phát triển đã góp phần làm chuyển
đổi mạnh mẽ cơ cấu sản xuất nông nghiệp, từ nền nông nghiệp tự cung tự cấp tiến lên nền nông nghiệp hiện đại, sản xuất hàng hóa lớn nhằm cung cấp nguyên liệu đầu vào cho chế biến, phục vụ xuất khẩu và tiêu dùng nội địa như mặt hàng quả vải, nhãn, cam, chè, mía, thủy sản
- Góp phần phát triển kinh tế khu vực nông thôn và xây dựng nông thôn mới:
Các nhà máy chế biến NLTS phần lớn được xây dựng ở nông thôn, các vùng sâu, vùng
xa, kinh tế kém phát triển, đã đóng góp tích cực trong việc cải thiện bức tranh kinh tế - xã hội nông thôn; thu hút, khơi dậy và phát huy nội lực của các thành phần kinh tế, thoát ly bao cấp, vươn lên từ ý thức tự lực, tự cường; hình thành các thị trấn, thị tứ tại khu vực nhà máy
Chế biến NLTS đã giải quyết việc làm trực tiếp cho khoảng 1.600.000 lao động mà phần lớn là con em nông dân, với mức thu nhập bình quân 5.000.000 - 7.000.000 đồng/tháng; góp phần to lớn cho xóa đói giảm nghèo ở nông thôn
- Đưa nông nghiệp hội nhập thành công với thị trường thế giới:
Nhiều ngành hàng trong lĩnh vực chế biến NLTS đã hội nhập rất tốt với kinh tế thế giới Sản phẩm chế biến nông sản Việt Nam đã xuất khẩu hầu khắp các nước trên thế giới trên 180 nước và vùng lãnh thổ, kể cả thị trường khó tính như: EU, Mỹ, Nhật bản, Úc
Tình hình chế biến một số ngành hàng:
(1) Lúa gạo:
- Cả nước có khoảng 580 cơ sở xay xát gạo quy mô công nghiệp; cơ sở có công suất dưới 10.000 tấn thóc/năm chiếm khoảng 38,5%; cơ sở có công suất trên 10.000 tấn thóc/năm chiếm khoảng 61,5% (trong đó cơ sở có công suất lớn trên 100.000 tấn thóc/năm chiếm khoảng 3%) Tổng công suất kho chứa bảo quản lúa gạo dạt 7 triệu tấn Các cơ sở xay xát gạo đặt tại miền Nam (chiếm trên 95%) với tổng năng lực xay xát 13,5 triệu tấn SP/năm, chiếm khoảng 60% sản lượng chế biến cả nước
- Trình độ công nghệ chế biến lúa gạo Việt Nam đạt mức trung bình tiên tiến Công nghệ thiết bị cho chế biến gạo của nước ta gần đây đã có nhiều tiến bộ so với các nước trong khu vực và phần lớn do các doanh nghiệp trong nước chế tạo
Trang 9- Trình độ công nghệ chế biến cà phê Việt Nam đạt mức độ trung bình tiên tiến, đã có nhiều doanh nghiệp hiện đại, với trang thiết bị tiến tiến
- Tỷ lệ nguyên liệu đưa vào chế biến đạt thấp chỉ khoảng 5-10% Sản lượng rau quả chủ yếu được tiêu thụ dưới dạng tươi
(4) Chè:
- Cả nước có 455 cơ sở chế biến chè có công suất từ 1 tấn chè búp tươi/ngày trở lên Tổng công suất chế biến thiết kế là 4.646 tấn/ngày, năng lực chế biến gần 1,5 triệu tấn búp tươi/năm (TBT/năm), công suất thực tế chỉ đạt 600 ngàn TBT/năm (khoảng 40% công suất thiết kế)
- Trình độ công nghệ chế biến đạt mức trung bình; số nhà máy được trang bị đồng bộ, máy móc thiết bị tốt, đảm bảo các tiêu chuẩn kỹ thuật chiếm 20%; số nhà máy trung bình là 40%; còn lại 40% số cơ sở chế biến chắp vá
- Cơ cấu sản phẩm với 3 loại chính: Chè đen sơ chế chiếm 46,3% tổng sản lượng (trong đó 60% là OTD, 40% là CTC) chủ yếu dành cho xuất khẩu; Chè xanh chiếm 52,4% tổng sản lượng
(5) Cao su:
- Cả nước có 161 doanh nghiệp sơ chế mủ cao su với tổng công suất thiết kế là 1.218.100 tấn mủ khô/năm, phân bố tập trung tại vùng Đông Nam Bộ là nơi tập trung nhiều nhà máy
nhất, kế đến là Tây Nguyên và Bắc Trung Bộ
- Cơ cấu sản phẩm cao su sơ chế bao gồm: Cao su khối tiêu chuẩn Việt Nam chiếm khoảng 70% tổng sản lượng; Cao su cô đặc (ly tâm) hoặc Latex chiếm 6-8%; Cao su tờ xông khói RSS 3 chiếm khoảng 4-5%; Cao su hỗn hợp mới phát triển gần đây do nhu cầu của thị
trường Trung Quốc chiếm khoảng 5%
- Chế biến cao su thành các sản phẩm cao su công nghiệp: Phục vụ công nghiệp ô tô: săm lốp ô tô, xe máy; Phục vụ y tế và dân sinh: găng tay y tế, găng bảo hộ lao động, đệm mút, tấm lót
(6) Điều:
- Tổng sản lượng điều nguyên liệu đưa vào chế biến hằng năm là 1.500.000 tấn Nguồn cung cấp nguyên liệu cho ngành chế biến điều hiện nay phụ thuộc vào nhập khẩu, chiếm đến 2/3 sản lượng
- Cả nước có hơn 465 doanh nghiệp chế biến điều với tổng công suất thiết kế trên 1,5 triệu tấn hạt/năm Các doanh nghiệp có quy mô công suất lớn chiếm 30% số cơ sở (151/465DN) chiếm trên 70% tổng sản phẩm chế biến Trong đó: Chế biến sâu có khoảng 20 doanh nghiệp
Trang 10lớn (điều rang muối, điều chiên bơ, điều có gia vị, điều hỗn hợp, bánh kẹo điều…) với công suất 15,4 nghìn tấn sản phẩm/năm Chế biến dầu vỏ hạt có 26 cơ sở, công suất 80.000 tấn sản phẩm/năm và 5 cơ sở tinh luyện dầu vỏ hạt, công suất 6.000 tấn sản phẩm/năm
- Công nghệ sơ chế, chế biến điều Việt Nam được đánh giá cao trên thế giới
- Về công nghệ: Đa số các nhà máy (33/41 nhà máy) sử dụng trang thiết bị, dây chuyền sản xuất có nguồn gốc từ Trung Quốc, Ấn Độ có mức độ tự động hóa không cao
- Sản phẩm: Đường (vàng, RS, RE) và các sản phẩm phụ sau đường, cạnh đường như cồn, điện, phân vi sinh
70.000 Sản phẩm: tiêu đen, tiêu trắng, tiêu nghiền bột; ngoài ra còn có các sản
phẩm có số lượng ít như: tiêu đỏ, tiêu xanh, tiêu đỏ ngâm nước muối,
- Về chất lượng sản phẩm và ATTP: Hạt tiêu Việt Nam đã bị một số thị trường cảnh báo
về vấn đề ATTP về dư lượng thuốc BVTV, nhiễm nấm mốc, vi khuẩn Salmonella spp
(9) Thịt:
Tổng số cơ sở giết mổ: 27.918 cơ sở, trong đó:Giết mổ tập trung: 878 cơ sở (Trâu bò: 48; Lợn: 529; Gia cầm: 137; Hỗn hợp: 164); Giết mổ nhỏ lẻ: 27.040 cơ sở (Trâu bò: 1247; Lợn: 22.211; Gia cầm: 3.3388; Hỗn hợp: 194)
- Hiện nay, tổng số cơ sở giết mổ GSGC của cả nước là quá lớn Tuy nhiên, các cơ sở tập trung là rất ít chiếm 3,1% mà chủ yếu vẫn là quy mô nhỏ lẻ Số lượng các cơ sở giết mổ có đăng ký kinh doanh và số cơ sở được kiểm soát không nhiều (Số CS GM có đăng ký KD: 5.724; Số CS được KSGM: 9.205)
- Các cơ sở giết mổ, chế biến thịt qui mô công nghiệp chỉ sử dụng được khoảng 30% công suất do sự cạnh tranh với các cơ sở giết mổ qui mô nhỏ chi phí thấp và thói quen tiêu dùng thịt tươi sống của người tiêu dùng Tuy vậy, các doanh nghiệp đang tích cực xây dựng mô hình sản xuất - kinh doanh mới và tích cực tìm kiếm thêm thị trường xuất khẩu
(10) Sắn:
- Sản lượng sắn củ tươi hàng năm đạt khoảng 10-11 triệu tấn, trong đó khoảng 8,5-9 triệu tấn đưa vào chế biến (4,5 triệu tấn chế biến tinh bột, 4-5 triệu tấn chế biến sắn lát khô)
Trang 11- Các sản phẩm chế biến từ sắn chủ yếu là tinh bột sắn, tinh bột biến tính, sắn lát khô, một phần nhỏ sản xuất ethanol nhiên nhiệu
- Hiện nay có trên 500 cơ sở, nhà máy chế biến sắn, mỗi năm sản xuất được khoảng 1,2 triệu tấn tinh bột sắn Quy mô nhỏ có 400 cơ sở với công suất 0,5-10 tấn sản phẩm/ngày, quy mô vừa dưới 50 tấn sản phẩm/ngày có khoảng 60 cơ sở, quy mô lớn trên 50 tấn sản phẩm/ngày có khoảng 50 cơ sở Tổng công suất thiết kế các cơ sở chế biến tinh bột sắn đạt trên 2,2 triệu tấn SP/năm, mới phát huy được trên 60% công suất thiết kế
- Nhìn chung các cơ sở chế biến sắn không đủ nguyên liệu để hoạt động nên mới phát huy được khoảng 60% công suất thiết kế
Có 400 DN FDI, hàng năm chiếm 50% GTXK gỗ của Việt Nam
- Cơ cấu sản phẩm gỗ hiện nay: Sản phẩm mỹ nghệ (có GTGT cao); Sản phẩm nội thất (chủ yếu xuất khẩu); Sản phẩm ngoài trời (chủ yếu xuất khẩu); Sản phẩm kết hợp với vật liệu khác; Sản phẩm ván nhân tạo (có GTGT cao);
Dăm gỗ (xuất khẩu dạng thô)
- Hạn chế: Trang thiết bị kém nhất là cơ sở nhỏ, gia đình; lao động không có đào tạo; thiếu thương hiệu; xuất khẩu chủ yếu sản phẩm thô là dăm gỗ…
- Quản lý chất lượng: Áp dụng 100% hệ thống QLCN theo HACCP ở cơ sở chế biến xuất khẩu nên được thị trường thế giới chấp nhận
1.2 Những hạn chế, yếu kém của công nghiệp chế biến nông sản và nguyên nhân
1.2.1 Hạn chế, yếu kém
Công nghiệp chế biến nông sản vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế như: Chưa đáp ứng được yêu cầu đầu ra cho khâu sản xuất nguyên liệu, gia tăng giá trị hàng nông sản qua chế biến còn thấp; chất lượng sản phẩm chưa ổn định, còn tiềm ẩn nguy cơ mất vệ sinh an toàn thực phẩm; dây chuyền thiết bị cũ, công nghệ còn lạc hậu, sản phẩm đơn giản, tiêu hao nhiều nguyên liệu và năng lượng; sản phẩm chế biến sâu có GTGT cao tỷ lệ còn thấp, chủng loại sản phẩm chế biến chưa phong phú; nguồn lực tài chính cũng như nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu; việc thực hiện cơ chế chính sách đã ban hành còn hạn chế, thiếu sự nhất quán, đặc biệt về cơ chế tài chính do nguồn lực còn chưa đáp ứng yêu cầu… cụ thể như sau:
Trang 12a Về tổ chức sản xuất nguyên liệu cho chế biến
- Các doanh nghiệp chưa chủ động được nguồn cung nguyên liệu: Số lượng, thời điểm, chủng loại, chất lượng, mức độ an toàn (an toàn thực phẩm, dư lượng các chất bảo quản, tính hợp pháp về nguồn gốc xuất xứ của nguyên liệu ); giá mua nguyên liệu cao, đã ảnh hưởng rất nhiều trong việc doanh nghiệp muốn đầu tư vào lĩnh vực chế biến nông sản
- Sự liên kết giữa các khâu trong chuỗi giá trị sản xuất - Chế biến - Tiêu thụ của các ngành hàng nhìn chung phần lớn thiếu chặt chẽ; Ngoại trừ một số ngành hàng đã tổ chức tốt khâu chế biến gắn với sản xuất nguyên liệu như: Mía đường, cá tra, tôm nuôi và một số doanh nghiệp, tập đoàn công ty lớn có năng lực đã liên kết tốt với người nông dân như: Tập đoàn Lộc Trời, Gentraco, Lương thực Sông Hậu, Công ty Hoàng Nhật Minh, Công ty Cờ Đỏ trong sản xuất lúa gạo; Vinamilk, TH True milk, Masan trong ngành sữa, thịt; Nafood, Doveco, Vineco, TH group trong ngành rau quả…
b Về công suất chế biến
Nhìn chung năng lực chế biến phần lớn các ngành hàng đáp ứng tiêu thụ hết nông sản sản xuất ra, nhưng khả năng chế biến đối với một số ngành hàng còn yếu, thiếu công suất chế biến, chưa đáp ứng được nhu cầu, nhất là cao điểm của mùa vụ như:
- Rau quả, thịt: Số lượng đưa vào chế biến chỉ chiếm 5 -10% sản lượng hằng năm
- Mía đường, lúa gạo, cà phê, tiêu, điều, sắn, thủy sản…: Không đủ công suất chế biến khi vào chính vụ nên gây ra nhiều tổn thất sau thu hoạch
c Về công nghệ chế biến
Trình độ công nghệ chế biến nông sản của Việt Nam nhìn chung ở mức độ trung bình của thế giới, tuy một số lĩnh vực công nghệ chế biến ở mức độ khá nhưng chưa nhiều.Cơ sở chế biến của nhiều ngành hàng có tuổi đời trên 15 năm chiếm trên 70%, thiết bị cũ, công nghệ lạc hậu, tốn nhiều nguyên liệu, năng lượng, năng suất thấp như cơ sở sơ chế biến chè, cao su, sắn,… Cụ thể:
- Ngành hàng có trình độ công nghệ chế biến trung bình khá trở lên như: thủy sản, điều, gạo, cao su, sữa…
- Ngành hàng có trình độ công nghệ chế biến trung bình thấp và lạc hậu như: Chè, giết
mổ GSGC và phần lớn số cơ sở chế biến nông lâm thủy sản có quy mô nhỏ,hộ gia đình (chiếm khoảng 90% số cơ sở)
- Hệ số đổi mới thiết bị chỉ ở mức 7%/năm (bằng 1/2 đến 1/3 mức tối thiểu của các nước khác)
d Về công tác bảo quản sau thu hoạch
Đây là khâu yếu, tổn thất sau thu hoạch còn lớn, tùy lĩnh vực nhưng giao động từ 20%; cơ sở vật chất như phương tiện chứa đựng, tích trữ, kho bảo quản còn thiếu thốn, không phù hợp; công nghệ bảo quản tiên tiến chưa được nghiên cứu, chuyển giao áp dụng nhiều trong thực tiễn Cụ thể như: Rau, quả, sắn: Khoảng 20-30%; Cà phê, tiêu, điều, chè:
10-Khoảng 10-15%; Thủy sản đánh bắt: khoảng 15-20%; Lúa gạo: 5-7%
đ Về cơ cấu mặt hàng chế biến
Sản phẩm chế biến chủ yếu vẫn là sản phẩm sơ chế có GTGT thấp chiếm 70-85%, sản phẩm chế biến có GTGT cao chiếm khoảng 15-30% tùy lĩnh vực nên việc nâng cao giá trị hàng nông sản Việt Nam thông qua chế biến chưa cao Cụ thể: Thủy sản: Khoảng 30%; Các
Trang 13loại nông sản khác: Khoảng 10-20%; Sản phẩm bao gói nhỏ cung cấp cho bán lẻ chỉ chiếm
khoảng 10%
e Công tác thương mại và XTTM, tháo gỡ rào cản còn nhiều hạn chế
- Cơ cấu thị trường có thay đổi, song vẫn còn lệ thuộc quá lớn vào một hoặc một số thị trường truyền thống như: Trung Quốc, Mỹ, EU
- Công tác nghiên cứu, phân tích và dự báo thị trường đặc biệt là thị trường xuất khẩu thiếu cụ thể, không kịp thời, chưa thực sự định hướng cho phát triển sản xuất, chế biến sản phẩm theo tín hiệu của thị trường
- Rào cản của thị trường xuất khẩu còn nhiều: Rào cản về thuế chống bán phá giá, thuế chống trợ cấp chính phủ; điều kiện về lao động, môi trường, truy xuất nguồn gốc các nước dựng lên ngày càng nhiều
g Cơ chế chính sách chưa đủ hấp dẫn việc đầu tư vào chế biến NLTS
- Nhìn chung trong 5 năm (2013-2018) cơ chế chính sách đã ban hành trong lĩnh vực chế biến nông lâm thủy sản tương đối đầy đủ nhưng đổi mới chậm, hiệu quả chưa cao do tính thực thi còn hạn chế, thiếu sự nhất quán, đặc biệt về cơ chế tài chính, nguồn lực yếu
- Các chiến lược, chương trình, đề án, cơ chế, chính sách chỉ có một phần nội dung liên quan đến lĩnh vực chế biến chưa có chính sách riêng nên rất phân tán hoặc đã lạc hậu so với tình hình mới và chưa đủ mạnh
Cụ thể:
- Vềđất đai: Tích tụ đất đai, xây dựng vùng nguyên liệu tập trung đang là điểm nghẽn lớn nhất trong thu hút đầu tư doanh nghiệp vào sản xuất và chế biến Chuyển đổi linh hoạt theo Nghị định 35/2015/NĐ-CP nhằm tích tụ đất đai như: cho thuê đất; chuyển nhượng quyền sử dụng đất; góp vốn bằng đất; chính quyền xã thuê lại đất của những hộ không có nhu cầu để cho doanh nghiệp thuê lại song kết quả còn rất hạn chế Nông dân vẫn có tâm
lý lo mất đất khi tham gia vào HTX hoặc liên kết sản xuất lớn với doanh nghiệp
- Về đầu tư:
+ Nghị định 210/2013/NĐ-CP ngày 19/12/2013 của Chính phủ về Khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn qua gần 4 năm, cả nước mới chỉ có 64 dự án tại
23 địa phương nhận được hỗ trợ từ nghị định; tính khả thi của Nghị định thấp
+ Chính phủ vừa mới ban hành Nghị định 57/2018/NĐ-CP ngày 17/4/2018 thay thế Nghị định 210 và Luật số: 04/2017/QH14 Luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017, nên chưa thể đánh giá hiệu quả của những chính sách này
+ Về đầu tư nước ngoài, tỷ trọng vốn FDI trong lĩnh vực nông nghiệp tăng nhẹ kể từ năm 2012 đến nay với mức tăng khoảng 1%/năm Nhìn chung, tổng vốn FDI vào nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong tổng vốn đầu tư so với tiềm năng vốn có của nông nghiệp Việt Nam
- Về tài chính, tín dụng: Việc tiếp cận tín dụng và tín dụng ưu đãi theo các chính sách
hỗ trợ của Chính phủ (các quyết định 62/2013/QĐ-TTg; 68/2013/QĐ-TTg; tái canh cà phê…) còn gặp nhiều trở ngại về thủ tục và đối tượng cho vay, mức độ giải ngân nguồn vốn cho vay còn rất thấp so với yêu cầu Chính phủ mới ban hành Nghị định số 98/2018/NĐ-CP ngày 05/7/2018 về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu
Trang 14thụ sản phẩm nông nghiệp để tăng cường liên kết, được kỳ vọng sẽ giải quyết một phần hạn
chế này
- Về thực hiện các Chương trình Khoa học và Công nghệ quốc gia: Đến nay 03 Chương trình khoa học và công nghệ quốc gia đã thu hút được hơn 150 đơn vị tham gia thực hiện, trong đó gần 60% là doanh nghiệp
Riêng đối với lĩnh vực chế biến, bảo quản nông lâm thủy sản và cơ giới hóa sản xuất nông nghiệp thì số lượng các nhiệm vụ không nhiều như: Chiết tách tinh dầu dừa VCO bằng phương pháp không gia nhiệt; chế biến phụ phẩm mỡ các tra thành dầu ăn; hoàn thiện công nghệ sơ chế và chế biến, sản xuất đa dạng hóa sản phẩm từ cà phê Việt Nam; chế tạo bao gói khí quyển biến đổi (MAP) phục vụ bảo quản nông sản, thực phẩm… Như vậy
so với nhu cầu của cả lĩnh vực chế biến nông lâm thủy sản là quá ít so với nhu cầu, ngoài ra việc triển khai rất phức tạp do quá nhiều khâu thủ tục và đơn vị quản lý nên tác động của các Chương trình KH và CN quốc gia là không lớn
- Cơ chế quản lý và phối hợp điều hành của các cơ quan quản lý nhà nước chưa đồng bộ Việc cấp phép đầu tư các cơ sở chế biến tại các địa phương không theo quy hoạch chung, dẫn đến mất cân đối giữa sản xuất nguyên liệu và chế biến, làm giảm năng lực cạnh tranh ngay
từ khâu sản xuất
h Nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu
Trình độ quản lý và tay nghề chuyên môn thấp, số lượng qua đào tạo chiếm tỷ lệ rất thấp Theo số liệu thống kê, có tới 55,63% số chủ doanh nghiệp có trình độ học vấn từ trung cấp trở xuống, trong đó 43,3% chủ doanh nghiệp có trình độ học vấn từ sơ cấp và phổ thông các cấp
Về lực lượng lao động, có tới 75% lực lượng lao động trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ chưa
qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật
1.2.2 Nguyên nhân
a Nguyên nhân khách quan
- Biến đổi khí hậu đến nhanh và mạnh hơn so với dự báo, thiên tai ngày càng khắc nghiệt, mức độ ảnh hưởng lớn tác động mạnh đến quá trình thực hiện cơ cấu lại nông nghiệp
- Chế biến nông lâm thủy sản phụ thuộc vào mùa vụ (nhất là bảo quản, chế biến các cây ngắn ngày), trong khi quy mô sản xuất nông nghiệp dù đã được cải thiện, song toàn cục vẫn nhỏ lẻ, chưa tạo được nhiều vùng nguyên liệu tập trung, không kiểm soát được chất lượng sản phẩm chế biến ngay từ khâu “đầu vào” của sản xuất
- Sự biến động bất thường của thị trường thế giới vượt ra ngoài khả năng dự báo Các nước nhập khẩu có xu hướng bảo hộ sản phẩm trong nước nên dựng lên nhiều rào cản thương mại
b Nguyên nhân chủ quan
- Tăng trưởng công nghiệp chế biến NLTS phụ thuộc nhiều vào yếu tố về tài nguyên, lao động giá rẻ trình độ thấp, chưa dựa nhiều vào khoa học công nghệ Các cơ sở chế biến nước
ta phần lớn là quy mô nhỏ và vừa chiếm trên 90% số cơ sở, trình độ công nghệ một số ngành hàng còn thấp; trong khi đó, hầu hết các doanh nghiệp đều thiếu vốn, các nguồn vốn cho vay hiện nay đều có lãi suất cao nên hiệu quả kinh tế thấp, chưa hấp dẫn các nhà đầu tư
Trang 15- Tồn tại nhiều vướng mắc trong cơ chế chính sách, nhất là chính sách về đất đai; việc triển khai thực hiện nhiều chủ trương chính sách đã ban hành còn chậm, thiếu nguồn lực
để thực hiện (chính sách hỗ trợ phát triển thủy sản, chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn, chính sách hỗ trợ giảm tổn thất trong nông nghiệp)…nên hiệu quả thực tế thấp
- Chất lượng công tác tham mưu về phát triển công nghiệp chế biến NLTS chưa cao,
chưa có tầm chiến lược Chưa đề xuất được chính sách mang tính “đột phá”cho lĩnh vực này
Việc chỉ đạo điều hành và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp phát triển công nghiệp chế biến của các cấp, các ngành chưa quyết liệt; công tác xúc tiến đầu tư còn hạn chế Chính sách huy động, phân bổ và sử dụng các nguồn lực cho phát triển công nghiệp chế biến nông sản chưa có bước đột phá Sự chuyển biến về nhận thức chưa theo kịp thực tiễn, lúng túng trong tiếp cận và triển khai các giải pháp
2 DỰ BÁO TÌNH HÌNH, MỤC TIÊU CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN NLTS
2.1 Dự báo tình hình trong và ngoài nước
- Những chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước như: Nghị quyết 26/NQ-TW về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; Quyết định của Chính phủ 889/QĐ-TTg ngày 10/6/2013 về tái
cơ cấu nông nghiệp tạo sự nhất quán lớn về quyết tâm chính trị và các giải pháp phát triển nông nghiệp, trong đó nhấn mạnh việc nâng cao năng lực công nghiệp chế biến và phát triển thị trường tiêu thụ nông sản hàng hóa
- Việt Nam có điều kiện tự nhiên thuận lợi để sản xuất các nông sản nhiệt đới đáp ứng nhu cầu tiêu thụ của thị trường thế giới, là nước đang phát triển, nguồn lao động dồi dào và còn nhiều dư địa để đẩy mạnh các ngành hàng có lợi thế cạnh tranh
- Đã hình thành trên thực tế công nghiệp chế biến nông lâm thủy sản có đủ năng lực để chế biến các nông sản hàng hóa sản xuất ra; nhiều doanh nghiệp đã bước đầu tiếp thu các công nghệ hiện đại để chế biến sâu sản phẩm tạo giá trị gia tăng cao
- Đã có những kinh nghiệm bước đầu trong mở mang, phát triển thị trường đến hầu hết quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới
- Việt Nam hội nhập ngày càng sâu vào nền kinh tế thế giới, nhất là các hiệp định thương mại tự do (FTAs) thế hệ mới, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận được thị trường khu vực và thị trường toàn cầu, cũng như tiếp cận thị trường dịch vụ của các nước thuận lợi hơn Xuất khẩu các sản phẩm chế biến sâu của Việt Nam sẽ được gia tăng nhờ phần lớn các rào cản và điều kiện trong buôn bán đã được cam kết dỡ bỏ, chủ yếu
là các hàng rào thuế quan
- Các doanh nghiệp Việt Nam có cơ hội tiếp thu khoa học công nghệ hiện đại, kỹ thuật tiên tiến từ các nước phát triển, tranh thủ được vốn đầu tư nước ngoài và các nguồn lực quan trọng khác Lợi thế này không chỉ nhìn từ góc độ hiện tại mà còn là tiềm năng phát triển trong tương lai
2.2 Thách thức đối với công nghiệp chế biến nông sản
- Việt Nam là 1 trong 5 quốc gia chịu ảnh hưởng lớn nhất của biến đổi khí hậu, đe dọa sản xuất nông nghiệp, ảnh hưởng lớn đến nguyên liệu phục vụ chế biến
Trang 16- Quy mô sản xuất nông nghiệp nhỏ lẻ, chưa thật sự hình thành một nền nông nghiệp lớn theo hướng hiện đại Nguyên liệu phục vụ chế biến chất lượng thấp, không đảm bảo tiêu chuẩn, an toàn thực phẩm (nhất là dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, kháng sinh trong chăn nuôi) đang là thách thức lớn
- Năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam thấp, trong khi các nguồn lực (vốn, công nghệ, nguồn nhân lực, năng lực quản trị và hội nhập) còn rất kém, hạn chế đến quá trình đầu tư chuyển đổi cơ cấu sản phẩm
- Thị trường thế giới nhiều biến động, trong khi nông lâm thủy sản Việt Nam còn phụ thuộc quá lớn vào một hoặc một số thị trường Ngành công nghiệp hỗ trợ và dịch vụ logistics
ở Việt Nam chưa phát triển, chí phí của nền kinh tế cao so với các quốc gia khác
2.3 Mục tiêu phát triển đến năm 2030
2.3.1 Mục tiêu tổng quát
Đến năm 2030, công nghiệp chế biến nông sản có đủ năng lực chế biến đảm bảo đầu ra cho sản xuất nông nghiệp; đạt trình độ công nghệ từ trung bình tiên tiến trở lên, thuộc nhóm 3 nước dẫn đầu khu vực ASEAN, trong đó một số ngành hàng dẫn đầu thế giới; sản phẩm đáp ứng tốt các yêu cầu của thị trường tiêu thụ, có khả năng cạnh tranh cao, đảm bảo chất lượng và an toàn thực phẩm; góp phần tăng nhanh giá trị gia tăng và kim ngạch xuất khẩu
2.3.2 Mục tiêu cụ thể
- Tỷ trọng công nghiệp chế biến nông sản trong GDP của ngành nông nghiệp đạt trên 30%
- Tốc độ tăng giá trị hàng nông sản qua chế biến đạt 7-8%/năm
- Trên 50% số cơ sở chế biến các mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực đạt trình độ công nghệ sản xuất tiên tiến
- Tốc độ tăng năng suất lao động đạt trên 7%/năm
- Mức độ cơ giới hoá các khâu trong sản xuất nông nghiệp đạt từ 90-100%; Công suất máy trang bị bình quân cả nước đạt 4-5,5 HP/ha (hiện nay 2,2 HP/ha)
- Xây dựng, phát triển thành công một số tập đoàn, doanh nghiệp chế biến nông lâm thủy sản có quy mô lớn, hiện đại, năng lực cạnh tranh quốc tế cao
2.4 Quan điểm, định hướng phát triển chế biến nông sản đến năm 2030
- Tổ chức liên kết sản xuất trong chuỗi giá trị sản xuất - chế biến và tiêu thụ nông sản
để nâng cao khả năng cung cấp nguyên liệu cho chế biến, đảm bảo đủ về số lượng và chất lượng, giá cả hợp lý và ổn định đối với tất cả mặt hàng
- Đầu tư mới và mở rộng cơ sở chế biến đối với những ngành hàng chưa có hoặc còn thiếu công suất chế biến để đáp ứng được nhu cầu của thị trường tiêu thụ và khả năng sản xuất nguyên liệu như chế biến rau quả, giết mổ và chế biến thịt
- Đầu tư đổi mới công nghệ, hiện đại hóa trang thiết bị chế biến để sản xuất ra sản phẩm phong phú về chủng loại, GTGT cao, hạ giá thành và có sức mạnh cạnh tranh trên thị trường đối với tất cả mặt hàng, đặc biệt mặt hàng chè, rau quả, gia vị nguồn gốc thực vật và các loại thực phẩm chức năng, thảo dược…
Trang 17- Áp dụng khoa học, tiến bộ kỹ thuật và hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến vào chế biến nông sản để đảm bảo kiểm soát được chất lượng, an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc sản phẩm, đáp ứng tốt các yêu cầu của thị trường tiêu thụ, bảo vệ tốt môi trường nhất là đối với các cơ sở chế biến nhỏ lẻ, hộ gia đình đối với các mặt hàng chè, thủy sản, rau quả và lâm sản ngoài gỗ
- Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho chế biến nông sản theo hướng đào tạo và nâng cao trình độ cho đội ngũ cán bộ quản lý doanh nghiệp và công nhân lành nghề có hiểu biết về khoa học công nghệ, kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế
- Nâng cao năng lực cạnh tranh và hội nhập quốc tế cho doanh nghiệp chế biến nông sản theo hướng tăng cường năng lực, nguồn lực, mở rộng thị trường tiêu thụ trong và ngoài nước
2.5 Các giải pháp phát triển công nghiệp chế biến NLTS
2.5.1 Đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế, phát triển thị trường
a Đối với thị trường xuất khẩu
- Tăng cường năng lực nghiên cứu, dự báo và thông tin thị trường; cập nhật thông tin về chính sách thương mại của các quốc gia khác và của từng thị trường về thị phần, thị hiếu, giá cả, tiêu chuẩn sản phẩm, các rào cản… để xây dựng chiến lược, đề án phát triển thị trường cho các sản phẩm nông sản chủ lực;
- Đa dạng hóa thị trường nhất là phát triển các thị trường tiềm năng, thị trường
“ngách”, trong đó quan tâm đặc biệt đến thị trường trọng tâm, trọng điểm của nông sản Việt Nam như Trung Quốc, Mỹ, EU, Nhật Bản ;
- Phối hợp chặt chẽ với các doanh nghiệp, hiệp hội ngành hàng xây dựng và quảng bá thương hiệu ra các nước; hỗ trợ doanh nghiệp về các vấn đề pháp lý giải quyết tranh chấp thương mại, giảm thiểu rủi ro trong hội nhập quốc tế;
- Tổ chức tốt các hoạt động xúc tiến thương mại đối với sản phẩm chủ lực, sản phẩm mới, sản phẩm giá trị gia tăng mang nhãn mác, thương hiệu của Việt Nam đến nhà phân phối lớn, hệ thống siêu thị, người tiêu dùng các nước
b Đối với thị trường trong nước
Coi trọng phát triển thị trường tiêu thụ nội địa, là thị trường tiềm năng với trên 110 triệu người tiêu dùng vào năm 2030 và là giải pháp để hỗ trợ thị trường xuất khẩu Cụ thể:
- Tiếp tục thực hiện có kết quả cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam Xây dựng hình ảnh sản phẩm nông sản thông qua chất lượng cao, đảm bảo an toàn thực phẩm và phù hợp thị hiếu người tiêu dùng;
- Phát triển hạ tầng thương mại (chợ đầu mối, siêu thị, hệ thống bán buôn, bán lẻ…), hệ thống logistics kết nối giữa người sản xuất với nhà phân phối đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp tại thị trường nội địa
2.5.2 Tổ chức sản xuất nguyên liệu, phát triển các cụm liên kết sản xuất - chế biến
và tiêu thụ nông sản
a Tổ chức sản xuất nguyên liệu cung cấp cho công nghiệp chế biến
- Triển khai có kết quả Nghị định số 98/2018/NĐ-CP ngày 05/7/2018 của Chính phủ về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm
Trang 18nông nghiệp để tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp - nông dân, nông dân - nông dân, doanh nghiệp - doanh nghiệp
- Trên cơ sở thị trường tiêu thụ (bao gồm: thị phần, thị hiếu, giá cả), thực hiện việc rà soát quy hoạch sử dụng đất, cơ cấu sản xuất cây trồng vật nuôi, phát huy lợi thế so sánh của từng vùng, có tính đến những tác động của biến đổi khí hậu để xây dựng các vùng nguyên liệu tập trung đảm bảo đủ nguyên liệu cho cơ sở chế biến đạt công suất thiết kế
+ Đầu tư cơ sở hạ tầng về điện, thuỷ lợi và đường giao thông cho vùng nguyên liệu tập trung; đẩy mạnh dồn điền đổi thửa, tích tụ ruộng đất, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp chế biến đầu tư phát triển vùng nguyên liệu
b Phát triển các cụm liên kết sản xuất - chế biến và tiêu thụ nông sản:
- Gắn kết chế biến với việc chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo 3 nhóm sản phẩm, bao gồm: (i) Nhóm sản phẩm chủ lực quốc gia; (ii) Nhóm sản phẩm chủ lực cấp tỉnh; (iii) Nhóm sản phẩm là đặc sản địa phương
- Phát triển các cụm liên kết sản xuất - chế biến và tiêu thụ nông sản tại các địa phương, các vùng có sản lượng nông sản lớn, thuận lợi giao thông, lao động, logistics, có tiềm năng trở thành cực động lực tăng trưởng cho cả khu vực Lựa chọn các doanh nghiệp
“đầu tàu” có đủ năng lực về vốn, khoa học công nghệ và thị trường để dẫn dắt chuỗi giá trị, vận hành một cách thông suốt, hiệu quả Cụ thể hình thành:
+ Cụm liên kết vùng trồng lúa gắn với cơ sở xay xát, bảo quản tại các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng sông Hồng;
+ Cụm liên kết vùng nuôi tôm nước lợ và cá tra gắn với cơ sở chế biến đông lạnh xuất khẩu tại các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long;
+ Cụm liên kết vùng trồng rau và cây ăn quả gắn với cơ sở bảo quản, chế biến rau quả xuất khẩu tại các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, Đông Nam Bộ, Tây Nguyên, vùng đồng bằng và trung du Bắc Bộ;
+ Cụm liên kết vùng trồng cây công nghiệp (cà phê, cao su, mía đường, chè…) gắn với cơ
sở chế biến tại các tỉnh Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, Bắc Trung Bộ và Trung du miền núi phía Bắc;
+ Cụm liên kết chế biến gỗ gắn với vùng nguyên liệu rừng trồng tại các tỉnh vùng núi phía Bắc, Đông Nam Bộ, miền Trung và Tây Nguyên;
+ Các cụm liên kết vùng sản xuất - chế biến và tiêu thụ trong nội bộ của các tỉnh có các mặt hàng nông sản chủ lực và đặc sản của địa phương
2.5.3 Đẩy mạnh đầu tư vào chế biến nông sản, chuyển dịch cơ cấu sản phẩm
- Triển khai thực hiện có hiệu quả các chính sách khuyến khích đầu tư vào chế biến, bảo quản nông sản đã ban hành, điển hình như: Nghị định 57/2018/NĐ-CP ngày 17/4/2018 của Chính phủ về cơ chế, chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp,
Trang 19nông thôn; Quyết định số 68/2013/QĐ-TTg ngày 14/11/2013 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ nhằm giảm tổn thất trong nông nghiệp; Luật số: 04/2017/QH14 hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa
- Tập trung đầu tư mạnh để phát triển sản xuất, chế biến những ngành hàng nông lâm thuỷ sản còn nhiều dư địa về thị trường mà Việt Nam có lợi thế và những ngành hàng mà tỷ
lệ nông sản được đưa vào chế biến còn thấp như; xây dựng và triển khai đề án phát triển 04 ngành chế biến để phấn đấu đứng trong số những nước hàng đầu thế giới về: Rau củ quả, thủy hải sản, gỗ và sản phẩm từ gỗ, dược liệu
- Khuyến khích, hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư công nghệ hiện đại, chế biến sâu nông sản hàng hóa, tạo giá trị gia tăng cao, chuyển dịch cơ cấu sản phẩm, chuyển mạnh từ “đóng bao” sang “đóng gói”với định hướng chung:
+ Dự án đầu tư mang tính tiên phong về công nghệ chế biến, bảo quản nông sản tiên tiến và chế tạo ra sản phẩm mới
+ Dự án đầu tư có quy mô lớn, mang tính chất dẫn dắt thị trường, tạo ra sản phẩm xuất khẩu và là trung tâm kết nối theo chuỗi giá trị sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản + Dự án giúp thay đổi phương thức, tập quán sản xuất nông nghiệp lạc hậu sang phương thức sản xuất hiện đại
2.5.4 Nghiên cứu, áp dụng khoa học công nghệ vào chế biến và bảo quản nông sản
- Sử dụng hiệu quả nguồn lực từ Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia, hỗ trợ các dự án nâng cao năng lực chế biến nông lâm thủy sản
- Đẩy nhanh cách mạng công nghiệp 4.0: Tích hợp công nghệ thông tin và tự động hóa vào công nghiệp chế biến nông sản nhằm tạo ra các quy trình sản xuất thông minh, mô hình nhà máy thông minh liên kết với nguồn cung cấp nguyên liệu và tiêu thụ sản phẩm
- Xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về trình độ công nghệ chế biến, bảo quản nông sản để tiến tới hình thành thị trường khoa học công nghệ trong lĩnh vực này
- Nghiên cứu, áp dụng công nghệ cao, hiện đại vào sản xuất Định hướng một số công nghệ chế biến, bảo quản nông sản như sau:
+ Công nghệ chiếu xạ; công nghệ xử lý bằng nước nóng và hơi nước nóng, công nghệ bao gói điều chỉnh khí quyển, bảo quản lạnh nhanh kết hợp với chất hấp thụ etylen và công nghệ tạo màng để bảo quản rau, hoa, quả tươi; công nghệ ngủ đông bảo quản thủy sản sống; + Công nghệ phục vụ chế biến sâu nông sản: Chế biến khô (sấy phun, sấy thăng hoa nhiệt độ thấp, sấy lạnh và sấy nhanh); đông lạnh (IQF, cực nhanh); tiệt trùng nhanh chân không; công nghệ tách chiết hoạt chất…;
+ Công nghệ sinh học và vi sinh sản xuất chế phẩm sinh học và các chất màu, chất phụ gia thiên nhiên trong bảo quản và chế biến nông sản;
+ Công nghệ biến tính, sấy sinh thái để bảo quản gỗ; công nghệ sinh học sản xuất chế phẩm bảo quản, chống mối, mọt thế hệ mới; công nghệ sản xuất các màng phủ gỗ thân thiện với môi trường;
+ Công nghệ chế biến phế phụ phẩm được tạo ra trong sản xuất và chế biến nông lâm thủy sản
Trang 20+ Công nghệ thông tin, tự động hóa và trí tuệ nhân tạotrong chế biến nông sản nhằm tiết kiệm nguyên vật liệu, thời gian và nâng cao hiệu quả kinh tế;
+ Công nghệ cơ giới hóa đồng bộ trong sản xuất, thu hoạch, chế biến và bảo quản sau thu hoạch nông sản;
2.5.5 Nâng cao chất lượng sản phẩm và đảm bảo an toàn thực phẩm
a Tăng cường kiểm tra chất lượng, kiểm soát an toàn thực phẩm:
- Triển khai rộng rãi việc thực hiện quản lý chất lượng, an toàn thực phẩm theo chuỗi
từ khâu trồng trọt, đánh bắt, thu hoạch đến khâu vận chuyển, bảo quản, chế biến để tạo ra sản phẩm an toàn;
- Từng bước chuyển từ mô hình thanh tra, kiểm tra đối với chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm sang mô hình phòng ngừa chủ động, giám sát nguy cơ và phân loại rủi ro một cách công khai, minh bạch;
- Tăng cường năng lực kiểm dịch, đảm bảo an toàn sinh học, vệ sinh dịch tễ đối với hàng xuất nhập khẩu, trong đó đặc biệt chú trọng các sản phẩm chăn nuôi, rau quả,…
b Áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến của thế giới như HACCP, ISO 22000, trong tất cả các cơ sở chế biến nông sản, nhất là các cơ sở chế biến xuất khẩu để đảm bảo chất lượng và ATTP
c Xây dựng và áp dụng hệ thống quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, tiêu chuẩn quốc gia, truy xuất nguồn gốc cho các ngành hàng nông sản
- Xây dựng mới các QCVN và TCVN về cơ sở sản xuất và sản phẩm còn thiếu như cơ sở chế biến nông sản nhỏ lẻ, các sản phẩm mới, các mặt hàng nông sản có khối lượng lớn, ;
- Cập nhật, hài hòa tiêu chuẩn quốc tế như ISO, CODEX và các tiêu chuẩn khu vực, thị trường lớn nhằm hội nhập với quốc tế; loại bỏ và thay thế các tiêu chuẩn lạc hậu, lâu năm không còn đáp ứng các yêu cầu tình hình mới;
- Khuyến khích áp dụng công nghệ tin học, tự động kết nối điện thoại thông minh, xây dựng các phần mềm truy xuất nguồn gốc sản phẩm nông sản, tăng niềm tin của người tiêu dùng và trách nhiệm, uy tín nhà sản xuất
2.5.6 Đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
- Nghiên cứu, thực hiện cơ chế, chính sách phát triển nhân lực phục vụ công nghiệp chế biến nông sản, đáp ứng yêu cầu cơ cấu lại bền vững ngành nông nghiệp, đặc biệt trong bối
cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 và hội nhập kinh tế quốc tế
- Nhà nước tổ chức các khóa đào tạo nâng cao trình độ về quản lý nhà nước, khoa học công nghệ, ngoại ngữ và kỹ năng thương mại quốc tế cho đội ngũ cán bộ làm công tác trong lĩnh vực chế biến nông sản và phát triển thị trường Các doanh nghiệp đào tạo nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ kỹ thuật, công nhân lành nghề đáp ứng yêu cầu vận hành công nghệ
tiên tiến, hiện đại
2.5.7 Tiếp tục đổi mới và hoàn thiện cơ chế chính sách
Bên cạnh các cách sách chung do Trung ương ban hành, các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tiếp tục nghiên cứu, rà soát ban hành các cơ chế chính sách riêng để thúc đẩy
Trang 21phát triển công nghiệp chế biến của địa phương, góp phần giảm chi phí sản xuất, nâng cao giá trị gia tăng cho sản phẩm nông lâm thủy sản
a Về chính sách tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi
- Nghiên cứu xây dựng chính sách phát triển riêng có tính đột phá, sáng tạo, độc đáo; tạo lập môi trường đầu tư thông thoáng cho công nghiệp chế biến, bảo quản nông sản
- Hỗ trợ các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, phát triển các công ty, tập đoàn tư nhân lớn về chế biến - kinh doanh các ngành hàng nông lâm thủy sản có thương hiệu nổi tiếng mang tầm cỡ quốc tế
- Khuyến khích phát triển các doanh nghiệp chế biến nông sản quy mô nhỏ và vừa để tiêu thụ sản phẩm nông sản tại chỗ cho người nông dân; hoàn thiện chính sách thu hút đầu
tư đối với từng địa bàn có tính đặc thù của các vùng, miền, ngành hàng
- Xem xét bãi bỏ các rào cản, các thủ tục hành chính, quy định điều kiện kinh doanh không cần thiết, bất hợp lý, hỗ trợ doanh nghiệp và thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh
b Về chính sách đất đai
Xây dựng khung pháp lý và có chính sách hỗ trợ giao dịch đất nông nghiệp; cho phép mua, thuê lại đất của nông dân để cho doanh nghiệp đầu tư vào sản xuất chuyên canh nông sản hàng hóa quy mô lớn đảm bảo nguồn cung cấp nguyên liệu cho chế biến
c Về chính sách tài chính, tín dụng và bảo hiểm
- Rà soát, đề xuất sửa đổi chính sách về thuế giá trị gia tăng (VAT) theo hướng mở rộng lĩnh vực được hưởng ưu đãi thuế suất thuế VAT bằng 0% cho các lĩnh vực nông sản được ưu tiên thu hút đầu tư; đảm bảo công bằng trong việc đánh thuế VAT giữa hàng xuất khẩu và tiêu thụ nội địa; đơn giản hóa thủ tục hoàn thuế VAT; giảm thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các lĩnh vực ưu tiên thu hút đầu tư trong lĩnh vực chế biến nông lâm thủy sản;
- Nghiên cứu xây dựng các Quỹ Phát triển ngành hàng để chủ động hỗ trợ, chia sẻ các rủi ro trong sản xuất kinh doanh, thích ứng hội nhập kinh tế quốc tế
- Đẩy mạnh tín dụng cho vay theo chuỗi giá trị nông nghiệp; xây dựng cơ chế chính sách kết hợp chặt chẽ giữa các chương trình cho vay và bảo hiểm theo chuỗi giá trị nông nghiệp theo Nghị định số 58/2018/NĐ-CP ngày 18/4/2018 về bảo hiểm nông nghiệp
d Về chính sách thương mại, hội nhập
Triển khai công tác cảnh báo sớm về các biện pháp phòng vệ thương mại, đồng thời tận dụng tốt các quy định quốc tế về chỉ dẫn địa lý, nguồn gốc xuất xứ, đăng ký bản quyền, thương hiệu để bảo vệ doanh nghiệp và sản phẩm của Việt Nam trong thương mại quốc tế
2.5.8 Nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hệ thống quản lý ngành
- Tiếp tục hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy của Cục Chế biến và Phát triển thị trường Nông sản thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đảm bảo gắn kết chặt chẽ theo hệ thống chiều dọc được thống nhất, thông suốt từ Trung ương đến cơ sở, có hiệu lực và hiệu quả
- Nghiên cứu xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý lĩnh vực chế biến, gắn bó chặt chẽ với sản xuất nông nghiệp trong đảm bảo nguyên liệu và quan hệ hữu cơ về quyền lợi của nông dân
Trang 22PHẦN B
CƠ GIỚI HÓA SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP
3 THỰC TRẠNG CƠ GIỚI HÓA SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP
Đến nay, trang bị động lực bình quân trong sản xuất nông nghiệp cả nước đạt khoảng 2,4 HP/ha canh tác
Bảng 1 Số lượng máy nông nghiệp tính đến cuối năm 2016 *
Chủng loại máy Số lượng (chiếc) năm 2016 Tăng so với năm 2011
* Nguồn: Tổng cục thống kê năm 2017
b Mức độ cơ giới hóa một số khâu trong nông nghiệp đạt tỷ lệ cao và tăng nhanh
Mức độ cơ giới hóa một số khâu sản xuất nông nghiệp một số vùng như: Đồng bằng sông Hồng; đồng bằng sông Cửu Long có mức độ cơ giới hóa cao đạt gần 100%; nhất là khâu thu hoạch tăng nhanh đạt trên 80%
- Cơ giới hóa sản xuất lúa: Bình quân cả nước các khâu cụ thể như sau:
+ Khâu làm đất: Làm đất bằng máy tăng từ 75% năm 2008 lên 93% năm 2017;
Trang 23Bảng 2 Tỷ lệ cơ giới hóa làm đất lúa trung bình giai đoạn 2008-2017 *
* Nguồn: Tổng hợp số liệu thống kê, điều tra và báo cáo của các địa phương
Ở các vùng khác nhau có mức độ cơ giới hóa khác nhau, vùng sản xuất lúa tập trung có mức độ cơ giới hóa cao, cụ thể năm 2017 cơ giới hóa làm đất lúa cao nhất là ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, đồng bằng sông Hồng đạt gần 100%, nhấp nhất là ở trung du miền núi phía Bắc đạt 68%
+ Khâu gieo xạ, cấy lúa: Với khâu gieo xạ và cấy lúa, mặc dù mới được ứng dụng nhưng
đã có tốc độ tăng trưởng khá Năm 2008 tỷ lệ gieo xạ và cấy lúa bằng máy mới đạt khoảng 5% thì đến năm 2017 tỷ lệ này đã đạt khoảng 25% (Bảng 3)
Bảng 3 Tỷ lệ gieo xạ, cấy lúa bằng máy giai đoạn 2008-2017 *
Vùng Tỷ lệ gieo xạ, cấy lúa bằng máy (%)
* Nguồn: Tổng hợp số liệu thống kê, điều tra và báo cáo của các địa phương
Năm 2017 vùng trung du miền núi phía Bắc có tỷ lệ gieo xạ, cấy lúa bằng máy thấp nhất khoảng 10% Các vùng sản xuất lúa tập trung có tỷ lệ gieo xạ, cấy lúa bằng máy cao hơn như đồng bằng sông Hồng đạt 25%, vùng đồng bằng sông Cửu Long đạt 45%
+ Khâu chăm sóc, bảo vệ thực vật: Nhìn chung có tốc độ tăng trưởng đều qua các năm Năm 2008 tỷ lệ cơ giới hóa chăm sóc và phun thuốc bảo vệ thực vật cho lúa mới đạt 55%, đến năm 2017 đạt 75% (Bảng 4)
Trang 24Bảng 4 Tỷ lệ CGH chăm sóc, BVTVcho lúagiai đoạn 2008-2017 *
* Nguồn: Tổng hợp số liệu thống kê, điều tra và báo cáo của các địa phương
Cơ giới hóa chăm sóc và phun thuốc bảo vệ thực vật cho lúa nhìn chung không có sự chênh lệch quá lớn giữa các vùng miền Tuy nhiên tại các vùng sản xuất lúa tập trung thườngcó tỷ lệ cơ giới hóa chăm sóc và phun thuốc bảo vệ thực vật cho lúa cao hơn như tại thời điểm năm 2017, đồng bằng sông Hồng đạt 82%, vùng đồng bằng sông Cửu Long đạt 85%
+Khâu thu hoạch: Mức độ cơ giới hóa khâu thu hoạch lúa có tốc độ tăng khá nhanh, từ 15% năm 2008 lên 50% năm 2017
Năm 2017, vùng Đồng bằng sông Cửu Long có mức độ cơ giới hóa khâu thu hoạch lúa cao nhất, đạt 82%, vùng Đông nam bộ đạt khoảng 70% và khu vực phía trung du miền núi phía Bắc đạt thấp nhất 25% (Bảng 5);
Bảng 5 Tỷ lệ cơ giới hóa thu hoạch lúa trung bình giai đoạn 2008-2017 *
* Nguồn: Tổng hợp số liệu thống kê, điều tra và báo cáo của các địa phương
+ Khâu thu gom rơm rạ: Các tỉnh phía Nam, nhất là vùng Đồng bằng sông Cửu Long cơ giới hóa thu gom rơm rạ phát triển nhanh, hiện có trên 10 cơ sở chế tạo, kinh doanh và có trên 5.000 máy cuốn rơm trong và ngoài nước sản xuất trong đó tập trung 02 loại máy: Máy cuốn rơm liên hợp với máy kéo và máy máy cuốn rơm tự hành
Trang 25- Cơ giới hóa các loại cây trồng khác:
+ Sản xuất mía: Cơ giới hóa khâu làm đất ở những vùng mía sản xuất tập trung tại một
số tỉnh như Thanh Hóa, Nghệ An, Bình Định, Gia Lai, Tây Ninh, Đồng Nai đạt trên 90%; khâu trồng bằng máy đạt khoảng 40%; Khâu chăm sóc, bón phân đạt khoảng 70%
+ Sản xuất ngô: Khâu làm đất, gieo hạt, chăm sóc ở các vùng sản xuất tập trung như Sơn La, Nghệ An, Thanh hóa, Đồng Nai, Tây Ninh, cơ giới hóa đạt khoảng 70% Khâu thu hoạch thấp khoảng 5%
+ Sản xuất chè: Cơ giới hóa khâu chăm sóc, xới cỏ, phun thuốc trừ sâu đạt khoảng 70%, khâu đốn, hái chè sử dụng máy đạt 40%, tập trung ở Nghệ An, Lâm Đồng và một số tỉnh như Yên Bái, Thái Nguyên
+ Sản xuất cà phê: Cơ giới hóa khâu tưới, chăm sóc đạt khoảng 90%, khâu thu hoạch bước đầu đã ứng dụng một số loại máy thu hoạch bằng tay năng suất 1,2-2 tấn quả/ngày, nhưng chưa nhiều, còn lại chủ yếu thu hoạch thủ công
+ Các vùng rau chuyên canh cơ giới hóa khâu làm đất, tưới đạt gần 90%, khâu thu hoạch làm thủ công
- Cơ giới hóa trong chăn nuôi:
+ Cơ giới hóa chuồng trại: Với chăn nuôi gà trang trại, công nghiệp sử dụng hệ thống khép kín từ cung cấp nước, thức ăn tự động, tạo tiểu khí hậu và thu gom trứng mức độ cơ giới hóa cao, như cung cấp thức ăn, nước uống đạt trên 70%, xử lý môi trường chăn nuôi bình quân 55% Hộ nuôi lợn qui mô trang trại, công nghiệp sử dụng chuồng lồng, chuồng sàn, chuồng có hệ thống làm mát và sưởi ấm cho lợn con, hệ thống máng ăn, núm uống tự động đạt khoảng 72%
+ Đối với hộ chăn nuôi trâu, bò đã đầu tư máy thái cỏ, băm rơm, cây đạt 45% Hộ chăn nuôi bò sữa sử dụng máy vắt sữa đạt khoảng 70%
+ Mức độ cơ giới hóa đồng bộ (từ khâu sản xuất, chế biến thức ăn, thu gom và chế biến sữa) và áp dụng công nghệ cao tập trung các công ty, doanh nghiệp chăn nuôi bò sữa như
TH True Milk, Sữa Mộc Châu
c Về thực hiện chính sách hỗ trợ nhằm giảm tổn thất trong nông nghiệp (Quyết định số 68/2013/QĐ-TTg)
Qua hơn 5 năm tổ chức triển khai thực hiện chính sách hỗ trợ nhằm giảm tổn thất trong nông nghiệp đã được các bộ, ngành, địa phương triển khai tích cực, bước đầu đáp ứng được yêu cầu cấp thiết của sản xuất nông nghiệp nhất là vùng sản xuất lúa hàng hóa ở Đồng bằng sông Cửu Long và nhận được sự đồng tình cao của bà con nông dân cả nước
Kết quả nguồn vốn cho nông dân vay ngày càng tăng, đồng thời đã huy động được nguồn lực của các tổ chức, cá nhân đầu tư cho cơ giới hóa, cụ thể: tính đến tháng 12/2018, doanh số cho vay đạt 10.174 tỷ đồng từ vốn tín dụng Nhà nước; vốn đối ứng của các tổ chức,
cá nhân trên 5.000 tỷ đồng; Ngân sách Nhà nước hỗ trợ lãi suất gần 1.000 tỷ đồng góp phần đẩy mạnh áp dụng máy móc, thiết bị trong nông nghiệp
d Về công nghiệp chế tạo máy, thiết bị nông nghiệp
Cả nước hiện có 7.803 doanh nghiệp cơ khí, trong đó có 6 doanh nghiệp lớn có trên 5.000 lao động (1 DN đóng tàu và 5 DN sản xuất máy và thiết bị điện); Nếu tính theo qui mô vốn trên 500 tỷ đồng, có 95 DN Với 538.700 lao động thuần cơ khí, trong đó có gần 2 vạn cán bộ
Trang 26kỹ thuật được đào tạo chính quy có trình độ khá và tập trung ở hàng chục doanh nghiệp lớn
và 12 viện nghiên cứu khoa học, nghiên cứu thiết kế về cơ khí Đây là nguồn nhân lực hết sức quan trọng để phát triển ngành này
Đối với các doanh nghiệp cơ khí chế tạo, dịch vụ bán, sửa chữa, bảo hành hiện có: gần
100 cơ sở chế tạo máy, thiết bị nông nghiệp, 1.267 cơ sở, trên 18.000 người chuyên kinh doanh; 1.218 cơ sở gần 15.000 người chuyên sửa chữa, bảo dưỡng, bảo hành máy móc, thiết
bị trong đó khoảng 80% là các cơ sở tư nhân cung ứng máy móc, thiết bị phục vụ sản xuất nông nghiệp; cụ thể:
- Về năng lực chế tạo máy móc, thiết bị nông nghiệp:
+ Đối với máy động lực, máy kéo, đến nay, ngành cơ khí trong nước đã sản xuất được động cơ diesel công suất đến 30 mã lực (HP); năng lực 40.000 chiếc/năm, chiếm khoảng 30% thị phần trong nước (Chủ yếu do Tổng Công ty máy động lực và máy nông nghiệp Việt Nam -VEAM - Bộ Công thương);
+ Đối với máy liên hợp gặt lúa: Trong nước có 15 doanh nghiệp, nhưng chỉ có 3 doanh nghiệp: Tư Sang 2 ở Tiền Giang; Phan Tấn ở Đồng Tháp, Cơ khí An Giang có công suất đáp ứng khoảng 1.000 chiếc/năm Công ty Cổ phần Ôtô Trường Hải (THACO) liên doanh với Hàn Quốc lắp ráp máy, thiết bị nông nghiệp Nước ngoài: Nhật Bản có Công ty TNHH KUBOTA; YANMAR; ISEKI; Năng lực chế tạo, kinh doanh 2.000 chiếc/năm
+ Về máy tuốt lúa: Ở phía Bắc tập trung chủ yếu ở 3 cơ sở sản xuất máy tuốt lúa liên hoàn (Xuân Trường - Nam Định) có khả năng chế tạo 6.000 chiếc/năm
+ Máy xay xát lúa gạo: Trên 90% do các doanh nghiệp trong nước chế tạo Điển hình các công ty: Bùi Văn Ngọ, SINCO,LAMICO… đạt trình độ công nghệ tiên tiến, các dây chuyền xát lúa gạo, đánh bóng năng suất: 4 48 tấn/giờ, các loại máy sấy năng suất: 30-200 tấn/mẻ Sản phẩm của các doanh nghiệp này đã xuất khẩu Đông Nam Á, Châu Mỹ, Châu Phi… + Kho tạm trữ lúa và các thiết bị phụ trợ chế biến lúa, gạo năng suất ≤1000 tấn;
- Về nhập khẩu máy, thiết bị nông nghiệp: Các loại động cơ, máy kéo, máy nông nghiệp nhập khẩu chủ yếu gồm: động cơ, máy kéo các loại có công suất từ 6-150 HP của Trung Quốc, Belarut, Nhật Bản,Hàn Quốc, Mỹ; máy đốn hái chè, máy gặt lúa, máy cấy lúa (máy mới và máy đã qua sử dụng) của Nhật Bản, Hàn Quốc
- Thúc đẩy quá trình liên kết sản xuất, hình thành các tổ chức dịch vụ ở nông thôn: Đã hình thành nhiều mô hình liên kết doanh nghiệp với nông dân sản xuất trên cánh đồng lớn kết hợp các dịch vụ làm đất, cấy, phun thuốc BVTV, thu hoạch, sấy khô, cho thuê kho bảo quản với những ưu đãi nhất định
Trang 27- Chính sách hỗ trợ mua máy, thiết bị nông nghiệp đã góp phần nâng cao mức độ cơ giới hóa và thúc đẩy các cơ sở cơ khí chế tạo máy nông nghiệp trong nước đầu tư chiều sâu, cải tiến công nghệ, nâng cao chất lượng máy móc thiết bị sản xuất có hiệu quả
- Cơ giới hóa góp phần thay đổi bộ mặt nông thôn, nhờ có chính sách hỗ trợ và một số cơ chế chính sách của địa phương ban hành (chính sách khuyến khích phát triển nông nghiệp, nông thôn, chính sách hỗ trợ tiêu thụ một số sản phẩm xây dựng nông thôn mới) đã thúc đẩy người dân mạnh dạn đầu tư mua sắm máy, thiết bị phát triển sản xuất nông nghiệp, bảo quản chế biến NLTS, nâng cấp công nghệ thiết bị
3.3 Hạn chế, nguyên nhân
a Hạn chế
- Mức độ cơ giới hoá trong sản xuất nông nghiệp còn thấp, trang bị động lực máy nông nghiệp Việt Nam bình quân đạt 2,4 HP/ha canh tác (một số nước trong khu vực như: Thái Lan đạt 4 HP/ha, Hàn Quốc 10 HP/ha, Trung Quốc 8 HP/ha); chưa toàn diện (cơ giới hóa mới tập trung chủ yếu làm đất, chăm sóc, thu hoạch lúa), khâu cấy bằng máy còn thấp Cơ giới hóa chăm sóc cây ăn quả, thu hoạch mía, cà phê, thủy sản còn hạn chế
- Trình độ trang bị máy động lực còn lạc hậu, thể hiện hầu hết các máy làm đất công suất nhỏ, chỉ thích hợp với quy mô hộ và đất manh mún
- Cơ chế chính sách đã ban hành tương đối đầy đủ nhưng tính thực thi thiếu sự nhất quán, đặc biệt về cơ chế tài chính do nguồn lực còn hạn chế
- Quy hoạch kết cấu hạ tầng cho các vùng sản xuất chưa đầy đủ, chưa đảm bảo cho nhu cầu phát triển cơ giới hoá, hiện đại hoá Đường giao thông liên vùng, liên xã, đồng ruộng; Quy mô đồng ruộng ở nước ta nhìn chung vẫn phân tán, manh mún
1 ha/hộ chiếm tỷ lệ 88,3% Nhóm hộ sử dụng từ 1-2 ha/hộ chiếm 7,7% Có thể tỷ lệ số hộ có quy mô sử dụng đất trồng cây hàng năm lớn sẽ tăng thêm trong 5 năm qua, từ 2011-2016 Tuy nhiên, bức tranh chung vẫn là manh mún, nhỏ lẻ
Trong đó, mỗi ruộng đất canh tác của mỗi hộ lại chia thành các thửa ruộng với độ phân tán nhất định Rất khó để cơ giới hóa có hiệu quả trong điều kiện đó
- Quy trình sản xuất, kỹ thuật canh tác chưa đồng bộ, có sự khác biệt khá lớn giữa các vùng miền, cây, con
Sự khác biệt trong quy trình, tập quán, quy mô sản xuất, yêu cầu nông sinh học của các cây trồng khác nhau, ở vùng miền khác nhau có ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển cơ giới hóa sản xuất nông nghiệp, đặt ra những yêu cầu đa dạng rất phức tạp đối với hệ thống máy và thiết bị cơ giới hóa
- Khả năng đầu tư của chủ thể sản xuất cho CGH còn hạn chế
Trang 28Nông dân thiếu vốn để đầu tư, thu nhập còn thấp, trong khi vay vốn gặp nhiều khó khăn và rủi ro cao Trong khi đó, máy và thiết bị dùng trong nông nghiệp là những tài sản
có vốn đầu tư ban đầu lớn so với các loại vật tư đầu vào khác như giống, phân bón Rất ít hộ nông dân có khả năng mua sắm máy móc bằng vốn tự có
Năng suất lao động nông nghiệp thấp (NSLĐ NN bằng 38,1% NSLĐ chung của nền kinh tế)
Đối với nhiều hộ làm dịch vụ cơ khí nông nghiệp, họ chỉ có thể tự mua sắm được loại máy kéo cỡ vừa trở xuống và các máy công tác kèm theo Còn máy kéo cỡ lớn (trên 80 Hp) và các liên hợp máy phức tạp để cấy lúa, thu hoạch cây lương thực và cây công nghiệp ngắn ngày thì cũng không đủ khả năng
- Kết cấu hạ tầng nông thôn chưa phát triển đồng bộ
Một trong những rào cản phát triển cơ giới hóa nông nghiệp là giao thông nông thôn, giao thông nội đồng hệ thống tiêu và thoát nước chưa phát triển tương ứng để tạo điều kiện thuận lợi cho di chuyển, ứng dụng máy móc phục vụ sản xuất hàng hóa lớn, nhất là các máy móc làm đất cơ bản theo yêu cầu thâm canh, máy cấy nhiều hàng, các máy liên hợp thu hoạch, vận chuyển nông sản…
4 DỰ BÁO TÌNH HÌNH, MỤC TIÊU CÁC GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY CƠ GIỚI HÓA TRONG NÔNG NGHIỆP
4.1 Cơ hội thách thức
a Cơ hội
- Nhiều nước trên thế giới và khu vực có trình độ cao về cơ giới hoá sản xuất nông nghiệp và công nghệ sau thu hoạch tiên tiến và đang chuyển dần sang tự động hóa sản xuất nông nghiệp do đó Việt Nam có cơ hội để học tập kinh nghiệm của các nước đi trước
- “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn” ngày càng được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước
và xã hội trong tiến trình đẩy nhanh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, trong đó cơ giới hoá nông nghiệp để nâng cao hiệu quả sản xuất được quan tâm đặc biệt
- Xu thế chuyển dịch mạnh cơ cấu lao động nông thôn sang công nghiệp, xây dựng và dịch vụ đòi hỏi phải có máy, thiết bị thay thế lao động thủ công Đây vừa là cơ hội vừa là thách thức, nếu không có những giải pháp hữu hiệu để đẩy nhanh cơ giới hoá
- Quá trình thực hiện tái cơ cấu nền kinh tế mạnh mẽ trong đó tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững
Trang 29- Nhiều vùng lực lượng lao động nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng lớn, trong khi đó chất lượng lao động nông thôn thấp, chuyển dịch cơ cấu lao động chậm Thu nhập từ sản xuất nông nghiệp thấp
- Công nghiệp chế tạo máy, thiết bị nông nghiệp trong nước chưa đáp ứng nhu cầu sản xuất nông nghiệp (chủng loại loại máy thiếu, chất lượng máy, thiết bị nông nghiệp chế tạo thấp)
- Sự phát triển nhanh của khoa học công nghệ trên thế giới “Nông nghiệp thông minh”
và “Canh tác số hóa”, dựa trên sự ra đời của các thiết bị thông minh trong nông nghiệp sẽ tác động mạnh mẽ đến năng suất, chất lượng và giá thành sản phẩm nông nghiệp, vấn đề dinh dưỡng và bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm cho người tiêu dùng càng khắt khe hơn
4.2 Dự báo nhu cầu máy, thiết bị nông nghiệp trong thời gian tới
Xu thế phát triển các loại máy, thiết bị trong nông nghiệp một số nước như Nhật Bản, Hàn Quốc từ máy có công suất nhỏ chuyển sang máy có công suất lớn, từ cơ giới hóa sản xuất lúa sang cơ giới hóa các loại cây trồng khác, ở Việt Nam cũng sẽ phát triển tương tự:
- Đối với nguồn động lực máy kéo sẽ dịch chuyển sử dụng từ máy kéo 2 bánh sang máy kéo 4 bánh
- Sử dụng máy cấy và công nghệ sản xuất mạ khay từ loại 2 bánh sang máy cấy lúa 4 bánh
- Sử dụng máy, thiết bị phun thuốc bảo vệ thực vật điều khiển từ xa;
- Sử dụng máy gặt lúa rải hàng chuyển sang máy gặt đập liên hợp
- Ứng dụng công nghệ tưới nước tiết kiệm, năng lượng tái tạo, thiết bị điện tiết kiệm trong trồng trọt
- Ứng dụng công nghệ thông tin trong điều khiển môi trường đảm bảo chế độ khí hậu thời tiết trong nhà trồng
- Áp dụng cơ giới hóa đồng bộ trong sản xuất nông nghiệp
Để những vùng nông nghiệp sản xuất hàng hóa, tập trung cơ bản được cơ giới hóa và cơ giới hóa đồng bộ, dự báo nhu cầu máy kéo, máy nông nghiệp tăng thêm giai đoạn 2019-
2025, cụ thể như sau:
- Máy cấy lúa sẽ tăng nhanh trong thời gian tới (hiệncó trên 3.000 chiếc) bình quân sẽ tăng3.000-5000 chiếc/năm (loại máy cấy 6-8 hàng) đồng bộ với công nghệ sản xuất mạ khay
- Máy thu hoạch lúa liên hợp (có bề rộng làm việc 1,8-2m) tăng 5.000-8.000 chiếc, chủ yếu tập trung đồng bằng sông Cửu Long, đồng bằng sông Hồng, Duyên hải Trung bộ và những tỉnh sản xuất lúa tập trung
- Các loại máy thu hoạch mía, cà phê, ngô, đậu, lạc có nhu cầu tăng 3-5 lần so với hiện nay
- Các loại máy móc, thiết bị sử lý chất thải trong chăn nuôi có được ứng dụng tăng nhanh
4.3 Mục tiêu phát triển đến năm 2030
4.3.1 Mục tiêu chung
Đẩy mạnh cơ giới hóa sản xuất nông nghiệp phù hợp với điều kiện của từng vùng, từng loại cây trồng, vật nuôi nhất là những vùng sản xuất nông nghiệp tập trung, hàng hoá bằng
Trang 30máy, thiết bị tiên tiến, hiện đại có năng suất, chất lượng, hiệu quả cao, giảm tổn thất trong nông nghiệp; góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, lao động, nâng cao thu nhập cho nông dân và nâng cao tính cạnh tranh nông nghiệp; phấn đấu đến năm 2030, những vùng nông nghiệp sản xuất hàng hóa tập trung được cơ giới hóa và cơ giới hóa đồng bộ
4.3.2 Mục tiêu cụ thể đến năm 2020, định hướng đến năm 2030
- Công suất máy trang bị bình quân cả nước đạt 3-3,5 HP/ha vào năm 2020; 5-6 HP/ha vào năm 2030
- Về cơ giới hóa sản xuất một số cây trồng chính:
+ Cây lúa: Khâu làm đất cơ bản được cơ giới hóa, chuyển sử dụng máy kéo 2 bánh sang máy kéo 4 bánh có năng xuất, hiệu quả và điều kiện lao động thuận lợi hơn, đến năm 2020, mức độ cơ giới hoá làm đất bình quân cả nước đạt gần 100%, cơ giới hóa tập trung chủ yếu khâu cấy, chăm sóc và thu hoạch
+ Cây mía: Cơ giới hóa tập trung khâu trồng, chăm sóc, tưới và nhất là thu hoạch, bốc xếp và xử lý lá, ngọn mía sau thu hoạch ở những vùng sản xuất tập trung, địa thế bằng phẳng
+ Cây ngô: Cơ giới hóa tập trung khâu gieo, chăm sóc và thu hoạch ở các vùng sản xuất bằng phẳng, tập trung được cơ giới hóa 70-80%;
+ Cây chè: Ngoài khâu chăm sóc, xới cỏ bằng máy, khâu đốn, hái chè sử dụng máy trên 80%;
+ Cây cà phê: Ngoài khâulàm cỏ, bón phân, bảo vệ thực vật, chú trọng ứng dụng tưới tiết liệm nước và có giải pháp thu hoạch phù hợp với sản xuất từng vùng
+ Cây sắn: Cơ giới hóa tập trung khâu trồng, chăm sóc, thu hoạch và xử lý thân cây sau thu hoạch ở những vùng sản xuất tập trung
- Đầu tư nâng cấp, hoàn thiện kết cấu hạ tầng nông nghiệp, nông thôn phù hợp với việc đưa máy móc, thiết bị phục vụ sản xuất: Qui hoạch, cải tạo, san phẳng đồng ruộng, kiên cố hóa hệ thống tưới, tiêu; giao thông nội đồng và giao thông nông thôn
b Khuyến khích đầu tư máy móc, thiết bị vào sản xuất nông nghiệp trên cơ sở tổ chức lại sản xuất và triển khai có hiệu quả các chính sách kích cầu đối với cơ giới hóa nông nghiệp
- Căn cứ yêu cầu của sản xuất, xây dựng kế hoạch, lộ trình cung ứng số lượng, chủng loại máy phù hợp từng bước đồng bộ quá trình cơ giới hóa sản xuất theo từng khâu trong chuỗi giá trị sản xuất hàng hóa
- Hình thành các tổ chức dịch vụ cơ giới ở nông thôn, phân công lại lao động để nâng cao hiệu quả của việc áp dụng cơ giới hóa
- Tuyên truyền đến từng người dân các cơ chế, chính sách hỗ trợ Triển khai các chính sách từ thực tế và rà soát, kịp thời bổ sung, sửa đổi chính sách phù hợp
Trang 31- Xây dựng các mô hình trình diễn về cơ giới hoá đồng bộ sản xuất nông nghiệp, trước tiên là với thâm canh các loại cây trồng chính (lúa, mía, ngô, lạc, sắn, rau màu ) ở những vùng sản xuất tập trung, hàng hoá
c Đẩy mạnh công nghiệp chế tạo máy, thiết bị phục vụ nông nghiệp
- Triển khai thực hiện Quyết định số 319/QĐ-TTg ngày 15/3/2018 về phê duyệt Chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìnđến năm 2035, trong đó các loại máy kéo phục vụ sản xuất nông nghiệp,các loại máy canh tác, bảo quản, chế biến sản phẩm nông-lâm ngư nghiệp thuộc danh mục sản phẩm cơ khí trọng điểm được ưu tiên đầu
tư phát triển giai đoạn 2017- 025
- Thực hiện Chương trình cơ khí trọng điểm tập trung một số dự án phục vụ cơ giới hoá nông nghiệp và giảm tổn thất sau thu hoạch, như: chế tạo máy thu hoạch mía; cà phê ; chế tạo động cơ diezen công suất lớn (trên 100 HP) và các loại máy kéo; các loại máy sấy hiện đại, đảm bảo yêu cầu bảo quản lúa gạo nói riêng và các loại nông sản hàng hoá khác nói chung
- Có chính sách khuyến khích phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ phù hợp cho các dự
án cơ khí quy mô vừa và nhỏ
d Tăng cường chuyển giao áp dụng tiến bộ, khoa học công nghệ về cơ điện nông nghiệp
- Đẩy mạnh chuyển giao kết quả các đề tài khoa học công nghệ về cơ điện nông nghiệp vào sản xuất Tạo mối liên kết hữu cơ giữa các cơ quan nghiên cứu với doanh nghiệp ngay từ khi bắt đầu nghiên cứu đến khi kết thúc đề tài xây dựng sản phẩm hàng hóa có thương hiệu xuất xứ từ kết quả nghiên cứu, chuyển giao khoa học công nghệ trong lĩnh vực cơ điện nông nghiệp
- Thực hiện xã hội hóa công tác nghiên cứu KHCN, khuyến khích các tổ chức, cá nhân
có sáng chế được hưởng các chính sách hỗ trợ của Nhà nước
- Xây dựng và hình thành các cụm nghiên cứu - đào tạo - sản xuất công nghệ cao theo vùng sinh thái, khuyến khích hình thành các cơ sở nghiên cứu tư nhân và các viện gắn với doanh nghiệp
- Xây dựng các mô hình trình diễn về cơ giới hoá đồng bộ sản xuất nông nghiệp, mô hình nông nghiệp thông minh (nông nghiệp 4.0)
đ Rà soát, bổ sung hoàn thiện chính sách
- Rà soát, bổ sung hoàn thiện cáccơ chế, chính sách về cơ điện nông nghiệp về công tác nghiên cứu khoa học công nghệ, khuyến khích các tổ chức, cá nhân có sáng chế máy, thiết bị phục vụ sản xuất nông nghiệp được hưởng các chính sách hỗ trợ của Nhà nước
- Triển khai có kết quả Nghị định số 57/2018/NĐ-CP ngày 17/4/2018 về chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn
- Tiếp tục triển khai thực hiện và đề xuất sửa đổi, bổ sung hoàn thiện chính sách hỗ trợ người dân, doanh nghiệp đầu tư máy, thiết bị phục vụ sản xuất nông nghiệp theo Quyết định số 68/2013/QĐ-TTg, đề xuất Chính phủ xây dựng và ban hành Nghị định về chính sách hỗ trợ cơ giới hóa, giảm tổn thất trong nông nghiệp thay thế Quyết định số 68/2013/QĐ-TTg ngày 14/11/2013 của Thủ tướng Chính phủ
Trang 32PHẦN C
ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ (1) Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan thực hiện các nhiệm vụ sau
a Nghiên cứu xây dựng “Chương trình hỗ trợ phát triển doanh nghiệp chế biến, bảo
quản nông lâm thủy sản đến năm 2030” để thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại
hóa ngành nông nghiệp theo tinh thần của Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 22/3/2018 của Bộ Chính trị về định hướng xây dựng chính sách phát triển công nghiệp quốc gia đến năm
2030, tầm nhìn đến năm 2045”, trình Chính phủ xem xét, phê duyệt
b Xây dựng và triển khai đề án phát triển 03 ngành chế biến để phấn đấu đứng trong
số những nước hàng đầu thế giới về: Rau củ quả, thủy hải sản, gỗ và sản phẩm từ gỗ
c Khẩn trương xây dựng, tổ chức thực hiện Đề án hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo; doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia cụm liên kết ngành, chuỗi giá trị thuộc lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn theo tinh thần của Luật số 04 Luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa
d Phối hợp với Bộ Công Thương xây dựng chiến lược, đề án, kế hoạch phát triển logistics gắn với vùng sản xuất, kinh doanh nông nghiệp
đ Chủ trì xây dựng Đề án phát triển trung tâm cung ứng nông sản Việt Nam hiện đại giai đoạn 2019-2020 và định hướng đến năm 2030
e Triển khai Nghị định số 98/2018/NĐ-CP ngày 05/7/2018 của Chính phủ về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp vào thực tiễn; khẩn trương tiến hành xây dựng các mô hình thí điểm liên kết theo chuỗi giá trị đối với các sản phẩm nông sản chủ lực từ cung ứng vật tư, dịch vụ đầu vào, sản xuất, sơ chế hoặc chế biến gắn với tiêu thụ
g Rà soát, đề xuất Chính phủ xây dựng Chính sách về hỗ trợ cơ giới hóa, giảm tổn thất trong nông nghiệp thay thế Quyết định số 68/2013/QĐ-TTg ngày 14/11/2013 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ nhằm giảm tổn thất trong nông nghiệp
(2) Bộ Công thương chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan
a Triển khai thực hiện Quyết định số 319/QĐ-TTg ngày 15/3/2018 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035, trong đó các loại máy kéo phục vụ sản xuất nông nghiệp, các loại máy canh tác, bảo quản, chế biến sản phẩm nông lâm ngư nghiệp thuộc danh mục sản phẩm cơ
khí trọng điểm được ưu tiên đầu tư phát triển giai đoạn 2017-2025
b Đẩy mạnh triển khai hiệu quả Nghị định số 107/2018/NĐ-CP ngày 15 tháng 8 năm
2018 của Chính phủ về kinh doanh xuất khẩu gạo
c Chủ trì, phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xây dựng đề án, kế hoạch, chiến lược phát triển logistics gắn với vùng sản xuất, kinh doanh nông nghiệp nhằm giúp doanh nghiệp giảm chi phí và thời gian vận chuyển, phân phối sản phẩm
d Thực hiện Chương trình cơ khí trọng điểm tập trung một số dự án phục vụ cơ giới hoá nông nghiệp và giảm tổn thất sau thu hoạch, như: chế tạo máy gặt đập thu hoạch lúa, mía; chế tạo động cơ diezen công suất lớn (trên 100 HP) và các loại máy kéo; các loại máy sấy hiện đại, đảm bảo yêu cầu bảo quản các loại nông sản hàng hoá
Trang 33(3) Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan
a Triển khai thực hiện nhanh chóng, hiệu quả Các Chương trình Khoa học và Công nghệ quốc gia (Chương trình phát triển sản phẩm quốc gia đến năm 2020, Chương trình quốc gia phát triển công nghệ cao đến năm 2020, Chương trình đổi mới công nghệ quốc gia đến năm 2020) để hỗ trợ doanh nghiệp trong lĩnh vực nâng cấp công nghệ chế biến, bảo quản nông lâm thủy sản
b Tập trung ưu tiên đầu tư khoa học công nghệ trong sản xuất, chế biến đối với các ngành hàng chủ lực, đặc biệt là chọn tạo và sử dụng giống mới, công nghệ bảo quản sau thu hoạch chế biến và tạo chuỗi và nâng cao chất lượng nông, thủy, hải sản, chăn nuôi
c Nghiên cứu xây dựng đề án thực hiện các Chương trình Khoa học và Công nghệ quốc gia riêng cho lĩnh vực nông nghiệp đến năm 2030, trình Chính phủ xem xét, phê duyệt
(4) Bộ Y tế
Chủ trì, phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và các cơ quan liên quan nghiên cứu, xây dựng Đề án phát triển ngành hàng chế biến dược liệu
(5) Bộ Tài nguyên và Môi trường
Chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan Nghiên cứu trình Chính phủ và Quốc hội sửa đổi, bổ sung Luật Đất đaitheo hướng phát triển thị trường quyền sử dụng đất trong nông nghiệp, mở rộng hạn mức chuyển nhượng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân; hoàn thiện quy định về các quyền và nghĩa vụ sử dụng đất nông nghiệp của các tổ chức, cá nhân; thiết lập các cơ chế thuận lợi để hộ nông dân, hợp tác xã, tổ hợp tác và doanh nghiệp tiếp cận đất đai hình thành các vùng sản xuất, chế biến tập trung
(6) Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan nhanh chóng triển khai thực hiện hiệu quả Nghị định 57/2018/NĐ-CP ngày 17/4/2018 của Chính phủ về cơ chế, chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn
(7) Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan
a Cân đối, bố trí nguồn vốn phục vụ “Chương trình hỗ trợ phát triển doanh nghiệp chế biến, bảo quản nông lâm thủy sản đến năm 2030” sau khi Chương trình được phê duyệt
b Cân đối, bố trí nguồn vốn triển khai đề án phát triển 03 ngành chế biến để phấn đấu đứng trong số những nước hàng đầu thể giới về: Rau củ quả, thủy hải sản, gỗ và dản phẩm
từ gỗ (sau khi được cấp có thẩm quyền phê duyệt)
c Rà soát, đề xuất sửa đổi chính sách về thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp đối với lĩnh vực chế biến nông lâm thủy sản và cơ khí phục vụ nông nghiệp theo hướng mở rộng lĩnh vực được hưởng ưu đãi thuế suất
(8) Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
- Nghiên cứu, chỉ đạo các tổ chức tín dụng cân đối nguồn vốn đáp ứng kịp nhu cầu phục
vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn; tăng cường kết nối ngân hàng - doanh nghiệp nhằm tháo gỡ khó khăn vướng mắc trong tiếp cận nguồn vốn tín dụng, đặc biệt là các doanh nghiệp, dự án đầu tư vào chế biến nông sản và cơ giới hóa phục vụ nông nghiệp
Trang 34- Triển khai hiệu quả chính sách tín dụng đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn theo Nghị định số 55/2015/NĐ-CP ngày 9/6/2015 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn và Nghị định số 116/2018/NĐ-CP ngày 07 tháng 9 năm
2018 sửa đổi, bổ sung Nghị định số 55/2015/NĐ-CP
(9) UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
a Khẩn trương triển khai thực hiện các nhiệm vụ được Chính phủ, Thủ tướng giao tại các văn bản có liên quan đến hoạt động của công nghiệp chế biến, bảo quản nông sản và cơ giới hóa sản xuất nông nghiệp
b Tập trung triển khai thực hiện các chính sách cụ thể của Trung ương phù hợp với thực tế tại địa phương để xây dựng và phát triển các vùng nguyên liệu sản xuất nông sản
an toàn, tập trung phục vụ công nghiệp chế biến nông sản
c Đề xuất, xây dựng và áp dụng các chính sách hỗ trợ phát triển công nghiệp chế biến, bảo quản nông sản và cơ giới hóa sản xuất nông nghiệp phù hợp với chức năng nhiệm vụ của đơn vị và đặc điểm riêng của địa phương./
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
Trang 35GIẢI PHÁP TRỌNG TÂM TRONG CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN NÔNG SẢN VIỆT NAM
TS Hoàng Xuân Bình - Chủ tịch Hội DN VN tại Ba Lan
1 NHỮNG NGUYÊN NHÂN HẠN CHẾ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN
NÔNG SẢN VIỆT NAM
- Nghành sản xuất nông nghiệp manh mún, chủ yếu dựa vào kinh tế gia đình quy mô nhỏ
- Sản xuất nông nghiệp thiếu kiến thức khoa học, không tập trung với mỗi chủng loại
nên không tạo đuợc nguồn nguyên liệu tập trung
- Giao thông còn hạn chế, thiếu kho lưu trữ nông sản, nguyên liệu
- Thiếu các cơ sở pháp lý hỗ trợ cho các Doanh nghiệp nông nghiệp khi hợp tác với nông
dân trong sản xuất, thương mại
- Chưa có chính sách khuyến kích nghiên cứu khoa học về công nghiệp chế biến nông
sản, cũng như hỗ trợ đầu tư cho các doanh nghiệp và nông dân trong công nghiệp chế biến
nông sản
2 NHỮNG CHỦ TRƯƠNG PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN NÔNG SẢN
Công nghiệp chế biến nông sản cần là chính sách chiến lược của cả nước Trong
đó lấy người nông dân và doanh nghiệp nông nghiệp làm trọng tâm thực hiện và hưởng lợi
Cụ thể:
- Chính sách toàn dân cùng tham gia Cần thay đổi nhận thức người nông dân trong
quá trình sản xuất (chăn nuôi, trồng trọt, khai thác v.v) để góp phần hình thành nguồn
nguyên liệu tập trung cho công nghiệp chế biến hay tạo ra các sản phẩm nông nghiệp có giá
trị cao hơn, không quá phụ thuộc vào thời tiết, thị trường hay chỉ cung cấp nguyên liệu thô
- Hình thành các mô hình mẫu trong công nghiệp chế biến nông sản Do văn hóa kinh
doanh của nông dân Việt Nam, ngại thay đổi thói quen, ngại đầu tư tiên phong ứng dụng
công nghệ mới Do vậy cần có chính sách khuyến khích các mô hình sáng tạo, khởi nghiệp
trong công nghiệp chế biến nông sản để hình thành mô hình mẫu có hiệu quả, sau đó nhân
rộng mô hình
- Tạo đột phá, đi tắt , đón đầu ứng dụng công nghệ mới, hiện đại và có triển vọng trong
tương lai Hiện tại Việt Nam đang là nước có công nghiệp chế biến nông sản ở trình độ thấp
Nếu chỉ đầu tư sử dụng những công nghệ cũ hay đã sử dụng của các nước tiến tiến thì khó
có thể vuơn lên hay nâng cao năng suất, chất lượng Cần ưu tiên nhập khẩu công nghệ mới
hay đầu tư nghiên cứu các công nghệ mới phù hợp với xu thế nền công nghiệp 4.0 như tự
động hóa, công nghệ xanh, công nghệ đảm bảo sức khỏe v.v
3 NHỮNG LĨNH VỰC ƯU TIÊN TRONG CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN NÔNG SẢN
VIỆT NAM
Trên cơ sở những lĩnh vực nông nghiệp trọng tâm, cũng như nhu cầu cho xuất khẩu và
tiêu thụ trong nước, cần tập trung công nghiệp chế biến (cung cấp nguyên liêu, thiết bị và
máy móc) trong các lĩnh vực như:
1 Sản xuất, chế biến bảo quản thịt
Trang 362 Sản xuất, chế biến và bảo quản cá, hải sản
3 Sản xuất, chế biến biến, bảo quản rau, củ, hoa quả
4 Sản xuất, chế biến bảo quản các sản phẩm từ gạo
5 Sản xuất chế biến, bảo quản các sản phẩm ngũ cốc (ngô, khoai, sắn, đậu v,v)
6 Sản xuất chế biến, bảo quản các sản phẩm từ sữa
7 Sản xuất chế biến, bảo quản các sản phẩm từ cây công nghiệp (cà phê, chè, tiêu, cao
4.2 Tạo cơ chế cho các doanh nghiệp lớn đầu tư vào sản xuất nông nghiệp và công nghiệp chế biến nông sản để sản xuất các sản phẩm của doanh nghiệp hay hợp tác sản xuất cùng nông dân
4.3 Nghiên cứu và hỗ trợ doanh nghiệp, hộ gia đình nông dân tạo các mô hình mẫu (về
kỹ thuật thu hoạch, về máy móc, về kho bãi, về sản phẩm v.v) phù hợp với từng chủng loại, từng địa phương trên tinh thần nâng cao hiệu quả kinh doanh, giúp nông dân trong sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, đồng thời dễ tập huấn, ứng dụng phát triển mô hình mẫu cho các đối tượng và địa bàn tương tự
Đặc biệt, giai đoạn đầu ưu tiên tạo các mô hình mẫu, các trang bị máy móc chế biến nông sản quy mô nhỏ, vừa phù hợp với điều kiện thực tế của các doanh nghiệp nông thôn, các hộ nông dân hiện nay
4.4 Cần có chính sánh thu hút các doanh nghiệp chế biến nông sản nước ngoài đầu tư vào sản xuất, xuất khẩu, chuyển giao công nghệ và hợp tác với các doanh nghiệp Việt Nam trong công nghiệp chế biến nông sản Ưu tiên cho các nước, khu vực tiến tiến trong công nghiệp chế biến nông sản hay có trình độ khoa học kỹ thuật cao
4.5 Khuyến kích các doanh nghiệp nông nghiệp trong nước mở rộng đầu tư, liên kết ra nước ngoài để sản xuất, xuất khẩu lao động nông nghiệp Một mặt tạo nguồn nguyên liệu
Trang 37hay sản xuất sản phẩn xuất khẩu về Việt Nam, mặt khác tạo điều kiện cho nông dân có thể
ra nước ngoài làm việc vừa có thu nhập cao, vừa học hỏi được kinh nghiệm, nắm bắt công nghệ về phục vụ tại Việt Nam
4.6 Phát động phong trào khởi nghiệp trong công nghiệp chế biến nông sản, cấp bằng sáng chế, bảo hộ trí tuệ, các giải thưởng công nghệ trong lĩnh vực chế biến nông sản
5 XÂY DỰNG MÔ HÌNH TRUNG TÂM LOGISTIC MINI TRONG CHẾ BIẾN, LƯU TRỮ, PHÂN PHỐI SẢN PHẨM NÔNG NGHIỆP
5.1 Mục đích
- Hỗ trợ quá trình thu hoạch, sơ chế, chế biến, lưu trữ cho các sản phẩm nông nghiệp của một khu vực (ví dụ, các trang trại lớn, cấp huyện, cấp sư đoàn trong quân đội, các khu công nghiệp tập trung v,v)
- Ứng dụng các công nghệ chế biến nông sản quy mô nhỏ, phù hợp với điều kiện thực tế của doanh nghiệp và nông dân nâng cao giá trị nông sản, hỗ trợ lưu trữ công nghiệp
- Hỗ trợ doanh nghiệp và nông dân trong việc bảo quản, chuẩn hóa chất lượng và phân phối hàng hóa
- Quảng bá sản phẩm, cung cấp hàng hóa trực tiếp từ nhà sản xuất tới người tiêu dùng (xuất khẩu, cung cấp cho các siêu thị, cửa hàng, bếp ăn tập thể, bệnh viện, trường học v.v )
- Phát triển sản xuất, dịch vụ du lịch cho địa phương
- Tạo điều kiện hợp tác giữa các nhà cung ứng vật tư nông nghiệp với doanh nghiệp nông nghiệp và nông dân
5.2 Mô hình của trung tâm Logistic mini
- Trung tâm lưu trữ nông sản Tùy thuộc và đặc trưng sản phẩm của địa phương, các sản phẩm có thể là những sản phẩm hàng ngày như thịt, cá, hải sản, rau, củ, hoa quả, sữa v.v hay các sản phẩm phục vụ xuất khẩu lớn như gạo, cà phê, chè v.v Doanh nghiệp nông nghiệp hay nông dân có thể sử dụng các dịch vụ xử lý sau thu hoạch, sơ chế, đóng gói và bảo quản, lư trữ kho hoặc bán sản phẩm cho cách nhà máy sơ chế, chế biến của trung tâm
- Kết hợp và liên kết với tổ hợp sơ chế, đóng gói, chế biến (hay sản xuất ra sản phẩm) với công suất phù hợp tận dụng nguồn nguyên liệu địa phương hay những lúc giá nguyên liệu rẻ khi chính vụ
- Xây dựng khu trưng bày sản phẩm, cửa hàng bán hàng nông sản cho các doanh nghiệp sản xuất tại trung tâm hay cho các doanh nghiệp và nông dân có hàng gửi tại trung tâm Có thể kết hợp với các doanh nghiệp khác cung cấp các sản phẩm địa phương cho phong phú mặt hàng và thu hút khách du lịch
- Xây dựng bộ phận marketing, xây dựng thương hiệu nông sản cho doanh nghiệp, địa phương, hỗ trợ xuất khẩu, bán hàng và cung cấp các sản phẩm của trung tâm cho các khách hàng tiềm năng thường xuyên như khu công nghiệp, quân đội, trường học, bệnh viện v.v
- Xây dựng bộ phận Logistic phân phối hàng hóa, đảm bảo đưa hàng tới khách hàng với thời gian và chất lượng đảm bảo
5.3 Giới thiệu một số máy móc trong công nghệ chế biến nông sản của Ba Lan quy mô vừa và nhỏ (xem file đính kèm)
5.4 Giới thiệu về một Trung tâm Logistic mini trong lưu trữ rau quả của Ba Lan
Trang 38TRUNG TÂM PHÂN PHỐI VÀ LƯU TRỮ RAU CỦ, KHOAI TÂY, TÁO VÀ PHÒNG Ủ CHÍN CHUỐI CÙNG VỚI KHU VĂN PHÒNG (công suất chứa khoảng 5.700 tấn)
Trang 40Liên lạc: hxbinh2002@yahoo.com; Tel: 0048 693927998 (Ba lan)