Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước không tách rời đường lối đúng đắn của Đảng – đó là đường lối phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc, kết hợp và phát huy sức mạ
Trang 1Đảng với hoạt động đối ngoại của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt
Nam (1969 - 1975) Nguyễn Thị Lan Anh
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Khoa Lịch sử Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 60 22 56 Người hướng dẫn: TS Nguyễn Thị Mai Hoa
Năm bảo vệ: 2011
Abstract Phân tích, làm rõ chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng đối với hoạt động
đối ngoại của Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam qua hai giai đoạn: 1969 – 1972; 1973 – 1975 Hệ thống hóa, khái quát hóa những tư liệu đã
có, bổ sung thêm những tư liệu mới, khôi phục một cách khách quan các hoạt động đối ngoại chủ yếu của CPCMLTCHMNVN dưới sự lãnh đạo của Đảng qua hai giai đoạn: 1969 – 1972; 1973 – 1975 Nêu lên những thành tựu, hạn chế và đúc rút những kinh nghiệm lịch sử từ quá trình Đảng lãnh đạo hoạt động đối ngoại của những năm 1969 – 1975
Keywords Hoạt động đối ngoại; Chính phủ cách mạng lâm thời; Đường lối lãnh
đạo; Lịch sử Đảng
Content
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thần thánh của dân tộc Việt Nam là một bản trường
ca bất hủ về tinh thần đấu tranh, lòng yêu nước và khát khao độc lập, tự do Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước không tách rời đường lối đúng đắn của Đảng – đó là đường lối phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc, kết hợp và phát huy sức mạnh tổng hợp của các mặt trận quân sự, chính trị, văn hóa, ngoại giao… làm nên sức mạnh nội lực, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, đánh bại ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ - một đế quốc hùng mạnh, trong gần 200 năm lập quốc chưa từng nếm mùi thất bại Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu
Trang 2nước, ngoại giao trở thành một trong những mặt trận quan trọng, ở đó, Đảng đã lãnh đạo kết hợp sức mạnh ngoại giao hai miền, lãnh đạo hoạt động đối ngoại của CPCMLTCHMNVN một cách hiệu quả từ khi Chính phủ ra đời (1969) đến khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thắng lợi (1975), góp phần vào thắng lợi chung của ngoại giao cả nước trong sự nghiệp giành độc lập, tự do
và thống nhất Tổ quốc
Hiện nay, đất nước đang bước vào giai đoạn phát triển mới - đưa công cuộc đổi mới đi vào chiều sâu, đẩy mạnh hội nhập quốc tế, thì việc “ôn cố tri tân”, nhìn lại, đánh giá một cách thấu đáo những thành tựu, hạn chế của ngoại giao cả nước những năm tháng hào hùng chống Mỹ nói chung, của CPCMLTCHMNVN nói riêng dưới sự lãnh đạo của ĐCSVN, rút ra những kinh nghiệm cho hiện tại là một việc làm cần thiết, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn Với những lý do đó, chúng tôi
chọn chủ đề “Đảng với hoạt động đối ngoại của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền
Nam Việt Nam (1969 -1975)” làm đề tài luận văn thạc sĩ lịch sử, chuyên ngành lịch sử ĐCSVN
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Về mảng đề tài này, lâu nay đã có một số sách, bài viết được công bố với nhiều góc độ và phạm vi nghiên cứu Có thể chia thành các công trình của các nhà nghiên cứu trong nước và các công trình của các nhà nghiên cứu nước ngoài Trên cơ sở đó, tôi rút ra một số nhận xét sau:
Thứ nhất, các công trình của các nhà nghiên cứu Việt Nam khá phong phú Tác giả của các
công trình chủ yếu là những nhà ngoại giao kỳ cựu, không ít trong số họ là thành viên của các đoàn ngoại giao, đoàn Liên hợp quân sự, nên các tác giả đã phân tích cặn kẽ bối cảnh, quá trình đấu tranh cam go của ngoại giao hai miền; từ đó, khẳng định vai trò quan trọng của đấu tranh ngoại giao trong sự nghiệp cách mạng chung, làm rõ vai trò lãnh đạo của ĐCSVN Trong khi đó, các công trình của các nhà nghiên cứu nước ngoài tập trung lý giải nguyên nhân thất bại của đế quốc Mỹ trong chiến tranh Việt Nam, tuy nhiên, trong một số công trình, một số nhận xét, đánh giá còn chưa thực sự khách quan
Một cách tổng quát, thành quả của những công trình nghiên cứu nêu trên, ở những mức độ khác nhau đã soi rọi và là cơ sở để tác giả luận văn có điều kiện đi sâu nghiên cứu về hoạt động đối ngoại của CPCMLTCHMNVN dưới sự lãnh đạo của Đảng
Thứ hai, trong những công trình nghiên cứu trên, chưa có một công trình nào nghiên cứu một
cách toàn diện, hệ thống về hoạt động đối ngoại của CPCMLTCHMNVN dưới sự lãnh đạo của Đảng CSVN như đề tài luận văn mà chúng tôi đã lựa chọn
Thứ ba, quá trình Đảng lãnh đạo hoạt động đối ngoại của CPCMLTCHMNVN những năm
1969 – 1975 cần phải tiếp tục nghiên cứu một cách toàn diện, hệ thống, dựa trên việc khai thác thêm những tư liệu mới, khỏa lấp những khoảng trống nghiên cứu vẫn còn tồn tại như làm rõ những chủ trương, quan điểm của Đảng đối với hoạt động đối ngoại của CPCMLTCHMNVN; chỉ ra vai trò, sự đóng góp to lớn, quan trọng hoạt động đối ngoại của CPCMLTCHMNVN đối với sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước; làm rõ những tồn tại, hạn chế, đúc rút những kinh nghiệm lịch sử quan trọng
từ quá trình Đảng lãnh đạo hoạt động đối ngoại của CPCMLTCHMNVN… Đó đồng thời cũng là mục tiêu, nhiệm vụ mà luận văn cố gắng hoàn thành
Trang 33 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu
Làm rõ chủ trương, đường lối và sự chỉ đạo của Đảng đối với hoạt động đối ngoại của CPCMLTCHMNVN từ năm 1969 đến năm 1975; trên cơ sở đó, rút ra những kinh nghiệm chủ yếu phục vụ hiện tại
Nhiệm vụ nghiên cứu
- Đi sâu phân tích, làm rõ chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng đối với hoạt động đối ngoại
của CPCMLTCHMNVN qua hai giai đoạn: 1969 – 1972; 1973 – 1975
- Hệ thống hóa, khái quát hóa những tư liệu đã có, bổ sung thêm những tư liệu mới, khôi phục một cách khách quan các hoạt động đối ngoại chủ yếu của CPCMLTCHMNVN dưới sự lãnh đạo của
Đảng qua hai giai đoạn: 1969 – 1972; 1973 – 1975
- Nêu lên những thành tựu, hạn chế và đúc rút những kinh nghiệm lịch sử từ quá trình Đảng lãnh đạo hoạt động đối ngoại của những năm 1969 – 1975
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động đối ngoại của CPCMLTCHMNVN từ năm 1969 đến năm 1975
Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu những đường lối, chủ trương cơ bản của Đảng trong quá trình chỉ đạo CPCMLTCHMNVN tiến hành các hoạt động đối ngoại và những sự kiện chính, quan trọng, những mốc lớn trong hoạt động đối ngoại của CPCMLTCHMNVN trong phạm vi thời gian
từ năm 1969 (thời điểm CPCMLTCHMNVN ra đời) đến năm 1975 (đất nước hoàn toàn giải phóng, hai cơ quan ngoại giao hai miền Nam, Bắc hợp nhất)
5 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, dựa trên cơ sở lý luận chung của chủ nghĩa Mác- Lênin, ngoài việc sử dụng rộng rãi các phương pháp phổ quát của khoa học lịch sử như
lịch sử, logic, logic – lịch sử, luận văn còn sử dụng các phương pháp cơ bản khác của khoa học lịch
sử như phân tích, tổng hợp, đối chiếu, thống kê, so sánh, để xử lý các sự kiện, con số, với mục đích
dựng lại quá trình Đảng hoạch định chủ trương và chỉ đạo hoạt động ngoại giao của CPCMLTCHMNVN
7 Bố cục luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục, luận văn được kết cấu thành 3 chương, 6 tiết:
Chương 1 Đảng lãnh đạo hoạt động đối ngoại của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng
hòa miền Nam Việt Nam từ năm 1969 đến năm 1972
Trang 4Chương 2 Đảng lãnh đạo hoạt động đối ngoại của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng
hòa miền Nam Việt Nam từ năm 1973 đến năm 1975
Chương 3 Nhận xét và kinh nghiệm
Chương 1 ĐẢNG LÃNH ĐẠO HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI CỦA CHÍNH PHỦ CÁCH MẠNG
LÂM THỜI CỘNG HÒA MIỀN NAM VIỆT NAM
TỪ NĂM 1969 ĐẾN NĂM 1972 1.1 SỰ RA ĐỜI CỦA CHÍNH PHỦ CÁCH MẠNG LÂM THỜI CỘNG HÒA MIỀN NAM VIỆT NAM
1.1.1 Yêu cầu lịch sử đối với việc thành lập Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam
Những thành tựu trong xây dựng và phát triển kinh tế, khoa học – kỹ thuật và quốc phòng của các nước trong hệ thống XHCN; Sự phát triển mạnh mẽ của phong trào giải phóng dân tộc ở các
nước Á, Phi, Mỹ Latinh Phong trào không liên kết ra đời và trở thành một lực lượng chính trị mới
trên vũ đài quốc tế
Những khuyết tật của các nước XHCN cũng đã sớm bộc lộ, nhưng nhìn chung các nước vẫn tăng cường ủng hộ về chính trị và vật chất cho chúng ta
Nội bộ phe ĐQCN cũng có sự biến đổi lớn trong lực lượng so sánh giữa đế quốc Mỹ và các đế quốc khác, nhiều nước trở thành những địch thủ nguy hiểm của Mỹ trên mặt trận kinh tế (Pháp, Anh, Nhật Bản)
Tại các nước tư bản, cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động vì các quyền dân sinh, dân chủ và hòa bình cũng phát triển với quy mô rộng lớn Phong trào phản chiến ở Mỹ dâng lên mạnh mẽ và có bước phát triển về chất so với các giai đoạn trước
Cách mạng Việt Nam cũng có những bước phát triển vượt bậc trên cả ba mặt trận: Chính trị, quân sự, ngoại giao Thắng lợi Tết Mậu Thân 1968 đã làm cho “ý chí xâm lược của Mỹ bị lung lay
rõ rệt” và buộc Tổng thống R Nixon phải điều chỉnh chiến lược toàn cầu phản cách mạng, đề ra
“học thuyết Nixon” với mục tiêu giảm bớt các “cam kết quốc tế” của Mỹ, đòi hỏi các nước đồng minh phải “chia sẻ trách nhiệm” với Mỹ để chống lại phong trào cách mạng thế giới, ổn định tình hình nội bộ, duy trì lực lượng quốc phòng, giữ thế cân bằng và răn đe, khai thác, lợi dụng mâu thuẫn các nước XHCN, chia rẽ, lôi kéo các nước lớn, mua chuộc, uy hiếp các nước nhỏ Ở Việt Nam, Mỹ buộc phải xuống thang chiến tranh, thực hiện “phi Mỹ hóa chiến tranh” - thực chất là thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” ở miền Nam, mở rộng chiến tranh sang Campuchia, tiến đánh lực lượng giải phóng quân ở Lào, thực hiện âm mưu “Đông Dương hóa chiến tranh”, “dùng người châu Á đánh người châu Á”, biến Đông Dương thành một chiến trường
Trên lĩnh vực đối ngoại, chính quyền Mỹ thực hiện chính sách “tiến công hòa bình” với quy mô chưa từng có trong hoạt động ngoại giao của nước Mỹ sau Chiến tranh thế giới thứ hai nhằm lôi
Trang 5kéo sự tham gia của các nước Tây Âu, Bắc Âu, châu Phi, châu Á, một số nước XHCN, các nước Không liên kết… làm trung gian trong vấn đề Việt Nam, hòng đánh lừa dư luận thế giới và nhân dân Mỹ, gây chia rẽ giữa các nước với Việt Nam; liên tục giằng dai trên bàn Hội nghị Paris, gây nên những bế tắc về ngoại giao trong suốt những năm 1968 – 1971
Chính quyền Sài Gòn đã tăng cường các cuộc hành quân lấn chiếm, đánh phá ác liệt các vùng giải phóng với mục tiêu đánh bật chủ lực của ta ra khỏi nơi đứng chân, tung những đội quân Phượng Hoàng về vùng ven đô làm nhiệm vụ chiêu hồi…, gây khó khăn không nhỏ cho cách mạng miền Nam, dùng mọi thủ đoạn để mua chuộc lãnh tụ các đảng phái chính trị với lời kêu gọi tập hợp
xung quanh chính phủ, đoàn kết các phe phái để chống lại cộng sản, lập nên Mặt trận quốc gia xã hội dân chủ
Để đoàn kết được mọi tầng lớp nhân dân miền Nam, tranh thủ cao nhất sự ủng hộ của mọi lực lượng yêu chuộng hòa bình trong nước và quốc tế, không phân biệt chế độ chính trị, cần phải thành lập một chính phủ yêu chuộng hòa bình, trung lập Lúc này, vấn đề thành lập chính quyền trung ương trở thành yêu cầu cấp bách cả về đối nội lẫn đối ngoại và trên thực tế đã có những điều kiện
để thành lập một chính quyền như vậy - đó là ở miền Nam đã có vùng giải phóng rộng lớn, có lực lượng vũ trang cách mạng lớn mạnh, có lực lượng chính trị hùng hậu thống nhất trong mặt trận đoàn kết dân tộc rộng rãi
1.1.2 Sự ra đời của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam
Từ ngày 6 – 6 đến ngày 8 – 6 – 1969, Đại hội đại biểu quốc dân toàn miền Nam đã khai mạc trọng thể tại vùng Tà Nốt (Tây Ninh) Đại hội tuyên bố thành lập Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam với nòng cốt là MTDTGPMN, do kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát làm Chủ tịch và Hội đồng Cố vấn chính phủ, do luật sư Nguyễn Hữu Thọ làm Chủ tịch, luật sư Trịnh Đình Thảo làm Phó chủ tịch Trong phiên họp đầu tiên, ngày 10 – 9 – 1969, CPCMLTCHMNVN
đã phân công bà Nguyễn Thị Bình giữ chức Bộ trưởng Bộ Ngoại giao và Trưởng đoàn đại biểu CPCMLTCHMNVN tại Hội nghị Paris thay thế Đoàn đại biểu MTDTGPMNVN Tại phiên họp,
Chính phủ lâm thời cũng đề ra Chương trình hành động 12 điểm, nêu rõ chính sách đối nội và đối
ngoại
Sự ra đời của CPCMLTCHMNVN dưới sự lãnh đạo của Đảng là kết quả tất yếu của quá trình đấu tranh lâu dài, gian khổ và anh dũng của nhân dân miền Nam Đó cũng là bước trưởng thành của mặt trận đoàn kết dân tộc chống Mỹ và tay sai ở miền Nam Từ đây, Đoàn Ngoại giao của CPCMLTCHMNVN sẽ đại diện cho nhân dân miền Nam với tư cách ngoại giao nhà nước phối hợp với Đoàn Ngoại giao VNDCCH đấu tranh trên trường quốc tế, mà cụ thể trước mắt là tại Hội nghị Paris, nâng cao vị thế của chúng ta trên bàn đàm phán, kết hợp ngoại giao nhà nước và ngoại giao nhân dân, tạo nên thế trận ngoại giao “tuy hai mà một, tuy một mà hai”, buộc Mỹ và chính quyền Sài Gòn ký Hiệp định, thực hiện Hiệp định, góp phần đưa cách mạng đến thắng lợi cuối cùng
Trang 61.2 ĐẢNG LÃNH ĐẠO HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI CỦA CHÍNH PHỦ CÁCH MẠNG LÂM THỜI CỘNG HÒA MIỀN NAM VIỆT NAM
1.2.1 Lãnh đạo tranh thủ sự công nhận quốc tế
Ngay sau khi CPCMLTCHMNVN ra đời, BBT đã ra Thông tri ngày 10 – 6 – 1969 về việc hưởng ứng và ủng hộ hoạt động của CPCMLTCHMNVN Thông tri chỉ rõ rằng trước hết,
CPCMLTCHMNVN “cần ra sức tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của các nước, trước hết là các nước
xã hội chủ nghĩa”; tiếp đó “đòi Mỹ phải nghiêm chỉnh nói chuyện với Chính phủ cách mạng Lâm thời, người đại diện chân chính, hợp pháp của nhân dân miền Nam Việt Nam”, trên cơ sở đó, tích cực đấu tranh “đòi Mỹ phải chấm dứt chiến tranh xâm lược, rút hết và không điều kiện quân Mỹ và chư hầu ra khỏi miền Nam Việt Nam”
Trong năm 1969, Đoàn Ngoại giao của CPCMLTCHMNVN đã đi thăm hữu nghị nhiều nước Kết quả là trong tháng đầu khi mới được thành lập, CPCMLTCHMNVN đã được 23 nước XHCN
và Dân tộc chủ nghĩa công nhận (Cuba, Algeria, Triều Tiên là ba nước đầu tiên công nhận CPCMLTCHMNVN), trong đó có 21 nước đặt quan hệ ngoại giao ở cấp Đại sứ, nhiều nước mặc
nhiên chuyển các Cơ quan đại diện và các Phòng thông tin của MTDTGPMNVN thành các cơ
quan ngoại giao của CPCMLTCHMNVN như Thụy Điển, CHDC Đức
Bước sang năm 1970, khi Đông Dương đã trở thành một chiến trường chung, Mỹ tìm cách hạ thấp vai trò của Hội nghị bốn bên, Trung ương Đảng chủ trương: Tích cực tranh thủ sự đồng tình ủng hộ mạnh mẽ hơn nữa của các nước xã hội chủ nghĩa anh em, các nước dân tộc chủ nghĩa, các nước trung gian và nhân dân yêu chuộng hòa bình thế giới
Sự kiện đầu năm 1972, CPCMLTCHMNVN được công nhận là thành viên của Phong trào không liên kết đã minh chứng cho địa vị pháp lý vững chắc của CPCMLTCHMNVN; đồng thời,
cũng mở ra cơ hội, khả năng tăng cường Mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ cuộc kháng chiến chống
Mỹ, cứu nước đầy cam go, gian khó của nhân dân ta
1.2.2 Lãnh đạo phối hợp hoạt động và phát huy ưu thế ngoại giao “tuy hai mà một, tuy một mà hai” trên bàn đàm phán Hội nghị Paris
Từ cuối năm 1965, trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 12, Trung ương Đảng đã nêu quan điểm mở mặt trận đấu tranh ngoại giao phối hợp với hai mặt trận quân sự và chính trị Sau đó, Hội nghị lần thứ 13 (tháng 1 – 1967) của Đảng tiếp tục chỉ rõ: “Đi đôi với đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị ở miền Nam, ta cần tiến công địch về mặt ngoại giao, phối hợp với hai mặt đấu tranh
đó để giành thắng lợi to lớn hơn nữa”, tranh thủ khả năng vừa đánh, vừa đàm với nguyên tắc
“chúng ta chỉ có thể giành được trên bàn hội nghị những cái mà chúng ta đã giành được trên chiến trường” Trong khi phối hợp với đấu tranh quân sự và chính trị, “đấu tranh ngoại giao phải giữ vai trò quan trọng, tích cực và chủ động”
Cụ thể hóa chủ trương trên, Điểm 12 của Chương trình hành động của Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã chỉ rõ nhiệm vụ ngoại giao cơ bản, cụ thể của
Trang 7CPCMLTCHMNVN và thể hiện rõ lập trường hòa bình, trung lập ngoại thể hiện rõ lập trường hòa bình, trung lập
Suốt nửa cuối năm 1969, trên chiến trường miền Nam, quân đội ta tiếp tục gặp khó khăn, giữa lúc đó Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời Nhân cơ hội đó, Mỹ tích cực tìm kiếm thắng lợi trên chiến trường, hy vọng sau sự ra đi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân Việt Nam sẽ nao núng ý chí chiến đấu Đồng thời, R Nixon cũng tuyên bố: “Thời gian cho hòa bình đã tới”, kêu gọi đại biểu các nước trong Đại hội đồng Liên hợp quốc thuyết phục chính phủ VNDCCH đi vào “thương lượng nghiêm chỉnh”
Nhiệm vụ ngoại giao được xác định: 1) Bóc trần âm mưu ngoan cố của địch, rút quân nhỏ giọt
và kéo dài chiến tranh xâm lược, bóc trần bộ mặt thối nát của ngụy quân, ngụy quyền, tiếp tục nêu cao giải pháp toàn bộ 10 điểm của Mặt trận Dân tộc giải phóng và Chính phủ Cách mạng lâm thời; 2) Đòi Mỹ phải rút hết quân, đòi thành lập Chính phủ liên hiệp, do đó mà tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ rộng rãi và ngày càng mạnh mẽ của nhân dân tiến bộ trên thế giới, của nhân dân Mỹ; 3) Kết hợp với đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị, làm cho địch càng bị cô lập và phân hóa, cuối cùng buộc chúng phải nhận một giải pháp chính trị có lợi cho ta
Cuối năm 1970 nửa đầu 1971, âm mưu của chính quyền R Nixon là tách vấn đề quân sự và chính trị; chỉ giải quyết vấn đề quân sự nhằm thực hiện rút quân, ngừng bắn toàn bộ với cả Mỹ và ngụy để duy trì và củng cố ngụy Quan điểm của Việt Nam là phải giải quyết toàn bộ và chỉ ngừng
bắn sau khi giải quyết cả vấn đề quân sự và chính trị, do đó phải giải quyết hai vấn đề quan trọng
là: Mỹ phải định thời hạn rút quân khỏi miền Nam và Mỹ phải chấm dứt việc ủng hộ nhóm cầm quyền hiếu chiến hiện nay do Thiệu cầm đầu
Chủ trương của chúng ta là “nắm lấy thời cơ giành thắng lợi quyết định trong năm 1972”, “bây giờ là lúc có khả năng kéo Mỹ xuống nữa để thắng một bước căn bản tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn cho cuộc cách mạng miền Nam” Hai Đoàn hiệp động mở đợt tấn công ngoại giao mới
Ngày 26 – 6 – 1971, Cố vấn Lê Đức Thọ và Bộ trưởng Xuân Thủy gặp riêng Tiến sĩ Kissinger
Bộ trưởng Xuân Thủy đưa ra Sáng kiến hòa bình 9 điểm của Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa
Ngày 1 – 7 – 1971, tại phiên họp thứ 119 của Hội nghị bốn bên, CPCMLTCHMNVN trình bày
Sáng kiến mới gồm 7 điểm nhằm giải quyết hòa bình vấn đề miền Nam Nội dung Sáng kiến 7 điểm gồm các vấn đề đã được đề cập trong Giải pháp 9 điểm (việc rút quân, thả tù binh, chấm dứt ủng hộ
Thiệu – Kỳ - Khiêm, bồi thường chiến tranh, thực hiện ngừng bắn sau khi kí kết, thực hiện chính
sách đối ngoại hòa bình), nhưng chỉ thu hẹp trong phạm vi miền Nam Điều đáng nói là mỗi sáng
kiến đưa ra đều kèm theo các giải pháp thực hiện Để vận động dư luận ủng hộ lập trường của ta, Đoàn Ngoại giao CPCMLTCHMNVN đã đi thăm các nước châu Âu: Anh, Thụy Điển, Hà Lan, Đan Mạch, Italia gặp gỡ các tổ chức, các nghị sĩ và nhân sĩ chống chiến tranh, tiếp xúc với các báo, trả lời phỏng vấn, nói chuyện với sinh viên, gặp gỡ kiều bào
Đến năm 1972, cuộc chiến tranh ở Việt Nam đã đạt tới mức độ cao nhất về quân sự, cường độ
và kỹ thuật, nhưng cũng không đảo ngược được tình thế trên chiến trường; ngược lại, gây nên
Trang 8khủng hoảng kinh tế, chính trị, xã hội và làm khó khăn cho thế chiến lược, cũng như lợi ích toàn cầu của Mỹ
Mặt khác, từ giữa năm 1972, nước Mỹ đang bước vào cuộc chạy đua nước rút của bầu cử Tổng thống, mà chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam là đề tài trung tâm trong cuộc vận động đối với cả hai đảng ở Mỹ Mặt khác, Mỹ đang lợi dụng tình hình mâu thuẫn Xô – Trung để tác động vào vấn đề Việt Nam, đi tới một giải pháp thương lượng
Giữa tháng 9 – 1972, tình hình chiến sự ở Quảng Trị diễn biến phức tạp, chúng ta đã phải chuyển sang phòng ngự sau khi mất Thành Cổ Cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ đang ở thời điểm cuối cùng BCT chủ trương tạm gác một số yêu cầu khác về nội bộ miền Nam, nới lỏng vấn đề chính quyền ở miền Nam Việt Nam
CPCMLTCHMNVN đã đưa ra lập trường công khai mới qua Tuyên bố ngày 11 – 9 – 1972 Lập
trường nêu rõ: CPCMLTCHMNVN sẵn sàng thỏa thuận với chính phủ Mỹ và “chấp nhận một chính phủ lâm thời hòa hợp dân tộc mà không bên nào được khống chế”, công khai thừa nhận “tình hình thực tế ở miền Nam có hai chính quyền, hai quân đội và các lực lượng chính trị khác” và đòi hỏi việc giải quyết vấn đề nội bộ ở miền Nam phải xuất phát từ thực tế đó
Đoàn Ngoại giao VNDCCH đưa ra bản Dự thảo Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam (8 – 10 – 1972), bao gồm tất cả các điểm trong Tuyên bố ngày 11 – 9 với hai nhân
nhượng: Công nhận sự tồn tại của chính quyền Sài Gòn có Thiệu; giải quyết vấn đề Việt Nam theo mong muốn của Mỹ, tách riêng vấn đề quân sự và chính trị; không đòi lập chính quyền hòa giải và hòa hợp dân tộc trước khi có ngừng bắn, mà để hai bên miền Nam giải quyết việc đó trong vòng ba tháng đầu sau ngừng bắn
Mỹ lật lọng ném bom miền Bắc, Các cuộc đàm phán tạm ngừng sau ngày 13 – 12 – 1972 Các Trưởng đoàn Việt Nam không tới Hội nghị bốn bên thường lệ ngày 21 – 12 – 1972, chỉ cử một số thành viên chính thức có mặt Sau khi lên án bước leo thang chiến tranh của Mỹ, các thành viên đứng dậy bỏ phòng họp ra về Đoàn ngoại giao CPCMLTCHMNVN đã mở các cuộc họp báo tại
Phòng thông tin của mình để tố cáo đế quốc Mỹ; đồng thời, phát huy chiến thắng của quân dân hai
vụ thảm sát Mỹ Lai (Sơn Mỹ, Sơn Tịnh, Quảng Ngãi) do quân đội Mỹ gây ra ngày 16-3-1968, giết hại hơn 500 đồng bào ta, hầu hết là người già, phụ nữ và trẻ em; việc giam giữ, đầy ải những người yêu nước trong các “chuồng cọp” ở Côn Đảo…
Trang 9Khi Mỹ mở rộng chiến tranh ra toàn Đông Dương, các cuộc tiếp xúc được tổ chức khá thường xuyên bóc trần những thủ đoạn tấn công bịp bợm và ý đồ muốn dùng áp lực quân sự để thương lượng trên thế mạnh của Tổng thống R.Nixon
Đánh giá về những hoạt động ngoại giao tố cáo tội ác của đế quốc Mỹ tại Việt Nam mà hai Đoàn Ngoại giao CPCMLTCHMNVN và VNDCCH đã tiến hành, Hội nghị BCHTƯ Đảng lần thứ
18 (1 – 1970) đã biểu dương: “Chưa bao giờ cuộc chiến tranh xâm lược đầy tội ác và những hành động man rợ của Mỹ ở Việt Nam bị dư luận rộng rãi ở khắp thế giới lên án mạnh mẽ như ngày nay
Ta đã tranh thủ được sự đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ ngày càng mạnh mẽ của các nước xã hội chủ nghĩa và nhân dân thế giới, kể cả nhân dân Mỹ”
Chương 2 ĐẢNG LÃNH ĐẠO HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI CỦA CHÍNH PHỦ CÁCH MẠNG
LÂM THỜI CỘNG HÒA MIỀN NAM VIỆT NAM
TỪ NĂM 1973 ĐẾN NĂM 1975
2.1 BỐI CẢNH LỊCH SỬ SAU KHI KÝ KẾT HIỆP ĐỊNH PARIS VÀ CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG
2.1.1 Những diễn biến mới trên trường quốc tế và trong nước
Trong thập kỷ 70 (XX), trên thế giới, khi chiến tranh Việt Nam đang đi vào giai đoạn cuối của
cuối của cuộc chiến, nước Mỹ lâm vào khủng hoảng chính trị, kinh tế, trong đó, suy thoái kinh tế và lạm phát ngày càng trầm trọng,vụ Watergate được phanh phui Cuộc khủng hoảng ở Mỹ kéo theo
sự suy yếu của nhiều nước tư bản đồng minh khác
Hệ thống XHCN dù suy yếu nhưng mỗi nước vẫn giữ được thế ổn định
Phong trào công nhân và nhân dân lao động ở các nước tư bản đấu tranh chống giai cấp tư bản
lũng đoạn diễn ra quyết liệt Phong trào Không liên kết có bước phát triển về lượng và chất, hướng
cuộc đấu tranh vào mục tiêu chống CNTD mới và cũ dưới mọi hình thức, chống mọi áp đặt của CNĐQ
Các phong trào ủng hộ nhân dân Việt Nam chống Mỹ trên thế giới có những bước chuyển biến mới Các nước ca ngợi chiến thắng của Việt Nam, nhưng cũng coi việc chống chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam đã hoàn thành, các cuộc xung đột ở Nam Việt Nam lúc này là vấn đề nội bộ Cách mạng Việt Nam cũng gặp khó khăn không nhỏ: Các nước XHCN cắt giảm viện trợ cho chúng ta trong khi chính quyền Sài Gòn lại được Mỹ tăng viện ồ ạt về kinh tế, quân sự, huấn luyện
và tăng cường phá hoại Hiệp định Những khó khăn trên đặt ra yêu cầu phải có các chủ trương, giải pháp ngoại giao linh hoạt, mềm dẻo, nhằm hỗ trợ đắc lực cho cách mạng trong nước và tận dụng được tối đa sự ủng hộ mọi mặt của dư luận thế giới
Về phía chúng ta, với việc ký Hiệp định Paris, một giai đoạn mới cho cách mạng miền Nam đã được mở ra: Giai đoạn hoàn thành CMDTDCND và thực hiện hòa bình, thống nhất nước nhà CƠ
Trang 10sở của chúng ta là LLVT miền Nam đang lớn mạnh, CPCMLT có uy tín cao ở trong nước và trên thế giới, có vùng căn cứ rộng lớn nối liền miền Nam với hậu phương rộng lớn của cách mạng Lào
và cách mạng Campuchia
Thắng lợi mới của nhân dân ba nước Việt Nam, Lào và Campuchia đã dẫn đến sự thay đổi trong
so sánh lực lượng trên bán đảo Đông Dương có lợi hơn bao giờ hết cho cách mạng miền Nam
2.1.2 Chủ trương của Đảng
Trước thái độ phá hoại Hiệp định của Mỹ - Thiệu, Trung ương Đảng xác định nhiệm vụ đấu tranh ngoại giao của hai miền là:“Nắm vững pháp lý của Hiệp định Paris về Việt Nam, giương cao ngọn cờ hòa bình và lập trường chính nghĩa của ta, kiên quyết vạch trần trước dư luận trong nước
và dư luận thế giới mọi âm mưu và hành động của địch vi phạm Hiệp định”
Trên cơ sở những diễn biến theo chiều hướng thắng lợi cả trên trường quốc tế cũng như ở trong nước, coi đấu tranh ngoại giao là một mũi đấu tranh quan trọng, Hội nghị BCT (7 – 1 – 1975) yêu
cầu: Sử dụng khôn khéo vũ khí đấu tranh ngoại giao, góp phần giương cao ngọn cờ hoà bình, độc
lập, hoà hợp dân tộc nhằm cô lập bọn tay sai ngoan cố; làm sáng tỏ chính nghĩa của ta, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của các lực lượng cách mạng và nhân dân tiến bộ trên thế giới; ngăn chặn âm mưu và thủ đoạn can thiệp, phá hoại của đế quốc Mỹ và bọn phản động quốc tế
2.2 ĐẢNG CHỈ ĐẠO HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI CỦA CHÍNH PHU CÁCH MẠNG LÂM THỜI CỘNG HÒA MIỀN NAM VIỆT NAM
2.2.1 Chỉ đạo hoạt động đấu tranh thi hành Hiệp định Paris
Đấu tranh tại Hội nghị hiệp thương hai bên miền Nam và bên ngoài Hội nghị
Nhiệm vụ đấu tranh tại Hội nghị hiệp thương hai bên miền Nam được coi là một trong những mũi đấu tranh quan trọng
Trong những phiên họp đầu tiên, Đoàn Sài Gòn đưa ra cái gọi là Dự thảo thỏa ước nhằm vòng vo, kéo dài thời gian Để mở đường mau chóng đi tới giải quyết các vấn đề nội bộ của miền Nam Việt Nam, Bộ trưởng Nguyễn Văn Hiếu đã đưa ra Đề nghị 6 điểm (18 – 4 – 1973), tập trung yêu cầu thực hiện các vấn đề chủ yếu của Hiệp định như chấm dứt ngay mọi cuộc xung đột, thực hiện ngừng bắn vững chắc và không thời hạn; trao trả nhân viên dân sự bị bắt, bị giam giữ; bảo đảm đầy đủ các quyền tự do dân chủ của nhân dân miền Nam; tiến hành Tổng tuyển cử tự do và dân chủ ở miền Nam Việt Nam …
Trong phiên họp ngày 7 – 6 – 1973, Bộ trưởng Nguyễn Văn Hiếu ra Tuyên bố rõ thêm về nội dung chủ yếu và các biện pháp cấp bách để giải quyết vấn đề nội bộ miền Nam Việt Nam, trong đó, tiếp tục đặt ba vấn đề cấp bách lên hàng đầu, các vấn đề còn lại được nêu lên nhằm khẳng định nội dung Hiệp định đạt được là thực tế ở miền Nam Việt Nam hiện nay có hai chính quyền, hai quân đội, hai vùng kiểm soát và ba lực lượng chính trị
Từ tháng 7 – 1973 đến cuối năm 1973, phía Mỹ và chính quyền Sài Gòn liên tục có những biểu hiện coi thường và phá hoại Hiệp định Paris (sự câu kết của về quân sự giữa Hoa Kỳ với
Trang 11một số nước và chính quyền Sài Gòn, nhằm bày tỏ sự ủng hộ chính quyền Thiệu và như một thách thức đối với Hiệp định; chính quyền Sài Gòn tiếp tục không chịu trao trả hết nhân viên dân sự bị bắt, thậm chí còn tiến hành các chiến dịch “bình định”, “Phượng Hoàng”, “thanh lọc”, tiêu biểu là cuộc tiến công căn cứ Lệ Minh (9 – 1973); thực hiện các cuộc ném bom dã man của máy bay Sài Gòn vào vùng giải phóng (Lộc Ninh, Bù đốp, Lò Gò, Thiện Ngôn); đồng thời, phía
Mỹ cho tàu chở máy bay, tàu khu trục tiến gần bờ biển Việt Nam để hỗ trợ quân đội Sài Gòn
Bộ trưởng Nguyễn Văn Hiếu đã yêu cầu phía chính quyền Sài Gòn phải hoàn thành việc trao trả tất cả nhân viên dân sự do họ giam giữ đúng thời hạn 45 ngày kể từ ngày ký Thông cáo chung; xóa bỏ chế độ lao tù hà khắc và để hội đồng thập tự quốc gia thăm những nơi giam giữ nhân viên dân sự bị bắt; mặt khác, đưa ra Dự thảo Những quy định cơ bản bảo đảm các quyền
tự do dân chủ của nhân dân miền Nam gồm 7 chương, 22 điều và đề nghị dùng nó làm cơ sở để hai bên thảo luận và đi đến thỏa thuận về những quy định cơ bản bảo đảm các quyền tự do dân chủ
Bên ngoài Hội nghị, Hai Đoàn tranh thủ vận động dư luận quốc tế, để phối hợp với cuộc đấu tranh trong Hội nghị, tăng tính hiệu quả của các hoạt động đòi chính quyền Sài Gòn thi hành Hiệp định Sau mỗi phiên họp, Đoàn CPCMLTCHMNVN tổ chức gặp gỡ một số nhân vật thuộc lực lượng thứ ba và thông báo cho họ về diễn biến của Hội nghị; Bộ trưởng Nguyễn Thị Bình cũng đi thăm hữu nghị nhiều nước: CHDC Yemen, Cộng hòa Mangas, Triều Tiên, CHDC Đức, Tiệp Khắc, Anbanni, Bungari, Mông Cổ, Liên Xô
Cuối tháng 12 – 1974 và đầu năm 1975, BCT họp Hội nghị mở rộng, thực hiện quyết tâm giải phóng miền Nam trong hai năm 1975, 1976 và dự kiến phương hướng hành động Ngoại giao có nhiệm vụ theo dõi đánh giá về khả năng Mỹ có thể trở lại can thiệp quân sự hay không
và đấu tranh ngăn chặn khả năng đó Chúng ta đi tới nhận định: Khả năng can thiệp quân sự của
Mỹ là hạn chế, nhưng chúng ta cũng đề phòng Mỹ can thiệp bằng không quân và hải quân Ngày 26 – 4 – 1975, CPCMLTCHMNVN ra Tuyên bố vạch rõ âm mưu của Mỹ là muốn duy trì “một chính quyền Nguyễn Văn Thiệu không có Thiệu” và yêu cầu phải “xóa bỏ hoàn toàn ngụy quyền và bộ máy chiến tranh kìm kẹp của ngụy” Bản Tuyên bố này đã không còn mang tính chất giải pháp theo Hiệp định Paris, mà thực chất là một tối hậu thư buộc địch đầu hàng Chính quyền Dương Văn Minh thành lập, tuyên bố đòi Mỹ rút, yêu cầu thương lượng và
cử đại diện đến gặp đoàn của CPCMLTCHMNVN, nhưng đã quá muộn- cuộc tiến công vào Sài Gòn đã bắt đầu
Đấu tranh tại BLHQS bốn bên Trung ương
Theo điều 16 Hiệp định Paris, BLHQS bốn bên được thành lập, có nhiệm vụ bảm đảm sự phối hợp hành động của các bên trong việc thực hiện các điều khoản về thực hiện ngừng bắn, rút quân đội, hủy bỏ căn cứ quân sự Hoa Kỳ và các nước ngoài khác khỏi miền Nam Việt Nam; trao trả các nhân viên quân sự và dân sự nước ngoài bị bắt; tìm kiếm tin tức về những nhân viên quân sự của các bên và thường dân nước ngoài của các bên bị mất tích BLHQS bốn bên sẽ bắt đầu hoạt động ngay sau khi ký Hiệp định và chấm dứt trong thời hạn 60 ngày sau khi việc rút
Trang 12quân của Hoa Kỳ và quân của các nước ngoài khác và việc trao trả nhân viên quân sự, thường dân nước ngoài của các bên bị bắt hoàn thành
BLHQS bốn bên gồm bốn đoàn hợp thành: Đoàn Chính phủ VNDCCH, CPCMLTCHMNVN, Chính phủ Hoa Kỳ và VNCH
Tối 29 – 1 – 1973, phiên họp đầu tiên diễn ra, chậm hơn so với thời gian dự kiến, do những rắc rối về vấn đề thủ tục phía bên kia gây cho hai Phó Trưởng đoàn của chúng ta từ Paris về Tân Sơn Nhất Sau 8 phiên họp cấp Phó đoàn, ngày 2 – 2 – 1973, phiên họp cấp Trưởng đoàn đầu tiên được diễn ra và tới ngày 6 – 2 – 1973, BLHQS mới chính thức đi vào hoạt động, sau khi đã thỏa thuận xong các vấn đề về thủ tục
Trong suốt quá trình diễn ra các cuộc họp, các trưởng đoàn CPCMLT liên tục yêu cầu phía
Sài Gòn và thực hiện đúng tinh thần của Nghị định thư về ngừng bắn ở miền Nam Việt Nam và
về các BLHQS, chấm dứt đàn áp khủng bố nhân dân, bắt bớ những người yêu nước, yêu hòa bình, hòa hợp dân tộc, yêu cầu chính phủ Hoa Kỳ chính thức xác nhận họ đang chở trái phép vũ khí vào miền Nam Việt Nam,
Ngày 29 – 3 – 1973, BLHQS bốn bên Trung ương kết thúc thời gian làm việc, chỉ để lại các
Tổ liên hợp quân sự bốn bên làm nhiệm vụ giám sát việc thực hiện Hiệp định
Như vậy, trong 60 ngày hoạt động, từ 28 – 1 đến 28 – 3 – 1973, “chính phủ Cách mạng lâm thời đã trao trả cho Mỹ 128 nhân viên quân sự Mỹ và nước ngoài bị bắt, trao trả cho phía Sài Gòn 5.428 nhân viên quân sự; đồng thời, nhận về 26.492 người của ta Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa đã trao trả cho phía Mỹ 459 phi công bị bắt ở miền Bắc” Những con số này chưa phải là con số thực tế, hơn 20 vạn nhân viên dân sự chưa được trao trả; Mỹ để lại hơn 25.000 nhân viên quân sự trá hình giúp đỡ chính quyền Sài Gòn
Tuy nhiên, sau những ngày đấu tranh tích cực, chúng ta cũng đã buộc chính quyền Sài Gòn phải thỏa thuận những thể thức bảo đảm 11 điều về quyền ưu đãi miễn trừ ngoại giao đối với Đoàn đại biểu quân sự của chúng ta tại Tân Sơn Nhất, tạo lợi thế cơ bản giúp Đoàn hoạt động
có hiệu quả trong BLHQS hai bên sau này
Đấu tranh tại BLHQS hai bên Trung ương
BLHQS hai bên Trung ương họp phiên đầu tiên tại sân bay Tân Sơn Nhất vào 10h sáng ngày 29 – 3 – 1973, sau khi kết thúc 60 ngày làm việc của BLHQS bốn bên Trung ương
Trong các phiên họp, CPCMLT đòi chính quyền Sài Gòn phải nghiêm chỉnh thi hành Hiệp định Paris, trao trả hết nhân viên dân sự Việt Nam bị bắt và giam giữ ở miền Nam Việt Nam, tiếp tục trao trả hết số nhân viên quân sự còn lại, bảo đảm mọi quyền tự do, dân chủ của nhân dân Tại phiên họp ngày 11 – 5 – 1973, Thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn nêu 5 điểm về chấm dứt xung đột, yêu cầu thực hiện cho bằng được ngừng bắn lâu dài và vững chắc, trong đó, đưa ra các giải pháp cụ thể để đảm bảo thực hiện tốt mục tiêu đó
Với viện trợ của Mỹ, chính quyền Thiệu tăng cường bắt bớ những người đấu tranh, tăng cường ném bom nhiều vùng đông dân, tăng cường phá hoại Hiệp định Bộ Ngoại giao