Lịch sử Đảng; Đảng Cộng sản Việt Nam; Miền Nam; Lực lượng an ninh; Trong chiến công chung của dân tộc, lực lượng Công an nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam đã từng bướ
Trang 1Đảng lãnh đạo xây dựng lực lượng An ninh miền Nam từ năm 1960 đến năm 1975
Vũ Thị Thu Hiền
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn; Khoa Lịch sử
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam; Mã số: 60 22 56
Người hướng dẫn: PGS.TS Vũ Quang Hiển
Năm bảo vệ: 2012
Abstract Hệ thống các chủ trương, chính sách, biện pháp của Đảng trong lãnh đạo
xây dựng lực lượng an ninh miền Nam; quá trình chỉ đạo xây dựng lực lượng An ninh miền Nam Trình bày và phân tích quá trình thực thi sự lãnh đạo của Đảng, gắn với những giai đoạn khác nhau, hoàn cảnh lịch sử cụ thể và những kết quả cụ thể Đánh giá ưu điểm và hạn chế của Đảng trong quá trình lãnh đạo xây dựng lực lượng An ninh miền Nam
Keywords Lịch sử Đảng; Đảng Cộng sản Việt Nam; Miền Nam; Lực lượng an ninh;
Trong chiến công chung của dân tộc, lực lượng Công an nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam đã từng bước trưởng thành, đọ sức và đánh thắng bộ máy chiến tranh gián điệp của tên đế quốc sừng sỏ nhất, có nhiều kinh nghiệm nhất trong chiến tranh gián điệp, tâm lý và bình định, góp phần bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc
Lực lượng An ninh miền Nam là một bộ phận quan trọng của lực lượng Công
an nhân dân Việt Nam trong thời kỳ chống Mỹ, cứu nước Xuất phát từ nhiệm vụ cụ thể của cách mạng miền Nam, Đảng đã chú trọng công tác xây dựng An ninh miền Nam từ không đến có, từ ít đến nhiều, thành một tổ chức chặt chẽ với nhiệm vụ đấu tranh chống lại âm mưu, hoạt động của các cơ quan tình báo, mật vụ, cảnh sát đặc biệt,
Trang 2biệt kích và các tổ chức trá hình khác của Mỹ và chính quyền Sài Gòn, bảo vệ Đảng, bảo vệ nhân dân, bảo vệ các lực lượng và phong trào cách mạng miền Nam, bảo vệ miền Bắc và tiến tới thống nhất Tổ quốc
Thời kỳ chống Mỹ, cứu nước là thời kỳ Đảng tập trung lãnh đạo, chỉ đạo công tác xây dựng lực lượng An ninh miền Nam Xác định rõ tầm quan trọng đặc biệt của công tác này, Đảng chủ trương tuyển chọn, đào tạo, xây dựng cơ sở, chuẩn bị chu đáo cho quá trình thành lập hệ thống tổ chức an ninh với một đội ngũ cán bộ dày dạn kinh nghiệm, tuyệt đối trung thành với Đảng, tận tụy với dân, chiến đấu dũng cảm, sáng tạo trong công tác, hoàn thành xuất sắc những nhiệm vụ nặng nề của cách mạng
Sự lãnh đạo của Đảng trong công tác xây dựng và phát triển lực lượng An ninh miền Nam thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước để lại những bài học kinh nghiệm quý báu trong công tác xây dựng lực lượng an ninh Nó cũng có ý nghĩa to lớn trong việc cung cấp những căn cứ thực tiễn sinh động cho sự hoạch định chủ trương, phương pháp xây dựng lực lượng an ninh nói riêng, lực lượng Công an nhân dân nói chung
Hiện nay, công cuộc đổi mới của Đảng và nhân dân Việt Nam đã thu được những thành tựu hết sức quan trọng, song cũng đứng trước những nguy cơ, thách thức lớn Nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đang diễn ra trong bối cảnh tình hình trong nước và quốc tế có nhiều diễn biến phức tạp Các thế lực thù địch vẫn đang tiếp tục thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, hòng xóa bỏ chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Trong khi đó, một bộ phận cán bộ, đảng viên trong lực lượng công an có biểu hiện phai nhạt lý tưởng, tha hóa biến chất, làm giảm lòng tin của quần chúng nhân dân Bên cạnh đó, lĩnh vực xây dựng lực lượng còn bộc lộ nhiều yếu kém Vì vậy, đẩy mạnh công tác xây dựng lực lượng công an nhân dân hiện nay là rất cần thiết và có ý nghĩa quan trọng Nhiệm vụ bảo vệ an ninh chính trị, giữ gìn trật tự an toàn xã hội trong giai đoạn cách mạng hiện tại vẫn hết sức nặng nề, khó khăn, phức tạp Để nâng cao sức chiến đấu, phải có sự đổi mới về nhận thức trong công tác từ lý luận đến thực tiễn, nhằm xây dựng lực lượng công an chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của cách mạng
Xuất phát từ ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn nêu trên, tôi chọn đề tài
“Đảng lãnh đạo xây dựng lực lượng An ninh miền Nam từ năm 1960 đến năm 1975” làm luận văn thạc sĩ khoa học Lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Trang 32 Tình hình nghiên cứu vấn đề
An ninh miền Nam thời kỳ chống Mỹ, cứu nước là một vấn đề được nhiều tác giả nghiên cứu Từ trước đến nay có nhiều công trình viết về vấn đề này, đó là: các công trình được biên soạn, xuất bản về lịch sử Công an nhân dân, lịch sử xây dựng lực lượng Công an nhân dân, trong đó đề cập đến lực lượng An ninh miền Nam, một số công trình có tính chất chuyên đề, công trình nghiên cứu về các giai đoạn xây dựng phát triển lực lượng an ninh Đáng chú ý là:
An ninh miền Nam thời kỳ chống Mỹ 1954-1975(1995), Nxb Công an nhân dân,
Hà Nội Cuốn sách trình bày rõ nét về quá trình xây dựng, phát triển và chủ yếu là hoạt động của lực lượng An ninh miền Nam trong thời kỳ chống Mỹ Về vấn đề xây dựng
lực lượng An ninh các tác giả khẳng định: “Các cấp đảng bộ đều quan tâm xây dựng
lực lượng an ninh về mặt tổ chức” Công trình này tập trung vào hoạt động của lực
lượng An ninh miền Nam nên vấn đề xây dựng lực lượng An ninh miền Nam có đề cập nhưng chưa rõ nét
Lịch sử Lực lượng An ninh nhân dân (1954-1965) (2008), Nxb Công an nhân
dân, Hà Nội Cuốn sách tập trung hoạt động của lực lượng bảo vệ cách mạng sau khi hiệp định Giơnevơ được ký kết Dưới sự lãnh đạo của Xứ ủy Nam Bộ, đồng bào miền Nam vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, xây dựng và củng cố phong trào cách mạng, từng bước làm thất bại âm mưu thâm độc và kế hoạch chiến tranh của địch Đây là thời
kỳ kế thừa và phát triển đường lối, phương châm đấu tranh chống phản cách mạng, từ cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp Nghị quyết số 39/NQ-TW ngày 20-1-1962 là kết tinh nhiều chỉ thị, nghị quyết trước đó Nghị quyết xác định đường lối, nhiệm vụ, chính sách, sách lược cho cuộc đấu tranh chống phản cách mạng
Lịch sử Công an nhân dân Việt Nam (1954-1975) (2000), Nxb Công an nhân
dân, Hà Nội Nội dung chủ yếu của cuốn sách nói về Công an nhân dân đấu tranh chống phản cách mạng và các loại tội phạm khác, bảo vệ an ninh trật tự, phục vụ hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam, hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước, thống nhất Tổ quốc
Lịch sử Xây dựng lực lượng Công an nhân dân Việt Nam, tập II (1954-1975) (Sơ thảo) (2010), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Cuốn sách ghi lại chặng đường hết
sức sôi động nhưng không kém phần gay go, phức tạp trong công tác xây dựng lực
Trang 4lượng Công an nhân dân trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước Trong thời
kỳ này lực lượng Công an nhân dân không ngừng xây dựng, tăng cường mọi mặt về chính trị tư tưởng, tổ chức cán bộ, nghiệp vụ, trang bị vũ khí và phương tiện kỹ thuật
Sự trưởng thành, lớn mạnh của lực lượng Công an nhân dân góp phần cùng cả nước đánh thắng giặc Mỹ xâm lược Tuy nhiên do ở mức sơ thảo nên cuốn sách dừng lại khái quát các mặt xây dựng lực lượng Công an nhân dân nói chung
Tổng kết lịch sử Xây dựng lực lượng Công an nhân dân (1945-2000) (2010),
Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Cuốn sách chia làm 2 phần: phần thứ nhất khái quát lịch sử xây dựng lực lượng Công an nhân dân từ năm 1945 đến năm 2000 Phần thứ hai, bài học lịch sử về xây dựng lực lượng Công an nhân dân (1945-2000), có 6 bài học kinh nghiệm được rút ra trong quá trình xây dựng lực lượng công an nhân dân trong cả nước Các bài học đó là kinh nghiệm quý báu cho xây dựng lực lượng Công
an nhân dân hôm nay và mai sau Đây là công trình có ý nghĩa về xây dựng lực lượng Công an nhân dân Về vấn đề xây dựng lực lượng an ninh miền Nam từ năm 1960 đến
1975 cũng đã được đề cập Tuy nhiên đây là công trình tổng kết lịch sử xây dựng lực lượng Công an nhân dân nên vấn đề nêu trên chỉ dừng lại ở mức khái quát
Lịch sử An ninh Khu VI thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1962-1975)
(2007), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Khu VI (Cực Nam Trung Bộ-Nam Tây Nguyên) gồm các tỉnh: Đồng Nai, Lâm Đồng, Bình Thuận, Ninh Thuận, Khánh Hòa, nơi được Bộ Chính trị xác định là địa bàn chiến lược Cuốn lịch sử dựng lại hoạt động của lực lượng An ninh Khu VI từ khi thành lập (5/1962) đến khi giải thể (2/1976) Cuốn sách này vấn đề xây dựng lực lượng An ninh Khu VI được đề cập nhưng ít bởi chủ yếu tập trung vào các hoạt động của lực lượng An ninh Khu VI từ khi thành lập
Lịch sử An ninh Khu V thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975)
(2008), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Khu V gồm 9 tỉnh: Quảng Nam, Quảng Đà, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc Công trình tập trung hoạt động của lực lượng An ninh Khu V thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước An ninh Khu V là một bộ phận của An ninh miền Nam Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của các cấp ủy Đảng, sự chi viện của công an miền Bắc, sự giúp đỡ, đùm bọc của quần chúng nhân dân, lực lượng An ninh Khu V ra đời, vượt qua khó khăn, gian khổ, thiếu thốn, nắm thời cơ, tiến lên giành thắng lợi
Trang 5Lịch sử An ninh Khu Đông Nam Bộ thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975) (2010), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội An ninh khu Đông Nam Bộ
được xây dựng, trưởng thành trên địa bàn trọng điểm cửa ngõ thành phố Sài Gòn-Gia Định Công trình tập trung dựng lại một cách khách quan quá trình từ khi ra đời đến kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ Từ đó khẳng định lực lượng An ninh Đông Nam
Bộ dưới sự lãnh đạo trực tiếp của các cấp ủy Đảng đã phát huy truyền thống kiên cường, anh dũng của người miền Đông, trực tiếp đối đầu với đội ngũ quân tình báo gián điệp nhà nghề của đế quốc Mỹ và các thế lực phản động tay sai góp phần làm nên chiến thắng Tua Hai, Đồng Xoài, Bình Giã đập tan các cuộc phản công mùa khô của địch, mở đầu giải phóng Phước Long, Xuân Lộc làm tiền đề cho chiến dịch Hồ Chí Minh đại thắng, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước
Các công trình kể trên là nguồn tư liệu quý giá đối với tác giả luận văn, song chỉ ở khía cạnh phản ánh hoạt động cụ thể của lực lượng An ninh miền Nam mà chưa
có công trình nào đề cập đầy đủ và có hệ thống đến vấn đề Đảng lãnh đạo xây dựng lực lượng An ninh miền Nam từ năm 1960 đến năm 1975
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Chủ trương, biện pháp của Đảng trong xây dựng lực lượng An ninh miền Nam thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, làm rõ vai trò của lực lượng an ninh trong thời kỳ cách mạng này; từ đó bước đầu rút ra nhận xét, bài học kinh nghiệm về sự lãnh đạo của Đảng
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Về thời gian: từ năm 1960 đến năm 1975
Về không gian: miền Nam Việt Nam (từ vĩ tuyến 17 trở vào)
Về nội dung: có liên quan đến đối tượng nghiên cứu là những hoàn cảnh lịch sử
cụ thể, kể cả những thủ đoạn của địch trong từng giai đoạn cách mạng; yêu cầu, nhiệm
vụ của cách mạng miền Nam trong mỗi giai đoạn
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu và trình bày có hệ thống các chủ trương, chính sách, biện pháp của
Đảng trong lãnh đạo xây dựng lực lượng an ninh miền Nam; quá trình chỉ đạo xây dựng lực lượng An ninh miền Nam
Trang 6- Trình bày và phân tích quá trình thực thi sự lãnh đạo của Đảng, gắn với những giai đoạn khác nhau, hoàn cảnh lịch sử cụ thể và những kết quả cụ thể
- Đánh giá ưu điểm và hạn chế của Đảng trong quá trình lãnh đạo xây dựng lực lượng An ninh miền Nam
5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1 Nguồn tài liệu
- Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng về công tác công an nói chung và lực lượng An ninh miền Nam nói riêng từ năm 1960 đến năm 1975
- Báo cáo của các Khu gửi Trung ương Cục miền Nam
- Các công trình tổng kết lịch sử của lực lượng An ninh miền Nam trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954-1975
- Văn bản các hội nghị công an toàn quốc từ năm 1955 đến năm 1975
- Các cuốn lịch sử an ninh các khu, lịch sử xây dựng lực lượng Công an nhân dân
- Tạp chí Công an nhân dân
- Hồi ký của các đồng chí nguyên là lãnh đạo Bộ Công an, lãnh đạo Ban An ninh Trung ương Cục miền Nam
- Tài liệu mật lưu trữ tại Bộ Công an
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu là: phương pháp lịch sử và phương pháp logic Ngoài ra còn sử dụng một số phương pháp khác như: phân tích, tổng hợp, thống
kê, so sánh
6 Đóng góp mới của Luận văn
- Dựng lại một cách khách quan, hệ thống sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng trong quá trình xây dựng lực lượng An ninh miền Nam từ năm 1960 đến năm 1975, từ đó nêu nhận xét về ưu điểm, hạn chế và rút ra những bài học kinh nghiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng với việc xây dựng lực lượng công an ngày nay
- Khai thác và hệ thống hóa một số tư liệu có giá trị qua chỉ thị, nghị quyết của Đảng trong chỉ đạo xây dựng lực lượng An ninh miền Nam thời kỳ kháng chiến chống
Mỹ, cứu nước
- Cung cấp tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và giảng dạy lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Trang 7ĐẢNG LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG
AN NINH MIỀN NAM TỪ NĂM 1960 ĐẾN NĂM 1965 1.1 Tình hình miền Nam sau ngày Hiệp định Giơnevơ được ký kết và chủ trương của Đảng
1.1.1 Tình hình miền Nam sau ngày Hiệp định Giơnevơ được ký kết
Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng mà đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ giành thắng lợi, ngày 20 tháng
7 năm 1954, hiệp định Giơnevơ về Đông Dương được ký kết, các bên cam kết tôn trọng độc lập, thống nhất, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, Lào, Campuchia
Xuất phát từ chiến lược toàn cầu phản cách mạng, đế quốc Mỹ âm mưu thay chân Pháp, phá hoại Hiệp định Giơnevơ, được sự giúp đỡ của Mỹ, chính quyền Ngô Đình Diệm càng điên cuồng phá hoại Hiệp định, cự tuyệt tổng tuyển cử, bày ra chiến dịch “đả thực”, “bài phong”, “diệt cách mạng” nhằm xóa bỏ bộ máy cai trị của Pháp và đàn áp dã man những người yêu nước trong đó có cán bộ, chiến sỹ công an Cách mạng miền Nam trải qua những năm tháng cực kỳ khó khăn
Trước tình hình trên, lực lượng công an nhân dân ở miền Nam nhanh chóng chuyển hướng tư tưởng, tổ chức cho phù hợp với tình hình mới, phục vụ nhiệm vụ chính trị của Đảng
1.1.2 Chủ trương của Đảng
Trước diễn biến mới của tình hình, Bộ Chính trị quyết định giải thể Trung ương Cục miền Nam, thành lập Xứ ủy Nam Bộ
Trang 8Trước âm mưu phá hoại của địch, công tác bảo vệ Đảng, bảo vệ lực lượng cách mạng đặt ra cấp thiết hơn bao giờ hết Tháng 10/1954, Xứ ủy Nam Bộ thành lập Ban Bảo vệ Xứ ủy gồm 3 bộ phận: bộ phận địch tình, bộ phận bảo vệ, bộ phận thông tin liên lạc
Được Ban bảo vệ các cấp hướng dẫn, quần chúng đứng lên đấu tranh quyết liệt với công an, mật vụ địch, tiêu diệt bọn ác ôn để bảo vệ Đảng, bảo vệ lực lượng cách mạng
Để phù hợp với đặc điểm hoạt động trong vùng địch, đầu năm 1955, Xứ ủy quyết định thành lập Ban Địch tình Xứ ủy
1.2 Chỉ đạo thành lập lực lượng An ninh miền Nam
1.2.1 Thành lập Ban An ninh Trung ương Cục miền Nam
Ngọn lửa cách mạng được thổi bùng lên từ phong trào Đồng khởi Nhằm đáp ứng yêu cầu bảo vệ Đảng, bảo vệ cách mạng cũng như chủ động điều tra tấn công địch, tháng 7/1960 Xứ ủy Nam Bộ ra Chỉ thị số 01 thành lập Ban Bảo vệ An ninh Xứ
ủy và Ban An ninh các cấp
Chỉ thị nêu rõ:
Trước nay Đảng dựa vào quần chúng làm nền tảng để đấu tranh bảo vệ Đảng, điều đó rất đúng cần phải tiếp tục Đã đến lúc cần phải có một tổ chức chuyên trách đi sâu điều tra nghiên cứu, giúp Đảng nắm chắc tình hình để tổ chức tiến công địch bảo
vệ Đảng, bảo vệ cách mạng
Ban Bảo vệ An ninh Xứ ủy được thành lập với phiên hiệu C39B do đồng chí Phạm Thái Bường, Xứ ủy viên phụ trách Đồng chí Cao Đăng Chiếm là Phó Ban, sau
bổ sung Huỳnh Việt Thắng vào lãnh đạo Ban
Với sự ra đời của Ban Bảo vệ An ninh, lực lượng an ninh miền Nam được hình thành bao gồm lực lượng an ninh nhân dân và an ninh vũ trang Lực lượng an ninh nhân dân hoạt động trong vùng địch kiểm soát, vùng tranh chấp và vùng giải phóng, làm nhiệm vụ điều tra, nắm tình hình địch, xây dựng cơ sở cách mạng, tấn công làm
vô hiệu hóa các hoạt động điều tra, thu thập tin tình báo của địch, hoạt động của các đảng phái phản động; bảo vệ nội bộ Đảng, chính quyền, các hoạt động cách mạng trong vùng giải phóng Lực lượng an ninh vũ trang làm nhiệm vụ bảo vệ căn cứ cách mạng, bảo vệ vùng giải phóng, bảo vệ cán bộ cao cấp của Đảng và Nhà nước, chống địch càn quét lấn chiếm, trừ gian, diệt ác trong vùng địch chiếm đóng
Trang 9Đầu tháng 10/1961, Hội nghị lần thứ nhất Trung ương Cục miền Nam được triệu tập tại chiến khu Đ Trung ương Cục miền Nam là một bộ phận của Ban Chấp hành Trung ương Đảng chỉ đạo trực tiếp cách mạng miền Nam Tại Hội nghị quyết định đổi tên Ban Bảo vệ Xứ uỷ thành Ban An ninh Trung ương Cục miền Nam
Việc thành lập Trung ương Cục miền Nam và tổ chức Hội nghị lần thứ nhất Trung ương Cục đáp ứng kịp thời những đòi hỏi cấp bách về chỉ đạo cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đang chuyển từ khởi nghĩa từng phần sang chiến tranh cách mạng
1.2.2 Hình thành hệ thống an ninh
Sự chi viện của Bộ Công an và sự chỉ đạo của Ban An ninh Trung ương Cục miền Nam cùng với việc xây dựng thực lực tại chỗ đã giúp cho các khu và các tỉnh đủ điều kiện để thành lập Ban An ninh
Tại Sài Gòn, Gia Định, ngày 19/3/1961 Khu ủy quyết định thành lập Ban Bảo
vệ An ninh khu Sài Gòn-Gia Định (T4) do đồng chí Huỳnh Văn Bánh (Năm Tấn) làm Trưởng ban
Ở Khu V, được Bộ Công an chi viện, cùng với số cán bộ tại chỗ, đầu năm 1962,
Thường vụ Khu ủy ra chỉ thị thành lập Ban Bảo vệ An ninh các cấp ở khu V Từ tháng 2/1962, Ban Bảo vệ An ninh Khu V và các tỉnh, huyện được lần lượt thành lập
Cuối năm 1961 đầu năm 1962, Ban Bảo vệ An ninh Khu IX (khu Tây Nam Bộ) chính thức thành lập Đồng chí Lâm Văn Thê, Ủy viên Thường vụ khu ủy làm Trưởng ban, đồng chí Ngô Quang Hớn làm Phó trưởng ban thường trực Nguyễn Văn Cúc, Nguyễn Văn Hoàng, Nguyễn Văn Minh làm ủy viên
Quý I/1962, Ban Bảo vệ An ninh Khu VIII Trung Nam Bộ (T2) được thành lập Ban lãnh đạo gồm đồng chí Huỳnh Việt Thắng, Khu ủy viên làm Trưởng ban phụ trách chung, Nguyễn Văn Y (Năm Trà) làm Phó ban thường trực; Nguyễn Công Bình làm Ủy viên phụ trách công tác bảo vệ căn cứ
Trước yêu cầu của công tác chống do thám, gián điệp, bảo vệ vùng căn cứ, giữa năm 1961, Khu ủy Khu Đông Nam Bộ quyết định thành lập Ban Bảo vệ An ninh khu Đông Nam Bộ (T1) do đồng chí Nguyễn Văn Chí, Phó Bí thư khu ủy làm Trưởng ban, đồng chí Mười Đen và Hồ Thảo làm Phó ban
Tại Khu VI (Cực Nam Trung Bộ), Bộ Công an chi viện 53 người Dựa vào số cán bộ chi viện, Khu ủy và các tỉnh ủy rút thêm một số cán bộ của Đảng và phong trào
Trang 10thành lập Ban Bảo vệ An ninh Khu VI (30/5/1962) Ban An ninh Khu do đồng chí Trần Lê, Bí thư khu ủy làm Trưởng ban, Trần Đức Hoài (Ba Mỹ) và Thái Xuân Đồng (Công) làm phó ban và một số cán bộ nghiệp vụ
Ban An ninh Khu X (gồm Bình Long, Phước Long, Quảng Đức) thành lập cuối quý 1 năm 1962, do đồng chí Bùi Sang (tức Chính Liêm) làm Trưởng ban; Nguyễn Thái Hằng (Tám Toàn) do Bộ Công an chi viện làm Phó ban
Việc đào tạo cán bộ tại chỗ được chú trọng, 9/1963, Ban An ninh Trung ương Cục quyết định thành lập Trường Đào tạo cán bộ an ninh miền Nam nhằm đào tạo cán
bộ lãnh đạo an ninh cấp khu, tỉnh, huyện
Tiểu kết
Quá trình xây dựng lực lượng an ninh miền Nam từ năm 1960 đến năm 1965 gắn liền với bước phát triển của cách mạng miền Nam trong đấu tranh chống chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ và chính quyền thân Mỹ Được sự lãnh đạo, chỉ đạo sâu sắc về mọi mặt của Đảng, Đảng-Đoàn Bộ Công an, trải qua bao gian khổ, khó khăn ác liệt, thiếu thốn mọi bề, có lúc tưởng chừng không đứng vững, lực lượng an ninh từng bước xây dựng bộ máy an ninh từ khu, tỉnh đến huyện, xã, nhất là đã gắn bó với phong trào làm nòng cốt trong công tác xây dựng cơ sở, nắm tình hình địch, diệt ác phá kềm; tuyên truyền, vận động quần chúng đấu tranh phá ấp chiến lược, giành quyền làm chủ
CHƯƠNG 2
ĐẢNG LÃNH ĐẠO CỦNG CỐ, KIỆN TOÀN LỰC LƯỢNG AN NINH MIỀN NAM TỪ NĂM 1965 ĐẾN NĂM 1975
2.1 Lãnh đạo củng cố, phát triển lực lượng từ năm 1965 đến năm 1968
2.1.1 Công tác chính trị, tư tưởng
Bước sang năm 1965, cuộc đấu tranh của nhân dân trên chiến trường miền Nam phát triển nhanh chóng, thu được những thắng lợi to lớn
Nhằm tạo ra lực cản mạnh mẽ để ngăn chặn sự suy sụp của chính quyền Sài Gòn, đế quốc Mỹ chuyển sang chiến lược “Chiến tranh cục bộ” Mục tiêu chủ yếu của chúng là đánh bại cách mạng miền Nam trong vòng 25-30 tháng
Trang 11Để thực hiện chiến lược “Chiến tranh cục bộ” Mỹ ồ ạt đưa quân vào miền Nam, ném bom liên tục miền Bắc
Quán triệt và cụ thể hóa Nghị quyết hội nghị lần thứ 11 của Ban chấp hành Trung ương Đảng, Trung ương Cục đề ra Nghị quyết về công tác tư tưởng năm 1965, trong đó xác định: “cuộc kháng chiến ở miền Nam là cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân ta chống chủ nghĩa thực dân mới và tay sai, con đường đi lên chiến đấu không bằng phẳng, còn nhiều chông gai Do đó Đảng bộ và nhân dân miền Nam cần sẵn sàng đối phó với tình huống phức tạp và nhất là đế quốc Mỹ sẽ chuyển sang thi
hành chiến lược “Chiến tranh cục bộ”
Ngay sau đó Trung ương Cục quyết định mở cuộc động viên chính trị sâu rộng trong toàn quân, toàn dân, phát huy cao độ chủ nghĩa anh hùng cách mạng, xây dựng
quyết tâm đánh Mỹ, thắng Mỹ Khẩu hiệu “tìm Mỹ mà đánh, tìm ngụy mà diệt” được
phổ biến khắp các địa phương miền Nam, trở thành cao trào chiến tranh nhân dân tiếp tục giữ vững và phát huy quyền chủ động tiến công, chuẩn bị về mọi mặt sẵn sàng đập tan kế hoạch phản công quy mô lớn mùa khô 1965-1966 của Mỹ
Chiến tranh ngày càng ác liệt ở chiến trường, để đảm bảo các mặt công tác được tiến hành thuận lợi, vấn đề quan trọng là phải thực hiện tốt vấn đề xây dựng lực lượng Công an thực sự vững mạnh, vừa đáp ứng yêu cầu trước mắt, vừa đáp ứng nhiệm vụ lâu dài, trong đó chính trị, tư tưởng là một trong những yếu tố tạo nên sức mạnh tinh thần để chiến đấu và chiến thắng
Để thống nhất công tác tuyên truyền giáo dục trong lực lượng Công an, ngày 20/11/1965, Bộ Công an quyết định hợp nhất tờ tin Công an nhân dân vũ trang với Nội san Công an nhân dân thành Báo Công an nhân dân Đây là cơ quan tuyên truyền, động viên, giáo dục chính trị tư tưởng và tuyên truyền đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước trên lĩnh vực an ninh trật tự cho cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân
Xuất phát từ yêu cầu công tác chính trị, tư tưởng, lãnh đạo Bộ Công an và Đài Phát thanh tiếng nói Việt Nam thống nhất giành cho chương trình phát thanh “Vì An ninh Tổ quốc” vào 17 giờ 15 phút một ngày trong tuần Ngày 24/12/1965, Chương trình phát thanh “Vì An ninh Tổ quốc” lần đầu tiên được phát sóng Đặc biệt mục
“Nâng cao cảnh giác” được nhiều cán bộ chiến sĩ và nhân dân quan tâm theo dõi
Tháng 10/1966, thực hiện Chỉ thị số 125/CT-TW của Bộ Chính trị và Chỉ thị số 67/CT-TW của Ban Bí thư về công tác chính trị tư tưởng Bộ Công an tổ chức Đại hội
Trang 12thi đua “Vì an ninh Tổ quốc quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược” lần thứ nhất trong toàn lực lượng Công an nhân dân Đại hội đã tuyên dương tập thể và cá nhân anh
hùng đồng thời kêu gọi toàn thể cán bộ, chiến sĩ học tập và làm theo tấm gương đó
Công tác chính trị tư tưởng giúp cán bộ, chiến sĩ công an nhận thức rõ hơn tính chất gay go, quyết liệt của cuộc đấu tranh, nâng cao thêm ý chí cách mạng, xây dựng quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, đồng thời bồi dưỡng cho cán bộ, chiến sĩ công an về quan điểm độc lập, tự chủ, tự lực cánh sinh, quan điểm chiến tranh nhân dân, quan điểm quần chúng, nâng cao tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, tinh thần hợp tác quốc tế, ý chí quyết tâm tiêu diệt địch Mặt khác, bồi dưỡng cho cán bộ, chiến sĩ công an về phẩm chất đạo đức cách mạng, nâng cao ý chí chiến đấu, tinh thần khắc phục khó khăn, có tác phong điều tra nghiên cứu cụ thể, tỉ mỉ, chính xác, đi sâu
đi sát quần chúng nhân dân, bám sát cơ sở
2.1.2 Củng cố tổ chức, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ
Trong năm 1965, bộ máy an ninh tỉnh, huyện, xã đều phát triển, đa số Ban An ninh có cấp ủy viên phụ trách Các bộ phận nghiệp vụ ở Khu và một số tỉnh bắt đầu được chấn chỉnh
Công tác cán bộ được chú trọng, bên cạnh việc xây dựng cán bộ tại chỗ, Đảng đoàn Bộ Công an tập trung chỉ đạo chi viện cho An ninh miền Nam nhằm tăng cường cán bộ đáp ứng ngày càng cao yêu cầu công tác chiến đấu Cùng với việc chi viện cán
bộ, Bộ Công an đã chi viện phương tiện vũ khí, đạn dược máy móc phục vụ công tác nghiệp vụ cho An ninh miền Nam đáp ứng yêu cầu chiến trường
2.2 Đảng lãnh đạo điều chỉnh tổ chức, củng cố lực lượng an ninh từ năm
1969 đến 1975
2.2.1 Điều chỉnh tổ chức, củng cố lực lượng trong những năm 1969-1973
Cuộc tiến công và nổi dậy tết Mậu Thân của quân và dân miền Nam đã giáng một đòn quyết liệt vào ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, làm phá sản chiến lược “Chiến tranh cục bộ”
Ngày 20/1/1969, Nich-xơn nhậm chức Tổng thống cho ra đời “Học thuyết Ních-xơn” và chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” ở miền Nam Mục tiêu cơ bản của chiến lược này là rút quân Mỹ khỏi miền Nam, duy trì quân đội và chính quyền tay sai bản xứ, nhằm thay đổi “màu da trên xác chết”
Trang 13Chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ lúc đầu đã gây cho cách mạng nhiều khó khăn, tổn thất
Ngày 30/12/1968, Hội nghị Công an toàn quốc lần thứ 23 được tổ chức Hội nghị nhận định: Đế quốc Mỹ tuy thất bại nặng nhưng vẫn ngoan cố tăng cường hoạt động chính trị, quân sự để tìm giải pháp chính trị trên thế mạnh, do đó cuộc chiến tranh ở Việt Nam sẽ quyết liệt hơn Ở miền Bắc có thể có chiến tranh nếu địch ném bom bắn phá trở lại, có thể hòa bình nếu địch chấp nhận giải pháp chính trị
Trước tình hình trên, các cấp ủy Đảng chú trọng công tác giáo dục chính trị tư tưởng, thường xuyên phổ biến tình hình thời sự, chủ trương, chính sách của Đảng Thông qua các buổi sinh hoạt đảng, giúp cán bộ, chiến sĩ rèn luyện lập trường, quan điểm và đạo đức cách mạng Qua các phong trào “Mỗi người làm việc bằng hai vì miền Nam ruột thịt”, “Người tốt việc tốt”, nhất là cuộc thi đua tổng kết 4 năm chống
Mỹ, cứu nước có tác dụng thúc đẩy phong trào thi đua chung, tạo không khí phấn khởi thực hiện công tác chuyên môn
Giữa lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân đang diễn ra gay
go, quyết liệt, ngày 2/9/1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ vĩ đại của dân tộc qua đời Đây là tổn thất vô cùng to lớn đối với toàn Đảng, toàn quân và toàn dân
Biến đau thương thành hành động cách mạng, ngày 29/9/1969 Bộ Chính trị Trung ương Đảng quyết định mở đợt sinh hoạt chính trị để toàn Đảng, toàn quân và toàn dân học tập và làm theo Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh Thực hiện quyết định của Bộ Chính trị, lãnh đạo Bộ Công an chủ trương tổ chức đợt sinh hoạt chính trị trong toàn lực lượng Công an nhân dân học tập và làm theo Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Nhận thức rõ tầm quan trọng của công tác chính trị tư tưởng, các cấp ủy Đảng, ban an ninh các khu và tỉnh đã tuyên truyền, giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ nhận thức rõ
âm mưu của địch, nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, nắm vững tình hình và nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới
Giữa lúc cuộc chiến tranh đang diễn ra ác liệt, để động viên và tuyên dương những tập thể và cá nhân anh hùng, tháng 6/1970, Bộ Công an tổ chức Đại hội thi đua
“Vì an ninh tổ quốc, quyết thắng giặc Mỹ xâm lược” lần thứ hai Đại hội tiến hành tổng kết phong trào thi đua 5 năm (1966-1970), biểu dương thành tích của các tập thể,
cá nhân anh hùng, chiến sĩ thi đua, tiêu biểu
Trang 14Từ năm 1969-1971, các ban an ninh từ Trung ương Cục đến các khu, tỉnh, thành phố củng cố, xây dựng được 1.542 cơ sở điệp báo, trong đó có nhiều cơ sở được xây dựng trong ngành Cảnh sát Quốc gia ngụy, Tổng liên đoàn lao công, hãng dệt Vinytex
Cùng với việc chi viện cán bộ, Bộ Công an đã chi viện phương tiện vũ khí, đạn dược máy móc phục vụ công tác nghiệp vụ cho An ninh miền Nam đáp ứng yêu cầu chiến trường
2.2.2 Lãnh đạo phát triển lực lượng trong những năm 1973-1975
Ngày 27/1/1973, Hiệp định về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam được kí kết, buộc Mỹ phải rút quân ra khỏi miền Nam Việt Nam, cam kết tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam là độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ
Tháng 3/1973, các đơn vị quân viễn chinh Mỹ rút về nước Ngày 29/3/1973, Bộ Chỉ huy quân sự Mỹ ở Sài Gòn làm lễ cuốn cờ, cùng 2.051 lính Mỹ rút khỏi miền Nam Tuy vậy, đế quốc Mỹ vẫn âm mưu kéo dài chiến tranh bằng chiến lược “Việt Nam hóa”
Ngay sau khi Hiệp định Pari được ký kết, Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Chính phủ ra Lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước tăng cường đoàn kết, luôn luôn
đề cao cảnh giác, ra sức phấn đấu để củng cố những thắng lợi đã giành được, giữ vững hòa bình lâu dài, hoàn thành độc lập dân chủ ở miền Nam, tiến tới hòa bình, thống nhất Tổ quốc
Các cấp ủy Đảng, ban an ninh các khu và tỉnh tăng cường công tác chính trị tư tưởng, giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ an ninh thấy rõ thắng lợi to lớn của việc ký kết hiệp định, sự lớn mạnh của lực lượng cách mạng đồng thời giáo dục tinh thần cảnh giác trước âm mưu, hoạt động lật lọng của địch phá hoại việc thi hành hiệp định, chống mọi biểu hiện ảo tưởng hòa bình, nghỉ ngơi, xa rời quần chúng, sợ chiến tranh kéo dài
Nhờ làm tốt công tác chính trị tư tưởng nên ngay sau khi hiệp định Pari có hiệu lực, an ninh các cấp đã nhanh chóng triển khai các mặt công tác như cử cán bộ tham gia Ban Liên hiệp quân sự, Ban trao trả, tìm kiếm hài cốt người Mỹ mất tích
Tháng 7/1973, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp hội nghị lần thứ 21, đánh
giá tình hình miền Nam, nghị quyết nêu: “ Mỹ vẫn tiếp tục dính líu về quân sự, vẫn tạo
Trang 15điều kiện bám lấy miền Nam nước ta một cách lâu dài mà tránh được nguy cơ trực tiếp tham gia một cuộc chiến tranh lớn ở Việt Nam”
Từ giữa năm 1974, quân và dân liên tiếp giành những thắng lợi trên khắp chiến trường miền Nam
Trước thất bại nặng nề của Mỹ trên chiến trường miền Nam và khủng hoảng nghiêm trọng trong nội bộ chính giới Mỹ qua vụ Oa-tơ-ghết, ngày 9/8/1974, tổng thống Mỹ Ních-xơn phải tuyên bố từ chức, Giê-rôn-pho lên thay Mặc dù cố duy trì chính quyền Thiệu để bám lấy miền Nam, nhưng Mỹ vẫn không thể đưa quân trở lại cứu nguy cho chế độ
Ở miền Nam, những chiến thắng liên tiếp và to lớn trên khắp các chiến trường
đã tác động mạnh mẽ, sâu sắc đến tư tưởng, tình cảm của cán bộ, chiến sỹ an ninh, tạo khí thế phấn khởi, tin tưởng vào đường lối, chủ trương giải phóng miền Nam và nhiệm
vụ công tác an ninh phục vụ sự lãnh đạo của Đảng
Thực hiện quyết tâm chiến lược của Đảng, lực lượng Công an động viên cán
bộ, chiến sĩ, huy động sức mạnh của toàn lực lượng phục vụ chiến dịch Hồ Chí Minh
Do có sự chuẩn bị toàn diện, trong quá trình diễn ra chiến dịch, lực lượng An ninh bảo vệ tuyệt đối các cơ quan lãnh đạo, chỉ đạo chiến dịch, bảo vệ các cuộc hành quân và vận chuyển vũ khí, phương tiện, các hướng tiến công chiến lược, bảo vệ lực lượng vũ trang bảo đảm vũ khí nằm trong tay những người tin cậy
Tiểu kết
Từ năm 1965 khi Mỹ chuyển sang các chiến lược chiến tranh “Chiến tranh cục bộ”, “Việt Nam hóa chiến tranh”, dưới sự lãnh đạo của Đảng, lực lượng An ninh miền Nam đã có sự thay đổi tổ chức, bộ máy đáp ứng với đòi hỏi tình hình mới Thời kỳ từ năm 1965 đến 1975, hai mặt công tác được đặc biệt chú trọng trong xây dựng lực lượng An ninh miền Nam là công tác chính trị tư tưởng và công tác cán bộ Trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt công tác chính trị tư tưởng được Đảng quan tâm động viên toàn thể cán bộ và nhân dân tham gia vào cuộc đấu tranh chống đế quốc Mỹ, đây
là cuộc đấu tranh đầy gay go, quyết liệt, có những lúc lực lượng an ninh thiệt hại nhiều (năm 1968), song công tác chính trị tư tưởng đã làm cho cán bộ chiến sĩ tin tưởng vào con đường Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh lựa chọn, vượt qua mọi khó khăn gian khổ
và thiếu thốn, vừa chiến đấu, vừa xây dựng, phát triển lực lượng Sau mỗi lần thất bại,
Mỹ và chính quyền Sài Gòn thay đổi chiến lược mới thì tổ chức tình báo, cảnh sát, biệt