Trong đó, những vấn đề như thực hiện chính sách an sinh xã hội gắn với xóa đói giảm nghèo, phát triển đời sống kinh tế của các tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa, khắc phục những rủi ro xả
Trang 11
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
NGƯỜI KHMER Ở XÃ AN BÌNH HUYỆN PHÚ GIÁO
Trang 22
Bình Dương, ngày 15/3/2019
Trang 33
1 Đặt vấn đề 3
2 Phương pháp nghiên cứu, cách tiếp cận 4
3 Nội dung 8
Kết luận 20
Tài liệu tham khảo 20
Trang 44
ĐẶT VẤN ĐỀ
Khái niệm phát triển bền vững được giới học giả chia sẻ và nhắc đến nhiều là định nghĩa trong Báo cáo Brundtland của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới (nay là Ủy ban Brundtland) được phổ biến rộng rải vào năm 1987 Theo đó, phát triển bền vững là sự phát triển có thể đáp ứng được nhu cầu của hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai (Vương Xuân Tình, Trần Hồng Hạnh 2012, tr 29) Đây là một khái niệm có nội hàm rộng, nó không chỉ gồm yếu tố sinh thái mà còn chứa đựng các nhân tố kinh tế - xã hội, phản ánh sự hài hòa giữa môi trường sống với sự phát triển kinh tế và sự bình đẳng giữa các quốc gia giàu - nghèo, đặc biệt là nhấn mạnh đến sự quân bình giữa các thế hệ Trên thế giới, phát triển bền vững thường được đánh giá qua ba tiêu chí: kinh tế, xã hội và môi trường Ở nước ta, trong Quyết định phê duyệt Chiến lược phát triển bền vững Việt Nam từ 2011 - 2020 của Chính phủ đã chỉ
rõ mục tiêu tổng quát như sau: “Tăng trưởng bền vững, có hiệu quả, đi đôi với tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ tài nguyên và môi trường, giữ vững ổn định chính trị - xã hội, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia” Định hướng phát triển bền vững của Việt Nam trong thời gian tới là tập trung vào ba lĩnh vực
cơ bản: kinh tế, tài nguyên môi trường và xã hội Ngoài ra, trong văn bản này, quan điểm
về phát triển bền vững ở Việt Nam là lấy con người làm trung tâm, có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa phát triển kinh tế với phát triển xã hội và bảo vệ tài nguyên, môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội Đồng thời còn xem khoa học và công nghệ là nền tảng và động lực cho phát triển bền vững đất nước Trong chiến lược phát triển bền vững của Việt Nam từ 2011 - 2020, phát triển bền vững xã hội được chỉ ra rất cụ thể và gồm nhiều vấn đề căn bản và thực tiễn Trong đó, những vấn đề như thực hiện chính sách an sinh xã hội gắn với xóa đói giảm nghèo, phát triển đời sống kinh
tế của các tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa, khắc phục những rủi ro xảy ra đối với người dân, đặc biệt là nhóm nghèo, thực hiện chính sách đào tào nghề cho lao động, nâng cao
Trang 5Trong chương này chúng tôi trình bày hai vấn đề : (1) Những chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và chương trình, kế hoạch của tỉnh Bình Dương đối với người Khmer ; (2) Vốn của cộng đồng và sự phát triển của cộng đồng theo
hướng bền vững
2 PHƯƠNG PHÁP VÀ CÁCH TIẾP CẬN
Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu điền dã dân tộc học bao gồm : phỏng vấn
sâu bán cấu trúc, thảo luận nhóm và quan sát tham dự
Thời gian từ tháng 6/2017 – 5/2018 với ba đợt khảo sát dựa vào lịch nghi lễ của
cộng đồng:
+ Tháng 3, Tết Chol Chnam Thmay
+ Cuối tháng 4 đầu tháng 5, bắt đầu mùa cạo mủ cao su nhiều gia đình tổ chức cúng rẫy
+ Tháng 8 cúng ông bà Sen Dolta
+ Tháng 12 sau mùa thu hoạch mủ sẽ có những nghi lễ cúng tạ ơn
Ngoài ra lẻ tẻ còn tham dự các nghi lễ cưới, lễ tang được tổ chức trong gia đình cũng là những dịp quan trọng cần tham dự để thu thập dữ liệu
Ngoài nguồn dữ liệu định tính, đề tài còn kế thừa kết quả khảo sát tổng thể (năm
2012 do bảo tàng tỉnh Bình Dương thực hiện) về các tộc người thiểu số ở tỉnh Bình Dương, trong đó có người Khmer để có số liệu tổng hợp về người Khmer Bình Dương mà
1 Xem: Quyết định phê duyệt Chiến lược phát triển bền vững Việt Nam từ 2011-2020 của Thủ tướng chính phủ Xem 07.11.2014 <http://vanban.chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/
hethongvanban?class_id=2&mode=detail&document_id=157753>
Trang 6Trong phạm vi đề tài này chúng tôi làm rõ khái niệm cộng đồng và vốn cộng đồng
a Cộng đồng
Thuật ngữ “cộng đồng” vốn bắt đầu từ gốc tiếng Latinh là “coummitas”, với nghĩa
là toàn bộ tín đồ của tôn giáo hay toàn bộ những người đi theo một thủ lĩnh nào đó, trong
tiếng Anh là community, tiếng Pháp là communité Theo Wikipedia, đến giữa thập niên 50
của thế kỷ XX đã có 54 định nghĩa khác nhau về cộng đồng Tuy tiếp cận và định nghĩa theo những cách khác nhau, nhưng nhìn chung giới nghiên cứu xã hội học phương Tây đều ghi nhận ảnh hưởng to lớn, có tính phương pháp luận của những luận điểm được nhà
xã hội học người Đức Ferdinand Toennies nêu ra trong công trình “Gemeinschaft und Gesellschaft” (Cộng đồng và hiệp hội – Leipzing, 1887) Theo Toennies “cộng đồng là một thực thể xã hội có độ gắn kết và bền vững hơn so với hiêp hội vì cộng đồng được đặc trưng bởi những đồng thuận với ý chí của các thành viên trong cộng đồng” (Ferdinand
Toennies, 1887) Và cho đến nay, tuy cách tiếp cận và định nghĩa “cộng đồng” rất khác nhau, nhưng giới nghiên cứu xã hội học đều cho rằng cộng đồng trước hết là những nhóm
xã hội của con người có những tương tác với nhau và cùng chia sẻ những cái chung nào
đó, có thể là địa bàn cư trú, những giá trị chung, quy tắc ứng xử chung… tạo nên sự gắn kết xã hội
Dù tiếp cận từ những góc độ khác nhau, dựa trên những lý thuyết khoa học khác nhau nhưng tựu trung lại, cộng đồng có những đặc điểm sau:
- Cộng đồng phải là tập hợp của một số đông người
Trang 7Theo từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê định nghĩa cộng đồng là “toàn thể những người sống thành một xã hội, nói chung có những điểm giống nhau gắn bó thành một khối Như cộng đồng ngôn ngữ, cộng đồng tộc người” (Hoàng Phê, 1996, tr.205) Hay “cộng đồng – một nhóm người sống trong một khu vực địa lý nhất định, một tập hợp từ tất cả các thành phần trong cộng đồng” (http://cec.vcn.bc.ca, Truy cập ngày 20-3-2016)
Và cũng theo Phạm Hồng Tùng cộng đồng tộc người là những tộc người có chung bản sắc văn hóa do có chung nguồn gốc sắc tộc, ngôn ngữ, y phục và tương đồng về phong tục, tập quán
b Vốn cộng đồng (community capital): Các nhà nghiên cứu sử dụng đến khái
niệm vốn cộng đồng khi tính đến vai trò của cộng đồng trong sự phát triển cộng đồng hay phát triển cộng đồng bền vững Sau đây chúng tôi sẽ lần lượt giới thiệu hai mô hình vốn cộng đồng được đề xuất bởi Maureen Hart và Mark Roseland, hai chuyên gia trong lĩnh vực đo lường sự bền vững
Maureen Hart2 định nghĩa vốn cộng đồng bao gồm các loại vốn như vốn tự nhiên, con người, xã hội và vốn nhà cửa công trình (built capital)3 mà từ đó một cộng đồng nhận được các lợi ích và trên đó cộng đồng dựa vào để tiếp tục tồn tại (Hart, Maureen, 1999) Thuật ngữ “vốn” thường được sử dụng để đề cập đến tiền bạc và hàng hóa vật chất Tuy nhiên, khi tính đến các cơ sở cho sự phát triển bền vững, các cộng đồng có một số các loại
vốn khác nhau cần được xem xét Đó là vốn tự nhiên, con người, xã hội và vốn nhà cửa công trình Tất cả các loại vốn này cần thiết cho cộng đồng thực hiện các chức năng của
nó Các loại vốn này cần được quản lý, quan tâm, nuôi dưỡng và cải thiện qua thời gian
2Maureen Hart là tác giả của quyển sách Guide to Sustainable Community Indicators, được các tổ chức và cộng
đồng trên thế giới sử dụng để đo tiến trình hướng đến chất lượng môi trường của cuộc sống, xã hội và kinh tế lâu dài
3 Các công trình nhà cửa do con người tạo ra ngược với vốn tự nhiên
Trang 8Vốn tự nhiên: là tất cả các nguồn lực của tự nhiên như đất đai, không khí, nước,
các loại năng lượng và những khoáng sản trong lòng đất… Con người có thể khai thác và
sử dụng những tài nguyên này để thỏa mãn những nhu cầu đa dạng của mình Vốn tự nhiên có hai loại: hữu hạn và vô hạn, nhưng nếu con người khai thác bừa bãi thì không chỉ vốn hữu hạn mà vốn vô hạn cũng không tái tạo được
4 Mark Roseland, là chủ tịch tổ chức Centre for Sustainable Community Development Các nghiên cứu và mối quan tâm của Roseland bao gồm phát triển cộng đồng bền vững, tổ chức khu vực và tổ chức cộng đồng, lập thuyết và tổ chức thực hành Các công trình xuất bản của Roseland được nhiều bài viết trích dẫn Năm 2012, Roseland được nhận giải thưởng SFU Sustainability Network Award cho các nghiên cứu xuất sắc về phát triển bền vững
Trang 99
Vốn vật chất: (physical capital, built capital hay public capital) là tất cả tài sản vật
chất được tạo ra bởi bàn tay và trí óc của con người qua thời gian, phục vụ cho mục đích phát triển của con người như hệ thống giao thông, hệ thống liên lạc, hệ thống thủy lợi, hệ thống điện, hệ thống nước, cầu cống, bệnh viện, trường học, nhà cửa…
Vốn kinh tế: là cách thức con người khai thác sử dụng tài nguyên hiện tại, cách ứng
xử của chúng ta đối với môi trường tự nhiên, cách thức tổ chức và quản lý hoạt động sản xuất, trao đổi hàng hóa và hệ thống tài chính của cộng đồng
Vốn con người: là “kiến thức, kỹ năng, năng lực và những thuộc tính khác nằm
trong mỗi cá nhân nhằm dễ dàng tạo ra sự thịnh vượng cho con người, xã hội và kinh tế” (OECD 2001) Vốn con người được tạo ra một cách có ý thức thông qua giáo dục và đào tạo và được tạo ra vô ý thức thông qua kinh nghiệm
Vốn xã hội: Vốn xã hội là “các mối quan hệ, mạng lưới và những quy tắc tạo thuận
lợi cho hành động tập thể” (OECD 2001) hoặc là tri thức, sự hiểu biết, và những khuôn mẫu tương tác chung mà một nhóm người đem vào trong bất cứ hoạt động sản xuất nào (Coleman 1988; Putman 1993) Vốn xã hội đề cập đến các tổ chức, cấu trúc và các quan
hệ xã hội mà con người tự tạo nên độc lập với nhà nước và tập đoàn lớn Nó góp phần tạo
ra cơ cấu xã hội mạnh hơn, mạng lưới thông tin, sự tin tưởng, sự đoàn kết giữa các cá nhân trong cộng đồng (Jacobs 1961; Coleman 1990; Woolcock 2001)
Vốn văn hóa: Vốn văn hóa là sản phẩm của kinh nghiệm chung thông qua truyền
thống, tập quán, giá trị, di sản, bản sắc và lịch sử Mặc dù vốn văn hóa thường được gộp chung vào vốn xã hội nhưng đối với sự phong phú và đa dạng của mỗi cộng đồng đặc biệt
là các cộng đồng có lịch sử lâu đời và những bản sắc văn hóa riêng, Roseland cho rằng nên tách vốn văn hóa thành một loại riêng
2 NỘI DUNG
2.1 Xu hướng phát triển Tăng trưởng kinh tế nhanh ở Việt Nam diễn ra trong
suốt thập niên 90 và những năm đầu thập niên 2000 đã đem đến những kết quả ngoạn mục về giảm nghèo Tuy nhiên trong giai đoạn này, sự giảm nghèo của nhóm đồng bào dân tộc thiểu số diễn ra với tốc độ chậm hơn Nghèo, tuổi thọ, tình trạng dinh dưỡng và những chỉ số đo mức sống khác của nhóm đồng bào các dân tộc thiểu số vẫn còn ở mức thấp dù có rất nhiều chính sách đã được đưa vào thực hiện nhằm hỗ trợ các nhóm dân tộc này Ở Việt Nam có 54 nhóm dân tộc sinh sống, trong đó người Kinh chiếm tới gần 87%
Trang 1010
Trừ người Hoa, người Khơ-me và người Chăm, 50 nhóm dân tộc còn lại chủ yếu sinh sống ở vùng nông thôn hoặc miền núi xa xôi và chịu những bất lợi về xã hội và kinh tế ở những mức độ khác nhau Tỉ lệ nghèo của nhóm đồng bào các dân tộc thiểu số cao hơn 4,5 lần so với đồng bào người Kinh và Hoa Nhóm đồng bào dân tộc thiểu số cũng có tỉ lệ suy dinh dưỡng, mù chữ và bệnh tật cao hơn Tuy chỉ chiếm 1/8 số dân cả nước, song các dân tộc thiểu số chiếm đến 40% tổng số người nghèo năm 2004 Một số cơ quan chính phủ dự báo rằng đến năm 2010, đồng bào dân tộc thiểu số sẽ chiếm hơn một nửa số người nghèo của Việt Nam Dự án nghiên cứu do ESRC-DFID tài trợ này muốn tìm hiểu tại sao nhóm đồng bào các dân tộc thiểu số chưa tận dụng được đầy đủ những lợi ích do sự tăng trưởng kinh tế cao gần đây của Việt Nam tạo ra, cho dù đã có hàng loạt chương trình của chính phủ được thiết kế và thực hiện để hỗ trợ đồng bào các dân tộc thiểu số i Cụ thể, trên cơ sở sử dụng số liệu điều tra mức sống hộ gia đình, chúng tôi tập trung phân tích các nhóm dân tộc nào hưởng lợi nhiều nhất từ mức tăng trưởng cao của nền kinh tế Việt Nam
và tại sao chênh lệch trong mức sống giữa các nhóm dân tộc càng ngày càng lớn Do phần lớn đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng nông thôn, phân tích của chúng tôi chỉ giới hạn ở địa bàn vùng nông thôn Mặc dù dự án nghiên cứu này không đặt ra mục tiêu đánh giá các chính sách song chúng tôi cũng thực hiện việc tổng quan lại hệ thống các chính sách và chương trình hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số ở Việt Nam, và ng 2 nào ở 3 tỉnh và huyện được lựa chọnii Nghiên cứu do Viện Nghiên cứu Phát triển và Khoa Kinh
tế học, Trường Đại hoc Sussex kết hợp với Trung tâm Phân tích và Dự báo, Viện Khoa học xã hội Việt Nam thực hiện trong thời gian từ 12/2006 đến 02/2008 Báo cáo tổng hợp này tóm lược những kết quả của 3 báo cáo chuyên đề được thực hiện trong khuôn khổ của
dự án, hiện đã đăng tải trên trang web của dự án (xem Phần tài liệu tham khảo thêm ở cuối bài) Sự thay đổi mức sống theo thời gian Phần lớn các nghiên cứu phân tích định lượng về các vấn đề liên quan đến mức sống của đồng bào các dân tộc thiểu số trước đây
ở Việt Nam tập trung so sánh người Kinh và Hoa với 52 dân tộc khác Nhưng những khác biệt giữa các dân tộc thiểu số cũng đáng kể, vì vậy trong nghiên cứu này chúng tôi đã gộp các nhóm dân tộc lại thành 7 nhóm là (1) Kinh, (2) Hoa, (3) Khơ-me và Chăm, (4) Tày, Thái, Mường, Nùng, (5) các dân tộc thiếu số vùng núi phía Bắc, (6) các dân tộc thiểu số ở Tây nguyên, và (7) ‘các nhóm khác’iii Sự phân loại này là hợp lý và được đưa ra trên cơ
sở thảo luận với các chuyên gia về dân tộc học và các tổ chức phi chính phủ ở Việt Nam
Trang 1111
Phân loại như vậy cũng nhằm mục đích đạt được sự hài hòa giữa phân tích tổng thể các dân tộc thiểu số và phân tích từng nhóm dân tộc riêng lẻ, vốn rất khó thực hiện vì số quan sát đối với một số nhóm dân tộc trong bộ số liệu điều tra hộ gia đình rất nhỏ Phân tích 3 cuộc điều tra mức sống hộ gia đình do Tổng Cục Thống kê thực hiện năm 1993, 1998 và
2004 cho thấy cuộc sống của đồng bào Kinh đã được cải thiện rất nhiều nhờ công cuộc Đổi mới (Hình 1) Các hộ gia đình có chủ hộ là người Kinh có mức sống tăng rõ nét so với mức trung bình của khu miền núi) vực nông thôn trong giai đoạn 1993-2004, cho dù
hộ đó thuộc nhóm hộ giàu nhất, nghèo Hình 1: Chênh lệch về phúc lợi hộ giữa các dân tộc ở nông thôn Việt Nam năm 1993-2004 theo phân tích hồi qui trung bình Khác Tây Nguyên Hoa Kinh Khơ-me và Chăm -60.0% -40.0% -20.0% 0.0% 20.0% 40.0% 60.0% % chênh lệch so với trung bình 1993 1998 2004 Tày, Thái, Mường, Nùng Các vùng núi phía Bắc 3 nhất hay trung bình Trong khi đó, ưu thế trong mức sống của nhóm đồng bào người Hoa dường như giảm dầniv Mức sống của đồng bào Khơ-me và Chăm so với trước đây có mức tăng khiêm tốn và mức này không khác biệt đáng kể so với mức trung bình của khu vực nông thôn vào 2004 Tuy nhiên, nghiên cứu cho thấy những chênh lệch về phúc lợi hộ gia đình giữa các nhóm trên với 4 nhóm dân tộc còn lại vẫn còn khá lớn, đặc biệt là đối với nhóm đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây nguyên và ‘các nhóm khác’ trong phân loại nêu trên Những phát hiện này không thay đổi ngay cả khi chúng tôi so sánh các
hộ có điều kiện tương đồng về nguồn lực của hộ (gồm qui mô hộ, cấu trúc gia đình, trình
độ học vấn và sở hữu đất đai), đặc tính của xã (xã có đường, giao thông công cộng, bưu điện, chợ hàng ngày, nhà máy trong bán kính 10km) và yếu tố địa lý của xã (xã thuộc khu vực bờ biển, hay đồng bằng, hay trung du hoặc vùng núi thấp, núi cao) Những phát hiện
từ phân tích này cũng cho thấy tác động của đặc điểm địa lý của xã và khả năng tiếp cận đường, trường và các dịch vụ công cộng khác đến chênh lệch trong chi tiêu của hộ gia đình không quá 7% tổng mức chênh lệch và ảnh hưởng của các yếu tố địa lý này giảm dần theo thời gian Qui mô và phân tách chênh lệch chi tiêu của các dân tộc thiểu số Trong giai đoạn từ 1993 đến 2004, chênh lệch chi tiêu giữa người Kinh – Hoa và nhóm đồng bào các dân tộc thiểu số tăng 14.6% [hay tương đương 687.000 VND], trong đó phần lớn mức tăng này diễn ra trong thời kỳ 1998-2004 (Hình 2) Tuy vậy tỉ lệ phần trăm tăng trong chênh lệch chi tiêu giữa các nhóm dân tộc tương đối đồng đều trong toàn bộ cư dân ở nông thôn Chênh lệch này (tính theo theo phần trăm) không thay đổi nếu xem xét
Trang 1212
đoạn đầu (nhóm nghèo), hay giữa (nhóm trung bình) hoặc cuối (nhóm giàu) của phân loại
cư dân nông thôn theo mức chi tiêu đầu người Hình 2: Chênh lêch chi tiêu đầu người giữa dân tộc đa số - thiểu số giai đoạn 1993-2004 Chênh l ệch chi tiêu bình quân (%) Phân phối chi tiêu bình quân hộ gia đình 4 Chúng tôi đã thực hiện tính toán phân tách để tìm hiểu tại sao lại tồn tại chênh lệch chi tiêu giữa các nhóm dân tộc Kết quả khi xem xét
cả chênh lệch chi tiêu trung bình giữa nhóm người Kinh-Hoa và nhóm đồng bào dân tộc thiểu số cũng như chênh lệch chi tiêu tại các điểm phần trăm đã chọn trong phân loại cư dân nông thôn theo mức chi tiêu đầu người cho thấy:
• Xấp xỉ 2/5 của chênh lệch chi tiêu trung bình mỗi năm giữa các hộ thuộc dân tộc đa số
và dân tộc thiểu số có nguyên nhân là do những khác biệt về nguồn lực của hộ và đặc tính của xã (như đã xác định ở trên), trong đó khác biệt về đặc tính nhân khẩu học có tầm quan trọng lớn hơn so với những khác biệt về trình độ học vấn và khác biệt đặc tính của xã
• Sự khác biệt về qui mô đất đai thu hẹp chênh lệch giữa các dân tộc do các hộ thiểu số thường có nhiều đất hơn người Kinh và biết cách canh tác đất miền núi và vùng cao hiệu quả hơn
• Ít nhất một nửa chênh lệch chi tiêu giữa các dân tộc bắt nguồn từ những khác biệt về hiệu quả thu nhập từ các nguồn lực của hộ và đăc tính cấp xã (như đã xác định ở trên) Trong các nghiên cứu hàn lâm trên thế giới, những khác biệt như vậy thường được cho rằng là do ‘đối xử không ngang bằng’ đối với dân tộc thiểu số Nhưng trong thực tế sự khác biệt trong hiệu quả thu nhập từ các nguồn lực cũng có thể do những khác biệt về các nguồn lực của hộ và đặc tính của cộng đồng nơi hộ sinh sống mà các cuộc điều tra hộ không thu thập được thông tin Ví dụ như nếu hộ dân tộc thiểu số sống xa trung tâm xã hơn hộ người Kinh, họ sẽ hưởng lợi ít hơn từ những công trình đường sá, trường học và chợ
• Khi so sánh các hộ tương đồng về điều kiện địa lý của xã nơi các hộ sinh sống và khả năng tiếp cận của các hộ đối với đường giao thông, giao thông công cộng, bưu điện, chợ hàng ngày và các đặc tính cấp xã khác, 1/3 đến 2/3 của chênh lệch chi tiêu giữa nhóm đa
số và thiểu số có thể là do sự khác biệt về các đặc tính của xã Khác biệt trong hiệu suất khai thác các đặc tính của xã quan trọng hơn sự khác biệt về các đặc tính của xã - sự khác biệt của các đặc tính này đang giảm dần theo thời gian
• Những phát hiện này đúng với cả nhóm hộ nghèo, trung bình và giàu ở vùng nông