Làm rõ cơ sở để Đảng bộ tỉnh Hà Tây hoạch định chủ trương, chính sách đề ra giải pháp và chỉ đạo thực hiện công tác Xã hội hóa giáo dục XHHGD của tỉnh.. Mỗi giai đoạn có đặc điểm lịch s
Trang 1Công tác xã hội hoá giáo dục của Đảng bộ tỉnh
Hà Tây từ năm 1996 đến năm 2008
Nguyễn Thị Hồng
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn; Khoa Lịch sử
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 60.22.56 Người hướng dẫn: TS.Đặng Bá Minh
Năm bảo vệ: 2012
Abstract Làm rõ cơ sở để Đảng bộ tỉnh Hà Tây hoạch định chủ trương, chính sách
đề ra giải pháp và chỉ đạo thực hiện công tác Xã hội hóa giáo dục (XHHGD) của tỉnh Làm sáng tỏ chủ trương, chính sách và quá trình Đảng bộ tỉnh Hà Tây chỉ đạo công tác XHHGD trong thời kỳ đẩy mạnh CNH- HĐH từ năm 1996 đến năm 2008 Làm rõ những kết quả đạt được, những hạn chế, nguyên nhân và từ đó rút ra một số kinh nghiệm của quá trình Đảng bộ tỉnh Hà Tây lãnh đạo công tác XHHGD từ năm
là động lực quan trọng bậc nhất thúc đẩy sản xuất, thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội Ngày nay, chúng ta đang bước vào thời đại của công nghệ thông tin, toàn cầu hoá, con người nổi lên hàng đầu Ở nhiều nước vấn đề này đã trở thành vấn đề trung tâm của chiến lược phát triển đất nước
Hồ Chí Minh từng nói “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”, muốn đất nước
phát triển thì phải phát triển giáo dục- đào tạo Một nền giáo dục- đào tạo toàn diện theo tư tưởng Hồ Chí Minh phải là nền giáo dục mang tính nhân dân sâu sắc, nền
Trang 2giáo dục không chỉ dành riêng cho một số người, hoặc một giai cấp mà của toàn thể
quốc dân Việt Nam:“Ai cũng được học hành”
Trong những năm đầu của thời kỳ đổi mới, trước những khó khăn của sự chuyển đổi cơ chế nền kinh tế, để ổn định và duy trì ngành học, Bộ GD& ĐT đã đổi mới cách chỉ đạo, quản lý và đẩy mạnh XHHGD Đảng đã huy động nhiều nguồn lực
để tập trung chỉ đạo việc xây dựng nhiều loại chương trình, đẩy mạnh công tác đào tạo giáo viên, xây dựng hệ thống trường trọng điểm chất lượng cao, nhằm đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục cho các bậc cha mẹ và cả cộng đồng Chủ trương XHH dần được hình thành Quan điểm XHHGD được thể hiện trong nhiều Văn kiện, Nghị quyết của Đảng ta Trong suốt quá trình lãnh đạo đấu tranh cách mạng, Đảng luôn coi trọng việc huy động lực lượng toàn dân, toàn xã hội vào việc thực hiện nhiệm vụ chính trị như một đường lối vận động quần chúng, tập hợp lực lượng dưới ngọn cờ Độc lập dân tộc và Chủ nghĩa xã hội Tuỳ từng thời kỳ cách mạng, tư tưởng
về XHHGD được thể hiện trong những khẩu hiệu khác nhau như “Toàn dân chăm lo
đến giáo dục- đào tạo ”, “Nhà nước và nhân dân cùng làm” trong giai đoạn đất
nước gặp những khó khăn nghiêm trọng về kinh tế- xã hội Đến Đại hội lần thứ VIII(
6/1996) thì “Xã hội hoá” trở thành một trong những quan điểm để hoạch định hệ thống các chính sách xã hội:“Các vấn đề chính sách xã hội đều giải quyết theo tinh
thần xã hội hoá Nhà nước giữ vai trò nòng cốt, đồng thời động viên mỗi người dân, các doanh nghiệp, các tổ chức trong xã hội, các cá nhân và các tổ chức nước ngoài cùng tham gia giải quyết các vấn đề xã hội” {21, Tr.114}
Như vậy, sau nhiều năm đổi mới đất nước, thuật ngữ “Xã hội hoá” được dùng
chính thức trong Văn kiện của Đảng Nó chứa đựng một tư tưởng chiến lược, một quan điểm chỉ đạo của Đảng đối với sự nghiệp phát triển đất nước trong giai đoạn mới, đẩy mạnh nền kinh tế hàng hoá theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và từng bước tiến hành CNH- HĐH đất nước
Kinh nghiệm cho thấy để có thể phát triển “đi tắt, đón đầu”, phải có con
người Yếu tố quan trọng nhất của sự phát triển đó là những con người có tri thức, có năng lực, có trình độ khoa học công nghệ để làm chủ được xã hội Vì vậy hơn bao giờ hết, trước mắt cũng như trong tương lai, vấn đề XHHGD luôn giữ vai trò vô cùng
quan trọng và phải coi giáo dục là “Quốc sách hàng đầu” Đầu tư cho giáo dục được coi như đầu tư cho sự phát triển Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Vì lợi ích mười
năm phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm phải trồng người”
Trong bối cảnh chung của đất nước, Đảng bộ tỉnh Hà Tây lãnh đạo công tác XHHGD trong những năm 1996 - 2008 đã phát triển mạnh mẽ và đạt được những kết quả bước đầu Quy mô giáo dục tiếp tục được mở rộng và phát triển một cách hợp lý, giáo dục Hà Tây đã phát triển mạnh mẽ và đạt được những thành tựu quan trọng trên
cả 3 mặt: Quy mô, chất lượng và hiệu quả Sự lớn mạnh của giáo dục đã đóng góp to
Trang 3lớn và phục vụ đắc lực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Mỗi giai đoạn có đặc điểm lịch sử riêng, khó khăn riêng song dưới sự lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng, chính quyền các cấp, sự ủng hộ của toàn xã hội, sự cố gắng hết mình của các thế hệ cán bộ quản lý và đội ngũ giáo viên, giáo dục Hà Tây vẫn không ngừng phát triển về mọi mặt
Là người con sinh ra đất Hà Tây, cùng với những năm học tập, nghiên cứu chương trình cao học, với những kiến thức lý luận đã nhận thức được cùng với vốn
sống thực tiễn, tôi mạnh dạn chọn đề tài “ Công tác xã hội hoá giáo dục của Đảng
bộ tỉnh Hà Tây từ năm 1996 đến năm 2008” làm luận văn thạc sĩ lịch sử chuyên
ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, luận văn thành công sẽ là tài liệu tham khảo cho các ban, ngành trong quá trình thực hiện công tác XHHGD của tỉnh Hà Tây
2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
- Nhóm những tác phẩm bài viết, bài phát biểu của các nhà lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các nhà khoa học về vấn đề XHHGD:
Trong thời kỳ đổi mới, thuật ngữ xã hội hoá ngày càng được nhiều người quan tâm nghiên cứu, nhiều nhà quản lý giáo dục đã bàn luận về xã hội hoá giáo dục Bài phát biểu của Nguyễn Tấn Phát khai mạc Hội nghị đánh giá 10 năm thực hiện XHHGD bằng con đường Đại hội giáo dục các cấp Trong bài phát biểu đã cho chúng
ta thấy quan điểm của Đảng về vai trò quan trọng của công tác XHHGD thông qua các Nghị quyết TW 4 (khoá VII), Nghị quyết TW 2 (khoá VIII), thông tư liên tịch số 35/TT-LT và đã nêu ra các nội dung của công tác XHHGD Báo cáo đánh giá 10 năm thực hiện XHHGD thông qua tổ chức Đại hội giáo dục các cấp của Lê Hồng Sơn Đặng Ngọc Tiến trong bài phát biểu tại tổng kết 10 năm thực hiện xã hội hoá giáo dục Đồng chí Vũ Oanh đã nhấn mạnh vai trò của Hội khuyến học trong công tác XHHGD
Đặc biệt Phạm Minh Hạc, đã viết nhiều tài liệu về xã hội hoá giáo dục, nhiều
bài phát biểu chỉ đạo phong trào xã hội hoá giáo dục Trong cuốn “Xã hội hoá công
tác giáo dục” xuất bản năm 1997, do ông làm tổng chủ biên đã khẳng định “Xã hội hoá công tác giáo dục là một tư tưởng chiến lược, một bộ phận của đường lối giáo dục, một con đường phát triển giáo dục nước ta” Trong cuốn “Giáo dục Việt Nam
trước ngưỡng cửa của thế kỷ XXI” ông một lần nữa khẳng định “Sự nghiệp giáo dục
không phải chỉ của Nhà nước mà là của toàn xã hội, mọi người cùng làm giáo dục, Nhà nước và xã hội, Trung ương và địa phương cùng làm giáo dục, tạo nên một cao trào học tập trong toàn dân” Trong lời giới thiệu cuốn sách “Những nhân tố mới về giáo dục trong công cuộc đổi mới”, ông đã nhấn mạnh “Phát triển giáo dục theo tinh thần xã hội hoá Viện khoa học giáo dục đã triển khai nhiều năm hệ thống đề tài về
xã hội hoá giáo dục, tổng kết kinh nghiệm, phát triển lý luận, đề xuất cơ chế xã hội
hoá giáo dục Năm 1999, cuốn sách “Xã hội hoá công tác giáo dục- nhận thức và
Trang 4hành động” của Viện khoa học giáo dục là một bước hoàn thiện về nhận thức và
hướng dẫn thực tiễn Bộ giáo dục tạo đào tạo cũng có “Đề án xã hội hoá giáo dục”,
đánh giá thực trạng và đưa ra biện pháp xã hội hoá giáo dục ở tầm vĩ mô, nhằm tạo chuyển biến cơ bản trong GD& ĐT, chuẩn bị tốt nguồn nhân lực cho sự nghiệp
CNH- HĐH trong hai chục năm đầu của thế kỷ XXI Cuốn sách “Xã hội hoá giáo
dục” do Võ Tấn Quang chủ biên cùng tập thể tác giả Trần Kiểm, Nguyễn Thanh
Bình, Lê Đức Phúc, Thái Duy Tuyên, Nguyễn Văn Đản, Đào Duy Ngân khẳng định:
xã hội hoá công tác giáo dục- một phương thức thực sự giáo dục nhằm xã hội hoá cá nhân Bàn về xã hội hoá giáo dục còn nhiều tài liệu, bài viết của các tác giả: Hà Nhật Thăng, Lê Khanh, Nguyễn Nghĩa Dân, Hồ Hương, Nguyễn thanh Phong, Mai Hắc Lương, Vũ Văn Tảo
- Nhóm những đề tài luận văn, luận án
Luận văn thạc sĩ lịch sử: Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo sự nghiệp giáo dục phổ thông (1975- 2000) năm 2007 của Trương Thị Hoa Luận văn thạc sĩ lịch sử: Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lãnh đạo sự nghiệp giáo dục- đào tạo từ năm 1997- 2005 năm 2006 của Lý Trung Thành
- Nhóm các bài báo, tạp chí:
Bài “Đổi mới giáo dục- đào tạo theo đường lối chủ trương của Đảng” của Dương Thu Hiền trên TCLSĐ số 4-1999 Bài “Xây dựng xã hội học tập- một vấn đề giáo dục cơ bản trong Văn kiện Đại hội X của ĐCSVN” của Phạm Tất Dong trên TCGD số 145- 2006 Bài “Hồ Chí Minh với việc xây dựng một nền giáo dục mới của Việt Nam” của Phan Ngọc Liên trên TCLSĐ số 1/2008
Các công trình nêu trên đã phân tích làm rõ một số nội dung về mục tiêu, yêu cầu, ý nghĩa của XHHGD nhưng chưa có đề tài nào nghiên cứu một cách cơ bản, hệ thống dưới góc độ lịch sử Đảng về XHHGD của tỉnh Hà Tây Song những đề tài, công trình nghiên cứu khoa học nêu trên là tài liệu quý để tác giả tham khảo trong quá trình triển khai thực hiện đề tài
Để làm sáng tỏ thêm vấn đề XHHGD, thiết thực phục vụ cho nhiệm vụ chuyên môn của bản thân sau này, tôi muốn vận dụng những kiến thức đã học và những kinh
nghiệm thực tiễn của mình để nghiên cứu đề tài “Công tác xã hội hoá giáo dục của
Đảng bộ tỉnh Hà Tây từ năm 1996 đến năm 2008” Đây là một đề tài nhỏ chưa
được đề cập trong một luận văn, luận án nào, đặc biệt từ góc độ công tác xã hội hoá giáo dục của tỉnh Hà Tây, trong mã ngành lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
3 MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ CỦA LUẬN VĂN
* Mục đích nghiên cứu:
Làm rõ tình hình xã hội hoá giáo dục trong điều kiện phát triển của Hà Tây; Trên cơ sở đó làm sáng tỏ vai trò lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hà Tây trong quá trình thực hiện chủ trương của Đảng về xã hội hoá giáo dục từ năm 1996 đến năm 2008
Trang 5Rút ra những kinh nghiệm để thực hiện công tác XHHGD đạt kết quả tốt, nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển GD&ĐT trong thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH
* Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Làm rõ cơ sở để Đảng bộ tỉnh Hà Tây hoạch định chủ trương, chính sách đề
ra giải pháp và chỉ đạo thực hiện công tác XHHGD của tỉnh
- Làm sáng tỏ chủ trương, chính sách và quá trình Đảng bộ tỉnh Hà Tây chỉ đạo công tác XHHGD trong thời kỳ đẩy mạnh CNH- HĐH từ năm 1996 đến năm
2008
- Làm rõ những kết quả đạt được, những hạn chế, nguyên nhân và từ đó rút ra một số kinh nghiệm của quá trình Đảng bộ tỉnh Hà Tây lãnh đạo công tác XHHGD từ năm 1996 đến năm 2008
4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
* Đối tượng nghiên cứu:
Nghiên cứu những quan điểm, chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Hà Tây về công tác XHHGD từ năm 1996 đến năm 2008
* Phạm vi nghiên cứu:
- Về không gian : Đề tài được giới hạn trên địa bàn tỉnh Hà Tây
- Về thời gian : Nghiên cứu sự lãnh đạo công tác XHHGD của Đảng bộ tỉnh
Hà Tây từ năm 1996 đến năm 2008
- Về nội dung: Chủ yếu nghiên cứu, làm rõ chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng
bộ tỉnh Hà Tây về thực hiện chủ trương của Đảng về công tác XHHGD từ năm 1996 đến năm 2008
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ NGUỒN TÀI LIỆU
* Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu là phương pháp lịch sử, phương pháp logic
và sự kết hợp của hai phương pháp đó Ngoài ra còn sử dụng phương pháp tổng hợp, phân tích, lệch đại, đồng đại, so sánh Phương pháp phân kỳ, khảo sát
* Nguồn tài liệu nghiên cứu:
- Các Văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam và của Tỉnh uỷ Hà Tây
- Các Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng bộ và chính quyền tỉnh Hà Tây về giáo dục
- Các công trình khoa học đã được công bố, các tài liệu về XHHGD của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài
6 Ý NGHĨA CỦA LUẬN VĂN
- Cung cấp thêm tư liệu, làm rõ quá trình Đảng bộ tỉnh Hà Tây lãnh đạo XHHGD từ năm 1996 đến năm 2008, nêu lên những kinh nghiệm có ý nghĩa vận dụng
Trang 6- Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy những vấn đề liên quan đến XHHGD ở địa phương
7 CẤU TRÚC LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được kết cấu 3 chương 6 tiết
Chương I CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH HÀ TÂY VỀ
CÔNG TÁC
XÃ HỘI HOÁ GIÁO DỤC TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2000
1 1 Sự cần thiết và chủ trương của Đảng bộ tỉnh Hà Tây về công tác xã hội hoá giáo dục từ năm 1996 đến năm 2000
1.1.1 Sự cần thiết của công tác xã hội hoá giáo dục của tỉnh Hà Tây thời kỳ công nghiệp hoá- hiện đại hoá
* Đặc điểm tự nhiên, kinh tế- xã hội của tỉnh Hà Tây:
Năm 1991, Hà Tây được thành lập từ tỉnh Hà Sơn Bình và 6 huyện của Hà Nội Hà Tây, là tỉnh thuộc châu thổ sông Hồng bao bọc phía Tây và Nam thủ đô Hà Nội Hà Tây có 12 huyện, 2 thị xã với 325 xã, phường, thị trấn
Hà Tây là tỉnh có trình độ dân trí cao, sự nghiệp giáo dục đào tạo phát triển mạnh cả về số lượng và chất lượng, cả tỉnh có hơn 70.000 người đi học, chiếm gần 30% dân số
Hà Tây lại có những thuận lợi hết sức cơ bản
Các cấp uỷ đảng, chính quyền từ tỉnh đến xã, phường luôn quan tâm, chỉ đạo
và đưa ra những chính sách phù hợp giúp cho công cuộc phát triển GD&ĐT ngày càng đạt hiệu quả
Nhân dân trong tỉnh có truyền thống hiếu học, đã trở thành động lực thúc đẩy phát triển nền giáo dục tỉnh nhà kể từ sau Cách mạng tháng Tám đến nay
Nằm trong vị trí thuận lợi: là sát thủ đô Hà Nội, trong khu vực kinh tế trọng điểm của miền Bắc- khu tam giác kinh tế Hà Nội- Hải Phòng- Quảng Ninh
Những khó khăn trong phát triển sự nghiệp GD&ĐT
Có mật độ dân số cao, hiện tại kinh tế chủ đạo của toàn tỉnh là nông nghiệp, trong khi đó bình quân đất nông nghiệp trên đầu người rất thấp chỉ có 514 m2
Trang 7
Do vị trí địa lý và cấu tạo địa hình nên Hà Tây có một phần lãnh thổ thuộc các huyện đồng bằng nằm trong vùng phân lũ của quốc gia nên việc bố trí sử dụng, xây dựng cơ sở vật chất cho các công trình gặp khó khăn
Do đặc điểm địa hình, mật độ dân cư giữa các khu vực trong Tỉnh không đều, trình độ dân trí giữa các địa phương trong tỉnh còn chệnh lệch khá lớn, CSVS hạ tầng của các địa phương nhất là các trường học còn nghèo
* Thực trạng tình hình xã hội hoá giáo dục của tỉnh Hà Tây trước năm 1996:
Trong những năm đầu đổi mới, mặc dù gặp rất nhiều khó khăn, nhưng sự nghiệp GD&ĐT của tỉnh vẫn giữ được thế ổn định Chất lượng dạy và học hầu hết ở các trường được nâng cao Hoạt động hướng nghiệp bước đầu gắn với phát triển kinh tế- xã hội của địa phương Song nhiệm vụ GD&ĐT nói chung và công tác XHHGD nói riêng đang đặt ra nhiều vấn đề cần tập trung giải quyết, nhất là phát triển chất lượng, số lượng GD&ĐT đòi hỏi ngày càng cao nhưng nguồn kinh phí hạn hẹp Do vậy, cần có đóng góp về nhân lực, vật lực, tài lực của tất cả lực lượng trong xã hội để
Thực hiện công bằng xã hội trong GD&ĐT Tạo điều kiện ai cũng được học hành Người nghèo được Nhà nước và cộng đồng giúp đỡ để học tập Bảo đảm điều kiện cho những người học giỏi phát triển tài năng Đáp ứng yêu cầu nâng cao dân trí , đào tạo nguồn nhân lực trong thời kỳ CNH-HĐH
1.1.2 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Hà Tây về công tác xã hội hoá giáo dục:
1.1.2.1 Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác xã hội hóa giáo dục:
Tháng 06/1996 ĐHĐBTQ lần thứ VIII của ĐCSVN đã khẳng định “Xã hội
hoá” là một quan điểm để hoạch định hệ thống các chính sách xã hội Đại hội Đảng
lần thứ VIII, GD- ĐT tiếp tục được khẳng định là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Coi trọng cả ba mặt: mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng và phát huy hiệu quả
Trang 8Nghị quyết TW2 (khoá VIII) ngày 24/12/1996 về “Định hướng chiến lược
phát triển giáo dục và đào tạo trong thời kỳ CNH- HĐH và nhiệm vụ đến năm 2000”
của Ban chấp hành TW Đảng một lần nữa khẳng định rõ: “Giáo dục và đào tạo là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân
Điều 11, Luật giáo dục ban hành năm 1998 có quy định về xã hội hoá sự nghiệp giáo dục cụ thể như sau:“Mọi tổ chức, gia đình và công dân đều có trách nhiệm chăm lo cho sự nghiệp giáo dục, xây dựng phong trào học tập và môi trường giáo dục lành mạnh, phối hợp với nhà trường thực hiện mục tiêu giáo dục Nhà trường giữ vai trò chủ đạo trong phát triển sự nghiệp giáo dục, khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để tổ chức, các nhân tham gia phát triển sự nghiệp giáo dục
Quan điểm của Đảng và Nhà nước về XHH là thực hiện đồng bộ, hiệu quả trên cả ba mặt: Tăng cường vai trò chủ đạo của Nhà nước, đổi mới cơ chế hoạt động của các cơ sở công lập, phát triển các cơ sở ngoài công lập để đảm bảo vừa phát triển
về quy mô, vừa từng bước nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của nhân dân
Nhà nước quản lý thống nhất đối với các cơ sở công lập và ngoài công lập, tạo điều kiện để các cơ sở đó phát triển ổn định, lâu dài, đảm bảo lợi ích của từng cá nhân, tập thể và của toàn xã hội
Cần đổi mới cơ chế hoạt động của các cơ sở giáo dục theo hướng tự chủ, không bao cấp tràn lan, không vì mục đích lợi nhuận để nâng cao chất lượng giáo dục, tăng hiệu quả đầu tư của Nhà nước cho phúc lợi xã hội và giữ vai trò nòng cốt của các cơ sở công lập
1.1.2.2 Quan điểm, phương hướng, nhiệm vụ và mục tiêu phát triển công tác xã hội hoá của tỉnh Hà Tây (1996-2000)
* Một số quan điểm của Đảng bộ tỉnh Hà Tây:
Đại hội Đảng bộ lần thứ XII năm 1996, đặc biệt là Nghị quyết 03 của Tỉnh uỷ
“về phát triển giáo dục- đào tạo trong thời kỳ CNH-HĐH” đưa ra chủ trương phát triển giáo dục và đào tạo
Huy động các lực lượng xã hội, các tập thể và cá nhân làm công tác giáo dục, xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh
Tăng cường cơ sở vật chất và các nguồn lực cho giáo dục, chăm lo đời sống của giáo viên Cụ thể hoá các chính sách đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, tăng nguồn lực đầu tư, đồng thời đổi mới mục tiêu phương thức, cơ cấu và nguồn vốn đầu tư; tập trung cho các mục tiêu ưu tiên, các chương trình quốc gia phát triển giáo dục; hỗ trợ các vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc; ưu đãi các đối tượng chính sách và trợ giúp người nghèo
Đa dạng hoá các loại hình giáo dục, phát triển mạnh các cơ sở giáo dục ngoài công lập với hai hình thức dân lập và tư thục Khuyến khích đầu tư trong và ngoài
Trang 9nước bằng hình thức phù hợp với quy hoạch phát triển, yêu cầu, đặc điểm giáo dục ở từng vùng, miền
Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và các ban ngành đối với sự nghiệp GD&ĐT Đảng bộ Hà Tây luôn xác định công tác XHHGD phải đạt chất lượng hiệu quả, đảm bảo sự thống nhất quản lý Nhà nước, giữ vai trò nòng cốt của các trường công lập trong hệ thống giáo dục quốc dân, gắn liền với nhu cầu phát triển kinh tế- xã hội của địa phương
* Phương hướng, nhiệm vụ, mục tiêu thực hiện, phát triển công tác xã hội hoá giáo dục trong thời kỳ công nghiệp hoá- hiện đại hoá:
- Phương hướng, nhiệm vụ phát triển công tác XHHGD
Phát triển GD&ĐT gắn với phát triển kinh tế xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh cuả tỉnh Coi trọng phát triển cả về số lượng, chất lượng và phát huy hiệu quả Giáo dục phải phục vụ cho việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, góp phần vào sự nghiệp CNH-HĐH của tỉnh Thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục Giữ vững vai trò nòng cốt của các trường công lập đi đôi với đa dạng hoá các loại hình GD&ĐT Từng bước mở các trường tư thục ở một số bậc học: Mầm non, THPT, THCN, dạy nghề
Mở rộng hình thức không tập trung: Đào tạo tại chức, đào tạo từ xa theo hướng dẫn của Bộ GD&ĐT
- Mục tiêu phát triển công tác xã hội hoá giáo dục
Mục tiêu chủ yếu là nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện ở tất cả các bậc học, ngành học; tăng cường giáo dục chính trị tư tưởng, nhân cách và khả năng thích ứng với thực tiễn, năng lực thực hành Đồng thời tiếp tục mở rộng quy mô ở tất cả các ngành học, cấp học, thu hút số đông người đi học ở tất cá các bậc học, các loại hình GD&ĐT
Tích cực huy động mọi nguồn lực để xây dựng CSVC các trường học, các trung tâm giáo dục Các trường đều đảm bảo cảnh quan sư phạm Tập trung xây dựng các trường trọng điểm: Mầm non, phổ thông, TTGDTX, TTKTHN- DN để làm nòng cốt cho việc xây dựng trường, đơn vị giáo dục trong tỉnh Phấn đấu xây dựng hoàn chỉnh các trường sư phạm, trường Đại học cộng đồng
1.2 Đảng bộ tỉnh Hà Tây chỉ đạo công tác xã hội hoá giáo dục từ năm
1996 đến năm 2000
1.2.1 Đảng bộ tỉnh Hà Tây chỉ đạo xây dựng một xã hội học tập:
Đảng bộ Hà Tây đã đẩy mạnh xây dựng một xã hội học tập, tạo điều kiện cho mọi thành viên trong xã hội học tập suốt đời, góp phần nâng cao trình độ phổ cập giáo dục phổ thông, tạo điều kiện cho việc nâng cao kỹ năng nghề nghiệp, tri thức và khả năng thích ứng với thị trường lao động Thực hiện XHHGD nhằm phát huy tiềm năng về trí tuệ và vật chất trong nhân dân, huy động toàn xã hội chăm lo sự nghiệp giáo dục, đồng thời tạo điều kiện để toàn xã hội, đặc biệt là các đối tượng chính sách,
Trang 10người nghèo được hưởng thụ thành quả giáo dục ngày càng cao UBND Tỉnh đã tập trung chỉ đạo làm chuyển biến mạnh mẽ công tác XHHGD Đồng thời UBND tỉnh đã
ra Quyết định 649/QĐ-UB thực hiện chế độ miễn giảm học phí và các khoản đóng góp khác cho người nghèo đi học
Tỉnh tiến hành ĐHGD& thành lập HĐGD cấp tỉnh từ 1997, sớm nhất trong toàn quốc Đến nay có 100% huyện, thị xã, phường đều thành lập HĐGD và tiến hành ĐHGD lần 2, lần 3
Năm 1997, Tỉnh đã chỉ đạo thành lập các HĐGD từ cấp xã đến cấp Tỉnh để tiến hành công tác XHHGD.Với nhiều hình thức đa dạng và phong phú HĐGD các cấp đã tích cực xây dựng quỹ khuyến học Thực hiện Chỉ thị 29/1999 của Thủ tướng Chính Phủ về việc phát huy vai trò của HKH Việt Nam trong sự nghiệp giáo dục,
Tỉnh uỷ có Thông tri số 27-TTr/TU ngày 22/6/2000 “Về việc thành lập tổ chức HKH
Toàn tỉnh hoàn thành phổ cập cấp THCS tiến tới đa dạng hoá hình thức học cấp 2 để đạt phổ cập THPT Mở rộng dạy nghề trong các trường trung học, phát triển cấp 3, tổ chức học tin học, ngoại ngữ để tăng cường giao lưu quốc tế Mở rộng các cơ
sở dạy nghề bằng mọi hình thức, đáp ứng yêu cầu về nhân lực và kỹ thuật
UBND tỉnh Hà Tây đã chỉ đạo thành lập ở mỗi xã, phường một trường mầm non do UBND xã quản lý Tỉnh chỉ đạo lập lại trật tự kỷ cương trong GD&ĐT, không
tổ chức lớp chọn ở các cấp học, không tổ chức trường chuyên ở bậc Tiểu học và THCS
Tỉnh chỉ đạo xây dựng mô hình trường Tiểu học và Trung học trọng điểm chất lượng cao được xây dựng, áp dụng phương pháp dạy học tích cực để nhân rộng trong toàn Tỉnh Bước đầu đưa nội dung dạy nghề, giáo dục dân số, tin học vào nhà trường Các trung tâm như Tin học, ngoại ngữ, trung tâm giáo dục thường xuyên tiếp tục phát triển Tỉnh chỉ đạo mỗi huyện, thị xã thành lập một trung tâm hướng nghiệp- dạy nghề Mở các lớp học tại chức, Đại học từ xa và chuyên ngành Các trung tâm KTHN-DN thường xuyên kết hợp với THCS, THPT để mở các lớp hướng nghiệp cho 90% học sinh cuối cấp học tập Đặc biệt chú trọng việc đưa khoa học điện tử, vi tính phục vụ cho sự nghiệp đổi mới Nâng cao chất lượng dân tộc nội trú Tỉnh và ngành
Trang 11giáo dục luôn quan tâm ưu tiên, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển giáo dục ở các
xã thuộc khu vực đặc biệt khó khăn, các xã nghèo miền núi Nâng cao chất lượng các lớp tại chức, dạy nghề ứng dụng, các lớp chuyên đề ngắn hạn, các lớp ôn luyện và nâng cao kiến thức
1.2.3 Đảng bộ tỉnh Hà Tây chỉ đạo công tác xây dựng cơ sở vật chất:
Nhân dân ngày càng tăng về số lượng và đa dạng về hình thức như; đóng góp tiền, ngày công lao động, nguyên vật liệu, các khoản đóng góp tự nguyện của các tổ chức kinh tế- xã hội Hội đồng giáo dục các cấp cũng làm tốt công tác tham mưu để chính quyền địa phương quy hoạch đất đai, khuôn viên cho các trường học
Tăng cường đầu tư cho CSVC trường học nhất là ở nông thôn và miền núi Hỗ trợ kinh phí cho xây dựng trường, sách giáo khoa, miễn giảm học phí cho học sinh Nguồn vốn đầu tư mua sắm sách và thiết bị trường học chiếm khoảng 10% tổng chi ngân sách sự nghiệp giáo dục Tỉnh chỉ đạo đảm bảo đủ phòng học cho các ngành học, cấp học phù hợp với độ tuổi, phấn đấu cơ bản xây dựng kiên cố và cao tầng các trường học Các trường phổ thông được tiếp tục thu tiền đóng góp để xây dựng trường, sở theo quyết định 241/TTG ngày 24/05/1993 của Thủ Tưởng Chính phủ Từ năm 1997, Tỉnh quyết định tăng nguồn đầu tư xây dựng cơ bản hàng năm từ 10% như hiện nay lên ngang bằng các tỉnh là 20-25% Hàng năm, ngân sách đầu tư cho giáo dục tăng, trong đó giai đoạn năm 1996-2000 tăng bình quân 19,6% Đầu tư cho sự nghiệp GD&ĐT cần có tỷ lệ đảm bảo cho 10% đi bồi dưỡng, đào tạo lại và cho hợp đồng, thêm giờ, thêm lớp
1.2.4 Đảng bộ tỉnh Hà Tây chỉ đạo chăm lo đời sống giáo viên:
Năm 1997, ĐHGD ở các cấp và tổ chức thành công ĐHGD cấp Tỉnh, Tỉnh khuyến khích giáo viên mầm non, giáo viên miền xuôi lên miền núi và 3 xã giữa Sông Hồng, trợ cấp cho giáo viên dạy chuyên, giáo viên học lên trình độ cao, học giỏi
Năm 1997 UBND Tỉnh đã có Quyết định 1002 QĐ/UB, quy định mức lương tối thiểu của giáo viên mầm non dân lập.Tỉnh có chính sách trợ cấp cho giáo viên mầm non Một số trường đã chú trọng chăm lo đời sống lâu dài cho giáo viên bằng cách trích 10%-20% tổng quỹ lương gửi tiết kiệm hoặc mua bảo hiểm nhân thọ cho giáo viên Chính sách nâng mức lương cho giáo viên hợp đồng Sở giáo dục đã hoàn thành kế hoạch bồi dưỡng giáo viên tại chỗ theo chu kỳ 1997-2000 Dành một số chỉ tiêu biên chế giáo viên mầm non để lập các trường Mầm non công lập cho những xã nghèo, khuyến khích tạo công bằng cho xã hội
Tỉnh đầu tư kinh phí: Đủ giáo viên để thực hiện phổ cập THCS, có giáo viên
để dạy ngoại ngữ cho học sinh từ lớp 3 trở lên, có giáo viên để đảm bảo cho 60% giáo viên Mầm non, Tiểu học, THCS được đi học để đạt chuẩn mới của Bộ GD&ĐT
Trang 121.2.5 Đảng bộ tỉnh Hà Tây chỉ đạo xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, chất lượng giáo dục toàn diện, kết hợp tốt Nhà trường- Gia đình- Xã hội:
Tỉnh chủ trương phát triển toàn diện gắn với phát triển kinh tế- xã hội phù hợp với yêu cầu CNH-HĐH từng giai đoạn Củng cố nâng cao chất lượng phổ cập Tiểu học đúng độ tuổi và XMC cho người trong độ tuổi, giảm tỷ lệ lưu ban bỏ học, nâng cao chất lượng dạy và học, chất lượng chính trị, tư tưởng, đạo đức cho học sinh
Chất lượng giáo dục phổ thông được chú trọng; Công tác giáo dục đạo đức học sinh được quan tâm chăm lo, các trường chú ý sâu tới giáo dục nâng cao nhận thức, hành vi đạo đức cho học sinh Thanh toán mù chữ cho người trong độ tuổi 15-
35, thu hẹp diện mù chữ ngoài độ tuổi
Thực hiện Nghị quyết của Quốc hội, Tỉnh chỉ đạo triển khai đại trà sách giáo khoa mới ở 6 khối lớp: lớp 1, 2, 3 và lớp 6, 7, 8 đúng mục tiêu và tiến độ đã đề ra
Thực hiện Chỉ Thị 61- CT/TƯ ngày 28/12/2000 của Bộ Chính Trị và NQ 41/2000/QH X của Quốc Hội về tập trung lực lượng để phổ cập giáo dục THCS Hoạt động của Hội đồng giáo dục các cấp đã góp phần to lớn thực hiện các mục tiêu
về phổ cập giáo dục, xây dựng trường chuẩn quốc gia và nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện Năm 2001 Tỉnh được Bộ GD-ĐT công nhận đạt chuẩn phổ cập THCS với 99,3% xã, phường, thị trấn đạt chuẩn
1.2.6 Đảng bộ tỉnh Hà Tây chỉ đạo tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của chính quyền đối với sự nghiệp giáo dục và đào tạo:
Thực hiện Chỉ Thị số 34- CT/TW ngày 30/05/1998 của Bộ chính trị về tăng cường công tác tư tưởng, củng cố tổ chức Đảng, đoàn thể quần chúng và công tác phát triển đảng viên trong trường học, công tác phát triển đảng viên trong các nhà trường được tăng cường Các cấp uỷ đã điều chuyển đảng viên đến các trường chưa
có đảng viên, chỉ đạo các trung tâm chính trị mở lớp bồi dưỡng đối tượng đảng cho đội ngũ giáo viên vào dịp hè Do vậy, đảng viên là giáo viên tăng lên
Tổ chức Đảng ở trường học có tác dụng phát huy được tính tích cực chủ động của các tổ chức chính trị- xã hội trong trường học Mặt khác, tổ chức Đảng phải là người tập hợp, điều chỉnh các mối quan hệ giữa Đảng và các đoàn thể, đảm bảo được hoạt động chủ động và độc lập của mỗi tổ chức chính trị- xã hội trong trường học đối với công tác quản lý nhà trường, cũng như đối với việc thực hiện chương trình, kế hoạch công tác của chính quyền trong trường học
* Tiểu kết chương 1: Sau khi thực hiện kế hoạch 5 năm phát triển kinh tế- xã
hội của Đảng bộ tỉnh Hà Tây, nền giáo dục Hà Tây đã thu được những kết quả quan trọng, công tác XHHGD được tuyên truyền sâu rộng trong Đảng uỷ, cơ quan, các ban ngành đoàn thể và nhân dân Do vậy, các mục tiêu phát triển giáo dục được đề ra trong Nghị quyết 03 của Tỉnh uỷ năm 1996 cơ bản được thực hiện
Trang 13Tỉnh tiến hành thành công ĐHGD cấp cơ sở, cấp huyện lần 2, ĐHGD tỉnh lần thứ nhất Qua đó, công tác XHHGD được phát triển mạnh, công tác giáo dục bây giờ
đã có sự đóng góp về mọi mặt của rất nhiều lực lượng khác nhau trong xã hội
Mạng lưới trường học phát triển rộng khắp trong Tỉnh Việc đa dạng hoá các hình thức giáo dục đối với bậc THPT đã bước đầu có kết quả, tỷ lệ trường bán công, dân lập chiếm 19% Có 13 TTGDTX ở các huyện, thị xã làm nhiệm vụ XMC, bổ túc văn hoá, 6 TTHN-DN, 12 trường dạy nghề của địa phương để hướng nghiệp cho học sinh phổ thông và dạy nghề cho nhân dân Là một trong 8 tỉnh trong cả nước đạt tiêu chuẩn quốc gia về XMC và PCGDTH năm 1992 và năm 2000 đạt PCGDTHCS và chất lượng PCGDTH, THCS ngày càng được nâng cao
CSVC nhà trường hàng năm được tăng cường, cơ bản đã đủ phòng học, bàn
ghế cho học sinh, không còn tình trạng học sinh học 3 ca
Chương 2 CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH HÀ TÂY VỀ ĐẨY
MẠNH CÔNG TÁC XÃ HỘI HOÁ GIÁO DỤC
TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2008 2.1 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Hà Tây về công tác xã hội hoá giáo dục
từ năm 2001 đến năm 2008
2.1.1 Đặc điểm và yêu cầu mới về công tác xã hội hoá giáo dục
* Đặc điểm về công tác xã hội hoá giáo dục:
Đến nay, quy mô mạng lưới trường lớp chỉ đảm bảo điều kiện thực hiện nhiệm vụ phổ cập GDTH đúng độ tuổi, GDTHCS mà chưa đủ điều kiện thực hiện nhiệm vụ Phổ cập giáo dục THPT và xây dựng trường chuẩn Quốc gia Quy mô trường lớp bất hợp lý về cơ cấu trường THPT
Hệ thống mạng lưới trường lớp Tiểu học, THCS có quy mô đủ đáp ứng nhu cầu học tập, địa bàn dân cư tập trung, hoàn thành tốt công tác PCGDTH đúng độ tuổi
và PCTHCS Chất lượng toàn diện của học sinh đại trà còn tình trạng lệch lạc Chất lượng giáo dục hướng nghiệp dạy nghề phổ thông chưa đạt hiệu quả cao mà nguyên nhân chủ yếu là thiếu giáo viên dạy nghề
Tỷ lệ giáo viên hợp đồng còn cao Mức lương hiện tại trả cho giáo viên hợp đồng còn thấp, chế độ chính sách đối với giáo viên mầm non ngoài công lập còn chưa đảm bảo Đội ngũ giáo viên vừa thừa vừa thiếu Nhiều trường CSVC còn thiếu và yếu, nhất là các trường Mầm non, Tiểu học, tình trạng thiếu phòng thí nghiệm, phòng
bộ môn và phòng tập đa năng ở THCS và THPT
Công tác quản lý giáo dục đã được chú ý và đạt được một số kết quả nhất định Tuy nhiên so với yêu cầu đổi mới sự nghiệp giáo dục hiện nay thì công tác quản
Trang 14lý của ngành còn nhiều hạn chế Tỉnh chưa động viên khuyến khích được nhiều các
tổ chức, cá nhân tham gia vào phát triển giáo dục, chưa có những chính sách để thu hút được đầu tư trong nước và nước ngoài cho GD&ĐT
* Yêu cầu mới về công tác xã hội hoá giáo dục:
Sau năm 2000, cuộc cách mạng khoa học công nghệ tiếp tục phát triển ngày càng nhạnh Kinh tế tri thức có vai trò ngày càng nổi bật trong quá trình phát triển lực lượng sản xuất Phát triển công tác XHHGD phải đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục của Đảng Muốn phát triển giáo dục thì phải đổi mới toàn diện, xác định những biện pháp cụ thể là: Đổi mới cơ cấu tổ chức, nội dung, phương pháp dạy và học theo hướng “Chuẩn hóa, hiện đại hoá, xã hội hoá” Phát huy trí sáng tạo, khả năng vận dụng, thực hành của người học, đề cao trách nhiệm của gia đình, nhà trường, xã hội Chuyển dần mô hình giáo dục hiện nay sang mô hình giáo dục mở- mô hình xã hội học tập với hệ thống học tập suốt đời, đào tạo liên tục, liên thông giữa các bậc học ngành học
2.1.2 Đảng bộ tỉnh Hà Tây chủ trương đẩy mạnh công tác xã hội hoá giáo dục:
2.1.2.1 Chủ trương của Đảng cộng sản Việt Nam về công tác xã hội hoá giáo dục:
Tháng 04/2001, ĐHĐBTQ lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ rõ: Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện; đổi mới cơ cấu tổ chức, đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học, cơ chế quản lý, nội dung, phương pháp dạy và học, hệ
thống trường lớp và hệ thống quản lý GD; thực hiện “Chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã
hội hoá”, đẩy mạnh phong trào tự học của nhân dân, thực hiện GD cho mọi người, cả
nước trở thành một xã hội học tập
Phát triển giáo dục gắn với nhu cầu phát triển kinh tế- xã hội, tiến bộ khoa học
và công nghệ và củng cố an ninh quốc phòng, đồng thời phải thoả mãn nhu cầu học tập và phát triển của mỗi người dân Coi trọng nâng cao chất lượng, đảm bảo hợp lý
về cơ cấu trình độ ngành nghề, vùng miền, quy mô giáo dục đại trà và mũi nhọn Thực hiện nguyên lý học đi đôi với hành, lý luận gắn với thực tiến, nhà trường kết hợp với gia đình và xã hội để giáo dục, rèn luyện học sinh, đào tạo gắn với sử dụng
Chuyển đổi dần mô hình giáo dục hiện nay sang mô hình giáo dục mở- mô hình xã hội học tập với hệ thống học tập suốt đời, đào tạo liên tục, liên thông giữa các bậc học, ngành học Huy động nguồn nhân lực, vật lực, tài lực của xã hội tham gia chăm lo sự nghiệp giáo dục Phối hợp chặt chẽ giữa ngành giáo dục với các ban ngành, các tổ chức chính trị- xã hội, để mở phát triển giáo dục, tạo điều kiện học tập cho mọi thành viên trong xã hội Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát các hoạt động giáo dục
Trang 15Tăng cường hợp tác quốc tế về GD&ĐT; tiếp cận chuẩn mực giáo dục tiên tiến của thế giới phù hợp với yêu cầu phát triển của Việt Nam; tham gia đào tạo nhân lực khu vực và thế giới Có cơ chế phù hợp đối với các trường do nước ngoài đầu tư hoặc kiên kết đào tạo
2.1.2.2 Đảng bộ tỉnh Hà Tây chủ trương công tác xã hội hoá giáo dục
* Quan điểm của Đảng bộ tỉnh Hà Tây về công tác xã hội hoá giáo dục:
Căn cứ Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Hà Tây, căn cứ chiến lược phát triển giáo dục 2001- 2010 của chính phủ và căn cứ Nghị quyết số 05/2005/NQ- CP của Chính phủ về đẩy mạnh XHH các hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá và thể dục thể thao
Đa dạng hoá các hình thức học tập và loại hình nhà trường: Các lực lượng xã hội và cá thể có thể tham gia vào quá trình giáo dục bằng cách tổ chức thành lập các
cơ sở giáo dục thuộc các thành phần kinh tế bên cạnh các cơ sở nhà nước như hệ thống các trường bán công, dân lập, tư thục ở các cấp học từ Mầm non đến Đại học
Đa dạng hoá các nguồn lực cho giáo dục: Đa dạng hoá các nguồn lực ở đây hiểu đúng ở các khía cạnh: Nhân lực (con người)- Vật lực (cơ sở vật chất) - Tài chính (nguồn tài chính) Trong giáo dục nếu khắc phục được nội dung này thì sẽ giải quyết được mâu thuẫn giữa yêu cầu về số lượng và chất lượng ngày càng cao
Đảng bộ tỉnh Hà Tây xác định phát triển giáo dục là nền tảng để kinh tế- xã hội trong tỉnh đi lên Do vậy, Tỉnh đẩy mạnh công tác XHHGD tạo điều kiện cơ hội học tập cho mọi người Tỉnh có những chính sách ưu tiên, khuyến khích các tổ chức,
cá nhân thành lập các trường dân lập, tư thục Thành lập các trung tâm dạy nghề, tin học ngoại ngữ, TTHTCĐ Tăng cường đầu tư CSVC cho giáo dục, đảm bảo đủ phòng học kiên cố, xoá các phòng học tạm, phát triển phòng thư viện, phòng bộ môn, phòng thí nghiệm
* Phương hướng, nhiệm vụ, mục tiêu phát triển công tác xã hội hoá giáo dục trong thời kỳ công nghiệp hoá- hiện đại hoá:
- Phương hướng, nhiệm vụ phát triển công tác xã hội hoá giáo dục
Tiếp tục củng cố mạng lưới, phát triển quy mô giáo dục đào tạo có cơ cấu hợp
lý giữa các cơ sở công lập và ngoài công lập đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân; khuyến khích phát triển các cơ sở giáo dục ngoài công lập Chú trọng triển khai việc thành lập các TTHTCĐ
Đẩy mạnh xây dựng cơ sở vật chất nhà trường theo hướng kiên cố hoá, chuẩn hoá, hiện đại hoá, đảm bảo vững chắc yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục Nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục Tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập THCS, đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân
Trang 16Tiếp tục đẩy mạnh xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán
bộ quản lý giáo dục theo tinh thần Chỉ thị 40- CT/TW của Ban Bí thư và Quyết định
số 09/2005/QĐ- TTg của Thủ tướng Chính phủ
Đổi mới và tăng cường công tác quản lý thanh tra giáo dục, khắc phục những hạn chế, yếu kém, giữ gìn nề nếp, kỷ cương, xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh.Tiếp tục thực hiện đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp giáo dục Đẩy mạnh xây dựng xã hội học tập khai thác mọi tiềm năng, huy động mọi nguồn lực, thúc đẩy sự nghiệp giáo dục phát triển Mở rộng mạng lưới các trung tâm học tập cộng đồng, phát triển giáo dục từ xa
Khẩn trương triển khai thực hiện Nghị quyết số 05/2005/NQ- CP, ngày 18/4/2005 của Chính phủ về đẩy mạnh xã hội hoá các hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá và thể dục thể thao và Quyết định số 112/2005/QĐ- TTg ngày 18/4/2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án “Xây dựng xã hội học tập”
- Mục tiêu phát triển công tác xã hội hoá giáo dục
Các trường có đủ nhân viên y tế, nhân viên thí nghiệm và thư viện để chăm sóc sức khoẻ cho học sinh và đáp ứng yêu cầu dạy và học, thực hiện đổi mới chương trình, sách giáo khoa Đến năm 2010 có 100% giáo viên Mầm non đạt chuẩn, trong
đó 30% vượt chuẩn, 90% giáo viên Tiểu học và 80% giáo viên THCS vượt chuẩn, 10% giáo viên THPT và giáo dục chuyên nghiệp vượt chuẩn Phấn đấu tỷ lệ đảng viên trong đội ngũ giáo viên từ 28% lên trên 32% vào năm 2010
Tiến hành thực hiện đa dạng hoá các loại hình giáo dục Đến năm 2010 mỗi huyện, thị xã thành lập, chuyển đổi ở mỗi cấp học Tiểu học, THCS, THPT ít nhất một trường dân lập, tư thục Có đánh giá, rút kinh nghiệm và triển khai rộng
Huy động các lực lượng trong xã hội đóng góp nhiều mặt cho công tác XHHGD Đến năm 2010, đầu tư CSVC để đạt mục tiêu chuẩn hoá các trường học: xoá hết phòng học tạm, học nhờ, phòng học xuống cấp nghiêm trọng Huy động 95% trở lên số đối tượng phổ cập THCS vào THPT, BTTHPT, THCN và dạy nghề, 100%
số học sinh Tiểu học được học 2 buổi/ngày Phấn đấu 30% số trường mầm non, 50%
số trường Tiểu học, 40% số trường THCS đạt chuẩn quốc gia, mỗi huyện,thị có ít nhất 2 trường THPT đạt chuẩn quốc gia
2.2 Sự chỉ đạo công tác xã hội hoá giáo dục của Đảng bộ tỉnh Hà Tây từ năm 2001 đến năm 2008
2.2.1 Đảng bộ tỉnh Hà Tây chỉ đạo xây dựng một xã hội học tập:
Quán triệt Nghị quyết ĐHĐBTQ lần thứ X của Đảng về “Chuyển dần mô hình
giáo dục hiện nay sang mô hình giáo dục mở - mô hình xã hội học tập” và tư tưởng
Hồ Chí Minh về học tập suốt đời, nhằm nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, đào tạo nhân tài, phục vụ sự nghiệp CNH-HĐH đất nước, nhất là trong bối cảnh nước
ta hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới Đảng bộ tỉnh Hà Tây cùng