Chợ nông thôn - một không gian công cộng cho sự hình thành dư luận xã hội Nghiên cứu trường hợp chợ Mai Trang và chợ Mộc, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An Nguyễn Thị Bích Thủy Trường Đại h
Trang 1Chợ nông thôn - một không gian công cộng cho
sự hình thành dư luận xã hội (Nghiên cứu trường hợp chợ Mai Trang và chợ Mộc, huyện
Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An)
Nguyễn Thị Bích Thủy
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn; Khoa Xã hội học
Chuyên ngành: Xã hội học; Mã số: 60 31 30 Người hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Quý Thanh
Năm bảo vệ: 2012
Abstract Tìm hiểu cơ cấu, thành phần của người dân tham gia vào các cuộc thảo luận
Xác định được những chủ đề được người dân quan tâm chú ý và đem ra thảo luận Đưa
ra nguồn thông tin của những chủ đề trên Tìm hiểu con đường lan truyền thông tin từ
cá nhân này đến cá nhân khác trong quá trình thảo luận ở chợ
Keywords Xã hội học; Chợ nông thôn; Dư luận xã hội; Giao tiếp xã hội; Nghệ An
khác các không gian công cộng có thể được xem như là “không gian phục vụ chung cho nhu cầu của nhiều người… Trong không gian công cộng, người sử dụng vừa là người quan sát, lại vừa là người tham gia các hoạt động chung Hình thức hay hoạt động của mỗi người trong không gian công cộng thường gây ảnh hưởng tới những người khác, vì thế, không gian công cộng được xem là nơi diễn ra các xung đột xã hội cũng như là nơi của các hòa giải xã hội giữa các tổ chức cá nhân [43] Các không gian công cộng có thể
kể đến như là: công viên, đường phố, quảng trường, chợ,…
DLXH có vai trò to lớn đối với sự phát triển vị thế của người dân trong đời sống thời sự, trong khi đó không gian công cộng góp phần rất lớn vào sự hình thành DLXH Song những nghiên cứu về không gian công cộng ở nước ta chủ yếu là về mảng kiến trúc, quy hoạch và quản lý đô thị Có rất ít nghiên cứu về không gian công cộng ở góc độ khoa học xã hội Hơn nữa, về vai trò của chợ nông thôn như một không gian công cộng đối với sự hình thành DLXH thì hầu như chưa có nghiên cứu nào ở Việt Nam đề cập đến Chợ ở nông thôn là một không gian quan trọng, nó không chỉ là một thiết chế kinh
tế - xã hội mà còn giúp cho người dân gặp gỡ, thảo luận, trao đổi những vấn đề họ cùng
Trang 2quan tâm Những người dân dễ dàng trao đổi ý kiến với nhau bởi đa phần trong số họ đều quen biết, có mối quan hệ lâu dài Vì vậy, chợ nông thôn là một trong những không gian giúp cho DLXH hình thành Ngoài ra, ở nước ta có tới 60,4 triệu người chiếm 70,5% (trong tổng số 85,7 triệu người) sinh sống tại nông thôn [42], cho nên việc điều tra, nắm bắt những ý kiến người dân nông thôn, cũng như xem xét việc hình thành DLXH từ những luồng ý kiến trên là rất quan trọng Đó là những lý do khiến tác giả lựa
chọn đề tài nghiên cứu: “Chợ nông thôn – một không gian công cộng cho sự hình thành
Dư luận xã hội” (nghiên cứu tại chợ Mai Trang và chợ Mộc, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ
An)
2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
2.1 Ý nghĩa khoa học
Nghiên cứu tiếp cận từ góc độ lý thuyết về Lĩnh vực công cộng của Habermas để
nhìn nhận, đánh giá sự hình thành DLXH ở các chợ khu vực nông thôn Tìm hiểu quá trình hình thành DLXH về những vấn đề xã hội cụ thể, ngoài ra còn tìm hiểu chủ đề, thời gian, nguồn thông tin,… thảo luận của người dân
2.2 Ý nghĩa thực tiễn
Nghiên cứu nhằm tìm hiểu quá trình hình thành DLXH ở các chợ thuộc khu vực nông thôn tỉnh Nghệ An qua đó tác giả mong muốn kết quả nghiên cứu sẽ giúp cho các nhà nghiên cứu về DLXH, các nhà hoạch định chính sách hiểu rõ vai trò, tầm quan trọng của chợ nông thôn trong việc tạo môi trường cho sự giao tiếp, thảo luận, trao đổi thông tin để từ đó hình thành nên những luồng ý kiến thống nhất về một vấn đề chung;
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu nhằm tìm hiểu thành phần người dân tham gia vào quá trình trao đổi, thảo luận ở chợ nông thôn; các vấn đề mà người dân quan tâm, thảo luận; nguồn thông tin cho các thảo luận; tác động của truyền thông đại chúng đối với quá trình hình thành DLXH Đặc biệt, nghiên cứu nhằm tìm hiểu mô hình, con đường lan truyền của một số vấn đề xã hội cụ thể giữa các cá nhân thông qua giao tiếp, thảo luận tại chợ tạo thành ý kiến chung và tạo cơ sở hình thành nên DLXH
- Tìm hiểu cơ cấu, thành phần của người dân tham gia vào các cuộc thảo luận
- Xác định được những chủ đề được người dân quan tâm chú ý và đem ra thảo luận
- Đưa ra nguồn thông tin của những chủ đề trên
- Tìm hiểu con đường lan truyền thông tin từ cá nhân này đến cá nhân khác trong quá trình thảo luận ở chợ
4 Đối tƣợng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu: Sự hình thành Dư luận xã hội ở nông thôn thông qua
không gian công cộng là chợ nông thôn
4.2 Khách thể nghiên cứu:
+ Những người kinh doanh ở chợ
+ Những người mua hàng, sử dụng dịch vụ ở chợ
Trang 35 Câu hỏi nghiên cứu
1 Chủ thể của DLXH: Đặc điểm xã hội của những người tham gia thảo luận ở
hai chợ Mai Trang và chợ Mộc?
2 Khách thể của DLXH:
- Người dân thường quan tâm, thảo luận những vấn đề nào? Có sự khác nhau về vấn đề thảo luận giữa hai chợ của hai xã hay không?
- Nguồn thông tin của các vấn đề thảo luận là từ đâu?
3 Quá trình hình thành DLXH: Con đường lan truyền thông tin trong cuộc thảo luận,
trao đổi giữa các cá nhân dẫn đến hình thành DLXH diễn ra như thế nào? Có sự khác nhau giữa chợ Mai Trang và chợ Mộc không?
6 Giả thuyết nghiên cứu
- Người dân có giới tính, độ tuổi, trình độ học vấn khác nhau thì sự tham gia thảo
luận khi đi chợ Mai Trang và chợ Mộc của họ cũng khác nhau
- Khi thảo luận tại hai chợ, người dân quan tâm đến nhiều chủ đề, trong đó có: giá cả hàng hóa, sự kiện trong xóm làng, thời sự,… Mức độ quan tâm tới các chủ đề này của người dân ở chợ Mai Trang khác với người dân ở chợ Mộc
- Nguồn thông tin cho các chủ đề thảo luận từ truyền thông đại chúng, giao tiếp cá nhân và từ việc bản thân trực tiếp chứng kiến hay xảy ra trong đời sống gia đình
- Con đường lan truyền thông tin tại chợ diễn ra khá phức tạp, đan chéo và khó kiểm soát
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp phân tích tài liệu
Các tài liệu được sử dụng trong nghiên cứu gồm: Báo cáo tình hình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương; niên giám thống kê của huyện Nghi Lộc – tỉnh Nghệ An; số liệu từ ban quản lý chợ hai xã Nghi Xuân và Nghi Thái;…
7.2 Phương pháp quan sát
Quan sát có sự ghi chép nhằm xây dựng ý tưởng cho nghiên cứu cũng như hiểu rõ cách thức, nguồn thông tin, thành phần tham gia thảo luận trong quá trình hình thành DLXH tại chợ nông thôn
Các loại quan sát được sử dụng trong nghiên cứu:
- Quan sát thành phần của những người tham gia thảo luận ở chợ
- Quan sát cách thức trao đổi bàn bạc, thái độ của người dân khi thảo luận
- Quan sát quá trình trao đổi, thảo luận, chuyển tải thông tin về một vấn đề xã hội
từ cá nhân này sang cá nhân khác
Trang 47.3 Phương pháp phỏng vấn sâu
Đây là phương pháp chủ yếu, quan trọng nhất của nghiên cứu Tác giả tiến hành điều tra, thu thập thông tin bằng đề cương các nội dung cần thu thập với mẫu thuận tiện Tiến hành phỏng vấn 40 trường hợp gồm:
- Những người kinh doanh ở chợ:
Chợ Mai Trang: 6 người; Chợ Mộc: 8 người
- Những người mua hàng, sử dụng dịch vụ ở chợ
Chợ Mai Trang: 13 người; Chợ Mộc: 11 người
- Những người trông xe, cán bộ quản lý chợ
Chợ Mai Trang: 1 người; Chợ Mộc: 1 người
Cơ cấu giới tính của mẫu định tính:
- Chợ Mai Trang: 4 nam; 16 nữ
- Chợ Mộc : 3 nam; 17 nữ
7.4 Phương pháp trưng cầu ý kiến bằng bảng hỏi
Những thông tin thu thập được từ phương pháp trưng cầu ý kiến bằng bảng hỏi mang tính định lượng sẽ bổ sung bằng chứng cho việc chứng minh những luận điểm của
đề tài Số người được hỏi: 120 người (60 trường hợp ở xã Nghi Xuân, 60 trường hợp ở
xã Nghi Thái) Mẫu bảng hỏi được trình bày trong mục Phụ lục
Cơ cấu mẫu khảo sát định lượng (đơn vị tính: %)
Trang 5Nội trợ 6,7 8,3
NỘI DUNG CHÍNH CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Các khái niệm công cụ
1.1.1.1 Dư luận xã hội
- DLXH chính là ý kiến còn lại sau quá trình thảo luận trao đổi trong xã hội Nói cách khác nó là kết quả của quá trình thảo luận xã hội Quá trình thảo luận này dài hoặc ngắn và theo hình thức nào tùy theo bối cảnh thời sự - kinh tế - xã hội và đặc điểm văn hóa và tính thuần nhất của mỗi quốc gia [32, tr.46]
1.1.1.2 Tin đồn
Theo Allport và Postman, hai nhà tâm lý học xã hội người Mỹ thì tin đồn là “một
sự khẳng định về một chủ đề được quan tâm mà không có đủ bằng chứng đáng tin cậy được đưa ra”… tốc độ lan truyền của tin đồn “về một chủ đề lan truyền trong một nhóm,
tỷ lệ thuận với tầm quan trọng và sự mập mờ của chủ đề này trong cuộc sống các thành viên đó” [32, tr.54-55]
1.1.1.3 Quá trình hình thành của Dư luận xã hội
Quá trình phát triển DLXH là một quá trình biện chứng Quá trình hình thành DLXH có các giai đoạn sau:
1 Các cá nhân biết đến sự kiện/vấn đề
2 Hình thành ý kiến cá nhân trên cơ sở tâm thế và tiền tâm thế của họ Có thể nhận thấy rằng giai đoạn 1 và 2 diễn ra gần như đồng thời
3 Sự tương tác các ý kiến, tạo thành ý kiến chung của nhóm nhỏ rối tới nhóm lớn
4 Hình thành ý kiến chung gọi là DLXH
Tuy nhiên, đến đây, sự phát triển DLXH không phải đã dừng lại mà tiếp tục Nó phụ thuộc cách thức giải quyết (những vấn đề mà DLXH đề cập đến)
5.1 Nếu vấn đề DLXH đề cập tới được giải quyết triệt để và thoả đáng, DLXH sẽ theo hướng bị triệt tiêu, hình thành DLXH mới ủng hộ cách giải quyết
5.2 Nếu vấn đề không được giải quyết triệt để và thoả đáng, thì một mặt, DLXH
cũ vẫn tồn tại và cường độ được tăng cường, mặt khác, xuất hiện DLXH mới về cách thức giải quyết [32, tr.191-192]
1.1.1.4 Không gian công cộng
Không gian công cộng là không gian phục vụ chung cho nhu cầu của nhiều người Có hai thể loại không gian công cộng chính:
- Không gian “vật thể” ví dụ như quảng trường, đường phố, công viên;
- Không gian “phi vật thể” ví dụ như các diễn đàn trên Internet, hay các cuộc đối thoại tranh luận trên báo chí, tivi
Sự hình thành, phát triển, và thay đổi của không gian công cộng phụ thuộc vào sự phát triển và đặc điểm của đời sống công cộng, vốn không giống nhau giữa các nền văn hóa khác nhau và ở các thời điểm khác nhau [43]
Trang 61.1.1.5 Chợ nông thôn
- Chợ là “nơi gặp nhau giữa cung và cầu các hàng hoá, dịch vụ, vốn; là nơi tập trung hoạt động mua bán hàng hoá giữa người sản xuất, người buôn bán và người tiêu dùng Quy mô, tính chất của chợ phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế Chợ có vai trò chủ yếu là nơi tiêu thụ hàng hoá, đồng thời cũng có ảnh hưởng kích thích ngược lại đối với sản xuất Quy mô và tính chất của chợ rất đa dạng: có chợ nông thôn tự sản tự tiêu,
có loại chợ mang tính chất khu vực hay một vùng rộng lớn Thông thường, mặt hàng mua bán ở chợ rất phong phú, nhiều loại Nhưng cũng có chợ chỉ mua bán những mặt hàng nhất định như chợ trâu bò, chợ gạo, chợ vải, Tuỳ theo điều kiện, địa điểm và nhu cầu, Chợ có thể họp hằng ngày, nhưng cũng có chợ chỉ họp theo phiên nhất định trong tháng, có chợ một năm chỉ họp mấy ngày Tết Vì vậy, có thể xem chợ là sự phản ánh trình độ phát triển và nếp sống kinh tế - xã hội của một địa phương” [36, tr.486]
- Chợ nông thôn là chợ xã của các huyện và ở khu vực ngoại thành, ngoại thị [18, tr.1]
1.1.2 Chợ nông thôn dưới góc nhìn từ lý thuyết về lĩnh vực công cộng của Jürgen Habermas
Jürgen Habermas (sinh 18/06/1929) là một nhà xã hội học và triết học người Đức Ông được biết đến với nghiên cứu khái niệm lĩnh vực công cộng trong tác phẩm The Structural Transformation of the Public Sphere (Sự biến đổi cấu trúc của lĩnh vực công cộng) Các tác phẩm của ông tập trung vào cơ sở của lý thuyết xã hội và nhận thức luận, những phân tích về các xã hội tư bản tiên tiến và nền dân chủ, pháp quyền trong phạm vi phát triển văn hóa - xã hội và thời sự đương thời, đặc biệt là thời sự Đức [45]
J.Habermas là người phát triển khái niệm lĩnh vực công cộng (public spheres)
Theo Habermas, lĩnh vực công cộng là “một vũ đài và là nơi chốn thoải mái để các công dân tranh luận, cân nhắc thiệt hơn, thoả thuận thống nhất và hành động” [32, tr.87] Tại
đây, các cá nhân có thể chia sẻ quan điểm của mình một cách tự do với nhau Các lĩnh vực công cộng là một khu vực trong đời sống xã hội nơi mọi người có thể gặp gỡ nhau
và tự do thảo luận và xác định các vấn đề xã hội, và qua đó ảnh hưởng đến cuộc thảo
luận về hành động thời sự Các lĩnh vực công cộng có thể được xem như là “một nhà hát trong các xã hội hiện đại, trong đó sự tham gia thời sự được thể hiện qua các phương tiện nói chuyện” và “một lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó ý kiến công chúng có thể được hình thành” [46]
Không gian công cộng (public space) là không gian mà ở đó các cá nhân có thể thảo luận về các vấn đề thuộc địa hạt “lĩnh vực công cộng” (public sphere), tức là không gian công cộng chính là môi trường thuận lợi, là nơi chốn lý tưởng cho các cá nhân đến, gặp gỡ và bàn luận về các chủ đề thuộc lĩnh vực công cộng Chợ nông thôn là một không gian công cộng khá rộng lớn với đầy đủ các thành phần dân cư Mọi người có thể tự do
đi vào mua bán cũng như bàn bạc, trao đổi thông tin Theo quan điểm của Habermas thì chợ chính là không gian công cộng cho các cá nhân thảo luận các vấn đề thuộc địa hạt của lĩnh vực công cộng
Trang 71.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Lƣợc sử tình hình nghiên cứu
- Nghiên cứu về không gian công cộng
Các nghiên cứu về không gian công cộng hiện nay chủ yếu là những nghiên cứu thuộc lĩnh vực xây dựng, kiến trúc, quy hoạch quản lý đô thị Nghiên cứu về không gian theo hướng khoa học xã hội rất ít Trước tiên, phải kể đến nghiên cứu của Nguyễn Quý
Thanh – Trịnh Ngọc Hà với đề tài: “Không gian bán công cộng và sự hình thành DLXH: nghiên cứu trường hợp quán cà phê Hà Nội” Nghiên cứu này tập trung vào sự hình
thành DLXH thông qua không gian bán công cộng là quán cà phê
Nghiên cứu của Mai Văn Hai – Nguyễn Hồng Giang với đề tài: “Không gian công cộng dưới góc nhìn của cư dân trong các khu đô thị mới xây ở Hà Nội gần đây”
(Nghiên cứu trường hợp khu đô thị mới Văn Quán, Hà Đông, Hà Nội) Qua việc khảo sát ở khu đô thị mới Văn Quán, Hà Nội đề tài đã mô tả thực trạng của việc xây dựng, sử dụng cũng như tâm tư, nguyện vọng của cư dân đối với không gian công cộng trong các khu cư trú của họ
Những nghiên cứu của ngành xây dựng, kiến trúc về không gian công cộng có thể
kể đến nghiên cứu của Phạm Trọng Thuật (2002): “Tổ chức không gian công cộng trong đơn vị ở đô thị tại Hà Nội”, luận án tiến sĩ kiến trúc, trường Đại học Kiến trúc Hà Nội
Trên cơ sở khảo sát thực tế, luận án đã xác định thực trạng cụ thể của hệ thống không gian công cộng tại đơn vị xây dựng có quy hoạch từ trước đến nay
- Nghiên cứu về sự hình thành DLXH
Đề tài nghiên cứu cấp viện năm 2008 của Viện Xã hội học trực thuộc Viện Khoa
học Xã hội Việt Nam do Trần Cao Sơn làm chủ nhiệm: “Bước đầu tìm hiểu Dư luận xã hội ở nông thôn” (trường hợp Tân Hồng – Phù Lưu, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh)
Nghiên cứu DLXH nông thôn để nhận biết suy nghĩ, nguyện vọng, quan điểm của người nông dân là khâu không thể thiếu trong xây dựng chính sách [29]
Đề tài nghiên cứu khoa học do Nguyễn Đình Tấn làm chủ biên “Đánh giá qua điều tra DLXH về cải cách hành chính theo mô hình “một cửa” ở Đắc Lắc” đã đưa ra
những ý kiến, đánh giá của người dân với các thủ tục hành chính Cụ thể là sự phản ánh, nhận xét của người dân về thái độ và hành vi của các cán bộ hành chính trong quá trình tiếp dân để giải quyết các thủ tục hành chính [30]
Đề tài của Trần Thị Hồng Thúy –Ngọ Văn Nhân làm chủ nhiệm: “Tác động của DLXH đối với ý thức pháp luật của đội ngũ cán bộ cấp xã phường trên địa bàn HN” đã
phân tích thực trạng, tác động của DLXH đối với ý thức pháp luật của đội ngũ cán bộ cấp xã, bao gồm tác động tích cực và tiêu cực và các giải pháp sử dụng DLXH để nâng cao ý thức pháp luật của cán bộ cấp xã trên địa bàn HN
- Nghiên cứu về chợ nông thôn
Cuốn sách “Chợ quê trong quá trình chuyển đổi” của Lê Thị Mai là một trong
những nghiên cứu tiêu biểu về chợ nông thôn, là công trình được biên soạn trên cơ sở
luận án tiến sĩ xã hội học năm 2003 với đề tài “Chợ nông thôn châu thổ Sông Hồng trong quá trình chuyển đổi kinh tế - xã hội” Nghiên cứu này tập trung vào việc tìm hiểu
nguồn gốc xã hội của chợ quê; cấu trúc xã hội các quan hệ thương mại và hành vi ứng
Trang 8xử của chủ thể kinh tế tại chợ quê; tìm hiểu những kiểu/ mô hình hành vi kinh tế khác nhau trước tác động của những yếu tố can thiệp,…[17, tr.12]
Nghiên cứu của Lê Thái Thị Băng Tâm và Phạm Thị Thanh Huyền: “Chợ nông thôn Bắc Bộ trong phát triển kinh tế thị trường ở nông thôn Việt Nam – Nghiên cứu trường hợp tại chợ cây số 6 – xã Hóa Thượng – Đồng Hỷ - Thái Nguyên” Chợ nông thôn Bắc Bộ có ảnh hưởng rất lớn làm biến đổi quá trình sản xuất – lưu thông hàng hóa
và lối sống của cộng đồng địa phương [13]
Những nghiên cứu trên tập trung vào những vấn đề: vai trò, tác động của DLXH đối với một lĩnh vực cụ thể; không gian công cộng dưới góc độ quản lý đô thị; không gian bán công cộng và sự hình thành DLXH; vai trò của chợ quê trong hoạt động sản xuất, kinh doanh tức là quan tâm tới chức năng kinh tế của chợ còn chức năng văn hóa –
xã hội chưa được quan tâm nhiều,… chưa có nghiên cứu nào tập trung vào nghiên cứu quá trình hình thành DLXH thông qua không gian công cộng là chợ nông thôn
1.2.2 Bối cảnh địa bàn nghiên cứu
1.2.2.1 Huyện Nghi Lộc – tỉnh Nghệ An
Nghi Lộc là một huyện ven biển ở tỉnh Nghệ An Huyện lỵ là thị trấn Quán Hành Huyện Nghi Lộc phía Đông trông ra biển Đông và giáp thị xã Cửa Lò, phía Đông Nam giáp huyện Nghi Xuân (Hà Tĩnh), phía Nam giáp thành phố Vinh và huyện Hưng Nguyên, phía Tây Nam giáp huyện Nam Đàn, phía Tây giáp huyện Đô Lương, phía Tây Bắc giáp huyện Yên Thành, và phía Bắc giáp huyện Diễn Châu Năm 2008: diện tích tự nhiên trên 34.000 ha, dân số hơn 200.000 nhân khẩu
Huyện Nghi Lộc hiện nay có 27 chợ, với mức độ sầm uất và phát triển khác nhau Hiện tại trên địa bàn huyện chưa có siêu thị, hoạt động mua bán của người dân chủ yếu diễn ra tại chợ
1.2.2.2 Xã Nghi Xuân và xã Nghi Thái – huyện Nghi Lộc
* Xã Nghi Xuân
Nghi Xuân là xã nằm phía Đông Nam của huyện Nghi Lộc Phía Đông giáp Phường Nghi Hòa, Nghi Hải – thị xã Cửa Lò, phía Tây giáp xã Nghi Phong, phía Nam giáp xã Phúc Thọ, phía Bắc giáp xã Nghi Thạch Xã được chia thành 16 đơn vị xóm hành chính, với nhiều ngành nghề khác nhau, là địa danh có truyền thống cách mạng kiên cường, có 2 di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia, đã hai lần được Nhà nước phong tặng danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân
Mức sống người dân nhìn chung khá cao, đặc biệt là khu vực thị tứ của xã (mặt đường Vinh – Cửa Hội), truyền thông đại chúng phát triển với hệ thống loa phát thanh của xóm, truyền hình cáp – kỹ thuật số, mạng internet phổ biến ở các hộ dân khu vực này Chợ Mai Trang có diện tích nằm toàn bộ trên địa bàn xã Nghi Xuân
* Xã Nghi Thái
Nghi Thái là một xã thuộc vùng biển nằm ở phía Đông Nam huyện Nghi Lộc, cách thành phố Vinh 15km, phía Bắc và phía Nam xã có đường tỉnh lộ 535 và đường Sinh Thái Nam Đàn – Cửa Hội chạy qua thuận lợi cho việc lưu thông, phát triển kinh tế
- xã hội, dịch vụ, thương mại, du lịch, thu hút lao động trong giai đoạn mới Phía Đông
Trang 9giáp xã Phúc Thọ huyện Nghi Lộc, phía Tây giáp xã Hưng Lộc – thành phố Vinh, phía Nam giáp xã Hưng Hòa – thành phố Vinh, phía Bắc giáp xã Nghi Phong
Hệ thống phương tiện truyền thông đại chúng ở mức trung bình, chủ yếu là: truyền hình, radio, báo in,… internet chưa phát triển, quán internet ít, không có nhiều hộ gia đình nối mạng cá nhân Chợ Mộc có diện tích nằm toàn bộ trên địa bàn xã Nghi Thái
CHƯƠNG 2: SỰ HÌNH THÀNH DƯ LUẬN XÃ HỘI THÔNG QUA KHÔNG GIAN CÔNG CỘNG LÀ CHỢ NÔNG THÔN 2.1 Một số nét về chợ nông thôn ở hai xã Nghi Xuân – xã Nghi Thái
- Chợ được xây dựng khang trang hơn
nhiều so với những chợ nông thôn
thuộc các xã khác của huyện Nghi Lộc
- Diện tích 8.000 m2 Số hộ kinh doanh
thường xuyên khoảng 750 – 800 hộ
- Chợ họp 30 phiên/tháng, họp cả ngày
- Mỗi phiên chợ có khoảng 2000 lượt
người đến trao đổi, mua bán hàng hóa
- Mỗi tháng nộp cho ngân sách xã
khoảng 10 triệu đồng
- Cơ sở hạ tầng của chợ Mộc khá sơ sài, không khang trang, rộng rãi như chợ Mai Trang, chủ yếu là các mái che tạm bợ
- Diện tích 4.542 m2 Số hộ kinh doanh thường xuyên từ 350 – 500 hộ
- Chợ chỉ họp một buổi, vào buổi sáng, khoảng từ 6h đến 10h sáng
- Mỗi phiên chợ có hơn 1000 lượt người đến trao đổi, mua bán hàng hóa
- Mỗi tháng thu lệ phí khoảng 6,3 triệu đồng
2.2 Quá trình hình thành Dư luận xã hội tại chợ nông thôn
2.2.1 Chủ thể của Dư luận xã hội
Chủ thể của DLXH là đơn vị xã hội mà ý kiến được coi là dư luận (ý kiến) xã hội chứ không phải là một dạng ý kiến nào khác [32, tr.48]
Qua khảo sát bằng phỏng vấn sâu, quan sát chúng tôi nhận thấy phụ nữ thường hay trao đổi, thảo luận ở chợ hơn nam giới; những người thường xuyên đi chợ hay trao đổi, nói chuyện với những người khác hơn là những người ít đi chợ, những người có độ tuổi cao hơn thường nói chuyện, trao đổi thảo luận nhiều ở chợ hơn những người có độ tuổi thấp hơn,… Đặc tính của người dân nông thôn là hòa nhã, dễ gần, đi chợ họ có thể hỏi thăm, nói chuyện với những người không quen thân Tuy nhiên để nói chuyện lâu và
truyền tải những thông tin mà người dân cho là “bí mật” hay “quan trọng” thì họ chỉ
trao đổi với những người họ cho là đáng tin cậy, hơn nữa chỉ những người thân quen thì
họ mới dành thời gian dài để trao đổi, thảo luận với nhau: “…chủ yếu là trao đổi qua lại với những người bán hàng xung quanh, còn khách lạ đến ăn thì mình cũng không nói chuyê ̣n nhiều , nếu là khách quen thì cũng nói chuyện về gia đình , sức khỏe và nhiều chuyê ̣n khác” (PVS số 12, nữ, 31 tuổi, bán bánh và mía ở chợ, xóm Xuân Tân – xã
Nghi Xuân) Trong giao tiếp nam giới và nữ giới có những điểm khác nhau Phụ nữ
Trang 10thường rất dễ biểu lộ cảm xúc, đặc biệt là những thông tin mang tính “lây lan”, họ cũng
có khuynh hướng dễ bắt chuyện Khi thảo luận đàn ông hay thích đưa ra các cuộc tranh luận và tạo ra các chủ đề để tranh luận, trong khi nữ giới thường “buôn dưa lê” với câu chuyện của mình
Không chỉ khác nhau về cơ cấu nam và nữ khi tham gia thảo luận, mà giữa nam
và nữ cũng có sự quan tâm khác nhau đến các vấn đề xã hội Theo quan điểm của các nhà tâm lý học, về mặt nhận thức nam giới chú ý đến cái tổng quát, cốt yếu; lý luận theo nguyên tắc, phán đoán khách quan hơn, vì dựa trên sự kiện, coi việc làm quan trọng hơn lời nói Còn nữ giới lại chú ý đến mọi chi tiết, suy nghĩ bằng trực giác, phán đoán thường chủ quan hơn, vì dựa trên tình cảm, xem lời nói là quan trọng
Không chỉ có sự khác nhau về giới tính, trình độ học vấn trong việc lựa chọn các vấn đề
xã hội để thảo luận, mà những người có độ tuổi khác nhau thì việc lựa chọn các vấn đề xã hội thảo luận cũng khác nhau Độ tuổi của các tầng lớp nhân dân cũng liên quan đến quá trình hình thành DLXH Ở các độ tuổi khác nhau, chủ thể của DLXH có nhu cầu, kinh nghiệm sống, mục đích sống khác nhau Công chúng trẻ tuổi hay hướng sự đánh giá, phán xét vào việc học hành, nghề nghiệp, thăng tiến, họ chưa đủ kinh nghiệm từng trải về thời sự để có thể tham gia đánh giá, phán xét các sự kiện, hiện tượng Ở độ tuổi từ 30 đến 50 tuổi, công chúng có kinh nghiệm sống, từng trải, do đó họ đánh giá vấn đề bình tĩnh hơn, sâu sắc hơn, thận trọng hơn [14, tr.32]
Nhìn chung, ở hai chợ Mai Trang và chợ Mộc có sự khác nhau về đặc điểm chủ thể của DLXH, cụ thể là về giới tính, độ tuổi, trình độ học vấn Giữa nam và nữ có sự quan tâm khác nhau tới các chủ đề thảo luận ở chợ, sự khác biệt này ở chợ Mai Trang rõ rệt hơn so với chợ Mộc Nữ giới thường quan tâm tới những sự kiện liên quan tới đời sống của họ, còn nam giới lại thường quan tâm tới các vấn đề thời sự, thời sự - xã hội Những người có độ tuổi càng cao càng có sự quan tâm tới các vấn đề sức khỏe, y tế Những người có trình độ học vấn cao thường quan tâm tới các vấn đề thời sự trong nước, thời sự quốc tế, còn những người có trình độ học vấn thấp hơn lại thường quan tâm tới những sự kiện xảy ra trong xóm làng hay vấn đề văn hóa lối sống Tuy nhiên tất
cả đều có một điểm chung là dành mối quan tâm đặc biệt cho vấn đề giá cả hàng hóa và
ít quan tâm nhất tới vấn đề tôn giáo tín ngưỡng
2.2.2 Khách thể của Dư luận xã hội
Khách thể của DLXH đó chính là những sự kiện, vấn đề mà nó đề cập đến Xét
về bản chất đó là sự kiện, vấn đề mà người ta cảm thấy là có ý nghĩa với họ hoặc động chạm tới lợi ích chung Nhưng nếu như người tiếp cận thông tin không tìm thấy ý nghĩa khi cá nhân hóa thông tin về sự vi phạm lợi ích chung thì về cơ bản họ sẽ không phản ứng hoặc phản ứng không mạnh mẽ [32, tr.51]
Theo kết quả khảo sát thì các cuộc thảo luận, trao đổi thông tin của người dân ở chợ Mai Trang và chợ Mộc tập trung vào các chủ đề sau:
Trang 11Sơ đồ 2.1: Các chủ đề thảo luận của người dân ở chợ Mai Trang và chợ Mộc
Sau đây là bảng số liệu thể hiện các vấn đề người dân quan tâm thảo luận ở hai
chợ:
Bảng 2.5: Các vấn đề thảo luận ở hai chợ (Đơn vị tính: %)
4 Sự kiện xảy ra trong xóm làng 58,3 78,3 - 20,0
Mức độ quan tâm thảo luận các vấn đề ở chợ của người dân ở hai chợ có sự khác
nhau Trong khi người đi chợ ở chợ Mai Trang lựa chọn thảo luận nhiều tới các vấn đề:
1, 3, 5, 2, 7 thì người đi chợ ở chợ Mộc lại lựa chọn thảo luận nhiều tới các vấn đề: 1, 4,
2, 7
Trong đó, có thể nhận thấy vấn đề giá cả hàng hóa là vấn đề được đại đa số
người dân ở cả hai chợ quan tâm Số người đi chợ quan tâm thảo luận về vấn đề giá cả
hàng hóa ở chợ Mai Trang là 93,3%, trong khi đó mức độ quan tâm tới chủ đề này của
người dân chợ Mộc cao hơn 6,7% khi tất cả người dân đi chợ đều lựa chọn thảo luận
chủ đề này (100,0%), người dân dành nhiều quan tâm tới vấn đề giá cả hàng hóa khi họ
thảo luận ở chợ: “khi đi chợ có lẽ nhà bác quan tâm nhiều nhất đến giá cả hàng hóa
Dạo này hàng hóa đắt đỏ, cái gì cũng tăng giá, nên người dân lại càng quan tâm hơn
nữa giá cả tăng cao làm cho người dân khó khăn hơn…” (PVS số 1, nam, 70 tuổi,
nông dân, xóm Phong Hồ, xã Nghi Xuân)
Khách thể của DLXH ở chợ Mai Trang và chợ Mộc có sự khác nhau Người dân
ở chợ Mai Trang quan tâm nhiều hơn tới các vấn đề thời sự, chính trị, còn người dân ở
chợ Mộc lại quan tâm nhiều hơn tới các chủ đề sự kiện trong xóm làng hay văn hóa lối
sống Chợ Mộc là chợ mang tính chất truyền thống, có từ rất lâu đời, hàng quán trong
Vấn đề giá cả hang hóa
Chủ đề thảo luận
Văn hóa lối sống Thời sự quốc tế Thời sự trong nước