Ảnh hưởng về chính trị, kinh tế và Văn hóa xã hội của chính sách của Mỹ, Trung Quốc, Nga và Nhật Bản đối với bán đảo Triều Tiên từ 1991 đến nay.. Bên cạnh mối quan hệ Liên Triều lúc thăn
Trang 1Chính sách của các nước lớn (Mĩ, Trung Quốc, Nga, Nhật Bản) đối với bán đảo Korea từ khi
chiến tranh lạnh kết thúc đến nay
Nguyễn Thị Thu Thảo
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn; Khoa Đông Phương học
Chuyên ngành: Châu Á học; Mã số: 60 31 50 Người hướng dẫn: PGS.TS Lê Đình Chỉnh
Năm bảo vệ: 2012
Abstract Nghiên cứu chính sách của các nước lớn đối với bán đảo Triều Tiên trong thời
kỳ 1945-1953, bán đảo Triều Tiên trong thời kỳ 1953-1991, hai nhà nước Triều Tiên trong thời kỳ chiến tranh lạnh 1953-1990 Chính sách của Mỹ, Trung Quốc, Nga và Nhật Bản đối với bán đảo Triều Tiên từ 1991 đến nay Ảnh hưởng về chính trị, kinh tế và Văn hóa xã hội của chính sách của Mỹ, Trung Quốc, Nga và Nhật Bản đối với bán đảo Triều Tiên từ 1991 đến nay
Keywords Khu vực học; Châu Á học ; Chính trị
Sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, bán đảo Triều Tiên bước vào giai đoạn mới với những quan hệ mới nảy sinh Bên cạnh mối quan hệ Liên Triều lúc thăng, lúc trầm thì chính sách của các nước lớn như Mỹ, Nhật, Trung Quốc và Nga tiếp tục có vao trò quan trọng tác động đến tiến trình hoà giải, hợp tác và thống nhất của hai nhà nước trên vùng bán đảo Triều Tiên
Tuy nhiên cũng cần thấy rằng, khu vực Đông Bắc Á là một khu vực nhạy cảm về chính trị và có tầm quan trọng chiến lược trong quan hệ quốc tế của khu vực và thế giới Có thể
Trang 2thấy, sau hơn hai thập kỷ chiến tranh lạnh kết thúc, tình hình chính trị trên vùng bán đảo Triều Tiên vẫn diễn biến theo chiều hướng phức tạp, quan hệ giữa hai miền lúc thăng, lúc trầm nhất là quan hệ về chính trị và vấn đề hạt nhân của CHDCND Triều Tiên
Từ những nội dung nêu trên có thể thấy rằng, vấn đề thống nhất bán đảo Triều Tiên, tác động của các nước lớn đối với vùng bán đảo này là một chủ đề khoa học quan trọng cần phải được nghiên cứu một cách hệ thống và toàn diện nhằm góp phần vào sự phát triển chung của xu thế hội nhập quốc tế hiện nay
Từ những nội dung nêu trên, chúng tôi cho rằng, chủ đề khoa học này cần phải được
nghiên cứu toàn diện và hệ thống, với tinh thần đó, tôi xin chọn đề tài: “Chính sách của
các nước lớn (Mỹ, Trung Quốc, Nga, Nhật Bản) đối với bán đảo Triều Tiên từ năm 1991 cho đến nay ” làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ chuyên ngành châu Á học của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài được tập trung vào một số nội dung chủ yếu sau:
- Thứ nhất, mục tiêu chủ yếu của đề tài dược tập trung vào việc nêu và phân tích những chính sách của các nước như Mỹ, Nhật Bản, Nga và Trung Quốc đối với hai nhà nước trên vùng bán đảo Triều Tiên sau khi chiến tranh lạnh kết thúc đến nay
- Thứ hai, trên cơ sở nêu và phân tích chính sách của các nước lớn nêu trên, đề tài luận văn tập trung làm rõ những tác động tích cực và những mặt hạn chế của những nước này đến tình hình hai nhà nước trên vùng bán đảo Triều Tiên
- Thứ ba, đề tài sẽ rút ra một số kết luận bước đầu về những thách thức và triển vọng của quá trình hoà hợp và thống nhất đất nước của hai miền trên vùng bán dảo trong tương lai
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Bán đảo Triều Tiên với vị trí địa-chiến lược ở khu vực Đông Bắc Á là nơi diễn ra những cuộc đụng đầu lịch sử mang tính quốc tế sau chiến trang thế giới thứ hai đến nay
đã và đang trở thành mối quan tâm hàng đầu của khu vực và thế giới
Đề cập đến chủ đề chính sách của các nước lớn, cũng như quan hệ giữa hai miền trên vùng bán đảo Triều Tiên, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề này Chẳng hạn, có một số bài nghiên cứu của các tác giả nước ngoài đã được dịch hoặc
biên soạn bằng tiếng Việt như “Nga và cuộc khủng hoảng trên bán đảo Triều Tiên” của tiến sĩ sử học Denisov trên nguyệt san “Đời sống quốc tế” của Nga, “Đối đầu Mỹ-Triều
và địa chính trị Đông Nam Á năm 2003” của Quách Phi Hùng (Trung Quốc), “Chiến
Trang 3lược đối ngoại lâu dài của Trung Quốc” của chuyên viên Viện quan hệ quốc tế- Đại học
nhân dân Trung Quốc, “Những thay đổi của Bắc Triều Tiên và quan hệ Trung -Triều”
của giáo sư Ri Nam Ju (Hàn Quốc), “Kinh tế Hàn Quốc đang trỗi dậy”, của Byung Nak Song, Nxb Thống kê, Hà Nội 2002… Những tác phẩm nêu trên đã có nhiều nội dung liên quan đến chủ đề nghiên cứu
Liên quan đến chủ đề nghiên cứu còn có nhiều bài viết trên các tạp chí nghiên cứu chuyên ngành tại Việt nam Qua khảo sát chúng tôi có thể thống kê một số bài nghiên
cứu có nội dung lien quan đến chủ đề nghiên cứu gồm: “Một số thông tin về quân chủng
phòng không- không quân Hàn Quốc”trên Tạp chí Kiến thức Quốc phòng hiện đại; số 1,
năm 2001; “Chiến lược phát triển mới của quốc phòng Hàn Quốc”;Tạp chí Khoa học Quân sự; số 12, tháng 12, năm 2001; “Tuyên bố chung Nhật Bản-Hàn Quốc” Tài liệu tham khảo đặc biệt, Việt Nam thông tấn xã, ngày 12.6.2003; “Tuyên bố chung Trung
Quốc- Hàn Quốc” Tài liệu tham khảo đặc biệt…
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu chủ yếu của đề tài là đề cập đến nội dung chủ yếu về chính sách của bốn nước lớn là Mỹ, Nhật, Nga, Trung Quốc đối với Hàn Quốc và CHDCND Triều Tiên từ khi kết thúc chiến tranh lạnh cho đến nay Qua đó có thể thấy được những tác động tích cực và hạn chế của các chính sách đó tới hai nước của bán đảo Triều Tiên và đồng thời cũng cho thấy được mục tiêu của các nước lớn đối với bán đảo Triều Tiên
trong tương lai
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài là hai nhà nước CHDCND Triều Tiên và Hàn Quốc được xoay quanh trục quan hệ chính các nước lớn là Mỹ, Nhật, Nga, Trung Quốc
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu của luận văn này chủ yếu sử dụng phương pháp
mô tả lịch sử và liên ngành Trong đó, phương pháp mô tả lịch sử sẽ giúp cho đề tài hệ thống hóa được nội dung nghiên cứu và có cái nhìn hệ thống về các vấn đề lịch sử Phương pháp nghiên cứu liên ngành còn mở rộng phạm vi nghiên cứu của đề tài, cũng như sắp xếp, xử lý các nguồn tài liệu nghiên cứu Ngoài ra, đề tài còn sử dụng một số phương pháp khác như phương pháp tổng hợp và phân tích…
Trang 46 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo của luận văn, đề tài luận văn được bố cục thành 3 chương như sau:
Chương 1: Vài nét về bán đảo Triều Tiên từ năm 1945 đến năm 1991
Chương 2: Chính sách của Mỹ, Trung Quốc, Nga, Nhật Bản đối với bán đảo
Triều Tiên từ năm 19901đến nay
Chương 3: Ảnh hưởng của chính sách của Mỹ, Trung Quốc, Nga và Nhật Bản
đối với bán đảo Triều Tiên từ năm 1991 đến nay
PHẦN NỘI DUNG Chương 1: VÀI NÉT VỀ BÁN ĐẢO TRIỀU TIÊN TỪ NĂM 1945 ĐẾN 1991
1.1 Chính sách của các nước lớn đối với bán đảo Triều Tiên trong thời kỳ
1945-1953
Giai đoạn nửa sau thế kỷ XX, thế giới loài người tiếp tục phải đối mặt với một cuộc chiến tranh mới- cuộc chiến tranh lạnh diễn ra trên phạm vi thế giới mà nội dung chủ yếu của nó là cuộc chạy đua vũ trang giữa hai hệ thống thế giới với một bên là khối các nước
xã hội chủ nghĩa do Liên Xô đứng đầu và một bên là khối các nước tư bản chủ nghĩa đứng đầu là Mỹ Có thể thấy, cuộc chạy đua vũ trang khi ngấm ngầm, khi công khai cùng với những cuộc chiến tranh khu vực, chiến tranh bộ phận, sản xuất vũ khí hiện đại, chạy đua thám hiểm vũ trụ… đều có sự tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp của hai hệ thống thế giới
Đại chiến thế giới thứ hai kết thúc, Triều Tiên được giải phóng, nhưng vùng bán đảo này lại đặt dưới sự Uỷ trị quốc tế, mà ở đó là thế lực của các cường quốc quốc tế, đại diện là Liên Xô và Mỹ Vậy là, cho đến thời điểm năm 1948, bán đảo Triều Tiên đã xuất hiện hai nhà nước với hai chế độ chính trị xã hội khác nhau và hai hệ tư tưởng đối lập nhau Hai nhà nước này ngoài việc không thừa nhận chế độ của nhau mà còn thường xuyên công kích và muốn lật đổ nhau bằng biện pháp quân sự Từ tháng 6.1950 đến tháng 7.1953, trên vùng bán đảo Triều Tiên đã xảy ra cuộc nội chiến giữa hai miền Nam- Bắc Xét về tính chất, cuộc chiến tranh này không chỉ dừng lại ở một cuộc nội chiến mà
nó chính là một cuộc đụng đầu lịch sử giữa hai hệ thống thế giới trong thời kỳ chiến tranh lạnh giữa một bên là hệ thống xã hội chủ nghĩa do Liên Xô đứng đầu với một bên là hệ
Trang 5thống tư bản chủ nghĩa do Mỹ cầm đầu Sau 3 năm chiến tranh, việc thống nhất bán đảo Triều Tiên vẫn không được giải quyết mà còn làm cho tình hình hai miền bán đảo ngày càng trở nên căng thẳng
1.2 Bán đảo Triều Tiên trong thời kỳ 1953-1991
1.2.1 Chính sách của Mỹ và Nhật Bản
Trong thời gian thực hiện chế độ thác quản ở Nam bán đảo Triều Tiên, Mỹ đã ủng
hộ chế độ của I Seung Man, đàn áp phong trào cánh tả Sau khi chính phủ Đại Hàn Dân Quốc do I Seung Man làm tổng thống, Mỹ là nước đầu tiên công nhận chính phủ này và cũng trong thời gian này, Mỹ cũng ráo riết thúc đẩy cuộc tiến công để thống nhất bán đảo nhằm kìm chế, ngăn chặn sự ảnh hưởng chủ nghĩa cộng sản Đồng thời, Mỹ luôn luôn theo đuổi chính sách thù địch, bao vây, cấm vận với CHDCND Triều Tiên
Nhật xem vùng bán đảo Triều Tiên như một lá chắn chiến lược trước sức ép quân
sự từ Liên Xô và Trung Quốc Sau Đại chiến thế giới lần thứ hai, nhất là trong thời gian chiến tranh lạnh thế giới, ảnh hưởng của Nhật Bản trên thế giới nói chung và bán đảo Triều Tiên là khá mờ nhạt Đối với CHDCND Triều Tiên, trong thời kỳ chiến tranh lạnh, nhìn chung quan hệ giữa Nhật Bản và CHDCND Triều Tiên là căng thẳng về chính trị, nhưng về kinh tế, Nhật Bản vẫn tìm cơ hội tiếp xúc với CHDCND Triều Tiên Nhật Bản
đã được Mỹ làm trung gian hoà giải nên năm 1965, Nhật Bản và Hàn Quốc đã thoả thuận khép lại thù hận quá khứ tiến tới bình thường hoá quan hệ ngoại giao
1.2.2 Vai trò của Liên Xô và Trung Quốc
Trong cuộc nội chiến Nam- Bắc bán đảo Triều Tiên 1950-1953, Liên Xô không chỉ đóng vai trò hậu thuẫn quan trọng giúp CHDCND Triều Tiên về vật chất, vũ khí, phương tiện chiến tranh mà còn đưa quân đội đến giúp CHDCND Triều Tiên chống Mỹ Trong thời kỳ chiến tranh lạnh, Liên Xô thực hiện chính sách hoà bình hữu nghị, hợp tác toàn diện với CHDCND Triều Tiên và chính sách thù địch xa lánh với Hàn Quốc Tuy nhiên, bước vào thập kỷ 1970, nửa đầu thập kỷ 1980, quan hệ Liên Xô- CHDCND Triều Tiên ngày càng xấu đi là do những mâu thuẫn Xô-Trung trong thời gian này, quan hệ Trung - Triều thân thiện thì Liên Xô có dấu hiệu xích lại quan hệ với Hàn Quốc
Đối với Trung Quốc, bán đảo Triều Tiên luôn là địa bàn chiến lược quan trọng của nước này Đứng trên lập trường ngoại giao, Trung Quốc luôn ủng hộ cuộc đấu tranh thống nhất bán đảo Triều Tiên của CHDCND Triều Tiên, không muốn có sự can thiệp
Trang 6của bên ngoài vào bán đảo Triều Tiên, không muốn có một cuộc chiến tranh xảy ra trên vùng bán đảo vì như vậy sẽ lôi cuốn đồng minh vào cuộc chiến tranh hạt nhân nguy hiểm, nhưng về thực chất, Trung Quốc không muốn thống nhất bán đảo Triều Tiên Khi
đề cập đến vấn đề này, nhiều chuyên gia quân sự cho rằng, Trung Quốc muốn giữ nguyên
hiện trạng hai nước Triều Tiên như hiện nay, bởi lẽ, nếu một nước Triều Tiên thống nhất
sẽ làm mất đi ảnh hưởng của Trung Quốc như Việt Nam, hoặc khi quân Mỹ tiếp tục ở lại Hàn Quốc sẽ là một đối trọng với Liên Xô chống lại sự ảnh hưởng của nước này ở châu
Á Rõ ràng là, cũng như Mỹ và Nga, Trung Quốc cũng muốn giữ vai trò ảnh hưởng của
họ ở bán đảo Triều Tiên Trên thực tế, Trung Quốc đã biến bán đảo Triều Tiên thành
“bức tường an ninh” lâu dài của Trung Quốc
1.3 Hai nhà nước Triều Tiên trong thời kỳ chiến tranh lạnh 1953-1990
1.3.1 Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên
Sau khi kết thúc chiến tranh 1950-1953, được sự giúp đỡ của Liên Xô và Trung Quốc, CHDCND Triều Tiên đã khẩn trương bắt tay vào công cuộc phục hồi và phát triển đất nước.Về chính trị, Nhà nước CHDCND Triều Tiên được tổ chức theo chính thể dân chủ nhân dân phục hồi và phát triển đất nước Trên thực tế, cơ quan tối cao của CHDCND Triều Tiên là Đảng Lao động Triều Tiên (KWP) được thành lập năm 10.10 1946 trên cơ
sở hợp nhất của Đảng Cộng sản và Đảng Tân Dân Về quân đội, trong những năm chiến tranh lạnh cũng như hiện nay, CHDCND Triều Tiên luôn phải duy trì một lực lượng quân đội hùng hậu để bảo vệ nền độc lập và xây dựng chế độ XHCN của mình
Đại Hàn Dân Quốc là nhà nước theo chế độ cộng hoà gồm các cơ quan hành pháp, đứng đầu nhà nước là Tổng thống nắm quyền lực cao nhất và Thủ tướng là người đứng đầu chính phủ Nhiệm kỳ Tổng thống là 5 năm được bầu cử theo hình thức phổ thông đầu phiếu Sau khi thành lập nhà nước 15.8.1948 đến năm 1990, Hàn Quốc đã trải qua các nền cộng hoà do các lực lượng quân sự và dân sự thay nhau nắm quyền tổng thống Trước những cuộc đấu tranh, biểu tình của quần chúng nhân dân, nhất là phong trào dân chủ của sinh viên tại Seoul, Incheon, Kwangju, Taegu và Pusan đòi chính phủ sửa đổi hiến pháp, tháng 10 1987, Quốc hội Hàn Quốc thông qua việc sửa đổi hiến pháp, quy định bầu cử trực tiếp tổng thống Ngày 16.12.1987, Roh Tae Woo đã trúng cử với 36 %
số phiếu nhiệm kỳ 5 năm Sau nhiệm kỳ tổng thống của Roh Tae Woo, Đại Hàn Dân
Trang 7Quốc đã bước sang một giai đoạn mới- giai đoạn của nền cộng hoà do các tổng thống dân
sự nắm quyền
Tiểu kết chương 1
Trong lịch sử hình thành và phát triển, bán đảo Triều Tiên luôn là một địa bàn chiếm vị trí chiến lược quan trọng ở khu vực Đông Bắc Á và quốc tế Không phải ngẫu nhiên mà nhiều thập kỷ qua, các cường quốc quốc tế đã biến khu vực này thành nơi tranh chấp khi thì ngấm ngầm, khi thì công khai và đặc biệt là cuộc nội chiến diễn ra trên vùng bán đảo này vào năm 1950-1953 Như vậy, trước sự phức tạp của tình hình quốc tế cuộc chiến tranh 1950-1953 diễn ra trên vùng bán đảo Triều Tiên là một bộ phận của chiến tranh lạnh giữa hai hệ thống thế giới, đã cướp đi sinh mạng của hàng triệu người và để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng khác cho cư dân vùng bán đảo Điều đó cũng giải thích tại sao, đã hơn nửa thế kỷ trôi qua, vùng bán đảo Triều Tiên vẫn là một vùng chính trị nhạy cảm với sự thăng trầm của mối quan hệ quốc tế và khu vực Vấn đề hạt nhân trên vùng bán đảo Triều Tiên hiện nay cũng như mối quan hệ quốc tế thăng trầm trên vùng bán đảo này vẫn là một vấn đề phức tạp, một bài toán khó lý giải cho một viễn cảnh thống nhất trong tương lai
Chương 2: CHÍNH SÁCH CỦA MỸ, TRUNG QUỐC, NGA VÀ NHẬT BẢN ĐỐI
VỚI BÁN ĐẢO TRIỀU TIÊN TỪ 1991 ĐẾN NAY 2.1 Chính sách của Mỹ
2.1.1 Đối với CHDCND Triều Tiên
Sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, chính sách kinh tế của Mỹ đối với CHDCND Triều Tiên luôn phụ thuộc vào tình hình phát triển hạt nhân của CHDCND Triều Tiên Chỉ khi CHDCND Triều Tiên cam kết từ bỏ chương trình phát triển vũ khí hạt nhân thì
Mỹ mới có các chương trình viện trợ kinh tế và ngừng chính sách cấm vận kinh tế đối với
CHDCND Triều Tiên Tuy nhiên, từ sau “hiệp định khung” Giơnevơ 1994, CHDCND
Triều Tiên vẫn tiếp tục phát triển chương trình vũ khí hạt nhân cùng với cuộc khủng hoảng hạt nhân năm 2002, khiến cho quan hệ hai nước càng trở nên căng thẳng Do vậy
mà Mỹ vẫn duy trì chính sách cấm vận kinh tế đối với CHDCND Triều Tiên Chính quyền của Mỹ luôn hy vọng các lệnh trừng phạt của cộng đồng quốc tế, đặc biệt là từ Trung Quốc nước có quan hệ thương mại và đầu tư chủ yếu của CHDCND Triều Tiên, sẽ
Trang 8khiến ông Kim phải ngừng chương trình hạt nhân của mình và ngồi lại bàn đàm phán tìm kiếm một giải pháp mang tính ngoại giao
Trong thời gian gần đây, chính phủ hai nước tăng cường các cuộc giao lưu dân sự, với hy vọng sẽ cải thiện được mối quan hệ hai nước Mỹ đang nỗ lực cải thiện mối quan
hệ với CHDCND Triều Tiên bằng nhiều hoạt động giao lưu, viện trợ về kinh tế nhằm mục đích có thể thuyết phục CHDCND Triều Tiên quay lại vòng đàm phán 6 bên và có những thay đổi trong chương trình phát triển vũ khí hạt nhân theo hướng có lợi cho Mỹ
2.1.2 Đối với Hàn Quốc
Sau chiến tranh lạnh, mối quan hệ liên minh Mỹ- Hàn đang bắt đầu có dấu hiệu giảm dần, đặc biệt là trong quan hệ kinh tế Tuy vậy, Mỹ và Hàn đã giải quyết vấn đề thương mại với thái độ thân thiện và thông qua đối thoại Trong quan hệ buôn bán, Hàn Quốc dần dần chiếm lĩnh thị trường xuất khẩu các mặt hàng điện tử và công nghiệp nặng tại Mỹ, trong khi đó nhập khẩu từ Mỹ chỉ giới hạn một số mặt hàng nông sản Mỹ vẫn phải xem Hàn Quốc là một đối thủ trong cuộc chiến thương mại thời kỳ mới Tuy Mỹ vẫn là đối tác kinh tế quan trọng của Hàn Quốc, nhưng trong bối cảnh và xu thế mới, mối quan hệ Hàn - Mỹ cũng không còn giống trước Giờ đây, quan hệ buôn bán giữa hai nước trở thành quan hệ cạnh tranh, những va chạm thương mại ngày càng tăng
Tóm lại, tại thời điểm hiện nay quan hệ của Mỹ và Hàn Quốc khăng khít hơn bao giờ hết Đặc biệt, trong bối cảnh Quốc hội Mỹ ngày 13.10.2011 vừa thông qua Hiệp định
Tự do Thương mại giữa Mỹ và Hàn Quốc và sau sự ra đi của chủ tịch Kim Jong Il, con trai ông là Kim Jong Un lên lãnh đạo CHDCND Triều Tiên Mỹ đang thắt chặt quan hệ đồng minh với Hàn Quốc và Tổng thống Obama cho rằng điều đó cho thấy Mỹ là một nước trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương
2 2 Chính sách của Nhật Bản
2 2.1 Đối với CHDCND Triều Tiên
Sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, tình hình thế giới và khu vực có nhiều biến đổi
đã tác động nhiều đến chính sách của Nhật đối với CHDCND Triều Tiên Từ năm 1990, Nhật Bản luôn mong muốn được tiếp xúc với CHDCND Triều Tiên tuy nhiên Nhật Bản
đã gặp phải rất nhiều khó khăn, trắc trở Về chính trị- ngoại giao, Nhật Bản luôn có thái
độ tích cực và mong muốn được bình thường hóa với CHDCND Triều Tiên nhưng về mặt an ninh- quân sự Nhật Bản tỏ ra đề phòng và kiềm chế Có thể thấy rằng càng ngày
Trang 9Nhật càng nỗ lực thể hiện thiện chí muốn bình thường hóa quan hệ với CHDCND Triều Tiên Nhật Bản muốn tiến đến một quan hệ toàn diện hơn, cân bằng hơn với CHDCND Triều Tiên, phục vụ lợi ích của Nhật ở khu vực và nâng cao vị thế của Nhật trên trường chính trị quốc tế Tuy vậy trong các chính sách chính trị của Nhật với CHDCND Triều Tiên vẫn thể hiện sự kiềm chế, thận trọng lẫn gay sức ép đối với CHDCND Triều Tiên Sau chiến tranh lạnh Nhật Bản cũng đã thay đổi trong chính sách kinh tế đối với CHDCND Triều Tiên Những chính sách này ít nhiều bị ảnh hưởng bởi vấn đề hạt nhân của CHDCND Triều Tiên Sau khi CHDCND Triều Tiên tuyên bố có vũ khí hạt nhân, trong chính sách kinh tế của Nhật các mặt hàng hạn chế xuất khẩu sang CHDCND Triều Tiên đã được tăng lên
2 2.2 Đối với Hàn Quốc
Mối quan hệ của Nhật Bản với Hàn Quốc cũng giống như với CHDCND Triều Tiên luôn gặp phải một rào cản lớn đó là sự thù hận của nhân dân về quá khứ cai trị của thực dân Nhật trên bán đảo Triều Tiên suốt 36 năm (1910-1945) Điều đó khiến cho việc đàm phán về bình thường hóa quan hệ hai nước gặp nhiều khó khăn Tuy nhiên, đến tháng 12.1965 Nhật- Hàn chính thức bình thường hóa quan hệ
Sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, Nhật Bản đã thay đổi chính sách đối với hai
nước bán đảo Triều Tiên, với thay đổi đó, Nhật đã tích cực đẩy mạnh “chính sách ngoại
giao xin lỗi” với Hàn Quốc, coi đó là bước đi cải thiện và nâng cao mối quan hệ toàn diện
với Hàn Quốc Nhật Bản cũng chú trọng mở rộng các kênh đối thoại song phương nhằm tăng cường hiểu biết, tin cậy lẫn nhau giữa hai nước Về mặt quân sự, từ sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, Nhật đã nâng cao hơn việc hợp tác quân sự với Hàn Quốc và cả hợp tác ba bên Mỹ - Nhật – Hàn Nhật Bản đã điều chỉnh chính sách phù hợp với thay đổi của thế giới, chủ động, tích cực quan hệ toàn diện với Hàn Quốc và CHDCND Triều Tiên Nhật Bản chuyển từ đối đầu sang đối thoại nhằm bình thường hóa quan hệ với CHDCND Triều Tiên Đây là một hành động tích cực đóng góp vào tiến trình hòa bình, an ninh cho bán đảo Korea và khu vực Mặc dù chính sách của Nhật đã độc lập và chủ động hơn nhưng vẫn chịu tác động từ phía Mỹ, làm hạn chế hiệu quả chính sách đối với CHDCND Triều Tiên của Nhật và điều này chưa thể giúp Nhật nâng tầm vị trí của mình trên trường chính trị quốc tế
Trang 102 3 Chính sách của Trung Quốc
2.3.1 Đối với CHDCND Triều Tiên
Về vấn đề khủng hoảng hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên, Trung Quốc đóng một vai trò rất quan trọng trong việc giải quyết vấn đề này Tuy nhiên thông qua các vòng đàm phán 6 bên có thể thấy, việc thực hiện phi hạt nhân hóa bán đảo Triều Tiên là thử thách lớn nhất, then chốt nhất mà ngoại giao Trung Quốc gặp phải trong nhiều năm Nó trực tiếp liên quan tới rất nhiều lợi ích quốc gia quan trọng về ngắn hạn, trung hạn cũng như dài hạn của Trung Quốc Trung Quốc đã có nhiều hoạt động để thúc đấy việc giải quyết cuộc khủng hoảng hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên
Các nhà nghiên cứu vẫn thường gọi mối quan hệ của Trung Quốc- CHDCND
Triều Tiên là mối quan hệ “môi hở răng lạnh” Chủ tịch Trung Quốc cũng đưa ra cam kết xem xét “quan hệ Trung – Triều về lâu dài” và “không tính đến những thăng trầm của
tình hình quốc tế”
Về kinh tế, trong mối quan hệ đồng minh Trung- Triều, viện trợ và hợp tác kinh
tế là yếu tố quan trọng, là động lực thúc đẩy cho sự bền vững của cả hai bên Quan hệ kinh tế Trung – Triều từ cuối thập kỷ 90 của thế kỷ 20 đã bắt đầu bước vào giai đoạn phát
triển nhanh Những thay đổi này trước hết là kết quả của chính sách “cải thiện quản lý
kinh tế” của CHDCND Triều Tiên, cũng là kết quả của việc Trung Quốc vận dụng thái độ
tích cực đối với CHDCND Triều Tiên Mấy năm gần đây Trung Quốc đặc biệt nhấn mạnh đến tầm quan trọng của hợp tác kinh tế trong quan hệ với các nước xung quanh, tức
ổn định quan hệ kinh tế và cùng nhau phát triển là điều then chốt để khu vực này giảm bớt sự phòng ngừa đối với Trung Quốc và phát triển lành mạnh hơn nữa quan hệ ngoại giao
2.3.2 Đối với Hàn Quốc
Việc Trung Quốc mở rộng quan hệ kinh tế với Hàn Quốc cũng là một trong chính sách chiến lược của Trung Quốc Cụ thể là Trung Quốc muốn mở rộng ảnh hưởng trong khu vực cũng như với thế giới bởi lâu nay Mỹ luôn là một nước có ảnh hưởng lớn đối với Hàn Quốc Thêm vào đó Trung Quốc cũng muốn tìm thêm đồng minh trong việc bảo vệ
an ninh trên bán đảoTriều Tiên mà nước nào cũng có lợi ích trong đó
Trang 112 4 Chính sách của Nga
2.4.1 Đối với CHDCND Triều Tiên
Liên Xô và CHDCND Triều Tiên chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao vào tháng 10 năm 1948 Trong thời kỳ chiến tranh lạnh, Liên Xô với tư cách là siêu cường đứng đầu hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới, là đồng minh của CHDCND Triều Tiên, là thành viên của Hội đồng bảo an Liên Hợp Quốc, đã luôn tạo điều kiện, giúp đỡ CHDCND Triều Tiên nâng cao uy tín- củng cố vị thế chính trị đối ngoại của mình
Sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, Liên Xô tan rã (12.1991), Liên Bang Nga với tư
cách là quốc gia “kế tục Liên Xô” bước ra trường quốc tế Chính sách của Nga lúc này đối
với CHDCND Triều Tiên cũng đã có nhiều thay đổi Các nhà lãnh đạo Nga chủ trương thu hẹp dần các mối quan hệ đã có giữa hai nước, giảm các chuyến thăm và trao đổi chính trị giữa hai quốc gia, các cuộc trao đổi, tư vấn giữa hai nước về các vấn đề chính trị song phương, quốc tế và khu vực đã bị đóng băng, trong mối quan hệ suốt hơn 60 năm qua với CHDCND Triều Tiên, Nga luôn tích cực thúc đẩy mối quan hệ trở nên sâu sắc hơn nhằm đảm bảo hòa bình tại khu vực Đông Bắc Á Ngay sau khi ông Vladimir Putin lên cầm quyền, quan hệ Nga – Triều đã đạt tới một cấp độ chưa từng có trong lịch sử Nga có đặc quyền đối thoại đặc biệt với CHDCND Triều Tiên, dựa trên sự phát triển của lòng tin giữa lãnh đạo cấp cao nhất của hai quốc gia Hay nói cách khác, quan hệ Nga –
Triều định hình bởi “quan hệ cá nhân giữa lãnh đạo của hai nhà nước” Ngay cả khi
CHDCND Triều Tiên có sự chuyển giao về mặt quyền lực sau khi Chủ tịch Kim Jong Il
qua đời, phía Nga vẫn thể hiện sự “chào đón” vị tân lãnh đạo bằng việc đưa ra tuyên bố
củng cố quan hệ đối tác lâu năm này
2.4.2 Đối với Hàn Quốc
Sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, Nga đã thay đổi chính sách ngoại giao, trong đó Nga đã tích cực thúc đẩy phát triển mối quan hệ với Hàn Quốc Về kinh tế, từ sau khi Nga thiết lập quan hệ với Hàn Quốc, quan hệ kinh tế hai nước phát triển khá mạnh Quan
hệ kinh tế - thương mại giữa Nga và Hàn Quốc cũng giống như với CHDCND Triều Tiên, còn ở mức thấp chưa tương xứng với những tiến triển tích cực trong quan hệ chính trị-ngoại giao và cũng chưa đáp ứng được nhu cầu tiềm năng của ba nước Thời gian gần đây, Nga và Hàn Quốc đang nỗ lực phát triển và cân bằng mối quan hệ hai nước một cách toàn diện Chính sách bán đảo Triều Tiên của Nga thực sự được coi là đột phá khi