1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cải cách kinh tế xã hội của nhật bản sau chiến tranh thế giới thứ hai và vai trò của mĩ

16 3,2K 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cải cách kinh tế-xã hội của Nhật Bản sau chiến tranh thế giới thứ hai và vai trò của Mỹ
Tác giả Nguyễn Thị Lan Anh
Người hướng dẫn PGS.TS. Lưu Ngọc Trịnh
Trường học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Chuyên ngành Châu Á học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2011
Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 455,15 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phân tích những cải cách kinh tế xã hội căn bản nhất của Nhật Bản ngay sau chiến tranh thế giới thứ hai; chỉ rõ và phân tích vai trò của Mỹ trong việc tiến hành cải cách này của Nhật Bản

Trang 1

Cải cách kinh tế-xã hội của Nhật Bản sau Chiến tranh Thế giới thứ Hai và Vai trò của

Mĩ Ngô Thi ̣ Lan Anh

Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn

Khoa Đông Phương học Chuyên ngành: Châu Á học; Mã số: 60 31 50

Người hướng dẫn: PGS.TS Lưu Ngọc Trịnh

Năm bảo vệ: 2011

Abstract Trình bày bối cảnh trong và ngoài nước Nhật Bản ngay sau chiến tranh

thế giới thứ hai như là cơ sở và nguyên nhân dẫn đến những cải cách kinh tế - xã hội thời gian đó Phân tích những cải cách kinh tế xã hội căn bản nhất của Nhật Bản ngay sau chiến tranh thế giới thứ hai; chỉ rõ và phân tích vai trò của Mỹ trong việc tiến hành cải cách này của Nhật Bản trong những năm ngay sau chiến tranh thế giới thứ hai Đưa ra một số đánh giá và rút ra bài học kinh nghiệm tiến hành cải cách kinh tế xã hội này của Nhật Bản

Keywords Châu Á học; Cải cách kinh tế; Cải cách xã hội; Chiến tranh thế giới thứ

hai; Nhật bản; Mỹ; Kinh tế học

Content

LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

- Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, nền kinh tế Nhật Bản bị rơi vào tình trạng hết sức hỗn loạn và bi đát

- Từ năm 1945 - 1951 dưới sự chiếm đóng của quân Đồng minh (thực chất là Mỹ), nước Nhật đã có những cải cách toàn diện nhằm tái lập sự phát triển bình thường của nền kinh tế xã hội, trên cơ sở đó tiến hành phục hồi kinh tế, ổn định chính trị xã hội, tạo đà cho sự cất cánh kỳ diệu vào những năm sau

- Cách thiết thực để học viên nâng cao thêm hiểu biết vốn còn hạn hẹp của mình về giai đoạn phát triển này của Nhật Bản

- Góp thêm một cái nhìn, một đánh giá nữa về những cải cách kinh tế - xã hội của Nhật Bản trong thời kỳ này cũng như vai trò của Mỹ

Trang 2

- Việt Nam rất cần những kinh nghiệm quý báu để phát triển đất nước như những kinh nghiệm mà Nhật Bản đã từng trải qua

CHƯƠNG 1 THỰC TRẠNG KINH TẾ - XÃ HỘI NHẬT BẢN NGAY SAU CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ HAI VÀ

SỰ CẦN THIẾT PHẢI CẢI CÁCH

1.1 Sự cần thiết phải thay đổi mục tiêu phát triển

- Cơ cấu công nghiệp đã được chuyển thành một khu vực sản xuất rộng lớn phục vụ các mục đích quân sự

- Chỉ tồn tại một khu vực sản xuất tối thiểu phục vụ đời sống nhân dân và khu vực này cũng đã bị siết lại tới mức cùng kiệt

- Người dân nước này đã buộc phải hy sinh, phải sống trong những điều kiện cực kỳ thiếu thốn về vật chất và bị kìm kẹp về tinh thần

1.2 Đất nước và nền kinh tế bị tàn phá nặng nề do chiến tranh

- Nhật Bản mất hết thuộc địa (diện tích tương đương 44% toàn bộ diện tích nước Nhật), nền kinh tế cũng lâm vào tình trạng bị phá hủy hoàn toàn

- Tình trạng thất nghiệp lan tràn và hậu quả là nguy cơ rối loạn xã hội luôn rình rập xảy ra rộng khắp trên cả nước

- Năng lượng và lương thực cũng thiếu trầm trọng

- Lạm phát là một vấn đề lớn tiếp theo nổi cộm trong thời điểm này

- Nhật Bản còn bị quân Đồng minh đòi bồi thường chiến tranh

1.3 Nhu cầu tái lập lại trạng thái bình thường của xã hội và nền kinh tế

- Nền kinh tế – xã hội của Nhật Bản khi tham gia Chiến tranh thế giới thứ hai

là một nền kinh tế và một xã hội không bình thường, hoàn toàn không còn phù hợp với bối cảnh hoà bình sau chiến tranh

- Nền kinh tế bị tàn phá đến kiệt quệ, bị đẩy lùi lại nhiều năm trở về trước, trong khi vẫn bị bao vây và thiếu thốn đủ bề

Trang 3

- Người dân Nhật đều thiếu đói và hết sức bi quan về tương lai của đất nước

và bản thân họ

- Phải có những cải cách căn bản cả về kinh tế, xã hội và chính trị, trong đó cải cách kinh tế là một bộ phận quan trọng nhằm tái lập lại tình trạng bình thường của xã hội và kinh tế, trong đó quyền con người được tôn trọng, mọi lợi ích chính đáng của các cá nhân đều được tính đến, một xã hội hoà bình và dân chủ, một nền kinh tế thị trường dựa trên cạnh tranh bình đẳng và cùng có lợi

1.4 Sự chiếm đóng và chỉ đạo của quân Đồng minh, trước hết là Mỹ

- Đây là một trong những điều kiện cực kỳ quan trọng gây sức ép, cổ vũ, thúc đẩy Nhật Bản cải cách và chi phối tiến trình cải cách của Nhật Bản

CHƯƠNG 2 MỘT SỐ CẢI CÁCH KINH TẾ - XÃ HỘI CĂN BẢN CỦA NHẬT NGAY SAU CHIẾN TRANH

2.1 Thủ tiêu tình trạng tập trung quá mức về kinh tế

Mục tiêu chính trong chương trình dân chủ hóa của SCAP là thực hiện chủ trương “Phi quân sự hóa về kinh tế” nhằm:

- Xóa bỏ sự tập trung quá mức về kinh tế và chiếm hữu tài sản quá lớn của những tập đoàn tài phiệt zaibatsu

- Ngăn chặn sự phục hồi của giới tài phiệt và mở đường cho quá trình dân chủ hóa về kinh tế và chính trị

- Các tập đoàn tài phiệt (zaibatsu) được sự bảo trợ của nhà nước Nhật Bản suốt từ thời Minh Trị qua các khoản trợ cấp, thuế quan bảo hộ… chiếm vai trò chi phối nhiều lĩnh vực khác của nền kinh tế

- Tập trung công nghiệp vào một số zaibatsu gây ra quan hệ nửa phong kiến

giữa chủ và thợ, kìm hãm tiền lương, cản trở sự phát triển của công đoàn gây trở ngại cho việc thành lập và phát triển của các hãng kinh doanh độc lập, cản trở sự lớn mạnh của giai cấp trung lưu ở Nhật Bản

Trang 4

- Tiền lương thấp và cỏc lợi nhuận tập trung… nờn giới kinh doanh Nhật Bản thấy cần phải mở rộng xuất khẩu Đõy là động lực đặc biệt thỳc đẩy Nhật Bản vào con đường đế quốc chủ nghĩa và xõm lược

- Giải tỏn cỏc zaibatsu và cỏc cụng ty lớn, thay đổi bộ mỏy nhõn sự thụng qua

thanh lọc kinh tế

- Thực chất của cỏc biện phỏp giải tỏn cỏc zaibatsu, chống độc quyền là cải

cỏch quản lý cụng thương nghiệp, chuyển từ cơ cấu độc quyền trước chiến tranh sang cơ cấu dõn chủ cạnh tranh, hướng vào thị trường

- 83 cụng ty cổ phần và 57 gia đỡnh zaibatsu phải giao nộp tài sản, tổng cộng tới 233 triệu cổ phần; và bỏn số cổ phần này cho cỏc hiệp hội, cỏc tổ chức

độc lập và nhiều cỏ nhõn Nhờ giải tỏn cỏc zaibatsu, nhiều cụng ty chịu sự

kiểm soỏt của chỳng đó được độc lập

- Những thành viờn lónh đạo zaibatsu đều bị buộc phải về hưu và bị cấm hoạt

động tài chớnh trong 10 năm, những kẻ cú quan hệ mật thiết với giới quõn phiệt và gõy ra nhiều tội ỏc trong chiến tranh đều bị bắt hoặc phải đền tội Ba

đạo luật cải cỏch tổ chức sản xuất cụng nghiệp: Một là “Luật chống độc quyền” đưa ra từ thỏng 4 năm 1947, Hai là “Luật thủ tiờu tỡnh trạng tập trung quỏ mức sức mạnh kinh tế” thụng qua thỏng 12/1947, Ba là, Vụ cỏc xớ

nghiệp nhỏ đó được thành lập vào thỏng 3/1948

2.2 Cải cỏch ruộng đất ở Nhật Bản

2.2.1 Đạo luật về cải cách ruộng đất

- Cuộc cải cỏch ruộng đất này ở Nhật Bản là sự phõn chia lại quyền sở hữu ruộng đất từ địa chủ sang dõn cày, xõy dựng nờn hệ thống nụng dõn độc lập

- Được quyền sở hữu tới gần 50% số lượng đất nờn tầng lớp địa chủ Nhật Bản lỳc đú cú sức mạnh ỏp đảo trong cỏc cộng đồng nụng thụn Nhiều địa chủ cũng cú tờn trong Thượng viện Những địa chủ này cũng tỡm mọi cỏch kiếm lợi từ việc búc lột nụng dõn

- Cuộc cải cỏch ruộng đất được triển khai vào giai đoạn 1945 – 1950 dưới sự chỉ đạo chặt chẽ của Bộ chỉ huy tối cao cỏc lực lượng Đồng minh (SCAP)

Trang 5

nhằm giải phóng các lực lượng sản xuất trong nông nghiệp, tăng năng suất bằng cách thâm canh tạo ra động lực khuyến khích nông dân sản xuất

- Ngày 9/12/1945 SCAP đã đưa ra một Bị vong lục ra lệnh cho chính phủ Nhật Bản phải tìm cách thông qua được kế hoạch cải cách ruộng đất với mục tiêu:

“… Xóa bỏ những trở ngại kinh tế nhằm phục hồi và củng cố các xu hướng dân chủ, tạo ra sự tôn trọng đối với các giá trị đích thực của con người, để phá bỏ sự kìm hãm kinh tế vốn đọa đày người nông dân Nhật Bản trong nhiều thế kỷ áp bức phong kiến”

- Tháng 10 năm 1946, Nghị viện đã thông qua chương trình cải cách ruộng đất

và ủy quyền cho chính phủ thực thi Các biện pháp cải cách ruộng đất mạnh

mẽ được thể hiện thông qua các quy định của đạo luật

2.2.2 Việc thực hiện và kết quả

- Bầu ra các thành viên ủy ban ruộng đất làng xã vào tháng 12/1946 và của cấp tỉnh vào tháng 2/1947

- Một mặt, chính phủ đã xúc tiến việc mua lại tất cả các đất trang trại mà chủ

sở hữu vắng mặt Sau đó, chính phủ bán lại cho các tá điền

- Mặt khác, chính phủ yêu cầu các chủ đất phải bán lại phần đất vượt mức quy định trong phạm vi hai năm kể từ khi bộ luật có hiệu lực

- Giá cả đất đai trả cho các chúa đất được xác định bằng 40 lần địa tô hàng năm đối với các cánh đồng trồng lúa nước và 48 lần đối với các vùng đất cao Theo công thức tính này các loại địa tô theo hiện vật thuộc loại nông phẩm nào được tính giá theo giá của các nông phẩm ấy tại thời điểm tháng 10 năm

1945

- Trong thời gian 4 năm, kể từ năm 1947 đến năm 1950, chính phủ đã chuyển 1.9 triệu ha đất (trong đó 1,7 triệu ha mua từ chủ đất và 0,2 triệu ha đất của chính phủ) cho các tá điền Số đất này bằng 80% diện tích đất tá điền phải thuê mướn trước đây Diện tích do tá điền lĩnh canh nộp tô trong toàn quốc

Trang 6

đã giảm từ 45,9% tháng 11/1946 xuống 10% vào tháng 8/1950 Số lượng người canh tác có ruộng riêng đã tăng từ 31% số hộ nông nghiệp năm 1941 lên 70% năm 1955 Tỷ lệ phần trăm nông dân không có ruộng riêng đã giảm xuống rất nhiều trong thời kỳ này, từ 28% xuống còn 4% Địa chủ vắng mặt

đã bị xóa bỏ do 80-90% đất của họ đã bị chuyển nhượng cho tá điền Khoảng 70-80% số ruộng đất cho thuê hoặc tự canh tác của địa chủ làng xã cũng bị thu mua và chuyển nhượng cho nông dân

- Sự suy tàn của chế độ chiếm hữu ruộng đất của địa chủ trong nông nghiệp Nhật Bản Tàn dư phong kiến của nền nông nghiệp Nhật Bản đã bị phá bỏ kéo theo đó là sự tan rã của chế độ đẳng cấp ở nông thôn

- Đối với tá điền, cuộc cải cách thực sự đã mang đến một bước ngoặt lớn lao cho cuộc đời những người dân quanh năm nghèo đói này, quyền lợi của họ

đã được tăng cường nhiều

2.2.3 Ý nghĩa của cải cách ruộng đất

- Cuộc cải cách ruộng đất đã làm biến đổi một cách căn bản chế độ sở hữu nửa phong kiến trong nền nông nghiệp Nhật Bản trước chiến tranh

- Cải cách ruộng đất đã phá vỡ truyền thống, tập quán cổ hủ và lạc hậu trước đây, làm ổn định và dân chủ hóa đời sống kinh tế - xã hội nông thôn

- Hình thành lên những tư tưởng mới về hòa bình, dân chủ trong nhận thức của người dân ở nông thôn Nhật Bản Những giá trị tinh thần đó là những động lực thúc đẩy họ vững tâm tích cực tham gia sản xuất, nâng cao năng suất lao động để làm nên sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế đất nước sau này

- Tuy nhiên chế độ sở hữu ruộng đất này gây khó khăn cho việc mở rộng đất đai kinh doanh Thậm chí để đảm bảo thành quả của cuộc cải cách ruộng đất

và ngăn chặn địa chủ phục hồi lại, luật đất đai nông nghiệp được ban hành vào năm 1952 đã hạn chế cả việc mở rộng quy mô ruộng đất của đơn vị canh tác

2.3 Cải cách (hay dân chủ hoá) lao động

Trang 7

2.3.1 Các đạo luật về lao động

- Những cải cách nhằm dân chủ hóa lao động được thực hiện bằng việc thông qua các đạo luật về lao động, như Luật công đoàn được ban hành vào tháng

12 năm 1945; Luật điều chỉnh quan hệ lao động năm 1946 và Luật cơ bản

về lao động năm 1947

- Chính phủ Nhật Bản, với sự giúp sức của SCAP đã đẩy mạnh việc hình thành các Hội đồng quản lý với mục đích tạo cầu nối để qua đó, giới quản lý

và công nhân có thể thương lượng về các hợp đồng và quyết định quản lý

- Các Hội đồng quản lý ngày càng giành được nhiều quyền lực và cương quyết bảo vệ những thắng lợi đó và tác động của các cuộc đấu tranh công đoàn rất quan trọng trong việc đặt nền móng cho quan hệ lao động

2.3.2.2 Cơ cấu lương mới

- Trong những thành công mà người công nhân Nhật Bản đã giành được là cơ cấu lương mới, gọi là cơ cấu lương kiểu Densan

- Cơ cấu lương này chú trọng đến thời gian phục vụ công ty, nên công nhân càng ở lâu trong một công ty càng có lợi thế

- Trong mỗi xí nghiệp, lực lượng lao động có tổ chức ở Nhật Bản rất linh hoạt

và được công ty đào tạo cho các nhiệm vụ rất đa năng

- Mức lương không phụ thuộc vào phân loại việc làm mà do thâm niên phục

vụ công ty, chức vụ và việc đánh giá công trạng, có chú trọng đến những hoàn cảnh khách quan của mỗi cá nhân như thâm niên công tác tại công ty và

số lượng thành viên trong gia đình

2.3.2 Ổn định việc làm

- Đứng trước tình trạng các công ty Nhật Bản bắt đầu sa thải hàng loạt, khiến hàng triệu người thất nghiệp, các công đoàn đã hoạt động theo phương châm ngăn ngừa giảm thợ và bảo vệ công ăn việc làm của các đoàn viên của mình

Trang 8

- “Chế độ thuê suốt đời” trước chiến tranh là một thủ đoạn của Ban giám đốc thì bây giờ là mục tiêu có ý thức của các công đoàn nhằm ổn định lâu dài việc làm cho các công đoàn viên của mình

- Đấu tranh bảo vệ và ổn định việc làm cho công nhân là một trong những nội dung quan trọng của cải thiện quan hệ chủ thợ sau chiến tranh

- Đấu tranh đòi ổn định việc làm, đảm bảo các quyền lợi về bảo hiểm xã hội và đòi xóa bỏ sự phân biệt địa vị vẫn là những ưu tiên hàng đầu trong phong trào công đoàn Nhật Bản vào những năm 1950 Giới chủ bắt đầu thấy rằng con đường tốt nhất là hợp tác, hòa giải với công nhân và cùng với công đoàn đặt ra hàng loạt nguyên tắc bảo đảm việc làm cho những người la việc cải cách chế độ công đoàn từ công đoàn ngành, công đoàn thời chiến trước và trong chiến tranh thành công đoàn xí nghiệp, “công đoàn trong nhà” trong các công ty đã làm thay đổi căn bản quan hệ chủ thợ từ mối quan hệ cưỡng chế, bắt buộc sang quan hệ bình đẳng và hợp tác tự nguyện, đảm bảo được việc làm ổn định cho công nhân, thu hút đựoc sự trung thành và tận tâm của công nhân, nhờ đó đã giúp các công ty Nhật Bản áp dụng nhanh chóng những thành tựu khoa học kỹ thuật, tăng được năng suất lao động và tạo được bầu không khí làm việc ôn hoà và thân thiện trong mỗi công ty

CHƯƠNG 3 VAI TRÒ CỦA MỸ VÀ MỘT SỐ ĐÁNH GIÁ, BÀI HỌC RÚT RA TỪ TIẾN TRÌNH CẢI CÁCH KINH TẾ-XÃ HỘI CỦA

NHẬT BẢN SAU CHIẾN TRANH

3.1 Vai trò của Mỹ trong quá trình cải cách kinh tế-xã hội Nhật Bản sau chiến tranh thế giới thứ hai

- Thứ nhất, quân Đồng minh, trong đó có lực lượng chiếm đóng Mỹ, đã đánh

tan đội quân xâm lược của chủ nghĩa phát xít Nhật buộc Nhật Bản phải đầu hàng vô điều kiện Điều đó cũng đồng nghĩa với việc quân Đồng minh đã bẻ gãy hoàn toàn ý chí theo đuổi chính sách phát triển đất nước thông qua việc quân sự hoá nền kinh tế, tiến hành chiến tranh xâm lược các nước láng giềng,

Trang 9

và quay trở lại chớnh sỏch phỏt triển đất nước bằng phỏt triển kinh tế -xó hội, bằng hoà bỡnh và hữu nghị với cỏc nước lỏng giềng

- Thứ hai, Mỹ, với tư cỏch đại diện cho Lực lượng Đồng minh, là người chiếm

đúng, gõy sức ộp, người hoạch định, và chỉ đạo thực hiện cụng cuộc phục hồi

và tỏi thiết đất nước Nhật Bản núi chung và cải cỏch kinh tế-xó hội Nhật Bản núi riờng

3.2 Một số đánh giá về những cải cách kinh tế - xã hội của Nhật Bản sau chiến tranh

3.2.1 Đặc điểm của cuộc cải cỏch

- Thực chất là cuộc đấu tranh rất phức tạp giữa cỏc lực lượng tiến bộ và bảo thủ trong và ngoài Nhật Bản

- Mỹ muốn thụng qua cụng cuộc cải cỏch dõn chủ để diệt trừ chủ nghĩa quõn phiệt Nhật Bản và làm suy yếu luụn một đối thủ cạnh tranh lõu đời của mỡnh

ở khu vực chõu ỏ - Thỏi Bỡnh Dương Đồng thời, Mỹ cũng muốn xõy dựng Nhật Bản thành một nước phỏt triển theo mụ hỡnh chủ nghĩa tư bản tự do kiểu Mỹ

- Cụng cuộc cải cỏch kinh tế - xó hội Nhật Bản được thực hiện dưới sự chiếm đúng của lực lượng Đồng minh Lực lượng Đồng minh khụng thực thi chớnh sỏch trực trị mà thực hiện điều hành giỏn tiếp thụng qua guồng mỏy hành chớnh của người Nhật

- Thành cụng của cỏc cải cỏch dõn chủ, trong đú cú cải cỏch kinh tế - xó hội, ở Nhật Bản là do sự tỏc động qua lại, hỗ trợ lẫn nhau của nhiều yếu tố bờn trong và bờn ngoài quyết định

- Từ những biện phỏp chủ động, khụn khộo của chớnh phủ Nhật Bản kết hợp với sự lao động quờn mỡnh cho cụng cuộc phục hồi đất nước của nhõn dõn Nhật Bản, cụng cuộc cải cỏch dõn chủ sau chiến tranh đó thu được những kết quả tốt đẹp và khỏc nhiều so với ý đồ và mục đớch ban đầu của Mỹ

Trang 10

3.2.2 Những tác động của cải cách kinh tế - xã hội sau chiến tranh ở Nhật Bản

- Góp phần tái lập lại tình trạng phát triển bình thường của xã hội và kinh tế Nhật Bản từ một xã hội mất dân chủ, quân phiệt, một nền kinh tế bị quân sự hoá cao độ và lấy chiến tranh làm phương tiện phát triển đất nước, sang nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, một xã hội dân chủ, hoà bình, lấy người tiêu dùng làm đối tượng phục vụ, và lấy hợp tác, cạnh tranh, và phát triển kinh tế và khoa học làm phương tiện phát triển đất nước

- Tạo được những cơ sở quan trọng để Nhật Bản có thể phục hồi nhanh chóng nền kinh tế sau chiến tranh Đến năm 1951 - 52, Nhật Bản đã thực sự kết thúc giai đoạn phục hồi kinh tế, mức sản xuất lúc này đạt ngang mức sản xuất trước chiến tranh (1934 - 36) Công cuộc cải cách dân chủ trong những năm đầu sau chiến tranh đã xoá bỏ những tàn dư phong kiến, xây dựng nền tảng mới về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và tạo đà cho Nhật Bản phát triển Công cuộc cải cách này thật sự là một bước ngoặt trong lịch sử Nhật Bản, đưa Nhật Bản sang một giai đoạn phát triển mới về mọi mặt

- Công cuộc cải cách này đã đưa nước Nhật trở lại với cộng đồng các quốc gia trên thế giới từ đống tro tàn của chiến tranh

3.2.3 Những hạn chế của công cuộc cải cách

- Chưa thực sự mang lại lợi ích hoàn toàn cho những người lao động

- Các thế lực phát xít vẫn chưa được thanh trừng triệt để, việc tiến hành “thanh trừng Đỏ” là vi phạm nghiêm trọng Tuyên cáo Potsđam, việc giải tán các

zaibatsu vẫn chưa được thực hiện triệt để như chính sách ban đầu, phong trào

lao động vẫn bị gây khó dễ và ngăn chặn,

- Công cuộc cải cách dân chủ, trong đó có cải cách kinh tế, ở Nhật Bản sau chiến tranh bị chững lại, thậm chí ít nhiều bị chệch hướng so với mục tiêu ban đầu do Lực lượng đồng minh đề ra, và kết quả của nó đã bị hạn chế

3.2.4 Một số bài học kinh nghiệm

Ngày đăng: 14/01/2014, 22:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w