1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bước đầu khảo sát các cặp thoại hỏi đáp trong sách dạy tiếng việt cho người nước ngoài

11 2,3K 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bước đầu khảo sát các cặp thoại hỏi - đáp trong sách dạy tiếng việt cho người nước ngoài
Tác giả Lê Thu Lan
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Hồng Cổn
Trường học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Chuyên ngành Ngôn ngữ học
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2012
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 366,99 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đặc điểm của các phát ngôn hỏi chính danh trong cặp thoại hỏi – đáp Qua quá trình khảo sát và thống kê, tổng số phiếu mà chúng tôi khảo sát được ở cả hai trình độ là 2.426 phiếu.. Trong

Trang 1

Bước đầu khảo sát các cặp thoại hỏi - đáp

trong sách dạy tiếng việt cho

người nước ngoài

Lê Thu Lan

Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Luận văn ThS ngành: Ngôn ngữ học; Mã số: 60 22 01 Người hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Hồng Cổn

Năm bảo vệ: 2012

Abstract Trình bày một số vấn đề lý thuyết có liên quan đến đề tài: hội thoại; cặp

thoại; cặp thoại hỏi – đáp ; vai trò của cặp thoại hỏi – đáp trong các giáo trình tiếng Việt cho người nước ngoài Khảo sát cặp thoại hỏi – đáp chính danh như đặc điểm của các phát ngôn (PN) hỏi chính danh trong cặp thoại hỏi đáp; đặc điểm PN đáp trong cặp thoại hỏi đáp chính danh Khảo sát cặp thoại hỏi – đáp không chính danh: đặc điểm của các PN hỏi trong cặp thoại không chính danh; đặc điểm của các PN đáp trong các cặp thoại không chính danh; sự tương hợp về mặt hình thức và nội

dung của cặp thoại hỏi – đáp

Keywords Tiếng Việt; Người nước ngoài; Hỏi đáp; Phương pháp giảng dạy

Content

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Việt Nam đang trong quá trình phát triển về mọi mặt Việc mở rộng quan hệ với nhiều nước trên thế giới đã đem đến cho Việt Nam nhiều cơ hội Ngày nay có rất nhiều người nước ngoài tìm đến Việt Nam để đầu tư kinh tế và tìm hiểu về văn hóa xã hội Và Tiếng Việt đã và đang được coi là nhu cầu và phương tiện cần thiết cho bất cứ người nước ngoài nào muốn hiểu biết về tình hình đất nước, kinh tế, văn hóa, xã hội và con người Việt Nam

Để đáp ứng với nhu cầu của xã hội và yêu cầu của công tác dạy tiếng, nhiều giáo trình dạy tiếng Việt cho người nước ngoài đã được biên soạn

Có thể nói, đối với việc dạy tiếng nói chung và dạy tiếng Việt cho người nước ngoài nói riêng, giáo trình được coi là tài liệu cần thiết cho việc lên chương trình đào tạo

Với mong muốn là có thể đóng góp một phần trong việc xây dựng giáo trình giao tiếp tiếng Việt hiệu quả hơn cho người nước ngoài Luận văn muốn tập trung vào khảo sát các cặp thoại hỏi – đáp Để từ đó rút ra những gì chung nhất, cụ thể nhất cho việc xây dựng và phát triển hội thoại Đây chính là lý do mà tôi chọn đề tài này

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Ngày nay, nhu cầu học của nhiều người thiên về hiệu quả giao tiếp Chính vì thế, luận văn đã chọn cặp thoại hỏi đáp để làm đối tượng nghiên cứu Xuất phát từ suy nghĩ rằng: để hình thành kỹ năng giao tiếp thì người học phải bắt đầu từ việc trao đáp Nghĩa là có sự tác

Trang 2

động qua lại giữa hai người Và cặp thoại hỏi – trả lời trong một cuộc thoại là hình thức giao tiếp đơn giản và dễ làm cho cuộc thoại được kéo dài

Trong phạm vi của một luận văn thạc sĩ, chúng tôi chỉ lựa chọn các quyển sách dạy tiếng Việt được biên soạn và xuất bản ở Việt Nam từ những năm 80 trở lại đây Trên cơ sở đó

có cái nhìn tổng quan về các cặp thoại hỏi – đáp được biên soạn trong các phần hội thoại, ngữ pháp, bài luyện và bài tập

3 Mục đích và ý nghĩa của đề tài

Luận văn tiến hành khảo sát các cặp thoại hỏi – đáp trong các sách dạy tiếng Việt cho người nước ngoài với mục đích chính là:

- Tìm ra những quy tắc hay những cấu trúc phổ biến nhất

- Từ đó xây dựng nên các bài tập, bài luyện hay cao hơn là các hội thoại phục

vụ cho việc giao tiếp bằng tiếng Việt hiệu quả hơn

Luận văn sẽ khảo sát hành vi hỏi cũng như hành vi trả lời trong các cặp thoại Sau đó tiến hành phân loại các hành vi hỏi và hành vi trả lời về mặt hình thức và chức năng Sau quá trình phân loại sẽ nhận xét, đánh giá hiện trạng phân bố của các hành vi này theo trình độ của giáo trình cũng như theo cấu trúc của giáo trình Qua đó có thể phát huy hay khắc phục những hạn chế vào việc biên soạn giáo trình dạy tiếng Việt cho người nước ngoài Để ngày càng có nhiều giáo trình mang tính ứng dụng cao, thiết thực với việc dạy và học

4 Phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp được sử dụng trong luận văn là: phương pháp thống kê, phương pháp phân tích, phương pháp miêu tả, phương pháp so sánh

5 Tư liệu

Luận văn tiến hành khảo sát các cặp thoại hỏi – đáp trong các sách dạy tiếng Việt cho người nước ngoài được xuất bản ở Việt Nam từ những năm 80 của thế kỷ XX trở lại đây (bao gồm 10 cuốn) Chúng tôi sắp xếp các giáo trình theo thứ tự từ 1 đến 10 và ký hiệu là Q1, Q2 Q10 để dễ khảo sát

6 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, nội dung chính của luận văn gồm có ba chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý thuyết có liên quan đến đề tài

Chương 2: Khảo sát cặp thoại hỏi – đáp chính danh

Chương 3: Khảo sát cặp thoại hỏi – đáp không chính danh

NỘI DUNG

Chương 1 Một số vấn đề lý thuyết có liên quan đến đề tài

Hội thoại còn là một lĩnh vực nghiên cứu hết sức mới mẻ ở Việt Nam, mới mẻ cả về nội dung lẫn phương pháp nghiên cứu Việc xây dựng một lý thuyết hoàn chỉnh về lĩnh vực này là một mục tiêu của ngữ dụng học Vì vậy việc đưa ra một khái niệm chính xác về hội thoại là điều rất khó

Nói đến hội thoại là nói đến sự trao đổi, nói chuyện giữa những cá nhân Đây lại là một hoạt động của con người trong xã hội Vì thế khi nghiên cứu về hội thoại, người ta thường gắn nó đến các yếu tố liên quan đến con người và xã hội như tâm lý , phong tục, văn hóa hay dân tộc…

Trong phần này, chúng tôi có đề cập đến một số khái niệm về hội thoại theo tác giả Đỗ Hữu Châu và Nguyễn Đức Dân Ngoài đưa ra khái niệm về hội thoại, luận văn còn đề cập đến các nội dung của hội thoại:

Trang 3

- Chức năng của các đơn vị hội thoại

Các lượt lời kế tiếp nhau làm nên cuộc thoại Vì thế, trong ngữ dụng học có khái niệm cặp

thoại như sau: “Cặp thoại là đơn vị lưỡng thoại nhỏ nhất của cuộc thoại do các tham thoại

tạo nên.”

- Đặc điểm của cặp thoại

Cặp thoại được tạo bởi sự tương thích của các tham thoại dẫn nhập và hồi đáp, thỏa mãn các đặc trưng tuyến tính, đặc trưng kế cận và đặc trưng tích cực/tiêu cực Cụ thể các đặc trưng như sau:

+ Đặc trung tuyến tính

+ Tính kế cận

+ Đặc trưng tích cực / tiêu cực

- Các loại cặp thoại

Căn cứ vào số lượng tham thoại trong một cặp thoại thì có những kiểu cặp thoại cơ bản sau: + Cặp thoại một tham thoại

+ Cặp thoại hai tham thoại

+ Cặp thoại ba tham thoại

+ Cặp thoại phức tạp

1.3 Cặp thoại hỏi đáp

Khái niệm: Có thể hiểu cặp thoại hỏi đáp là đơn vị lưỡng thoại nhỏ nhất của cuộc thoại trong đó lượt lời thứ nhất là đưa ra yêu cầu cần được trả lời, còn lượt lời thứ hai là trả lời cho những yêu cầu của lượt lời thứ nhất

Đặc điểm: Cặp thoại hỏi – đáp thực chất là một loại của cặp thoại, vì vậy nó cũng mang đầy đủ các đặc điểm của một cặp thoại như đặc trưng tuyến tính, tính kế cận, đặc trưng tích cực và tiêu cực Ngoài ra, nó còn có thêm đặc điểm nữa là thực hiện chức năng giao tiếp, để duy trì cuộc thoại, làm cho cuộc thoại được tiếp diễn lâu hơn

Các loại cặp thoại hỏi đáp: Chúng tôi phân loại theo cấu trúc và chức năng

Mối quan hệ giữa phát ngôn hỏi và trả lời: Hỏi và đáp là hai mặt thống nhất, thể hiện trên nhiều bình diện như chức năng giao tiếp, nhận thức, khung tình thái, hình thức cấu trúc, nội dung mệnh đề….Hỏi và đáp cũng được coi như là một cặp hội thoại tương tác Chúng

làm thành một thể thống nhất Hỏi và trả lời luôn gắn bó với nhau chặt chẽ trong hoạt động

giao tiếp đối thoại Trả lời xuất hiện là có hỏi Hỏi và trả lời quyết định sự tồn tại cho nhau vì hỏi là hình thức tìm kiếm kiến thức còn trả lời là phương thức cung cấp kiến thức

1.4 Vai trò của cặp thoại hỏi – đáp trong các giáo trình tiếng Việt cho người nước ngoài

Đối với việc thụ đắc tri thức ngôn ngữ

Việc coi cặp câu hỏi – trả lời như một cặp trao đáp và nghiên cứu cặp này có tác dụng là:

- Là đơn vị để nghiên cứu các đơn vị lớn hơn

- Nhận thức đầy đủ hỏi – đáp trong mối tương quan của chúng Từ đó thấy rõ mối quan

hệ giữa hỏi – trả lời

- Nếu chỉ nghiên cứu câu hỏi như một đơn vị đơn thoại thì vô hình chung chúng ta đã loại bỏ các yếu tố đặc thù của hội thoại như liên kết hội thoại, quan hệ liên nhân…và do đó không thấy hết các thuộc tính cũng như giá trị của câu hỏi và câu trả lời

- Nghiên cứu cặp thoại hỏi đáp là một loại cặp thoại có tầm quan trọng đặc biệt vì nó không chịu một sự ràng buộc, chi phối nào về vị trí trong cuộc thoại Chúng ta có thể gặp cặp

PN hỏi – trả lời trong tất cả các đoạn thoại ( mở thoại, thân thoại, kết thoại) của một cuộc thoại Vì vậy, việc nghiên cứu nó rất độc lập và không bị ảnh hưởng bởi các yếu tố khác

Đối với việc hình thành kỹ năng giao tiếp

Hỏi và đáp là một cấu trúc rất phổ biến trong giao tiếp Vì vậy, đối với người học ngoại ngữ, cụ thể là học tiếng Việt thì nắm vững các cấu trúc hỏi – đáp là một điều hết sức cần thiết Trong giao tiếp, không thể không có hỏi và trả lời, để có thể duy trì được cuộc thoại

Trang 4

một cách lâu dài thì việc sử dụng PN hỏi là một cách thiết thực và hiệu quả Hỏi và trả lời là hoạt động giao tiếp có tần số sử dụng rất cao trong các hội thoại hàng ngày Chính vì lẽ đó

mà nghiên cứu hỏi đáp có ý nghĩa đối với việc giảng dạy và biên soạn giáo trình tiếng Việt cho người nước ngoài Nó giúp người dạy trình bày một cách hệ thống và giúp cho người học hình thành được kỹ năng giao tiếp

Trong các giáo trình tiếng Việt cho người nước ngoài đã biên soạn từ những năm 1980 trở lại đây cho thấy: số lượng các cấu trúc hỏi đáp là tương đối lớn Trong đó bắt đầu đi từ cấu trúc đơn giản đến phức tạp Xu hướng mới của học ngoại ngữ ngày nay là hướng tới giao tiếp.Vì vậy, nắm vững cấu trúc hỏi đáp sẽ giúp cho người học có kỹ năng tốt để giao tiếp thực

tế

Bên cạnh đó, nghiên cứu cấu trúc hỏi đáp sẽ là tiền đề cho việc nghiên cứu những đơn

vị lớn hơn như đoạn thoại, hội thoại Từ đó có thể biên soạn những đoạn thoại, hội thoại hay bài học phù hợp với từng trình độ Và tạo ra một hệ thống các cấu trúc hỏi – đáp từ dễ đến khó, những cấu trúc hàng ngày thường dùng để người học có thể ứng dụng vào việc giao tiếp hàng ngày

Chương 2 Khảo sát cặp thoại hỏi – đáp chính danh

2.1 Đặc điểm của các phát ngôn hỏi chính danh trong cặp thoại hỏi – đáp

Qua quá trình khảo sát và thống kê, tổng số phiếu mà chúng tôi khảo sát được ở cả hai trình

độ là 2.426 phiếu Chúng tôi đã tiến hành phân loại các phiếu khảo sát Trong đó tổng số phiếu mà chúng tôi thống kê về các cặp thoại hỏi – đáp trong các giáo trình ở trình độ cơ sở

là 1.888 phiếu, ở trình độ nâng cao là 538 phiếu Sau khi phân loại các phiếu này (dựa vào mặt hình thức), chúng tôi đã thu được kết quả như sau:

2.1.1 Đặc điểm hình thức của các phát ngôn hỏi được sử dụng

Chúng tôi chia các loại PN hỏi chính danh (xét về đặc điểm hình thức) thành các loại như sau:

2.1.1.1 PN hỏi tổng quát

Đây là loại PN hỏi xác định tính đúng / sai, có / không , rồi / chưa Các PN hỏi này là các

PN có sử dụng cấu trúc như có không?, đã chưa?, đã bao giờ chưa?.v.v Đây

có thể coi là những cấu trúc hỏi cơ bản và rất cụ thể, dễ sử dụng và vận dụng trong các tình huống

giao tiếp Trong đó có các loại PN hỏi TQ phổ biến, ví dụ là:

1) H: Anh có khỏe không?

Đ: Cảm ơn chị Tôi rất khỏe

Nhìn chung loại PN hỏi TQ xuất hiện khá đều nhau trong các giáo trình Tuy nhiên, tỉ

lệ của PN loại này không phải là cao ( chỉ chiếm dưới 40%), cao nhất là Q6 (39%) PN hỏi

TQ là loại PN khá phổ biến và có cấu trúc rất cơ bản, rõ ràng và cụ thể Trong các giáo trình

mà chúng tôi khảo sát thì loại PN này thường xuất hiện ngay trong những bài đầu và được giải thích rất cụ thể trong các phần ngữ pháp Từ số liệu của bảng trên thì thấy rằng: Tuy không chiếm tỉ lệ quá cao nhưng các giáo trình đều có sự tương đồng về tỉ lệ Trong đó có các Q1, Q2, Q4, Q5, Q6, Q9 chiếm tỉ lệ trên 30% Các quyển còn lại chiếm dưới 30%, nhưng

tỉ lệ không chênh lệch với nhau nhiều

2.1.1.2 PN hỏi có từ nghi vấn

Đây là loại PN hỏi sử dụng các từ nghi vấn như: gì, ai, nào, khi nào, thế nào để tìm kiếm các thông tin về người, vật, thời gian hay tính chất v.v Trong các phiếu mà chúng tôi khảo sát thì loại PN hỏi này được sử dụng khá nhiều

Trong đó có những quyển chiếm tỉ lệ rất cao là quyển số 3, với 72% Nhưng cũng có quyển chiếm tỉ lệ khá thấp, thấp nhất là quyển số 10 (13,2%) Ngoài ra, các quyển khác có tỉ

lệ khá tương đồng với nhau, chiếm trên 50% là Q1 (55,5%), Q2 (50%), Q5 (56,3%) Chiếm dưới 50% là các quyển số 4, số 6, số 7, số 8 và số 9 Tuy loại PN này có tỉ lệ không đều nhau

Trang 5

giữa các giáo trình nhưng nhìn chung loại PN này lại chiếm tỉ lệ cao nhất trong số các loại

PN chính danh mà chúng tôi khảo sát được Điều này nghĩa là: Trong các cặp thoại hỏi đáp thì việc sử dụng các từ nghi vấn để tìm kiếm thông tin là loại PN phổ biến nhất và được sử dụng nhiều nhất

Các PN hỏi có từ nghi vấn được sử dụng trong các giáo trình này có thể kể ra một số ví

dụ như:

1) H: Anh Nam đang đọc gì?

Đ: Anh Nam đang đọc báo

2.1.1.3 PN hỏi lựa chọn

Loại PN hỏi này nêu ra hai khả năng để người nghe chọn lựa Trong cấu trúc của loại này có

sử dụng các dạng như: A hay B, A hoặc B

Loại PN hỏi lựa chọn không phải là loại chiếm tỉ lệ cao Thậm chí loại này chiếm tỉ lệ thấp nhất trong các loại PN Và có những quyển không có loại PN này trong các cặp thoại hỏi đáp mà chúng tôi khảo sát được như Q8, Q10 Những quyển khác tuy có xuất hiện loại PN này nhưng tỉ lệ cũng không nhiều Nhiều nhất là Q9 với 3,7% Các quyển còn lại chỉ có tỉ lệ dưới 2%

Trong các cặp thoại hỏi – đáp có sử dụng PN hỏi lựa chọn mà chúng tôi khảo sát được

có thể kể ra một số ví dụ cụ thể như:

1) H: Anh đến bưu điện để nhận thư hay gửi thư?

Đ: Tôi đến để nhận thư

2.1.1.4 PN hỏi có chứa tiểu từ tình thái

Loại PN hỏi này có sử dụng các TTTT như: à, ư, nhỉ, nhé, chứ Các PN hỏi này thường biểu thị những thái độ khác nhau của người hỏi Trong giao tiếp có lẽ các loại PN hỏi này hay được sử dụng, ta có thể bắt gặp những cặp như:

1) H: Cậu mới đi công tác thành phố Hồ Chí Minh về à?

Đ: Ừ, suốt mùa thu mình ở trong đó, nhớ cốm Hà Nội quá

Loại PN hỏi có chứa TTTT xuất hiện trong các giáo trình không đồng đều Có những giáo trình xuất hiện rất nhiều như Q10 (chiếm tới 45%) Nhưng có những giáo trình chiếm tỉ

lệ rất thấp (2%) như Q8 Các giáo trình khác có tỉ lệ trên 15% như Q6, Q7, Q9, còn lại là dưới 10% Sự xuất hiện của các loại PN hỏi có chứa TTTT chỉ xếp thứ ba trong các loại PN hỏi chính danh ( Sau loại PN hỏi có từ nghi vấn và PN hỏi TQ)

2.1.2 Đặc điểm phân bố của các loại PN hỏi trong các giáo trình

Phần này chúng tôi tiến hành nhận xét các PN hỏi theo sự phân bố của:

+ Từng giáo trình

+ Theo cấu trúc của giáo trình

+ Theo trình độ của giáo trình

2.2 Đặc điểm của các PN đáp trong cặp thoại hỏi – đáp chính danh

2.2.1 Các loại PN đáp được sử dụng

Với tính chất của cặp thoại hỏi – đáp chính danh là hỏi gì đáp nấy nên trong các cặp thoại hỏi đáp mà chúng tôi khảo sát được thì sau khi phân chia các loại PN hỏi về mặt hình thức thành bốn loại cơ bản thì PN đáp cũng được chúng tôi phân loại dựa vào đó

2.2.1.1 PN đáp của PN hỏi TQ

Theo như kết quả khảo sát và phân loại thì PN đáp của loại PN hỏi TQ thường xuất hiện dưới dạng đáp: có / không, rồi / chưa, vâng / không,

Thông qua số liệu mà chúng tôi khảo sát được thì tỉ lệ của các PN đáp cho loại PN hỏi

TQ là tương đối nhiều Tỉ lệ này khá cân bằng với lượng câu hỏi tổng quát đã khảo sát được Tuy vậy, vẫn có một số câu đáp không có cấu trúc cụ thể và rõ ràng, các câu đáp đó phải dựa vào ngữ cảnh và nội dung mới có thể phân loại được Vì vậy, chúng tôi sẽ tiến hành đánh giá

và phân loại những trường hợp đặc biệt ấy trong chương 3 của luận văn

2.2.1.2 PN đáp của PN hỏi có từ nghi vấn

Trang 6

Các PN hỏi có từ nghi vấn có mục đích tìm kiếm thông tin cụ thể về người, vật, thời gian, tính chất , do đó PN đáp là cung cấp thông tin cần thiết cho PN hỏi nhằm thỏa mãn những điều này Theo đánh giá và phân loại thì chúng tôi thu được kết quả như sau:

Tỉ lệ của loại PN đáp này không hoàn toàn tương ứng với tỉ lệ của PN hỏi vì không phải tất cả các PN hỏi có từ nghi vấn đều có câu trả lời thỏa mãn với nội dung của câu hỏi

Do vậy, số phiếu mà chúng tôi thống kê được về loại PN đáp này thấp hơn so với PN hỏi cùng loại

2.2.1.3 PN đáp của PN hỏi lựa chọn

Để đáp lại loại PN hỏi này thì người hỏi đã đưa ra hai phương án để lựa chọn Do vậy, người đáp chỉ cần lựa chọn một trong hai phương án Đây là loại PN hỏi và đáp có tỉ lệ tương ứng tương đối cao

Theo tỉ lệ như vậy thì có thể thấy rằng: Đối với PN hỏi lựa chọn thì các PN đáp thường đáp ứng được thông tin mà câu hỏi cần Do đó PN đáp cho loại PN hỏi này phần lớn là PN đáp trực tiếp

2.2.1.4 PN đáp của PN hỏi chứa TTTT

Các PN hỏi chứa TTTT thường không có một dạng trả lời nhất định (xét về mặt hình thức) Nghĩa là các PN hỏi có chứa TTTT như: à, ư, nhỉ, nhé không phải luôn luôn trả lời là ừ / vâng, không

Nhưng xét về mặt nội dung thì có thể phân loại chúng Theo nội dung có thể phân loại dựa vào thông tin trực tiếp mà PN đáp cung cấp Nếu nó thỏa mãn được yêu cầu mà PN hỏi cần thì chúng tôi vẫn xếp vào loại PN đáp trực tiếp cho câu hỏi chính danh Do đó, kết quả khảo sát mà chúng tôi có được về loại PN đáp cho PN hỏi có chứa TTTT là: Đối chiếu giữa PN hỏi thuộc loại này thì PN đáp có tỉ lệ khá ngang bằng

2.2.2 Đặc điểm phân bố của các loại PN đáp trong các giáo trình

Vì câu đáp luôn phải đi cùng với câu hỏi Có câu hỏi thì mới có câu đáp, do đó mà sự phân

bố của PN đáp trong các giáo trình cũng giống như sự phân bố của các loại PN hỏi trong các giáo trình Theo như đã phân tích ở phần trước về PN hỏi thì có thể thấy rằng các loại PN hỏi xuất hiện trong các phần hội thoại, ngữ pháp, bài luyện, bài nghe Vì vậy, các loại PN đáp cũng xuất hiện trong các phần hội thoại, bài luyện, bài nghe Nhưng có một điều mà chúng tôi thấy rằng, khi khảo sát các phần ngữ pháp thì những PN hỏi được giải thích rất rõ ràng và

cụ thể nhưng các PN đáp lại chưa được đề cập đến Rất nhiều loại PN hỏi được giải thích, trong đó có các loại PN hỏi TQ, nghi vấn, lựa chọn hay là PN hỏi có TTTT Tuy nhiên, PN đáp cho các loại PN hỏi này lại ít khi thấy xuất hiện trong các phần giải thích ngữ pháp đó Theo sự phân chia về trình độ giáo trình thì ở các giáo trình cơ sở, các loại PN hỏi xuất hiện nhiều nên các loại PN đáp cũng xuất hiện nhiều, tương ứng với các loại PN hỏi Còn ở trình độ nâng cao, các loại PN hỏi này xuất hiện ít hơn, do đó mà các PN đáp cũng xuất hiện

ít hơn so với trình độ cơ sở

2.3 Tiểu kết

Hỏi – đáp chính danh là loại hỏi đáp dễ phân biệt về mặt hình thức lẫn nội dung Vì vậy, sau khi thống kê và phân loại, chúng tôi đã có được một tỉ lệ khá lớn Các cặp thoại hỏi – đáp chính danh xuất hiện ở tất cả các giáo trình, từ cơ sở đến nâng cao

Kết quả đã đem lại cho chúng tôi lợi ích rất lớn để có thể xem xét và xây dựng một hệ thống các cặp thoại hỏi – đáp chính danh cho phù hợp với trình độ của người học Từ đó, người dạy cũng có thể vận dụng một cách cụ thể vào việc giảng dạy Cặp thoại hỏi – đáp chính danh thường xuất hiện với những cấu trúc khá cụ thể và rõ ràng Người học ở trình độ

cơ sở có thể sử dụng cặp thoại hỏi – đáp chính danh để luyện tập và thực hiện một cuộc trao đáp đơn giản và hiệu quả Điều này là rất thiết thực và có hiệu quả cao đối với người học và người dạy

Trang 7

Chương 3 Khảo sát cặp thoại hỏi – đáp không chính danh

3.1 Đặc điểm của các PN hỏi trong cặp thoại hỏi – đáp không chính danh

3.1.1 Nhận xét chung về các PN hỏi không chính danh được sử dụng

Những PN hỏi mang giá trị ngôn trung gián tiếp, nghĩa là trong thực tế giao tiếp, PN hỏi đó không nhằm mục đích để hỏi mà đồng thời thực hiện một số hành vi như : phủ định, khẳng định, nghi ngờ, phỏng đoán v.v thì những PN hỏi đó là PN hỏi không chính danh Trong khi khảo sát và phân loại, chúng tôi cũng gặp những loại PN hỏi này, tuy nhiên tỉ lệ của các loại PN hỏi này so với các PN hỏi chính danh là rất thấp

Loại PN hỏi không chính danh xuất hiện ở hầu hết các giáo trình, từ cơ sở đến nâng cao Tuy nhiên, tỉ lệ của loại PN hỏi không chính danh ở mỗi giáo trình là khác nhau Có thể thấy rằng các loại PN hỏi không chính danh xuất hiện nhiều ở các giáo trình trình độ nâng cao, còn các giáo trình ở trình độ cơ sở thì các loại PN hỏi không chính danh cũng xuất hiện nhưng chiếm tỉ lệ rất ít

3.1.2 Phân loại ý nghĩa của các PN hỏi không chính danh

3.1.2.1 PN hỏi có giá trị phỏng đoán

Đây là loại PN hỏi thể hiện sự nghi ngờ hay đoán định hoặc thể hiện thái độ không chắc chắn, phân vân về một sự kiện, hành động nào đó Chúng ta có thể nhận ra loại PN hỏi này thông qua việc xác định những từ, cụm từ đặt trước một cú Chẳng hạn những cụm từ như: liệu, phải chăng, chẳng lẽ, hay là, không biết v.v hay những cụm từ để kết thúc như: chăng, không biết, không nhỉ v.v

Chẳng hạn như:

1) H: Tôi đã đọc một số bài thơ ca ngợi sông Hương Sông Hương chắc đẹp lắm?

Đ: Vâng Sông Hương rất đẹp

3.1.2.2 PN hỏi có giá trị khẳng định

Đây là loại PN hỏi không chính danh phổ biến thứ hai sau loại PN hỏi có giá trị phỏng đoán Loại PN hỏi này được dùng để thực hiện hành vi khẳng định Chức năng dụng học của câu hỏi này là nhằm khẳng định lại một sự vật, hiện tượng được thừa nhận là tồn tại Về mặt hình thức thì loại PN hỏi này có sự xuất hiện của các từ / cụm từ như: chứ đâu, chứ ai, chứ sao, chẳng phải sao?, không là gì? v.v

1) H: Anh đang bận?

Đ: Không, hôm nay tôi nghỉ

3.1.2.3 PN hỏi có giá trị phủ định

Đây là loại PN mang hành vi điển hình của câu trần thuật nhưng lại mang chiều hướng phủ định Hình thức của loại PN nghi vấn phủ định khá phong phú và đa dạng

Tuy nhiên khi khảo sát thì chúng tôi thấy loại PN này ít được sử dụng Nó chỉ xuất hiện trong vài giáo trình ở trình độ nâng cao Nhưng các loại PN hỏi như vậy chỉ xuất hiện đơn lẻ chứ không nằm trong một cặp thoại

H: Nhà rộng và nhiều đồ thế này làm sao mà lau xuể?

Đ: Nhà có người giúp việc anh ạ

3.1.2.4 PN hỏi có giá trị cầu khiến

Khi một PN hỏi không có yêu cầu cung cấp một thông báo nào tương ứng với nội dung của PN hỏi mà chỉ muốn người nghe cho phép mình được thực hiện một hành vi nào đó hay

đề nghị người nghe thực hiện một hành vi gì đó thì PN hỏi này mang ý nghĩa cầu khiến Loại

PN hỏi này cũng khó xác định vì chúng ta phải dựa nhiều vào ngữ cảnh Trong các cặp thoại

mà chúng tôi khảo sát thì loại PN hỏi có giá trị cầu khiến không thấy xuất hiện nhiều Các câu cầu khiến xuất hiện chủ yếu dưới dạng các câu đề nghị hay mời mọc, rủ rê Ví dụ như:

1) H: Bác cho xem quyển từ điển kia một chút?

Đ: Vâng, đây mời anh xem

Trang 8

3.1.2.5 PN hỏi có giá trị cảm thán

Câu cảm thán sử dụng hình thức nghi vấn đôi khi không cần câu trả lời PN hỏi loại này thường sử dụng những từ nghi vấn như: biết bao, biết chừng nào, bao nhiêu, sao, đâu v.v Khi nói đến giá trị cảm thán thì không chỉ dựa vào ý nghĩa của lời nói mà phải dựa vào ngữ điệu nữa Trong các cặp thoại hỏi đáp thì PN hỏi không chính danh loại này xuất hiện rất hiếm.Qua kết quả khảo sát thì chúng tôi thu được hai cặp thoại sử dụng loại PN hỏi này

1) H: Chỉ có hai tuần thôi!

Đ: Vâng chỉ 2 tuần

3.1.2.6 PN hỏi biểu thị sự ngạc nhiên

Trong các loại PN hỏi không chính danh thì ngoài những giá trị đã phân tích ở trên, chúng tôi thấy có sự xuất hiện thêm một giá trị nữa Đó là PN hỏi thể hiện sự ngạc nhiên Đây là loại

PN hỏi không phải là nhiều nhưng cũng khá là hay và dễ nhận ra Ví dụ:

H: Bạn trèo dừa? Ôi trời! Thật thế ư?

Đ: Có gì đâu! Ở nhà mình, hơn ai hết, mình là người trèo dừa giỏi nhất Mình trèo dừa từ khi còn bé tí

3.2 Đặc điểm của các PN đáp trong các cặp thoại hỏi – đáp không chính danh

3.2.1 PN đáp trực tiếp và PN đáp gián tiếp

Ứng với mỗi PN hỏi có thể có nhiều PN đáp khác nhau Song, các PN đáp thường thuộc vào một trong hai phương thức cơ bản đó là đáp trực tiếp hoặc đáp gián tiếp PN đáp trực tiếp thường cung cấp những thông tin vào đúng mục đích mà PN hỏi yêu cầu hoặc cung cấp thông tin một cách trực tiếp Trong khi đó thì PN đáp gián tiếp thường không cung cấp trực tiếp thông tin mà PN hỏi cần Đó có thể là những câu đáp vòng vo, không cụ thể, không rõ ràng

hoặc chưa cung cấp được những thông tin cho câu hỏi

3.2.2 Các loại PN đáp gián tiếp

3.2.2.1 Đáp bằng cách hỏi lại

Đáp bằng câu hỏi là một loại đáp phổ biến nhất trong các loại câu đáp gián tiếp Cách đáp này xuất hiện ở hầu hết các giáo trình, từ cơ sở đến nâng cao Trong các cặp thoại hỏi đáp mà chúng tôi khảo sát được thì PN đáp gián tiếp là câu hỏi chiếm tỉ lệ rất cao Trong các PN đáp bằng cách hỏi lại có nhiều mục đích khác nhau Đó có thể là xác nhận lại thông tin của PN hỏi khi người nghe chưa rõ câu hỏi hoặc chưa rõ nội dung mà PN hỏi cần Chẳng hạn như:

1) H: Có xa lắm không ông?

Đ: Hả? Cái gì? Xa hả? Cô đi bộ được, không cần xe

3.2.2.2 Đáp bằng cách khẳng định

Đáp bằng cách khẳng định là cách đáp mà người đáp cung cấp thông tin cho PN hỏi bằng cách nhấn mạnh hoặc khẳng định lại thông tin Thông qua các cấu trúc thể hiện ý nghĩa nhấn mạnh thì ta có thể hiểu được nội dung ngầm ẩn của câu đáp Loại PN này cũng được chúng tôi đưa vào loại PN đáp gián tiếp Ví dụ: quyển số 8, trang 86:

H: Bạn đã đi chùa Hương bao giờ chưa?

Đ: Ồ, ai đã một lần đến Việt Nam mà chẳng biết đến chùa Hương, một thắng cảnh kỳ thú ở nước này

3.2.2.3 Đáp bằng cách phủ định

Không chỉ có PN đáp bằng cách khẳng định mà chúng tôi cũng khảo sát được những

PN đáp có ý nghĩa phủ định Đáp bằng cách phủ định là cách đáp mà trong đó có sử dụng những cấu trúc có ý nghĩa phủ định Trong các giáo trình mà chúng tôi khảo sát thì chúng tôi thấy phần ngữ pháp có giới thiệu rất nhiều cấu trúc phủ định Ví dụ:

1) H: Cô Lan yêu anh Trung phải không?

Đ: Yêu với đương gì

3.2.2.4 Đáp bằng cách cầu khiến

Trong các cách đáp gián tiếp thì chúng tôi thấy có sự xuất hiện của cách đáp thể hiện mục đích cầu khiến Đó là cách đáp mà người đáp không cung cấp trực tiếp thông tin cho người

Trang 9

hỏi mà người đáp muốn thực hiện một hành vi hay muốn người nghe thực hiện một hành vi nào đó Trong các cặp thoại mà chúng tôi khảo sát được thì loại đáp không chính danh thể hiện mục đích cầu khiến xuất hiện không nhiều lắm Nhưng có thể thấy các câu đáp loại này chủ yếu xuất hiện trong các giáo trình cơ sở Ví dụ:

1) H: Chị đi với tôi không?

Đ: Để tôi xem!

3.2.2.5 Đáp bằng cách nêu ra lý do hoặc cung cấp thêm thông tin để giải thích, hoặc lảng tránh

Ngoài những mục đích khác nhau của PN đáp không chính danh mà chúng tôi đã thống kê và phân tích ở những phần trên thì có những PN đáp rất khó phân loại và xếp vào một nội dung cụ thể Tất cả những trường hợp ấy được chúng tôi sắp xếp dựa vào ý nghĩa của các PN đáp Những PN đáp đó có rất nhiều mục đích và nội dung của những thông tin mà PN đáp cung cấp thì có thể không cụ thể và rõ ràng, hoặc chưa đáp ứng được thông tin mà PN hỏi cần Vì vậy, chúng tôi xếp những PN đáp ấy vào trong nội dung này Chẳng hạn như:

1) H: Anh Nhân đi vắng ạ? Anh ấy đi đâu?

Đ: Anh tôi đi có chút việc Anh tôi sắp về bây giờ

3.4 Tiểu kết

Chương này khảo sát và phân loại các cặp thoại hỏi – đáp không chính danh Qua kết quả mà chúng tôi khảo sát được thì tỉ lệ của cặp thoại hỏi – đáp không chính danh là rất ít

so với các cặp thoại hỏi – đáp chính danh

Thông qua phương pháp thống kê, phân loại và miêu tả, chúng tôi đã sắp xếp các loại cặp thoại không chính danh thành nhiều loại với những ý nghĩa khác nhau Đối với các

PN đáp không chính danh, sau khi phân loại, chúng tôi đã có các loại đáp không chính danh Các loại đáp này không xuất hiện cùng với các PN hỏi không chính danh Tỉ lệ của loại đáp bằng cách hỏi lại là cao nhất Đây là cách đáp không chính danh phổ biến nhất và xuất hiện rất nhiều trong cả giáo trình cơ sở lẫn giáo trình nâng cao Các loại đáp còn lại thì xuất hiện ngang bằng nhau

Việc khảo sát cặp thoại hỏi – đáp không chính danh phải dựa vào đặc điểm nội dung của cặp thoại, chứ không thể chỉ dựa vào đặc điểm về mặt hình thức Chính vì vậy, việc khảo sát và phân loại được chúng tôi tiến hành rất kỹ và tỉ mỉ Kết quả này đem lại cho chúng tôi lợi ích rất lớn trong việc biên soạn, sắp xếp các cặp thoại hỏi – đáp không chính danh thành một hệ thống Để từ đó, chúng tôi có thể sử dụng cho việc biên soạn và giảng dạy các cặp thoại không chính danh một cách hợp lý và dễ hiểu nhất

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

1 Kết luận

Trong luận văn này, chúng tôi đã đi sâu vào khảo sát và phân tích cặp thoại hỏi – đáp trong các sách dạy tiếng Việt cho người nước ngoài Từ những kết quả mà chúng tôi khảo sát được, chúng tôi hy vọng có thể giúp cho cả người học lẫn người dạy có một hệ thống cơ bản

về cặp thoại hỏi – đáp để vận dụng một cách hiệu quả nhất trong việc biên soạn giáo trình cũng như giảng dạy

Qua khảo sát 10 cuốn giáo trình tiếng Việt cho người nước ngoài ( 5 cuốn cơ sở và 5 cuốn nâng cao) thì chúng tôi có những nhận xét như sau:

- Đối với giáo trình cơ sở: Các cặp thoại hỏi – đáp chủ yếu xuất hiện ở dạng chính danh Trong các giáo trình này có phần ngữ pháp giải thích rất rõ và cụ thể về cấu trúc, hình thức của các câu hỏi Tuy nhiên, các phần giải thích ngữ pháp chỉ tập trung vào câu hỏi mà chưa có phần giải thích cho câu đáp

- Đối với giáo trình nâng cao: Các cặp thoại hỏi – đáp không chính danh xuất hiện nhiều hơn Điều này cũng dễ hiểu vì ở trình độ cao, người học cần phải được tiếp cận với

Trang 10

những mục đích khác nhau của hỏi và đáp Chính vì thế các PN hỏi đáp hàm ẩn nhiều mục đích khác nhau, khiến người ta phải suy luận là cần thiết cho những người học ở trình độ cao

2 Một số kiến nghị cho việc biên soạn giáo trình và giảng dạy các cấu trúc hỏi – đáp

- Dựa vào những nhận xét chung mà chúng tôi đã đưa ra ở trên thì việc biên soạn giáo trình sẽ vận dụng những ưu điểm của các giáo trình này Qua đó, chúng tôi sẽ tiến hành sắp xếp những cấu trúc hỏi – đáp chính danh theo trình độ giáo trình

- Phần giải thích ngữ pháp sẽ tập trung vào cả mặt cấu trúc lẫn nội dung của các cặp thoại Cả phần hỏi lẫn phần đáp sẽ được chú trọng Chúng tôi muốn sắp xếp các cấu trúc của

PN hỏi – đáp chính danh và không chính danh thành những phần cụ thể dựa theo những nghiên cứu của chúng tôi trong luận văn này

- Tùy vào trình độ mà chúng tôi sẽ đưa những loại PN hỏi đáp trên vào các giáo trình từ

dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp Trong phần giải thích ngữ pháp sẽ phải rất cụ thể và rõ ràng, cung cấp nhiều loại câu khác nhau Sau đó, các bài luyện, bài tập cũng như các bài hội thoại sẽ được thiết kế để giúp người học tạo dựng kỹ năng hỏi và đáp

References

TIẾNG VIỆT

1 Lê A, Nguyễn Quang Ninh, Bùi Minh Toán (1997), Phương pháp dạy học tiếng Việt,

Nxb Giáo dục, Hà Nội

2 Diệp Quang Ban (1996), Ngữ pháp tiếng Việt tập 2, Nxb Giáo dục, HN

3 Gillian Brown – George Yule (2002), Phân tích diễn ngôn, Trần Thuần (dịch), Nxb

ĐHQG, Hà Nội

4 Đỗ Hữu Châu (2003), Cơ sở ngữ dụng học, NXB ĐHSP, HN

5 Đỗ Hữu Châu, Bùi Minh Toán (2006), Đại cương Ngôn ngữ học, tập 1, Nxb Giáo

dục, Hà Nội

6 Đỗ Hữu Châu, Đỗ Việt Hùng (2008), Ngữ dụng học, Nxb ĐH Sư phạm

7 Đỗ Hữu Châu (2010), Đại cương Ngôn ngữ học, tập 2, Nxb Giáo dục Việt Nam

8 Mai Ngọc Chừ - Vũ Đức Nghiệu – Hoàng Trọng Phiến (1997), Cơ sở ngôn ngữ học

và tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội

9 Nguyễn Đức Dân (1998), Ngữ dụng học, Nxb Giáo dục, Hà Nội

10 Nguyễn Đức Dân (1999), Sơ lược về lý thuyết tam thoại, Tạp chí Ngôn ngữ, số 3, tr 1

– 8

11 Hữu Đạt (1998), Phong cách học tiếng Việt hiện đại, Nxb ĐHQGHN

12 Hữu Đạt, Trần Trí Dõi, Đào Thanh Lan (1998), Cơ sở Tiếng Việt, Nxb Giáo dục Hà

Nội

13 Hữu Đạt (2009), Đặc trưng ngôn ngữ và văn hóa giao tiếp Tiếng Việt, NXBGD Việt

Nam, Hà Nội

14 Lê Đông (1985), Câu trả lời và câu đáp của câu hỏi, Tạp chí Ngôn ngữ, số 1, tr 23 –

26

15 Lê Đông (1996), Ngữ nghĩa – ngữ dụng của câu hỏi chính danh, Luận án PTS Ngôn

ngữ, ĐH QGHN

16 Nguyễn Thiện Giáp (chủ biên), Đoàn Thiện Thuật, Nguyễn Minh Thuyết (2002),

Dẫn luận ngôn ngữ học, Nxb Giáo dục, Hà Nội

17 Nguyễn Thiện Giáp (2007), Dụng học Việt Ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội

18 Phan Văn Giưỡng (1994), Tiếng Việt (Vietnamese) Intermediate 3, National Library

of Australia

19 Cao Xuân Hạo (1991), Tiếng Việt – Sơ thảo ngữ pháp chức năng, Nxb Khoa học Xã

hội

Ngày đăng: 14/01/2014, 22:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w