1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bia đá thế kỷ XVII của một số chùa ở ngoại thành hà nội (khảo sát 10 huyện phía tây và phía nam hà nội)

16 380 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bia đá thế kỷ XVII của một số chùa ở ngoại thành Hà Nội
Tác giả Nguyễn Thị Xuân
Người hướng dẫn PGS.TS. Phan Phương Thảo
Trường học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Chuyên ngành Lịch sử Việt Nam
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2011
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 655,04 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiờn cứu nghệ thuật tạo tỏc bia đỏ thế kỷ XVII trường hợp 10 huyện ngoại thành Hà Nội: những đặc trưng bờn ngoài của bia đỏ về hỡnh dỏng bia, kỹ thuật chạm khắc, bố cục bia và cỏc hỡnh

Trang 1

1

Bia đỏ thế kỷ XVII của một số chựa ở ngoại thành Hà Nội (khảo sỏt 10 huyện phớa Tõy và

phớa Nam Hà Nội) Nguyễn Thị Xuõn

Trường Đại học Khoa học Xó hội và Nhõn văn

Khoa Lịch sử Chuyờn ngành: Lịch sử Việt Nam; Mó số: 60 22 54

Người hướng dẫn: PGS.TS Phan Phương Thảo

Năm bảo vệ: 2011

Abstract Khỏi quỏt về bia đỏ thế kỷ XVII và 17 ngụi chựa tiờu biểu của 10 huyện ngoại

thành Hà Nội Nghiờn cứu nghệ thuật tạo tỏc bia đỏ thế kỷ XVII (trường hợp 10 huyện ngoại thành Hà Nội): những đặc trưng bờn ngoài của bia đỏ về hỡnh dỏng bia, kỹ thuật chạm khắc, bố cục bia và cỏc hỡnh tượng chạm khắc… từ đú đưa ra cỏc tiờu chớ để xỏc định tương đối cho bia đỏ đó bị mất niờn đại tuyệt đối và cú sự đối sỏnh với những chạm khắc trờn kiến trỳc gỗ cựng thời Phõn tớch những nội dung phản ỏnh của bia đỏ thế kỷ XVII (trường hợp 10 huyện ngoại thành Hà Nội): vị trớ, quy mụ, cảnh quan chựa, vật liệu xõy dựng, lịch sử hỡnh thành và lực lượng hưng cụng vào cỏc ngụi chựa thời kỳ này qua thư tịch văn bia … Từ đú thấy được cỏch thức tạo dựng và trựng tu chựa của người xưa trong giai đoạn thế kỷ XVII để gúp phần cho cụng tỏc bảo tồn di tớch hiện nay

Keywords Bia đỏ; Chựa; Hà Nội; Lịch sử Việt Nam

Content

Phần mở đầu

1 Lý do chọn đề tài:

1.1 Bia đá là một trong những nguồn t- liệu quý giá trong nghiên cứu lịch sử và văn hoá, những bia đá có giá trị th-ờng đ-ợc các nhà thơ, nhà văn sáng tác với nội dung phong phú đa dạng phản ánh về tình hình chính trị - xã hội, đời sống con ng-ời, văn hoá giáo dục tất cả đều mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam Trên mỗi bề mặt của bia khắc các hoạ tiết trang trí nghệ thuật Bởi vậy, bia đá còn là những t- liệu quý về lịch

sử điêu khắc và th- pháp Việt Nam

1.2 Chùa là một loại hình kiến trúc quan trọng trong đời sống tâm linh của mỗi ng-ời dân Việt Trong điều kiện khí hậu nóng, ẩm, nhiều thiên tai, địch họa của miền nhiệt đới, cùng với nét đặc thù của lịch sử dân tộc chiến tranh liên miên, đã khiến cho các công trình kiến trúc cổ này bị hủy hoại Bởi vậy, các công trình kiến trúc này th-ờng xuyên đ-ợc tái tạo, tu bổ Công việc trùng tu đó th-ờng in đậm dấu ấn của thời đại Tuy nhiên, không phải lúc nào cũng có thể nhận ra và bóc tách đ-ợc đặc điểm của thời đại qua các lớp kiến trúc với từng thời điểm tạo dựng, tu bổ khác nhau Với những gì còn sót lại

và bằng những kết quả nghiên cứu của khảo cổ học lịch sử, đặc biệt cùng với việc nghiên

Trang 2

cứu bia đá thế kỷ XVII chúng ta cũng phần nào phác hoạ đ-ợc hình dáng cũng nh- đặc tr-ng kiến trúc của những ngôi chùa cổ trong giai đoạn này

1.3 Nh- nhiều nhà nghiên cứu chùa Việt đã từng nhận xét, thế kỷ XVII là thế kỷ bùng nổ của các ngôi chùa lớn ở khu vực đồng bằng Bắc Bộ Trong đó 13 huyện ngoại thành ở phía Tây và phía Nam Hà Nội (bao gồm: Th-ờng Tín, Phú Xuyên, Thạch Thất, Quốc Oai, Hoài Đức, Phúc Thọ, Sơn Tây, Ba Vì, Thanh Oai, ứng Hòa, Mỹ Đức, Ch-ơng

Mỹ, Hà Đông) đ-ợc sáp nhập từ tỉnh Hà Tây cũ từ sau ngày 01.8.2008 đã có 469 ngôi chùa đ-ợc xây dựng qua các thời kỳ khác nhau, trong đó có 132 ngôi chùa đ-ợc xếp hạng cấp Bộ, 47 ngôi chùa xếp hạng cấp tỉnh và 290 ngôi chùa ch-a đ-ợc xếp hạng, điều đáng quan tâm là có 07 ngôi chùa đã đ-ợc xếp vào loại di tích Quốc gia đặc biệt Tuy nhiên, ở khu vực này có 38 ngôi chùa có niên đại thế kỷ XVII, trong đó những ngôi chùa đảm bảo

đ-ợc cả hai yếu tố: vừa bảo l-u đ-ợc giá trị kiến trúc điêu khắc trang trí thế kỷ XVII, lại vừa l-u giữ đ-ợc các tấm bia đồng niên đại thì số l-ợng không nhiều, chỉ dừng lại ở con

số 17 chùa với 29 tấm bia đá Danh sách 17 ngôi chùa gồm chùa Bối Khê, chùa Đậu, chùa Cống Xuyên, chùa H-ng Giáo, chùa H-ơng, chùa La Khê, chùa Lại An, chùa Lê D-ơng, chùa Mía, chùa Mậu L-ơng, chùa Mui, chùa Nhị Khê, chùa Sổ, chùa Thầy, chùa Thị Nguyên, chùa Trăm Gian, chùa T-ờng Phiêu Những di tích này chứa đựng nhiều nét đặc sắc trên mọi ph-ơng diện nh- lịch sử, văn hóa, mỹ thuật, kiến trúc

Với những lý do nêu trên, chúng tôi đã chọn đề tài nghiên cứu: “Bia đá thế kỷ XVII của một số ngôi chùa ở ngoại thành Hà Nội (Khảo sát 10 huyện phía Tây và phía Nam Hà Nội)”

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề:

Cho đến nay, có rất nhiều công trình nghiên cứu về bia đá đ-ợc xuất bản nh-:“Văn

bia thời Lê xứ Kinh Bắc và sự phản ánh sinh hoạt làng xã” của Phạm Thị Thuỳ Vinh xuất

bản năm 2003 ; “Một số vấn đề về văn bia Việt Nam” của Trịnh Khắc Mạnh

Trong lĩnh vực nghiên cứu chuyên sâu về mỹ thuật của các bia đá có thể kể đến các

cuốn“Trang trí trong mỹ thuật truyền thống của người Việt” của Trần Lâm Biền hay cuốn“Mỹ thuật Lý Trần - Mỹ thuật Phật giáo Việt Nam” của Chu Quang Trứ đề cập đến

“Bia và văn bia chùa Việt Nam” Ngoài ra, Viện Mỹ Thuật còn có những tác phẩm nh-

“Mỹ thuật thời Lý”, “Mỹ thuật thời Trần”, “Mỹ thuật thời Mạc”

Một số khóa luận, luận án cũng đặt vấn đề nghiên cứu bia đá thế kỷ XVII theo

h-ớng tiếp cận mỹ thuật Năm 1975, Tăng Bá Hoành đã nghiên cứu “Sự chuyển biến hoa

văn đến trang trí bia đá thế kỷ XVI - XVIII” Đến năm 1979, Đặng Kim Ngọc đã có khoá

luận“Bước đầu tìm hiểu nghệ thuật trang trí bia đá thế kỷ XV- XVIII” Luận án Tiến sĩ năm 2001 của Nguyễn Quốc Tuấn về“Di tích chùa Bối Khê (Hà Tây)”, của Nguyễn Văn Tiến năm 2001 về “Di tích chùa Thầy (Hà Tây)”, luận văn của Phạm Thị Thu H-ơng (2000) về “chùa Trăm Gian những giá trị văn hóa nghệ thuật”

Tạp chí Hán Nôm có nhiều tác giả đã đề cập đến việc nghiên cứu bia đá Tác giả

Nguyễn Huy Thức “Bước đầu tìm hiểu văn bia ở một huyện thuộc đồng bằng Bắc Bộ”;

“Đặc điểm thể loại văn bia Việt Nam, tạp chí Hán Nôm, số 4, 1993 của Trịnh Khắc Mạnh; “Văn bia chợ Việt Nam - Giá trị t- liệu khi tìm hiểu các vấn đề sinh hoạt xã hội

thời phong kiến” số 5, năm 2006 hoặc “Một số đặc điểm về nội dung và hình thức của văn bia Lê Sơ” đăng trên số 4 năm 2008 của tác giả Phạm Thị Thuỳ Vinh

Trên tạp chí Khảo cổ học có bài “Vài nét về tình hình s-u tầm và nghiên cứu văn bia

Việt Nam” của tác giả Hoàng Lê, số 2 năm 1982; hoặc “Tìm hiểu nghệ thuật trang trí bia

đá thế kỷ XVIII” của Lê Đình Phụng, số 2 năm 1987

Năm 1982, M.Bernanse đã viết“Nghệ thuật trang trí ở Bắc Kỳ” (t- liệu Bảo tàng

Trang 3

3

Nga là Phedorin, được xem xét dưới góc độ lịch sử Ngoài ra Phedorin có bài viết “Hệ

ph-ơng pháp và một vài kết quả phân tích thống kê t- liệu văn bia Việt Nam khi nghiên cứu lịch sử xã hội” (bản dịch của Trịnh Khắc Mạnh) đăng trên tạp chí Hán Nôm số 2 năm

1992 “Bia Văn Miếu Hà Nội” đ-ợc quỹ Agence de la Francôphnie (ACCT) của Tổ chức

hợp tác Văn hoá và Kỹ thuật của Cộng đồng Pháp ngữ tài trợ xuất bản bằng song ngữ Pháp - Việt

Tóm lại, có thể thấy rất hiếm những công trình nghiên cứu, những luận án, luận văn

đặt vấn đề kết hợp giữa nghiên cứu về chùa và nghiên cứu bia đá trong giai đoạn thế kỷ XVII

3 Đối t-ợng và phạm vi nghiên cứu:

Chúng tôi chọn 29 tấm bia đá thế kỷ XVII trong 17 ngôi chùa tiêu biểu đáp ứng

đ-ợc hai tiêu chí: thứ nhất là những ngôi chùa vẫn giữ đ-ợc kiến trúc mang phong cách nghệ thuật thế kỷ XVII; thứ hai là trong những ngôi chùa đó còn l-u giữ đ-ợc những tấm bia đá đ-ợc tạo tác trong giai đoạn thế kỷ XVII làm đối t-ợng nghiên cứu và giới hạn trong phạm vi 10 huyện ngoại thành ở phía Tây và phía Nam Hà Nội (tr-ớc đây thuộc tỉnh Hà Tây và đến ngày 01.8.2008 đ-ợc sáp nhập trở thành các huyện thuộc ngoại thành

Hà Nội)

4 Ph-ơng pháp nghiên cứu:

- Ph-ơng pháp điều tra điền dã

- Ph-ơng pháp văn bản học

- Ph-ơng pháp phân tích, tổng hợp

- Ph-ơng pháp so sánh

5 Đóng góp của luận văn:

- Luận văn tổng hợp về những hình t-ợng chạm khắc trên bia đá thế kỷ XVII trong một số ngôi chùa Việt Từ đó đ-a ra những tiêu chí để xác định niên đại của bia đá mang tính chất t-ơng đối, bổ sung thêm phần khuyết thiếu của nghệ thuật chạm khắc cổ truyền

- Luận văn phân tích việc tạo dựng, trùng tu các ngôi chùa đ-ợc phản ánh qua bia đá thế kỷ XVII Nó có ý nghĩa khoa học đối với cả nghiên cứu văn bản Hán Nôm và mỹ thuật truyền thống của ng-ời Việt

- Góp phần nghiên cứu chùa Việt cũng nh- lịch sử, văn hóa của làng xã trong giai

đoạn thế kỷ XVII

6 Bố cục của luận văn:

Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn đ-ợc chia thành 3 ch-ơng:

Chương 1: Vài nét về bia đá thế kỷ XVII và 17 ngôi chùa tiêu biểu của 10 huyện ngoại

thành Hà Nội:

Chương 2: Nghệ thuật tạo tỏc bia đỏ thế kỷ XVII (tr-ờng hợp 10 huyện ngoại thành Hà

Nội):

Chương 3: Nội dung phản ánh của bia đá thế kỷ XVII (tr-ờng hợp 10 huyện ngoại thành

Hà Nội)

Phần phụ lục của luận văn bao gồm:

- Bảng thống kê 29 bia đá thế kỷ XVII trong 17 ngôi chùa tiêu biểu ở 10 huyện ngoại thành phía Tây và phía Nam Hà Nội theo trục thời gian

- Phần dịch bia đá thế kỷ XVII trong một số ngôi chùa để làm minh họa cho phần chính văn

- Một số ảnh bia đá minh họa cho phần chính văn

Trang 4

Ch-ơng 1 Vài nét về bia đá thế kỷ XVII và 17 ngôi chùa tiêu biểu của 10

huyện ngoại thành hà nội 1.1 Vài nét về bia đá Việt Nam

1.1.1 Khái niệm về bia đá:

Bia vốn là âm “bi - 碑” xuất hiện cùng những chiếc bia đầu tiên vào thời nhà Chu (Trung Quốc) Bia này ban đầu vốn không có chữ, sau nhân đó mà khắc bài văn lên ở Việt Nam có thể nói rằng không một làng quê nào, một sự kiện quan trọng liên quan cộng

đồng làng xã thời phong kiến lại không đ-ợc dựng bia ghi lại

1.1.2 Bia đá Việt Nam qua các thời kỳ:

Tấm bia sớm nhất hiện biết là bia “Đại Tuỳ Cửu Chân quận bảo an đạo tràng chi bi

văn” ở Thanh Hoá năm 618 Sau đó là những cột kinh Phật mang tên“Phật đỉnh tôn thắng gia chú linh nghiệm đà la ni” 8 mặt ở chùa Nhất Trụ - Hoa L- (Ninh Bình) khắc

vào thời Đinh (968 - 979)

- Bia thế kỷ XI - XII (thời Lý): Theo Lê Thị Liên trong bài “Mấy nhận xét về bi ký

Lý - Trần” mới thống kê đ-ợc 13 bia đá thời Lý phân bố rải rác trong các di tích Từ đó

đến nay vẫn còn tiếp tục đ-ợc phát hiện

- Bia thế kỷ XIII - XIV (thời Trần): Cũng trong bài “Mấy nhận xét về bi ký Lý -

Trần” của Lê Thị Liên đã thống kê đ-ợc 32 bia đá và vẫn còn đ-ợc tiếp tục phát hiện

- Bia thế kỷ XV (thời Lê Sơ): Theo thống kê trong cuốn“Văn khắc Hán Nôm Việt

Nam” của Trịnh Khắc Mạnh hiện nay thời Lê Sơ còn hơn 70 bia đá, tập trung chủ yếu ở

khu Lam Kinh (Thanh Hoá), hoặc bia Tiến sĩ ở Văn miếu Quốc Tử Giám Hà Nội, ngoài

ra còn một số bia phân bố rải rác trong các di tích

- Bia thế kỷ XVI (thời Lê - Mạc): Bia thế kỷ XVI đ-ợc biết đến đều xuất hiện từ

Thanh Hoá, Nghệ An trở ra Trong đó, bia mang niên hiệu nhà Lê chủ yếu ở Thanh Hoá, bia mang niên hiệu nhà Mạc tập trung chủ yếu ở các vùng Kiến An, Hải D-ơng và các vùng phụ cận Thăng Long

- Bia Lê Trung H-ng (thế kỷ XVII - nửa cuối thế kỷ XVIII): số l-ợng bia đ-ợc tạo

dựng lớn hơn rất nhiều so với thời kỳ tr-ớc, lại phân bố rộng khắp trong các làng xã, nên cho đến nay vẫn ch-a có thống kê cụ thể

- Bia cuối thế kỷ XVIII (thời Tây Sơn): Bia đá thời Tây Sơn đã b-ớc đầu thống kê

đ-ợc 318 bản dập văn bia, chúng đ-ợc phân bố rải rác ở các địa ph-ơng từ Lạng Sơn đến

Cố đô Huế

- Bia thế kỷ XIX - nửa đầu thế kỷ XX (Thời Nguyễn): số l-ợng bia thời Nguyễn

cũng còn khá lớn, lại nằm rải rác trong các di tích kiến trúc cổ truyền của ng-ời Việt, việc s-u tầm, thống kê toàn bộ số l-ợng bia thời kỳ này rất khó khăn

1.1.3 Các yếu tố ảnh h-ởng tới bia đá thế kỷ XVII:

1.1.3.1 Yếu tố tự nhiên:

- Khí hậu vùng ngoại thành Hà Nội cũng cùng chung khí hậu đồng bằng Bắc Bộ, có

nhiệt độ nóng ẩm m-a nhiều, mùa đông giá rét ảnh h-ởng lớn đến những bia đá nằm ở ngoài trời không có nhà che bia bảo vệ, nên nhiều bia đá bị bào mòn bởi thiên nhiên thất th-ờng

- Địa hình: 10 huyện ngoại thành Hà Nội ở đầu bên phải của “võng sông Hồng”

Ngoài ra bờ vịnh cổ còn để lại bậc thềm phù sa cổ ở Ba Vì, Thạch Thất, Quốc Oai cao độ 30m đến 35m trên mặt đồng bằng phù sa mới hiện tại Ng-ời ta có thể khai thác đá ở những ngọn núi này để làm bia đá

Trang 5

5

1.1.3.2 Yếu tố chính trị - xã hội:

Nội chiến Nam - Bắc triều giữa hai dòng họ Trịnh - Mạc chấm dứt, nh-ng hậu quả

để lại cũng thật nặng nề Sau gần 50 năm nội chiến với hơn 40 cuộc chiến lớn, nhỏ của hai họ Trịnh - Mạc đã đẩy đất n-ớc vào sự chém giết, hao ng-ời, tốn của, gây lên hàng

loạt các trận đói vào năm 1557, 1559, 1570, 1572, 1577 [45, tr 342 - 343]

Cuộc chiến tranh giành quyền c-ớp ngôi đẫm máu Trịnh - Mạc vừa chấm dứt vào năm 1592, thì những năm đầu thế kỷ XVII (từ năm 1627 đến năm 1672) hai họ Trịnh - Nguyễn lại bắt đầu xâu xé, tranh giành ảnh h-ởng, đẩy đất n-ớc vào cảnh nội chiến triền miên trong gần nửa thế kỷ từ năm 1627 đến năm 1672 Đất n-ớc bị chia cắt thành hai xứ

Đàng Trong và Đàng Ngoài

1.1.3.3 Yếu tố kinh tế:

Cuối thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII họ Trịnh đã ban bố lệnh miễn lao dịch cho nhân dân l-u tán, bãi bỏ các loại thuế thân, giảm nhẹ thuế khóa nh-ng những công thần trong chiến tranh Trịnh - Mạc lại đ-ợc triều đình phong th-ởng một số ruộng đất không nhỏ Việc mua bán, kiện tụng về ruộng đất luôn là chuyện rắc rối ở các làng xã Cuộc sống bấp bênh thời loạn lạc đã tạo điều kiện cho tục cúng ruộng đất vào tín ng-ỡng, tôn giáo trở nên phổ biến, hầu nh- làng xã nào trong thời kỳ này cũng có ruộng hậu Thần, hậu Phật Đó cũng chính là lý do cho sự phát triển hàng loạt bia hậu trong các ngôi chùa thời kỳ này

1.1.3.4 Yếu tố tôn giáo, tín ng-ỡng:

Do chiến tranh Trịnh - Nguyễn kéo dài, tầng lớp quý tộc không tin ở thực tại nữa, đã tìm đến cầu cứu cửa Phật và xuất tiền xây dựng chùa chiền Ngoài ra, các Cao tăng có công khai sáng chùa, đ-ợc truyền thuyết hóa với nhiều phép nhiệm màu giờ đây trở thành

"Đức Thánh” linh thiêng được giành nơi thâm nghiêm và trang trọng nhất trong chùa để

thờ

1.2 Một số ngôi chùa Việt thế kỷ XVII ở 10 huyện phía Tây và phía Nam Hà Nội

1.2.1 Tổng quan về 10 huyện phía Tây và phía Nam Hà Nội

1.2.1.1 Vị trí địa lý:

10 huyện ngoại thành Hà Nội (tr-ớc đây thuộc tỉnh Hà Tây) gồm Ch-ơng Mỹ, Đan Ph-ợng, Hà Đông, Hoài Đức, Mỹ Đức, Quốc Oai, Thanh Oai, Th-ờng Tín, Sơn Tây, Ba Vì nằm ở khu vực đồng bằng Bắc Bộ, nh-ng có sắc thái riêng do vị thế của những huyện này nằm ở đỉnh chóp và rìa phía Tây của tam giác châu sông Hồng

1.2.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển:

- Thời Đinh và Tiền Lê các huyện này thuộc đạo Quốc Oai

- Thời Lý (năm 1010 vua Lý Thái Tổ) đổi “Thập đạo”

- Thời Trần, thuộc 2 hai châu là châu uốc Oai trong lộ Đại La Thành hay Đông Đô

và châu Đà Giang trong lộ Tam Giang và trấn Quảng Oai

- Thời Lê Sơ thuộc Tây Đạo

- Thời Lê - Trịnh các huyện này không có sự thay đổi về tên gọi và địa giới hành chính so với thời Lê - Mạc

- Thời Nguyễn 13 huyện ngoại thành Hà Nội thuộc 2 trấn Sơn Tây và Sơn Nam Th-ợng

- Tháng 1 năm 2008, tỉnh Hà Tây đ-ợc sát nhập vào Hà Nội

1.2.2 Về một số ngụi chựa Việt thế kỷ XVII ở 10 huyện phớa Tõy và phớa Nam

Hà Nội:

17 ngôi chùa ở 10 huyện phía Tây và phía Nam có hai dạng mặt bằng tổng thể cơ

bản là kiểu "nội công ngoại quốc" và mặt bằng hình chữ “Đinh” Nh-ng trong đó mặt

bằng kiểu “nội công ngoại quốc” lại chiếm tỷ lệ lớn nhất (64.70%), còn những ngôi chùa

có bố cục hình chữ Đinh chỉ chiếm 35.30% Các di tích loại này ở 10 huyện phía Tây và

Trang 6

phía Nam Hà Nội có thể nói về cơ bản vẫn giữ nguyên đ-ợc giá trị di tích và sự nổi tiếng vốn có của ng-ời x-a để lại

1.2.3 Phõn bố bia đỏ thế kỷ XVII trong cỏc ngụi chựa Việt ở 10 huyện phớa Tõy và phớa Nam Hà Nội

1.2.3.1 Phân bố bia theo không gian:

- Trong 29 bia đ-ợc phân bố ở 10 huyện, trong đó tập trung chủ yếu ở huyện Thanh Oai và Th-ờng Tín

1.2.3.2 Phân bố theo thời gian:

Bia đá trải dài theo thời gian từ thời Hoằng Định (giai đoạn đầu thế kỷ XVII) đến thời Chính Hòa (giai đoạn cuối thế kỷ XVII), nh-ng trong đó tập trung chủ yếu trong giai

đoạn đầu thế kỷ XVII

Tiểu kết ch-ơng 1:

Trong số nh-ng ngôi chùa ở 10 huyện phía Tây và phía Nam ngoại thành Hà Nội có lịch sử ra đời từ khá sớm, nh-ng trải qua sự biến thiên của lịch sử, một số ngôi chùa đã bị mai một, chỉ còn lại rất ít những ngôi chùa của thời Lý- thời Trần Mặc dù vậy, rất nhiều ngôi chùa đã đ-ợc trùng tu lại hoặc đ-ợc xây trong thế kỷ XVII, nên hiện nay một số ngôi chùa đã đ-ợc xếp vào hạng di tích Quốc gia đặc biệt, bởi đây là những ngôi chùa có những giá trị tiêu biểu về lịch sử, kiến trúc nghệ thuật

Sự xuất hiện và phân bố của 29 bia đá trong 17 ngụi chựa được tạo tỏc trong giai đoạn thế kỷ XVII (1600-1700) trờn địa bàn 10 huyện ở phớa Nam và phớa Tõy ngoại thành Hà Nội trong bối cảnh chung của những bia đỏ Việt Nam d-ới các ph-ơng diện không gian, thời gian, góp phần nhận biết những đặc tr-ng cơ bản của bia đá vùng này

Ch-ơng 2 Nghệ thuật tạo tác bia đá thế kỷ XVII (tr-ờng hợp 10 huyện ngoại thành hà nội) 2.1 Quá trình tạo tác văn bia:

Để tạo thành bia đá, tr-ớc hết cần có ng-ời soạn văn bia, ng-ời viết chữ và ng-ời khắc bia đá

2.1.1 Tác giả soạn văn bia:

Những bia ghi tên ng-ời soạn bao gồm nhiều chức danh khác nhau, nhóm ng-ời soạn văn bia là kẻ sĩ bao gồm Tiến sĩ, Tiến công Thứ lang, Phủ sinh, Nho sinh, Thị Nội vương phủ…có 13/29 bia chiếm 46.43% tổng số những người tham gia soạn văn bia

2.1.2 Ng-ời viết chữ:

Để chỉ công việc của ng-ời viết chữ trên bia ng-ời x-a th-ờng dùng chữ “Tả -

hoặc chữ “Thư -” Ghép hai chữ này lại thành một chức danh của ng-ời chuyên viết

chữ là “Th- tả -書寫” Qua văn bia có thể thấy rõ đ-ợc bia không ghi tên ng-ời viết chữ

chiếm tỷ lệ cao nhất (68.96%), số còn lại là ghi tên ng-ời viết chỉ chiếm 31.04% đó là các chức nh- Tiến công thứ lang, Phủ sinh, Chánh đội tr-ởng, Tham tri giám sự…

2.1.3 Thợ khắc bia đá:

Với phần lớn bia đá chùa thế kỷ XVII (25/29 bia) ở một số huyện ngoại thành Hà Nội không ghi tên thợ san khắc Cũng có thể do quan niệm chỉ coi trọng ng-ời có học, nên những người thợ “vô danh” không đạt đến trình độ kỹ thuật cao đã không được các quan viên, sắc mục của làng cho ghi danh vào bia đá…

Trang 7

7

2.2 Vật liệu sử dụng làm bia:

Những vật liệu chủ yếu tạo nên bia đá của thời kỳ này bao gồm đá nhám (đá bazan); hoặc đá sa thạch (đá cát) có màu sắc đa dạng với các màu xám, vàng, xanh và trắng hay

đá vôi có màu sắc từ màu trắng đến màu tro, xanh nhạt, vàng và cả màu đen

2.3 Đặc điểm bia đá thế kỷ XVII

2.3.1 Phân loại bia đá:

Có rất nhiều cách phân loại bia đá thế kỷ XVII trong chùa ở thời kỳ này, nh-ng chúng tôi phân loại các bia đá thời kỳ này theo dạng mặt bia (bia 1 mặt, bia 2 mặt, bia 4 mặt…Mặc dù cách phân loại này cũng chỉ mang tính t-ơng đối

- Bia 1 mặt: có hình dáng t-ơng đồng với bia 2 mặt, bởi ng-ời ta chỉ chú ý đến mặt

tr-ớc bia đá khắc hoa văn và nội dung dựng bia, còn mặt sau để trống (có bia thì để thô, nh-ng có bia đ-ợc mài nhẵn) nh- một số bia ma nhai ở chùa Thầy (Quốc Oai) Chiều cao của bia 1 mặt có kích th-ớc t-ơng đồng với những bia 2 mặt, trung bình từ 0,8m-1,0m; chiều rộng trung bình từ 0,5m-0,7m

- Bia 2 mặt: Loại bia 2 mặt, có thể chia thành 2 loại, loại bia đá có mặt tr-ớc th-ờng

ghi tên bia và nội dung chính của việc dựng bia, mặt sau ghi tên các hội chủ h-ng công, ng-ời đóng góp tiền của và loại bia 2 mặt, một mặt tạc t-ợng dạng phù điêu là chân dung hình ng-ời đ-ợc bầu hậu, t-ợng vừa mang tính chân dung, vừa mang tính cách điệu Loại bia t-ợng th-ờng có chiều cao là 0,8m - 1,0m; chiều rộng từ 0,6m - 0,7m T-ợng phù điêu th-ờng có chiều cao là 0,5m - 0,7m; chiều rộng là 0,3m - 0,5m nh- 02 bia chùa Thầy (Quốc Oai) tạo vào thời Thịnh Đức và Khánh Đức

- Bia 4 mặt: có 04/29 bia, trên đỉnh bia là hình trụ tập trung chủ yếu vào giai đoạn

giữa và cuối thế kỷ XVII, với chiều rộng phổ biến từ 0,6m đến 0,8m; chiều cao từ 1,2m

đến 1,4m Trên đỉnh bia là hình chóp nhọn hoặc hình trụ (chiều cao trung bình từ 0,2m - 0,3m) loại bia này hay gặp ở chùa Đậu (Th-ờng Tín), chùa H-ng Giáo (Thanh Oai)

2.3.2 Bố cục trang trí bia đá:

- Trán bia: Chiều cao trung bình của trán bia thời kỳ này từ 0,2m - 0,3m bằng 1/4

chiều cao của bia đá, nh-ng cũng có bia với kích th-ớc lớn thì độ cao phần trán bia tới 0,4m - 0,5m nh- bia chùa Thầy (Quốc Oai), chùa Sổ (Thanh Oai)… Phần tên bia được khắc theo hàng ngang d-ới trán bia Chữ khắc theo lối khải là phổ biến

- Diềm bia: Diềm thân bia, trán bia và chân bia 1 mặt, 2 mặt, 4 mặt thế kỷ XVII có

kích th-ớc trung bình từ 0,05m đến 0,07m

- Đế bia: Rùa đội bia thế kỷ XVII có nhiều nét khác biệt so với thời kỳ tr-ớc, kích

th-ớc chiều dài trung bình từ 1.2m đến 1.6m; chiều rộng từ 0.6m đến 0.9m nh- bia chùa

Đậu (Thường Tín), chùa La Khê (Hà Đông)… Một số bia có phần đế là tảng đá hình chữ nhật có kích th-ớc chiều dài trung bình từ 1.3m đến 1.5m; chiều rộng từ 0.8m đến 1.0m,

đặc biệt đế bia chùa H-ơng (Mỹ Đức) tạo năm Chính Hoà 7 (1686) có chiều cao 0.5m

2.3.3 Kỹ thuật chạm khắc:

Đầu tiên ng-ời ta có thể dùng kỹ thuật c-a, đục để tạo hình khối cho thân bia và đế bia… Sau khi thực hiện việc tạo hình cho bia đá, người thợ đánh nhẵn mặt bia và dùng các kỹ thuật chạm khắc khác như kỹ thuật chạm nét, kỹ thuật chạm nổi… để tạo hoa văn Tuy nhiên, mỗi hiệp thợ khác nhau có dụng cụ chạm khắc, tay nghề khác nhau và quy trình khắc văn bia cũng khác nhau Có đội ngũ thợ khắc khá cầu kỳ, đầu tiên ng-ời ta phết n-ớc nâu lên mặt bia, sau đó chia hàng cột, kẻ vẽ các đ-ờng viền, viết chữ lên rồi theo đó mà chạm Bên cạnh đó có những đội ngũ thợ chỉ viết bài văn bia trên giấy vừa với khuôn khổ bia, sau đó dán giấy đó lên bia, rồi theo đó mà chạm; hoặc có tr-ờng hợp trực tiếp đọc văn bản mà khắc thẳng lên bia Sau khi thực hiện các cách trên, ng-ời thợ đánh nhẵn lại mặt bia, n-ớc nâu mất, đ-ờng kẻ ô cột chỉ còn mờ mờ và những hàng chữ hằn sâu trong bia Những bia đ-ợc khắc theo hai quy trình đầu th-ờng công phu hơn và ít bị lỗi Ng-ợc lại, ở tr-ờng hợp thứ 3, bia đ-ợc khắc th-ờng không cân đối, đôi khi khắc

Trang 8

thiếu, phải khắc thêm chữ nhỏ ở bên, thậm chí khắc lầm, phải đục đi khắc lại, tr-ờng hợp này th-ờng là do thợ nghiệp d- khắc

2.3.4 Đặc điểm chạm khắc:

2.3.4.1 Hình t-ợng linh thú:

- Hình t-ợng rồng: Vào giai đoạn đầu thế kỷ XVII rồng vẫn theo phong cách của

thời Mạc với thân dài, mảnh, l-ng võng yên ngựa nh- trên một số bia đá chùa Trăm Gian, chùa Sổ Vào giai đoạn giữa thế kỷ XVII rồng trở nên mập hơn so với thời kỳ đầu thế kỷ,

đa số thân có vẩy rõ ràng Cuối thế kỷ XVII, hình rồng đã có nhiều phá cách so với thời

kỳ tr-ớc

- Hình t-ợng ph-ợng: So với hình rồng, vào giai đoạn này ph-ợng đ-ợc chạm ít

hơn, nh-ng vẫn kế thừa những nét cơ bản từ thời Mạc trong những bia đá mà chúng tôi s-u tập đ-ợc, ph-ợng chỉ tìm thấy trên một số bia nh- bia chùa Sổ (Thanh Oai - Hà Tây)

có niên đại Đức Long 4 (1632)

- Hình lân: Hình Lân đ-ợc chạm d-ới chân bia chầu vào hoa sen, với thân dài,

mảnh

- Hình t-ợng con vật khác cũng bia chùa H-ơng (Hà Nội) - Chính Hòa chạm hình

cua, chuột, rắn, trâu mẹ trâu con

2.3.4.2 Biểu t-ợng tự nhiên:

Cũng nh- trên kiến trúc gỗ cùng thời, những hình biểu t-ợng tự nhiên cũng đ-ợc chạm khắc nhiều trên bia đá, điển hình là những hình đao mác (th-ờng đ-ợc chạm trên hình rồng hoặc xung quanh hình mặt trời…), hình vân mây, sóng nước, hình hoa lá… Từ

đó làm cơ sơ đối sánh với những chạm khắc trên kiến trúc gỗ đối với những di tích đã mất niên đại tuyệt đối

2.3.4.3 Biểu tượng “Phật giáo”:

Trên bia đá trong chùa đ-ợc chạm khắc rất nhiều các biểu t-ợng liên quan đến

“nhà Phật” như hình hoa sen, hình lá đề, hình chữ Vạn, hình hậu Phật Điều đó cho thấy

sự phân biệt khá rõ ràng giữa những trang trí trên bia đá ở các di tích tôn giáo và bia đá ở các di tích tín ng-ỡng khác

Tiểu kết ch-ơng 2:

Để có đ-ợc hoàn chỉnh những bia đá cần có ng-ời soạn văn bia, ng-ời viết chữ và ng-ời thợ khắc bia, nh-ng rất hãn hữu có bia ghi đầy đủ các chức danh này, mà th-ờng khuyết thiếu, bởi những ng-ời tham gia thực hiện có thân phận khác nhau, hoặc có nơi chỉ chú trọng vào những nhà Nho - những ng-ời soạn văn bia hoặc viết chữ, mà không đề tên ng-ời thợ khắc

Vật liệu sử dụng làm bia đá trong 17 ngôi chùa ở 10 huyện ngoại thành Hà Nội cũng phong phú về chất liệu, loại đá th-ờng đ-ợc dùng nhất vẫn là đá xanh, đá sa thạch, bên cạnh đó còn dùng đá nhám, đá vôi Một điều dễ nhận thấy là nguồn đá thời kỳ này không mang tính chất vùng miền nh- các thời kỳ Lê Sơ, Mạc

Đặc điểm bia đá thế kỷ XVII có nhiều kiểu dáng, kích th-ớc khác nhau Kỹ thuật

sử dụng chủ yếu trong thời kỳ này là kỹ thuật chạm nổi, chạm nét; đặc biệt nét chữ khắc sâu, vuông vức hơn so với thời kỳ tr-ớc Nghệ thuật điêu khắc trang trí đạt đến đỉnh cao

và có sự biến đổi ở phần đầu, giữa và cuối thế kỷ Nếu ở giai đoạn đầu thế kỷ XVII những hình t-ợng mang tính khuôn phạm và vẫn còn mang hơi h-ớng của phong cách thời Mạc, thì từ giữa và cuối thế kỷ nghệ thuật chạm khắc đã có sự phá cách lớn, những hình ảnh dân dã đời th-ờng gắn với ng-ời nông dân đ-ợc khắc hoạ khá rõ nét nh- các hình tôm, cua, cá, rùa, chuột, trâu nét tả thực đậm chất dân gian

Trang 9

9

Ch-ơng 3 Nội dung phản ánh của bia đá thế kỷ XVII (Tr-ờng hợp 10 huyện ngoại thành hà nội) 3.1 Tên gọi và cách phân loại các ngôi chùa

3.1.1 Tên gọi các ngôi chùa:

Tên gọi của 17 ngôi chùa đ-ợc ghi lại trong văn bia đều có 2 tên, tên Nôm gắn với

làng/xã có ngôi chùa đó và tên chữ (Pháp danh) đi kèm theo chữ tự

3.1.2 Cách phân loại các ngôi chùa:

Cách phân loại chùa thông qua những ghi ghép trên văn bia cũng cho thấy đồng

quan điểm với các nhà nghiên cứu hiện nay Một số ngôi chùa đ-ợc coi là “Đại danh

lam” hoặc “Danh lam” Trong tổng số 17 ngôi chùa thì có 04 ngôi chùa đ-ợc coi là

“Đại danh lam”; 05 chùa được gọi là “danh lam”, còn 8 ngôi chùa trong văn bia không

ghi rõ, nh-ng đây cũng là những ngôi chùa lớn có giá trị về mặt lịch sử, kiến trúc nghệ thuật

3.2 Vị trí và quy mô chùa qua văn bia

3.2.1 Vị trí và cảnh quan các ngôi chùa

Vị trí của chùa là một trong những nội dung đầu tiên đ-ợc nhắc tới trong văn bia, sau phần ghi địa danh phân bố của chùa Qua văn bia chúng ta có thể nhận thấy địa thế các ngôi chùa trong giai đoạn thế kỷ XVII đều đ-ợc xây dựng ở vùng tách biệt với xóm làng, nh-ng lại là trung tâm của nhiều vùng lân cận, những ngôi chùa này rất linh ứng,

đ-ợc ng-ời dân trong và ngoài vùng đến cầu đảo rất nhiều; hoặc đ-ợc xây dựng ở nơi phong quang thoáng đãng

Tiếp sau vị trí của chùa, cảnh quan xung quanh chùa cũng là một nội dung đ-ợc nhắc tới trong văn bia, bởi các ngôi chùa tr-ớc khi đ-ợc dựng lên, ng-ời dân đã tiến hành lựa chọn bố cục cảnh quan, vừa có dáng vẻ uy nghiêm, tĩnh mịch mà không xa rời đời sống của ng-ời dân Tr-ớc cửa chùa hoặc khu vực sân (th-ờng là nơi diễn ra hội hè của làng) đ-ợc trồng các loại cây, v-ờn hoa đ-ợc chăm chút cẩn thận Nhiều chùa có cả ao,

hồ sen, giếng n-ớc nh- nhấn mạnh về một đặc điểm cơ bản để xác nhận nơi có di tích là nơi t-ơi tốt, thích ứng với đất thiêng, đất lành của muôn loài Tuy nhiên không phải di tích nào cũng có số l-ợng loài cây nh- nhau, mà tùy vào từng loại hình kiến trúc ng-ời ta trồng những cây t-ơng ứng Trong tổng số 29 bia, thì chỉ có bia chùa Lê D-ơng (Đan Ph-ợng) và chùa Sổ (Thanh Oai) miêu tả cảnh quan trong khu di tích

3.2.2 Quy mô các ngôi chùa:

- Mặt bằng tổng thể:

Qua văn bia cho thấy ở thế kỷ XVII các ngôi chùa này đã đ-ợc xây dựng hoặc trùng

tu lại đã có quy mô rất lớn Một kiểu chùa khá phổ biến ở vùng này là kiến trúc có hai hành lang bên trái - bên phải dài, nối liền với Tiền đ-ờng (hay Bái đ-ờng) ở phía tr-ớc với Hậu đ-ờng (có thể là nhà Tổ, nhà Tăng hay gác chuông, nhà bia ) ở phía sau làm thành một khung hình chữ Nhật bao quanh lấy nhà Thiêu h-ơng, Th-ợng điện hay các kiến trúc khác đ-ợc bố cục ở giữa (văn bia chùa Sổ năm 1632)

- Các hạng mục công trình chính trong chùa:

Qua văn bia có thể nhận thấy, những công trình chính của chùa nh- Tiền đ-ờng, Thiêu h-ơng, Th-ợng điện th-ờng đ-ợc tạo dựng tr-ớc và còn giữ đ-ợc nhiều yếu tố nguyên gốc hơn những công trình phụ trợ khác

- Các hạng mục công trình phụ trợ:

Bên cạnh những công trình chính (đ-ợc dân gian th-ờng gọi là Tam bảo), còn có một số ngôi chùa xây dựng các công trình phụ trợ khác nh- Tam quan, gác chuông, nhà bia, hành lang

Trang 10

3.3 Quá trình xây dựng và trùng tu chùa qua văn bia thế kỷ XVII

3.3.1 Vật liệu xây dựng chùa:

- Vật liệu gỗ: Trong văn bia chùa Đậu “Tu tạo Pháp Vũ tự” dựng năm Dương Hoà

5 (1639) có ghi: “Vật liệu được dùng toàn bằng gỗ tốt” và các cột, r-ờng đ-ợc chạm trổ,

cột kèo tô lung linh nét vẽ hay trong văn bia chùa Thầy (Thiên Phúc tự) tạo năm Cảnh

Trị 4 (1666) mang tên “Thiên Phúc tự tạo lệ bi” cũng đã cho biết thêm: “Dưới núi có

ngôi chùa cao rộng làm bằng gỗ”

- Vật liệu ngói, đất nung:

Trong số 29 văn bia, thì chỉ có 03 bia đá nói về việc trùng tu mái bằng các vật liệu ngói nh- văn bia chùa Thầy, chùa ánh Linh (Thanh Oai), chùa Đậu (Th-ờng Tín) năm

Dương Hoà 5 (1639) có rất rõ hình thức trang trí trên mái: “Vào tháng 10 năm Bính Tý

(1636) liền dùng của nhà, tìm thợ giỏi, vung rìu múa búa trắng, dựng lên hai toà thiêu h-ơng và tiền đ-ờng Cột r-ờng chạm trổ, ngói lợp long lân” Mặc dù, việc ghi chép

không đầy đủ, kỹ l-ỡng nh-ng cũng cung cấp những cơ sở khoa học để chứng minh rằng trong kiến trúc truyền thống Việt, hệ thống mái đ-ợc coi trọng, bảo vệ cho bộ khung gỗ bên trong

- Vật liệu đá: Vật liệu đá chủ yếu để "làm nền đá mới" (bia dựng năm Vĩnh Tộ 11

(1629) chùa Bối Khê - Thanh Oai) hoặc làm "bậc đá” lên xuống (bia chùa H-ơng - Mỹ

Đức)

3.3.2 Lịch sử xây dựng và trùng tu chùa

3.3.2.1 Một số khái niệm liên quan:

Qua văn bia, chúng ta có thể tìm hiểu một số khái niệm liên quan đến việc tạo dựng,

làm mới các di tích nh-: "khởi công -起工", "khởi tạo-起造", "h-ng tạo 興造"… Theo tiếng Hán Việt thì từ "khởi - 起”hoặc từ "h-ng-興”đều có nghĩa là dựng lên, xây đắp cái

mới hoặc phàm sự việc gì mới bắt đầu mở ra đều gọi là khởi Những cụm từ liên quan đến

việc sửa chữa những di tích lâu năm đã bị hỏng nh- "tu tạo", "tu bổ", hay "trùng tu" Theo tiếng Hán - Việt từ "tu - 修" có nghĩa là sửa chữa lại cho tốt

3.3.2.2 Lịch sử xây dựng và trùng tu chùa:

Nguyên tắc để trùng tu di tích truyền thống nói chung và trong giai đoạn thế kỷ XVII nói riêng cần phải dựa trên một số yếu tố, trong đó quan trọng nhất là cần phải giữ

đ-ợc yếu tố nguyên gốc từ khi khởi dựng, chỉ "những chỗ hỏng dột khác thì tu bổ thêm" hoặc "đổ dựng nát xây, xấu tu hỏng bổ" (bia "Tu tạo Pháp Vũ tự bi" năm D-ơng Hòa 5 -

1639 ở chùa Đậu - Th-ờng Tín) Trong tổng số 29 bia đá, thì có 22 bia đá nói về việc tạo dựng chùa, những bia còn lại là bia ghi công đức khách thập ph-ơng cúng tiến Các công trình trong chùa đ-ợc tạo dựng chủ yếu là những công trình chính (Tiền đ-ờng, Thiêu h-ơng, Th-ợng điện)

3.4 Tạo t-ợng và đúc chuông chùa:

3.4.1 Tạo t-ợng:

Trong tổng số 29 bia đá thì chỉ có 05 bia đá ghi lại việc tạo dựng và tu sửa t-ợng Phật, đáng tiếc là trong văn bia không ghi rõ tên t-ợng, nếu ghi rõ thêm thì đây quả là

điều rất lý thú cho những ng-ời nghiên cứu về t-ợng cổ ở n-ớc ta có thể biết đ-ợc niên

đại chính xác khi dựng t-ợng

3.4.2 Đúc chuông:

Qua việc khảo sát 29 bia đá, thì chỉ có duy bia đá chùa Sổ (Tân Ước - Thanh Oai)

năm Đức Long 4 (1632) ghi lại quá trình đúc chuông

Ngày đăng: 14/01/2014, 22:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w