Văn hóa từ chức là một vấn đề mới được đề cập nhiều trong thời gian gần đây, nhưng chủ yểu là những bài báo, bài viết đơn lẻ đề cập đến những góc độ nhỏ của văn hóa từ chức. Trong đó, bài báo “Từ chức – khó lắm” của tác giả Như Thổ đã đề cập tới những vấn đề tâm lý của người Việt, cơ chế sử dụng cán bộ của nước ta hiện nay khiến cho việc từ chức hầu như không có; bài báo “Văn hóa từ chức” của tác giả Lê Thế Hùng đề cập tới một số điều kiện cần có để hình thành văn hóa từ chức ở nước ta hiện nay; bài báo “Văn hóa từ chức” của tác giả Quyền Duy, đề cập đến việc thế nào là từ chức, đưa ra những nguyên nhân căn bản đòi hỏi phải xây dựng quy định về từ chức và đưa ra một số giải pháp xây dựng văn hóa từ chức. Tuy nhiên, chưa có đề tài nào đi nghiên cứu một cách sâu sắc toàn diện vấn đề văn hóa từ chức trong lịch sử chính trị của dân tộc.
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Bước vào thời kỳ đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhândân ta đã nỗ lực phấn đấu vươn lên, đạt được nhiều thành tựu to lớn về kinh tế - xãhội Cùng với sự phát triển về mọi mặt của đất nước, văn hóa của dân tộc ta đã được
bổ sung và làm giàu thêm, và văn hóa chính trị cũng không phải ngoại lệ Nhờ đó, ýthức chính trị của các tầng lớp nhân dân ngày càng được nâng cao, góp phần đẩymạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và trở thành động lực mạnh
mẽ đưa nước ta tiến kịp và hội nhập với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới.Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị trường cũng đã xuất hiện nhiều yếu tố tác động tiêucực đến đời sống xã hội và văn hóa chính trị cũng không nằm ngoài những tác động
đó Sự suy đồi về văn hóa chính trị nếu không được khắc phục kịp thời sẽ dẫn đếnnhững hậu quả khôn lường, ảnh hưởng trực tiếp tới sự tồn vong của đất nước và chế
độ Một trong những vấn đề nổi cộm hiện nay của sự suy thoái về văn hóa chính trị làviệc chưa hình thành được văn hóa từ chức Nhiều vấn đề sai phạm nghiêm trọng xảy
ra trên tất cả các lĩnh vực của công tác quản lý xã hội khiến công luận bức xúc nhưngtrách nhiệm cá nhân không được nhắc tới, không một ai đứng ra chịu trách nhiệm vềnhững sai phạm đó đã khiến cho nhân dân mất dần lòng tin vào các cơ quan côngquyền, vào những người lãnh đạo đất nước Những biểu hiện nêu trên nếu khôngđược kịp thời khắc phục sẽ làm ảnh hưởng đến quá trình phát triển kinh tế - xã hội,cản trở sự đi lên của đất nước Do đó, văn hóa từ chức đang được xem là vấn đề quantrọng để nâng cao văn hóa chính trị, củng cố lại lòng tin của nhân dân, đưa đất nướcphát triển và hội nhập quốc tế
Là quốc gia có lịch sử lâu đời, Việt Nam có truyền thống văn hóa giàu bản sắc,gắn liền với quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước hàng ngàn năm của dân tộc.Trong đó, những giá trị về văn hóa chính trị của cha ông ta đã để lại là yếu tố rất
Trang 2quan trọng đối với đời sống chính trị và đời sống xã hội của đất nước Về vấn đề từchức, có thể khẳng định cha ông ta đã có một lịch sử từ chức đáng chú ý Nhữngtrường hợp những người cầm quyền từ bỏ chức vị của mình với nhiều lý do khácnhau không phải là hiếm Nhưng nhưng trường hợp từ chức của cha ông ta trong quákhứ đã được xem là văn hóa từ chức hay chưa? Đòi hỏi cần có sự nghiên cứu kỹlưỡng Để có thể rút ra những bài học cho việc xây dựng văn hóa từ chức ngày hôm
nay Vì vậy, việc nghiên cứu “Văn hóa từ chức ở Việt Nam giai đoạn Lý, Trần, Lê”
là vấn đề cần thiết
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Văn hóa từ chức là một vấn đề mới được đề cập nhiều trong thời gian gần đây,nhưng chủ yểu là những bài báo, bài viết đơn lẻ đề cập đến những góc độ nhỏ của
văn hóa từ chức Trong đó, bài báo “Từ chức – khó lắm” của tác giả Như Thổ đã đề
cập tới những vấn đề tâm lý của người Việt, cơ chế sử dụng cán bộ của nước ta hiện
nay khiến cho việc từ chức hầu như không có; bài báo “Văn hóa từ chức” của tác giả
Lê Thế Hùng đề cập tới một số điều kiện cần có để hình thành văn hóa từ chức ở
nước ta hiện nay; bài báo “Văn hóa từ chức” của tác giả Quyền Duy, đề cập đến việc
thế nào là từ chức, đưa ra những nguyên nhân căn bản đòi hỏi phải xây dựng quyđịnh về từ chức và đưa ra một số giải pháp xây dựng văn hóa từ chức Tuy nhiên,chưa có đề tài nào đi nghiên cứu một cách sâu sắc toàn diện vấn đề văn hóa từ chứctrong lịch sử chính trị của dân tộc
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích
Trên cơ sở làm rõ một số vấn đề lý luận về văn hóa từ chức, đề tài phân tích làm
rõ về sự tồn tại của văn hóa từ chức ở Việt Nam trong các triều đại Lý, Trần, Lê, từ
đó làm rõ ý nghĩa của chúng đối với sự hình thành văn hóa từ chức ở Việt Nam hiệnnay
Trang 33.2 Nhiệm vụ
Để thực hiện được mục đích nêu trên, đề tài sẽ giải quyết các nhiệm vụ chủ yếusau đây:
- Làm rõ khái niệm văn hóa từ chức và các yếu tố của văn hóa từ chức
- Xác định sự tồn tại của văn hóa từ chức ở Việt Nam thời Lý, Trần, Lê
- Phân tích ảnh hưởng đối với việc hình thành văn hóa từ chức ở Việt Nam hiệnnay
4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu văn hóa từ chức ở Việt Nam ở các triều đại Lý,Trần, Lê
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, trong
đó đặc biệt chú ý các phương pháp nghiên cứu cụ thể như nghiên cứu tài liệu, lôgíc
và lịch sử, phân tích và tổng hợp…
6 Đóng góp mới của đề tài
Trang 4Trên cơ sở những vấn đề lý luận chung về văn hóa chính trị, đề tài rút ra nhữngyếu tố cơ bản của văn hóa từ chức, từ đó làm rõ sự tồn tại của văn hóa từ chức tronglịch sử dân tộc và vai trò của nó đối với việc hình thành văn hóa từ chức hiện nay ởnước ta.
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
8.Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài gồm 2chương, 5 tiết
Trang 5Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VĂN HÓA TỪ CHỨC
Là một thành tố của văn hóa chính trị, văn hóa từ chức là một loại hình của vănhóa xã hội, nó thể hiện khía cạnh chính trị của văn hóa, là sự thẩm thấu của văn hóavào hoạt động chính trị Như vậy, để tiếp cận khái niệm văn hóa từ chức một cách cơbản nhất cần phải tìm hiểu các khái niệm công cụ, nền tảng cơ bản nhất như văn hóa,chính trị, văn hóa chính trị, từ chức mới có thể làm rõ khái niệm văn hóa từ chức
1.1 Văn hóa chính trị
1.1.1 Văn hóa
Thuật ngữ “văn hóa” xuất hiện từ xa xưa trong ngôn ngữ của nhân loại, xuấtphát từ chữ Latinh “cultus”, nghĩa gốc là “trồng trọt”, được dùng theo hai nghĩacultus và agri là “trồng trọt ngoài đồng” và cultus animi là “trồng trọt tinh thần”.Như vậy, nguồn gốc của thuật ngữ văn hóa có liên quan đến lao động, hoạt động tíchcực cải tạo của con người, tức là sự giáo dục, giáo dưỡng, bồi dưỡng tâm hồn, tínhcách, phẩm chất, nhân cách con người, mà như Hồ Chí Minh đã nói,đó là “trồngngười” Có nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa, mỗi định nghĩa phản ánh mộtcách nhìn nhận và đánh giá khác nhau Tổng giám đốc UNESCO Federico Mayor
định nghĩa một cách khái quát nhất “Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động trong quá khứ và trong hiện tại Qua các thế hệ hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên hệ thống các giá trị, các truyền thống và thị hiếu, những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc” Theo Hồ Chí Minh, “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về
ăn, mặc, ở và các phương thức sinh sống, v.v Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa” Tựu chung lại, có thể hiểu văn hóa là toàn bộ những thành
quả hoạt động sáng tạo của con người trong quá khứ và hiện tại, biểu hiện thành hệ
Trang 6thống các giá trị vật chất và tinh thần của xã hội Hệ thống giá trị có khả năng chiphối đời sống tâm lý và mọi hoạt động của những con người sống trong cộng động
xã hội ấy Các lĩnh vực đặc thù của đời sống hay của hoạt động con người cũng đượcthể hiện bằng các khái niệm văn hóa khác nhau, chẳng hạn, văn hóa lao động, vănhóa giao tiếp, văn hóa pháp quyền, văn hóa dân chủ, v.v Văn hóa chính trị, trong
đó có văn hóa từ chức cũng được đề cập từ phương diện này
1.1.2 Văn hóa chính trị
Chính trị là một hiện tượng xã hội đặc biệt Nó xuất hiện từ khi xã hội phân chiagiai cấp và nhà nước Chính trị theo nguyên nghĩa tiếng Hy Lạp (politica) có nghĩa lànhững công việc thành bang (poliz), là nghệ thuật cai trị nhà nước, là phương phápnhất định để thực hiện các mục tiêu của quốc gia Từ thời cổ đại đến hiện nay, cácnhà tư tưởng đã đưa ra nhiều quan niệm khác nhau về chính trị, mỗi quan niệm cónhững yếu tố hợp lý riêng và có những cách tiếp cần riêng Nhưng thực sự, chỉ đếnkhi chủ nghĩa Mác - Lênin ra đời, những quan niệm đúng đắn và khoa học về chính
trị mới được khẳng định Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, chính trị là mối quan hệ giữa các giai cấp, quốc gia xoay quanh vấn đề giành, giữ và thực thi quyền lực chính trị, mà tập trung ở quyền lực nhà nước Chính trị là một lĩnh vực
hoạt động rộng lớn và hết sức quan trọng, nó quyết định chủ trương, đường lối pháttriển của đất nước, do đó quyết định lớn đến qúa trình phát triển của xã hội Trình độ
xử lý các tình huống chính trị một cách khoa học và nghệ thuật không chỉ đem lại sựđộc lập và ổn định chính trị mà còn là điều kiện cho việc phát triển kinh tế - văn hóa
- xã hội, phát triển con người, xây dựng và phát triển đất nước
Như một thành tố của văn hóa, văn hóa chính trị xuất hiện trong lịch sử cùngvới sự xuất hiện của giai cấp, nhưng khái niệm văn hóa chính trị lại khá mới mẻtrong lý luận chính trị Mác – Lênin Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lêninchưa đưa ra một khái niệm đầy đủ về văn hóa chính trị nhưng đã đề cập tới một số
Trang 7nội dung cơ bản làm cơ sở cho việc tiếp cận khái niệm này Hiện nay, có tới hàngtrăm định nghĩa khác nhau về văn hóa Số lượng các định nghĩa về văn hóa chính trịcũng tương đương như vậy và ngày một tăng Tình hình đó có nguyên nhân là do vănhóa chính trị vốn là một hiện tượng xã hội đã diện và phong phú đến mức phức tạp,các nhà khoa học lại đứng trên nhiều quan diểm khác nhau để nghiên cứu Văn hóachính trị, là một loại hình của văn hóa, thể hiện phương diện văn hóa của chính trị.Văn hóa chính trị không phải là bản thân chính trị, bản thân văn hóa, hay là sự cộnggộp hai lĩnh vực này, mà là chính trị bao hàm chất văn hóa từ bản chất bên trong của
nó, được thể hiệnở hai phương diện cơ bản:
Một là, chính trị với ý nghĩa là chính trị dân chủ, tiến bộ hướng tới mục đích caonhất là vì con người, giải phóng con người, tôn trọng quyền con người, tạo điều kiệncho con người phát triển tự do, toàn diện, hài hoà Đây là tính nhân văn sâu sắc củamột nền chính trị có vănhóa
Hai là, những tư tưởng chính trị tốt đẹp không phải là những ý niệm trừu tượng
mà là những tư tưởng thiết thực, cụ thể, có khả năng đi vào cuộc sống Nghĩa là nóphải thấu triệt trong hệ tư tưởng chính trị, thể hiện của đường lối, chính sách củađảng cầm quyền và nhà nước quản lý, trong ứng xử và trong việc triển khai các kếhoạch nhằm phát triển xã hội, phục vụ cuộc sống của cá nhân cũng như của cộngđồng
Như vậy, có thể hiểu “Văn hóa chính trị là một phận của văn hóa, là trình độ phát triển xã hội của loài người về phương diện chính trị trong những giai đoạn lịch
sử nhất định, biểu hiện ở trình độ hiểu biết về chính trị và tổ chức đời sống chính trị theo những chuẩn xã hội nhất định nhằm điều hòa những quan hệ lợi ích giữa các giai cấp, dân tộc và bảo vệ quyền lợi của giai cấp cầm quyền phù hợp với xu thế phát triển và tiến bộ xã hội”.
1.2 Khái niệm văn hóa từ chức
Trang 81.2.1 Khái niệm
Hiện nay, vấn đề văn hóa từ chức ở nước ta đang được nhiều nhà nghiên cứu đềcập đến Từ chức chỉ được xem là một hành vi có văn hóa khi người ta tự nguyện vàmang lại ý nghĩa tốt đẹp cho xã hội Nhìn sang các nước phát triển, từ chức là vănhóa hành xử của những người có chức, có quyền và đã trở thành trách nhiệm củangười có chức, có quyền, được dư luận xã hội chấp nhận Nhìn lại lịch sử nước ta, từxưa, đã có khá nhiều người treo ấn từ quan vì nhiều lý do khác nhau nhưng đều xuấtphát từ lòng tự trọng cao như Chu Văn An, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn BỉnhKhiêm… Hay vua Trần Nhân Tông đã từ bỏ ngôi báu, quyền lực của mình để đi tu
Đó là những trường hợp từ chức tiêu biểu
Từ chức được hiểu là xin thôi không làm chức vụ hiện đang giữ Những chức vụnày là những vị trí quản lý, có những quyền lực nhất định trong việc điều hành một
hệ thống nào đó Như vậy, từ chức chỉ có thể xảy ra ở những người có chức, cóquyền Với nghĩa này, từ chức có thể diễn ra ở những cơ quan nhà nước hoặc ởnhững tổ chức tư nhân Trong đề tài này, từ chức được tìm hiểu trên khía cạnh sự từ
bỏ chức vụ của cá nhân ở những cơ quan nhà nước, có vai trò điều hành, quản lý cả
xã hội Nó là một ứng xử chính trị thực tiễn mang tính tự nguyện khi một cá nhân giữ một vị trí nào đó trong bộ máy nhà nước thấy rằng sự tham gia của mình vào việc hiện thực hóa các nhiệm vụ của đất nước, vào các công việc quản lý nhà nước và xã hội không còn phù hợp Việc đánh giá sự phù hợp của ứng xử chính trị này tùy thuộc
vào quan niệm của mỗi thời đại, không có sự bất biến
1.2.2 Các yếu tố cơ bản cấu thành
Từ trong lịch sử nước ta cho đến nay, văn hóa nói chung và văn hóa từ chức nóiriêng là không phải tự nhiên mà có, hơn nữa đó lại là thứ văn hóa đặc biệt quý giá
Để một người có thể tự nguyện từ chức thì đòi hỏi ngưởi đó phải có nhân cách Mộttrong những điểm quan trọng của nhân cách là làm người phải biết liêm sỉ Trong
Trang 9nghĩa của từ liêm sỉ bao gồm liêm khiết, và biết điều sỉ nhục Liêm khiết phải đượchiểu là biết vì cộng đồng, vì cái chung chứ không vì cá nhân mình Biết điều sỉ nhụcphải hiểu là biết nhục khi làm điều trái với đạo lý, đi ngược lại nguyện vọng củacộng đồng Một người thường mà không có liêm sỉ thì khó sống với cộng đồng Cònmột ông quan không được lòng dân mà lại còn tham lam, cố giữ ghế thì lại càng vôliêm sỉ Nếu là người có văn hóa thì họ sẵn sàng từ chức một cách có văn hóa, thậmchí đến với cái chết cũng là một cách từ chức có văn hóa của người biết liêm sỉ, tuyrằng như thế là cực đoan
Như vậy, văn hóa từ chức có cấu trúc khá phức tạp, tuy nhiên có thể coi các yếu
tố cơ bản sau đây cấu thành nên văn hóa từ chức của cá nhân:
- Tri thức về ứng xử trong đời sống xã hội với hạt nhân là tri thức chính trị
Yếu tố đầu tiên, đồng thời là nền tảng của văn hóa từ chức là tri thức về ứng xửtrong đời sống xã hội với hạt nhân là tri thức chính trị, được biểu hiện ở trình độ họcvấn, sự hiểu biết về chính trị, kinh nghiệm và sự từng trải của mỗi người
Tri thức chính trị với tư cách là một yếu tố cấu thành của văn hóa từ chức là sựthống nhất hữu cơ giữa tri thức lý luận và tri thức kinh nghiệm của chính trị Việc cótrình độ học vấn chính trị sẽ giúp cho việc xem xét trình độ của mình đến đâu, mình
có xứng đáng với vị trí mà mình đang nắm giữ hay không Từ đó sẽ có quyết địnhchính xác về việc có nên rút khỏi vị trí của mình đang giữ hay không Tích lũy đượckinh nghiệm chính trị sẽ cho người lãnh đạo, quản lý biết được mình có hoàn nhiệm
vụ chính trị đặt ra trong điều kiện tương ứng hay không, mình có thể hoàn thànhnhiệm vụ trong thời gian tới khi hoàn cảnh thay đổi hay không Từ đó sẽ xác địnhthời điểm nào là cần thiết, phù hợp để từ chức
- Thái độ ứng xử chính trị của cá nhân
Là nhân tố thứ hai của văn hóa từ chức, thái độ ứng xử chính trị cá nhân là kếtquả của quá trình nhận thức sâu sắc về ứng xử trong đời sống xã hội với hạt nhân là
Trang 10tri thức chính trị Khi có sự nhận thức sâu sắc, con người sẽ có niềm tin vào nhữngquy tắc ứng xử trong đời sống chính trị, và qua các trải nghiệm cá nhân nó sẽ mangtính tự giác cao độ, trở thành bản tính của người lãnh đạo, quản lý trong cơ quan nhànước Khi có thái độ ứng xử đúng đắn, con người sẽ được thôi thúc từ bên trong, tựgiác, sẵn sàng có những hành động vì những mục tiêu đúng đắn Không có thái độứng xử chính trị đúng đắn, cá nhân sẽ dễ bị dao động trước những cám dỗ của quyềnlực và lợi ích, mất phương hướng trong việc đưa ra quyết định phù hợp đối với việc
từ chức của bản thân Thái độ ứng xử chính trị tích cực được củng cố vững chắc khiđược nuôi dưỡng trong môi trường chính trị lành mạnh và đặc biệt có được khi trảiqua thử thách, tôi luyện trong những hoàn cảnh đấu tranh gay go quyết liệt, đượckiểm nghiệm thường xuyên trong thực tiễn
- Hành động từ chức tích cực
Nhận thức, tri thức, thái độ chỉ trở thành văn hóa khi chúng được biểu hiệntrong hoạt động thực tiễn Văn hóa từ chức còn là nhu cầu và thói quen tham gia mộtcách tự giá, chủ động, sáng tạo vào việc phê phán những quan chức hủ hóa, không
đủ khả năng công tác; động viên, đề cao những người có lòng tự trọng, dám nhậntrách nhiệm, dám từ chức khi không hoàn thành nhiệm vụ
Nguyên nhân từ chức cũng khá đa dạng, nhiều khi như là chút bỏ gánh nặng, là
để giữ thể diện, để có thể vẫn ngẩng cao đầu giữa bàn dân thiên hạ Có người từ chức
vì muốn chuyển sang làm công việc khác mà mình yêu thích Có người từ chức đểnhường chỗ cho người trẻ có tài, từ chức vì nhận rõ trách nhiệm của mình khi khônglàm tốt chức vụ đang giữ, từ chức để tránh búa rìu dư luận, từ chức để khỏi bị cáchchức vv Nhưng quyền quyết định là ở người từ chức, dù người cầm quyền có thểmời, khẩn khoản mời, hoặc ra sức cố thuyết phục người từ chức đừng hoặc khoan từchức, từ chức là hành động chủ động của người từ chức
Trang 11CHƯƠNG 2 BIỂU HIỆN CỦA VĂN HÓA TỪ CHỨC Ở VIỆT NAM THỜI LÝ, TRẦN,
LÊ VÀ VIỆC HÌNH THÀNH VĂN HÓA TỪ CHỨC Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 2.1 Đặc điểm cầm quyền thời phong kiến
Thời phong kiến, ở nước ta quyền lực tập trung tuyệt đối vào tay nhà vua Vuađược coi là thiên tử (con trời), trong đất nước quyền lực của vua là vô hạn Vị tríthiên tử này được truyền theo hình thức cha truyền con nối, chỉ trừ một số trườnghợp đặc biệt mới truyền cho người có cùng huyết thống nhưng không phải là conruột Còn việc thay đổi triều đại rất ít xảy ra
Quan lại là người giúp việc cho vua, giúp vua thực hiện quyền lực của mình,lịch sử từ chức của Việt Nam chủ yếu được xem xét ở việc từ quan của quan lại Về
sự hình thành quan lại, gó các cách thức sau: khoa cử (thông qua các kì chi chọnngười đỗ đạt); tiến cử (quan lại phát hiện giới thiệu những người có tài, có đức ralàm quan và chịu trách nhiệm về họ); nhiệm tử hay còn gọi là tập ấm (con cháu quítộc, quan lại ra làm quan); mua bán (khi nhà nước gặp khó khăn về tài chính, áp dụngđối với những chức quan nhỏ)… Trong các hình thức này, khoa cử là con đườngchính và phổ biến Chính sách thi cử và tuyển dụng quan lại là chính sách cơ bản, làcon đường quan trọng nhất để hình thành nên đội ngũ quan lại thời kỳ phong kiến,đặc biệt là triều đình trung ương
Chính sách sử dụng quan lại thời phong kiến có hai điểm nổi bật Thứ nhất,
cấm những người họ hàng thân thích làm việc cùng một nơi; cấm làm việc ở nơimình đã sinh ra, học tập… Cụ thể, vua Lê Thánh Tông (1460-1497) đặt ra chế độ hồi
tỵ theo nguyên tắc: “Không được bổ nhiệm một viên quan về cai trị huyện hoặc tỉnh
mà ông ta xuất thân từ đó; không được bổ nhiệm một viên quan tới nơi ông ta có người họ hàng tại nhiệm ở vị trí lãnh đạo; trong thời gian trị nhậm tại một tỉnh hoặc một huyện, một viên quan không được cưới vợ, lấy thiếp là người của địa hạt đó;