Chính sách tiền lương nhà nước và của doanh nghiệp Việt Nam phải như thế nào để đảm bảo tính cạnh tranh, thu hút và giữ chân người tài?CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TIỀN LƯƠNG TRONG NỀN K
Trang 1Đề tài: Phân tích và làm rõ khái niệm, bản chất và các mục tiêu của tiền lương trong kinh tế thị trường Chính sách tiền lương nhà nước và của doanh nghiệp Việt Nam phải như thế nào để đảm bảo tính cạnh tranh, thu hút và giữ chân người tài?
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TIỀN LƯƠNG TRONG NỀN KINH
TẾ THỊ TRƯỜNG
1.1 Khái niệm tiền lương
- “Tiền lương là giá cả sức lao động được hình thành qua thỏa thuận giữa
người sử dụng sức lao động và người lao động phù hợp với quan hệ cung cầu sức lao động trong nền kinh tế thị trường”.
- “Tiền lương là số lượng tiền tệ mà người sử dụng lao động trả cho người
lao động theo giá trị sức lao động đã hao phí, trên cơ sở thoả thuận theo hợp đồng lao động.”
- Trong quá trình hoạt động nhất là trong hoạt động kinh doanh, đối với chủdoanh nghiệp, tiền lương là một phần chi phí cấu thành chi phí sản xuất - kinh doanh Vìvậy tiền lương là thu nhập từ quá trình lao động của họ, phần thu nhập chủ yếu đối vớiđại đa số lao động trong xã hội, có ảnh hưởng trực tiếp đến mức sống của họ Phấn đấunâng cao tiền lương là mục đích của hết thảy người lao động Mục đích này tạo động lực
để người lao động phát triển trình độ và khả năng lao động của mình
- Trong điều kiện của một nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần như ở nước
ta hiện nay, phạm trù tiền lương được thể hiện cụ thể trong từng thành phần và khu vựckinh tế
- Trong thành phần kinh tế nhà nước và khu vực hành chính sự nghiệp, tiềnlương là số tiền mà các doanh nghiệp quốc doanh, các cơ quan, tổ chức của nhà nước trảcho người lao động theo cơ chế và chính sách của nhà nước và được thể hiện trong hệthống lương thang lương, bảng lương do Nhà nước qui định
- Trong các thành phần và khu vực kinh tế ngoài quốc doanh, tiền lương chịu
sự tác động chi phối rất lớn của thị trường lao động Tiền lương trong khu vực này dù vẫnnàm trong khuôn khổ luật pháp và theo những chính sách của chính phủ, nhưng là nhữnggiao dịch trực tiếp giữa chủ và thợ, những "mặc cả" cụ thể giữa một bên làm thuê và một
Trang 2bên đi thuê Những hợp đồng lao động này có tác động trực tiếp đến phương thức trảcông Đứng trên phạm vi toàn xã hội, tiền lương được xem xét và đặt trong quan hệ vềphân phối thu nhập, quan hệ sản xuất và tiêu dùng, quan hệ về trao đổi… và do vậy cácchính sách về tiền lương, thu nhập luôn luôn là các chính sách trọng tâm của mọi quốcgia.
- Tiền lương danh nghĩa và tiền lương thực tế
+ Tiền lương danh nghĩa là số tiền mà người sử dụng lao động trả cho người laođộng Số tiền này nhiều hay ít phụ thuộc trực tiếp vào năng suất lao động và hiệu quả làmviệc của người lao động, phụ thuộc vào trình độ, kinh nghiệm làm việc… ngay trong quátrình lao động
+ Tiền lương thực tế được hiểu là số lượng các loại hàng hoá tiêu dùng và các loạidịch vụ cần thiết mà người lao động hưởng lương có thể mau được bằng tiền lương danhnghĩa của họ
- Như vậy tiền lương thực tế không chỉ phụ thuộc vào số tiền lương danhnghĩa mà còn phụ thuộc vào giá cả của các loại hàng hoá tiêu dùng và các loại dịch vụcần thiết mà họ muốn mua Mối quan hệ giữa tiền lương thực tế và tiền lương danhnghĩa: Ta có thể thấy rõ là nếu giá cả tăng lên thì tiền lương thực tế gảim đi Điều này cóthể xảy ra ngay cả khi tiền lương danh nghĩa tăng lên (do có những thay đổi, điều chỉnhtrong chính sách tiền lương) Đây là một quan hệ rất phức tạp do sự thay đổi của tiềnlương dnah nghĩa, của gia cả và phụ thuộc vào những yếu tố khác nhau Đó cũng là đốitượng quản lý trực tiếp trong các chính sách về thu nhập, tiền lương và đời sống
có thể là hàng hoá phụ thuộc vào sự biến động cung cầu và chất lượng hàng hoá sức laođộng trên thị trường tức là chịu sự chi phối của các quy luật giá trị đóng vai trò chủ đạo.Tiền lương đảm bảo cho người lao động có thể tái sản xuất lao động để họ có thể thamgia vào quá trình tái sản xuất tiếp theo Vì vậy, tiền lương bao gồm nhiều yếu tố cấu
Trang 3thành, để thu nhập là nguồn sống chủ yếu của bản thân người lao động và của gia đình
họ Việc trả lương cho người lao động không chỉ căn cứ vào hợp đồng mà căn cứ vào kếtquả hoạt động sản xuất kinh doanh của người lao động mà họ nhận được sau một thờigian lao động mà họ bỏ ra
Tóm lại tiền lương mang bản chất kinh tế - xã hội Nó biểu hiện quan hệ xã hộigiữa những người tham gia quá trình sản xuất và biểu hiện mối quan hệ lợi ích giữa cácbên
1.3 Chính sách và nội dung của chính sách tiền lương
Chính sách tiền lương là một chính sách xã hội điều tiết quan hệ tiền lương trên thị
trường lao động nhằm đảm bảo nâng cao năng suất lao động, phát triển sản xuất và cảithiện đời sống vật chất, tinh thần của người lao động
Chính sách tiền lương là phương thức hành động cú tổ chức và điều chỉnh bằng
quyền lực Nhà nước đối với quỏ trỡnh tổ chức trả cụng lao động nhằm đạt được các mụctiêu đó định của Nhà nước Đối tượng điều chỉnh của chính sách tiền lương là cỏc chủ thểquan hệ lao động (người lao động, người sử dụng lao động, v.v…)
Xét về phạm vi hoạt động có hai loại chính sách tiền lương chủ yếu: Chính sáchtiền lương của nhà nước và chính sách tiền lương của các cơ quan, doanh nghiệp
Chính sách tiền lương của Nhà nước được thể hiện qua các văn bản về tiền lương
do Chính phủ hoặc cán bộ, ngành liên quan xây dựng, soạn thảo Chính sách tiền lươngtrong các cơ quan hành chính sự nghiệp thường được thể hiện thông qua cơ chế thu chinội bộ, còn trong các doanh nghiệp chủ yếu được thể hiện thông qua cơ chế trả lương, trảthưởng Cả hai loại chính sách tiền lương đó có quan hệ mật thiết với nhau, trong đóchính sách tiền lương của Nhà nước và những văn bản pháp quy của nhà nước có liênquan mang tính bắt buộc hoặc định hướng cho chính sách tiền lương của các cơ quan,doanh nghiệp
a) Chính sách tiền lương của nhà nước cũng như các chính sách xã hội khác phải đáp ứng các yêu cầu sau:
- Chính sách tiền lương phải ổn định, liên tục và thống nhất
- Chính sách tiền lương phải được thường xuyên xem xét, thay đổi khi cácđiều kiện kinh tế thay đổi
Trang 4Chính sách tiền lương nhà nước có vai trò hết sức quan trọng, nó không chỉ làcông cụ quản lý phân phối của Nhà nước mà còn thể hiện thái độ của Nhà nước đối vớicác tầng lớp nhân dân lao động khác nhau, sự quan tâm đến lợi ích và đời sống của ngườilao động, là công cụ điều tiết thu nhập, điều tiết lao động giữa các vùng, các ngành , tạo
ra sự ổn định kinh tế xã hội và định hướng quan trọng cho các cơ quan, doanh nghiệp
b) Nội dung của chính sách tiền lương:
- Xác định mức lương tối thiểu và quan hệ giữa tiền lương tối thiểu , tiềnlương trung bình, và tiền lương tối đa, quan hệ tiền lương giữa các khu vực, các ngành,các đối tượng hưởng lương trong đó xác định mức lương tối thiểu có ý nghĩa đặcbiêtquan trọng
- Xây dựng hệ thống thang bảng lương
- Xây dựng cơ chế quản lý tiền lương
- Xây dựng các chế độ phụ cấp lương và các chế độ liên quan
Chính sách tiền lương Việt Nam được phát triển qua các thời kỳ sau:
- Chính sách tiền lương theo nghị đinh 235/HĐBT ngày 18/09/1985
- Chính sách tiền lương tháng 4 năm 1993
- Chính sách tiền lương trong giai đoạn hiện nay (2004 đến nay)
1.4 Mục tiêu của chính sách tiền lương
1.4.1 Nhà nước
- Bảo đảm tái sản xuất sức lao động và không ngừng nâng cao đời sống vậtchất, tinh thần cho người lao động
- Làm cho năng suất lao động không ngừng nâng cao
- Đảm bảo tính đơn giản, rõ ràng, dề hiểu
1.4.2 Trong doanh nghiệp
Trang 5Trong thực tế mỗi công ty có những mục tiêu khác nhau trong thiết lập một chínhsách tiền lương, và có thể các thứ tự ưu tiên các mục tiêu cũng không giống nhau Nhưngnhìn chung thì các mục tiêu cần phải đạt được của một hệ thống tịền lương bao gồm:
- Thu hút được các nhân viên tài năng.
Bất cứ một doanh nghiệp nào cũng mong muốn có được một nguồn nhân lực chấtlượng cao để tăng khả năng cạnh tranh và thích ứng với sự thay đổi của môi trường Thuhút được những người tài năng về làm việc cho tổ chức luôn là một mục tiêu hàng đầutrong chính sách nhân sự của các tổ chức Để thực hiện mục tiêu này tiền lương cũngchưa phải là yếu tố quyết định song nó luôn là yếu tố quan trọng hàng đầu giúp doanhnghiệp thực hiện mục tiêu của mình Các nghiên cứu cho thấy, các doanh nghiệp trảlương cao hơn mức trung bình trên thị trường thường thành công hơn trong kinh doanh,bởi họ thu hút được nguồn nhân lực tốt hơn, tạo ra động lực mạnh hơn
- Duy trì được đội ngũ nhân viên giỏi.
Sự thành công của tổ chức phụ thuộc rất lớn vào đội ngũ nhân viên, đặc biệt lànhững người tài năng Đội ngũ nhân viên giỏi giúp tổ chức duy trì thế cạnh tranh và thậmchí họ là những người tạo ra những đột biến cho sự phát triển của doanh nghiệp Vì vậy,việc thu hút tài năng là chưa đủ mà tổ chức còn phải nhấn mạnh đến các giải pháp nhằmgiữ chân đội ngũ nhân viên giỏi Nhất là, trong điều kiện khắc nghiệt của thương trường,cạnh tranh về nguồn nhân lực ngày càng trở nên gay gắt thì các tổ chức luôn coi trọngviệc bảo vệ nguồn tài sản quý báu của tổ chức mình Ngay cả Bill Gates nguyên chủ tịchtập đoàn Microsoft, cũng đã từng tuyên bố: “Hãy lấy đi 20 nhân vật quan trọng nhất củachúng tôi thì Microsoft sẽ trở thành công ty bình thường”
Ngày nay, tổ chức nào cũng muốn tạo ra được đội ngũ nhân viên giỏi và duy trìđội ngũ nhân viên này Duy trì đội ngũ nhân viên giỏi có thể được thực hiện bằng nhiềugiải pháp khác nhau, nhưng vai trò của tiền lương là hết sức đáng kể
- Kích thích động viên nhân viên nâng cao năng suất lao động
- Kiểm soát được chi phí.
Chi phí lao động chiếm một tỷ lệ khá lớn trong tổng chi phí của một tổ chức, nênchúng sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến giá cả hàng hóa, dịch vụ mà tổ chức đó cung ứng cho
xã hội Chi phí lao động phải được xác định ở mức cho phép tổ chức đó tăng tối đa hiệu
Trang 6suất của mình trong sản xuất hàng hóa và dịch vụ Nghĩa là vẫn bảo đảm khả năng cạnhtranh của hàng hóa và dịch vụ về mặt giá cả.
Trong thực tế các doanh nghiệp kinh doanh phải giảm thiểu chi phí lao động vàcác chi phí khác để có thể làm cho sản phẩm của mình có giá cạnh tranh Người lao độngngược lại luôn muốn tối ưu hóa sức mua của đồng lương
- Đáp ứng các yêu cầu luật pháp
Quốc gia nào cũng dùng luật pháp để can thiệp vào tiền lương với mục đích bảo vệlợi ích cho người lao động và cân bằng các mối quan hệ trong xã hội Điều này buộc cácnhà quản trị khi xây dựng chính sách tiền lương phải tuân thủ các quy định của luật phápliên quan đến tổ chức tiền lương Các vấn đề mà nhà làm lương phải tính đến ở góc độluật pháp có thể là: suất lương tối thiểu, giờ làm việc bình quân trong tuần, các chế độphúc lợi bắt buộc… Đôi khi những ràng buộc về luật pháp đã cản trở những cố gắng củadoanh nghiệp nhằm vào các mục tiêu cụ thể trong các chính sách tiền lương
Các mục tiêu cũng là những tiêu chuẩn để đối chiếu đánh giá sự thành công của hệthống tiền lương đó
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến tiền lương của người lao động
- Các yếu tố thuộc về xã hội và Nhà nước
+ Tình hình biến động thế giới
+ Tình hình phát triển kinh tế xã hội trước hết là mức tăng trưởng GDP
+ Luật pháp của nhà nước, trong đó đặc biệt là bộ lao động
+ Chính sách của nhà nước liên quan đến thu hút vốn đầu tư nước ngoài, các chínhsách về tiền lương và đảm bảo mức sống đối với người lao động
- Các yếu tố thuộc về thị trường
+ Cung cầu trên thị trường lao động
+ Mức lương đang thịnh hành trên thị trường lao động
+ Sự biến động của giá cả thị trường
- Các yếu tố thuộc vè tổ chức
Trang 7+ Chính sách đãi ngộ của tổ chức, trước hết được thể hiện thông qua quy chế trảlương
+ Tình hình thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh và tiêu thụ hàng hóa
+ Khả năng phát triển tổ chức
+ Năng suất lao động của doanh nghiệp
+ Số lượng và chất lượng đội ngũ cán bộ công nhân viên của doanh nghiệp
- Các yếu tố thuộc về người lao động
+ Mức độ hoàn thành công việc được giao
+ Thâm niên công tác
+ Trình độ chuyên môn và kinh nghiệm công tác
+ Tiềm năng phát triển cá nhân trong tương lai
- Các yếu tố thuộc về công việc
+ Khối lượng công việc
+ Độ phức tạp của công việc
+ Phạm vi công việc
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNH CHÍNH SÁCH TIỀN LƯƠNG NHÀ NƯỚC
VÀ DOANH NGHIỆP VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1 Chủ trương, định hướng chính sách của Đảng và Nhà nước về cải cách tiền lương trong thời kỳ đổi mới.
a) Tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, thu gọn đầu mối và tinh giản biên chế khu vực hành chính, sự nghiệp
- Từ nay đến năm 2016, về cơ bản giữ ổn định cơ cấu tổ chức Chính phủ và tổchức cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện Đánh giá, xem xétviệc tổ chức các tổng cục, cục thuộc bộ, ngành Trung ương để tinh gọn bộ máy Thựchiện chủ trương không nhất thiết ở Trung ương có bộ, ngành nào thì địa phương cũng có
tổ chức tương ứng Hoàn thiện tổ chức bộ máy chính quyền cấp tỉnh, cấp huyện theohướng quy định khung các cơ quan chuyên môn giúp việc cho ủy ban nhân dân, đồng
Trang 8thời căn cứ điều kiện cụ thể và tiêu chí, địa phương có thể thành lập thêm một số cơ quankhác sau khi được sự đồng ý của cấp có thẩm quyền.
- Từ nay đến năm 2016, cơ bản không tăng thêm biên chế (trừ trường hợp lậpthêm tổ chức hoặc phát sinh nhiệm vụ mới) Tổ chức rà soát, đánh giá chất lượng đội ngũcán bộ, công chức, viên chức để tinh giản biên chế, đưa ra khỏi biên chế những trườnghợp năng lực, phẩm chất, sức khỏe yếu, hiệu quả, chất lượng công tác không đạt yêu cầu;kiên quyết cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, thay thế những người không đáp ứngđược nhu cầu bằng những người có phẩm chất và năng lực Thực hiện nguyên tắc số côngchức được tuyển dụng mới vào công vụ không quá 50% số công chức đã ra khỏi biênchế; 50% số biên chế còn lại để bổ sung cho những lĩnh vực cần tăng
b) Về đổi mới cơ chế hoạt động, cơ chế tài chính và tiền lương gắn với kết quả hoạt động của đơn vị sự nghiệp công lập
- Tăng cường tuyên truyền để nâng cao nhận thức trong Đảng và toàn hệ thống chính trị
về ý nghĩa, vai trò của đổi mới cơ chế hoạt động, cơ chế tài chính và tiền lương đối vớikhu vực sự nghiệp công lập Phải xác định đây là khâu đột phá và cần có quyết tâm chínhtrị cao trong việc ban hành cơ chế, chính sách và tổ chức thực hiện
- Phân định rõ loại dịch vụ do các đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện; loại dịch vụ docác đơn vị ngoài công lập thực hiện; loại dịch vụ do các đơn vị công lập và ngoài cônglập cùng thực hiện Có chính sách khuyến khích thúc đẩy phát triển số lượng và nâng caochất lượng các dịch vụ công; tạo môi trường bình đẳng không phân biệt giữa các đơn vị
sự nghiệp công lập và ngoài công lập trong việc cung cấp dịch vụ cho người dân
- Xác định khung giá, phí các dịch vụ sự nghiệp công lập, từng bước tính đủ tiền lương,chi thường xuyên theo lộ trình, phù hợp với thu nhập của người dân Xây dựng giá dịch
vụ sự nghiệp công theo 3 mức: (1) Mức giá tính đủ tiền lương; (2) Mức giá tính đủ tiềnlương và chi phí quản lý; (3) Mức giá tính đủ lương, chi phí quản lý và khấu hao tài sản
cố định Trên cơ sở đó, phân loại các đơn vị sự nghiệp để thực hiện theo 3 mức giá chophù hợp Các đối tượng thụ hưởng phải chi trả theo giá, phí dịch vụ Nhà nước thực hiệnchính sách hỗ trợ trực tiếp cho người có công, người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số vàmột số đối tượng còn khó khăn để được tiếp cận và thụ hưởng các dịch vụ sự nghiệp công
cơ bản thiết yếu, tạo sự đồng thuận trong xã hội
Trang 9- Đối với các đơn vị sự nghiệp cung cấp những dịch vụ sự nghiệp công có đủ điều kiện,trước hết là các đơn vị sự nghiệp kinh tế, thực hiện cơ chế hoạt động theo mô hình doanhnghiệp và từng bước cổ phần hóa theo quy định Thực hiện mô hình hợp tác công tưtrong cung cấp dịch vụ công theo hướng Nhà nước đầu tư xây dựng hạ tầng cơ sở và chodoanh nghiệp thuê lại với giá tính đủ để duy tu, bảo dưỡng.
- Thực hiện cơ cấu lại và đổi mới phương thức đầu tư, cấp phát ngân sách nhà nước theohướng: Ngân sách nhà nước bảo đảm kinh phí hoạt động thường xuyên đối với các đơn vị
sự nghiệp công lập được Nhà nước giao nhiệm vụ cung cấp dịch vụ sự nghiệp công tác ởvùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng miềnnúi, biên giới và hải đảo Từng bước chuyển từ việc giao dự toán ngân sách cho các đơn
vị cung cấp dịch vụ sự nghiệp công lập như hiện nay sang thực hiện phương thức "đặthàng", "mua" dịch vụ
- Thực hiện đổi mới cơ chế tài chính đối với nhóm các đơn vị sự nghiệp công lập cungcấp các dịch vụ sự nghiệp công có khả năng xã hội hóa cao, tự đảm bảo toàn bộ chi phíhoạt động (các trường đại học, bệnh viện và một số cơ sở dạy nghề) theo hướng: Giaoquyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm đồng bộ cả về tổ chức thực hiện nhiệm vụ, nhân lực, tàichính, tài sản khi cung cấp dịch vụ gắn với nhu cầu của xã hội; được quyền quyết địnhthu giá dịch vụ trên cơ sở khung giá tính đủ các chi phí hợp lý (theo lộ trình) Nhà nướcban hành bảng lương chuẩn trên cơ sở mức lương tính đủ theo nhu cầu tối thiểu áp dụngđối với nhóm các đơn vị sự nghiệp này Căn cứ kết quả hoạt động và bảng lương chuẩn,đơn vị quyết định tiền lương cụ thể chi trả cho viên chức và người lao động phù hợp vớinguồn thu dịch vụ của đơn vị
- Quy định và thực hiện lộ trình đổi mới cơ chế đối với các đơn vị sự nghiệp công lập;nghiên cứu để thực hiện khoán ổn định kinh phí hỗ trợ của Nhà nước trong một số nămđối với các đơn vị sự nghiệp công lập
c) Các giải pháp tạo nguồn thực hiện cải cách tiền lương:
- Thúc đẩy sản xuất, kinh doanh; giải quyết những khó khăn, vướng mắc của nền kinh tế,tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển; bao quát được các nguồn thu, chống thất thungân sách nhà nước
- Cơ cấu lại chi ngân sách cùng với việc điều chỉnh lại các chính sách, chế độ theo quanđiểm ưu tiên chi cải cách tiền lương, chi cho con người là chi đầu tư phát triển, cụ thể:
Trang 10+ Tiếp tục yêu cầu các địa phương dành 50% tăng thu ngân sách địa phương (tăng thu dựtoán năm sau so với năm trước và tăng thu thực hiện so với dự toán) cho cải cách tiềnlương.
+ Hằng năm, dành một tỉ lệ nhất định tăng thu ngân sách trung ương (tăng thu dự toánnăm sau so với năm trước và tăng thu thực hiện so với dự toán) để thực hiện cải cách tiềnlương trước khi phân bổ các nhiệm vụ khác
+ Tiếp tục cơ cấu lại chi ngân sách nhà nước:
Bố trí đủ để trả các khoản nợ đến hạn, đặc biệt là các khoản vay nợ nước ngoài (cả gốc vàlãi)
Chi đầu tư phát triển được bố trí theo nguyên tắc: vay bù đắp bội chi từ nguồn vốn trongnước và vốn vay ODA cho đầu tư phát triển theo cam kết với các nhà tài trợ; tiền thu sửdụng đất, một phần tiền thu từ sử dụng tài nguyên, tiền thu xổ số kiến thiết; tập trung đầu
tư cho các dự án không có khả năng thu hồi vốn Trên cơ sở đó giữ tỉ trọng chi đầu tưphát triển trên tổng chi ngân sách nhà nước ở mức hợp lý
Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong sử dụng ngân sách nhà nước đối với đầu tưxây dựng cơ bản; tiết kiệm tối đa các khoản chi thường xuyên ngoài lương; giảm dần một
số chế độ phụ cấp, bồi dưỡng làm đề án, hội thảo, hội họp… tiến tới đưa tiền lương thànhthu nhập chính của cán bộ, công chức, viên chức
- Rà soát, đánh giá tổng thể toàn bộ các chính sách, chế độ an sinh xã hội Trên cơ sở đó,lồng ghép các chính sách, loại bỏ các chính sách, chế độ chồng chéo, không hiệu quả; chỉban hành các chính sách, chế độ mới khi đã bố trí, cân đối được nguồn thực hiện
d) Từ nay đến khi Trung ương thông qua Đề án cải cách chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và người lao động trong các doanh nghiệp.
- Đối với đối tượng hưởng lương từ ngân sách, quy định "mức lương cơ sở" thay cho
"mức lương tối thiểu chung" và từng bước điều chỉnh trên cơ sở khả năng ngân sách nhànước, chỉ số giá tiêu dùng và tốc độ tăng trưởng kinh tế Không bổ sung các loại phụ cấp
ưu đãi, trách nhiệm, đặc thù theo ngành, nghề
- Đối với khu vực doanh nghiệp nhà nước, tiếp tục hoàn thiện chính sách tiền lương theonguyên tắc thị trường, có sự quản lý của Nhà nước; từng bước điều chỉnh mức lương tối
Trang 11thiểu vùng phù hợp với tình hình sản xuất, kinh doanh và nhu cầu tối thiểu của người laođộng; bảo đảm quyền tự chủ của doanh nghiệp trong việc xác định, quyết định tiền lươnggắn với năng suất lao động, hiệu quả sản xuất, kinh doanh; tăng cường thương lượng,thỏa thuận tiền lương nhằm đảm bảo hài hòa lợi ích của người lao động và doanh nghiệp.
2.2 Thực trạng tiền lương công chức hiện nay
Thứ nhất, hiện trạng tiền lương của cán bộ, công chức rất thấp so với yêu cầu tái sản xuấtsức lao động, đặc biệt là cán bộ, công chức sống ở khu vực thành thị Tính từ năm 2003đến nay, Chính phủ đã có 8 lần điều chỉnh mức lương tối thiểu Tốc độ tăng bình quângiai đoạn 2003 – 2008 là 13,24%/năm Sau 5 năm thực hiện Đề án cải cách chính sáchtiền lương giai đoạn 2008 - 2012, Chính phủ đã 5 lần điều chỉnh mức lương tối thiểu, từ450.000 đ năm 2008 lên 1.050.000đ năm 2012 Tốc độ phát triển bình quân giai đoạn
2008 – 2012 đạt 18,09%/năm Tốc độ phát triển bình quân toàn giai đoạn 2003 – 2012đạt 15,37%/năm Tổng mức chi cho cải cách tiền lương trong năm 2011 khoảng 27.000 tỷđồng; năm 2012 là 59.300 tỷ đồng
Bảng 1: Mức lương tối thiểu giai đoạn 2003 – 2012
tháng)
Mức lương tối thiểu khi tăng
Trang 12Nguồn: Dựa theo các nghị định về mức lương tối thiểu của Chỉnh phủ và tính toán của tác giả
Tuy mức lương tối thiểu tăng liên tục trong thời gian qua nhưng với tình hình kinh tế hiệnnay, thì mức lương tối thiểu chưa đáp ứng được cuộc sống tối thiểu của người lao động.Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, mức chi tiêu bình quân 1 nhân khẩu năm 2010 ởthành thị là 1.827.900 đồng/tháng, ở nông thôn 950.200 đồng/tháng và của cả nước là1.210.700 đồng/tháng Nếu tính theo chỉ số giá tiêu dùng năm 2011 khoảng 18% thì mứcchi tiêu bình quân 1 nhân khẩu năm 2011 ở thành thị là 2.156.900 đồng/tháng, ở nôngthôn là 1.121.300 đồng/tháng và của cả nước là 1.424.600 đồng Như vậy, mức lương tốithiểu năm 2011, là 830.000 đồng/tháng áp dụng đối với cán bộ, công chức chỉ bằng38,5% so với mức chi tiêu bình quân 1 nhân khẩu ở thành thị, bằng 74% so với mức chitiêu bình quân 1 nhân khẩu ở nông thôn và 58,1% so với mức của cả nước Thứ hai, chịuảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, tình hình kinh tế thế giới do khủnghoảng nợ công, lạm phát tăng cao trong thời gian qua, những yếu kém của nền kinh tế,suy thoái tư tưởng chính trị … gây ảnh hưởng cho việc huy động nguồn lực khi thực hiệncải cách tiền lương trong thời gian tới Khi mức lương tối thiểu chuẩn bị tăng thì giá cảcác loại hàng hóa tiêu dùng cũng tăng nhanh
Như vậy, tiền lương của cán bộ công chức hiện nay không phản ánh đúng giá trị lao độngcủa họ, một loại lao động đặc biệt – lao động tham mưu, giúp việc quản lý Do đó, cácgiá trị xã hội của công chức giảm sút, làm cho hiệu lực thực thi công vụ thấp, dễ bị tổnthương và là mảnh đất của tình trạng quan liêu, tham nhũng có cơ phát triển đã trở thànhvấn nạn của quá trình phát triển đất nước Vì vậy, cần phải sớm cải cách cơ bản chínhsách tiền lương hiện nay là điều hết sức cấp bách
2.3 Đánh giá chính sách cải cách tiền lương
Trong các thời kỳ phát triển đất nước, Việt Nam đã nhiều lần cải cách chính sáchtiền lương để phù hợp với xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
và hội nhập Dù đạt được những thành công nhất định, song vẫn còn rất nhiều hạn chế,
Trang 13nhất là cơ chế tạo nguồn chưa được tháo gỡ dẫn đến việc cải cách tiền lương bị rơi vàovòng luẩn quẩn.
a) Những mặt được
Thứ nhất, quan điểm, chủ trương về cải cách chính sách tiền lương của Đảng từ
năm 2003 đến nay là đúng đắn, phù hợp với nền kinh tế thị trường (KTTT) định hướng
xã hội chủ nghĩa Đặc biệt quan điểm coi việc trả lương đúng cho người lao động là thựchiện đầu tư cho phát triển, tạo động lực để phát triển kinh tế và nâng cao chất lượng dịch
vụ công, góp phần làm trong sạch và nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máyNhà nước Đặc biệt, Luật Cán bộ, Công chức đã quy định công chức có 2 năm liên tiếpkhông hoàn thành nhiệm vụ sẽ bị cho thôi việc Thực hiện tốt việc xác định vị trí việc làm
sẽ là cơ sở và căn cứ để tính toán được biên chế công chức phù hợp với chức năng, nhiệm
vụ, phạm vi và đối tượng quản lý trong từng cơ quan, tổ chức, đơn vị Người nào khôngđáp ứng được các yêu cầu của vị trí việc làm sẽ bị đưa ra khỏi công vụ Chính phủ đã xácđịnh lộ trình thực hiện việc xây dựng hệ thống vị trí việc làm trong các cơ quan, tổ chức,đơn vị, phấn đấu đến năm 2015, 50% cơ quan hành chính nhà nước có cơ cấu cán bộ,công chức theo vị trí việc làm