Qua đây ta sẽ có được cái nhìn rõ nét hơn về cơ cấu và cách thức luân chuyển vốn trong doanh nghiệp để từ đó vận dụng đúng đắn lý luận của C.Mác về tuần hoàn và chu chuyển tư bản.. Tuần
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
Trong thời đại ngày nay, nhất là khi xu hướng toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế ngày càng được quan tâm và trở nên sôi động hơn hết thì việc nâng cao hiệu quả, sức mạnh của các doanh nghiệp là mục tiêu mà quốc gia nào cũng hướng tới Nhưng, để làm được điều
đó lại là thách thức không nhỏ của doanh nghiệp thuộc các nước đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng, đặc biệt là các doanh nghiệp nhà nước
Với nhịp độ phát triển như vũ bảo của nền kinh tế hiện nay, muốn tồn tại được trong nền kinh tế thị trường thì các doanh nghiệp hầu hết đều hướng đến mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận và không ngừng mở rộng quy mô sản xuất Đến đây, vấn đề tạo ra nguồn vốn, sử dụng và quay vòng vốn cho phát triển sao cho hiệu quả nhất lại là vấn đề lớn cần được xem xét Nó đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế xã hội
Xuất phát điểm thấp từ một nước có nền kinh tế sản xuất nông nghiệp là chủ yếu, chúng ta đi lên từ cơ chế quản lý quan liêu bao cấp sang cơ chế quản lý mới là cơ chế kinh tế thị trường nhưng trong những năm gần đây Việt Nam cũng đã đạt được rất nhiều thành tựu to lớn Song, chúng ta không thể tránh khỏi những yếu kém và sai phạm trong công tác quản lý và sử dụng nguồn vốn hiệu quả Chính vì lẽ đó ta rất cần một cơ sở lý luận để định hướng Việc nghiên cứu “Quá trình tuần hoàn và chu chuyển tư bản” là để hiểu biết đầy đủ hơn về sự vận động của tư bản cùng với những biểu hiện của quan hệ bóc lột tư bản chủ nghĩa trong quá trình vận động của nó Qua đây ta sẽ có được cái nhìn
rõ nét hơn về cơ cấu và cách thức luân chuyển vốn trong doanh nghiệp để từ đó vận dụng đúng đắn lý luận của C.Mác về tuần hoàn và chu chuyển tư bản
Trong quá trình làm bài do hiểu biết và khuôn khổ kiến thức có hạn nên em chưa thể tiếp cận vấn đề trên nhiều khía cạnh một cách sâu sắc do đó không tránh khỏi những sai sót và hạn chế, kính mong cô có thể xem xét và góp ý thêm cho em hơn nữa Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 2PHẦN NỘI DUNG
A
Lý luận về tuần hoàn và chu chuyển tư bản của C.Mác
1 Tuần hoàn của tư bản
1.1 Khái niệm
Tuần hoàn tư bản là sự biến chuyển, vận động liên tục của tư bản trải qua ba giai đoạn dưới ba hình thái kế tiếp nhau, thực hiện ba chức năng tương ứng để trở về hình thái ban đầu với giá trị thặng dư
1.2 Các giai đoạn của tuần hoàn tư bản: Tuần hoàn tư bản trải qua 3 giai đoạn
+ Giai đoạn thứ nhất : Lưu thông SLĐ
T - H
TLSX
Đây là giai đoạn dùng tiền để mua hàng hóa trên thị trường gồm tư liệu sản suất và sức lao động Tư bản tồn tại dưới hình thái tư bản tiền tệ Hoàn thành quá trình này, giá trị tư bản trút bỏ hình thái hiện vật là sức lao động và tư liệu sản xuất Kết quả là kết thúc giai đoạn thứ nhất tư bản tiền tệ biến thành tư bản sản xuất
+ Giai đoạn thứ hai : Sản xuất SLĐ
H SX H’
TLSX
Trong giai đoạn này tư bản tồn tại dưới hình thái tư bản sản xuất, có chức năng thực hiện sự kết hợp hai yếu tố tư liệu sản xuất và sức lao động để sản xuất ra hàng hóa mà trong giá trị của nó có giá trị thặng dư Trong các giai đoạn tuần hoàn của tư bản, giai đoạn sản xuất có ý nghĩa quyết định nhất Như vậy, kết quả của giai đoạn thứ hai là tư bản sản xuất biến thành tư bản hàng hoá
+ Giai đoạn thứ ba: Lưu thông H’- T’
Trong giai đoạn ba tư bản tồn tại dưới hình thái tư bản hàng hóa, chức năng là thực hiện giá trị của khối lượng hàng hóa đã sản xuất ra trong đó đã bao hàm một lượng giá trị thặng dư Nhà tư bản xuất hiện trên thị trường để bán hàng, nhà tư bản bán hàng đúng giá trị thu được T’>T vì trong H’ đã có giá trị thặng dư Đến đây mục đích của tư bản đã được thực hiện Tư bản lại trở về hình thái ban đầu với lượng giá trị lớn hơn trước
Tóm lại, qua ba giai đoạn tư bản vận động theo sơ đồ sau:
SLĐ
T-H …SX H’ - T’
TLSĐ
Trải qua ba giai đoạn, sự vận động nói trên là sự vận động có tính chất tuần hoàn, tiếp tục và lặp lại không ngừng như một chuỗi biến hóa hình thái của tư bản, cho thấy tư bản không phải ở trạng thái tĩnh mà luôn luôn vận động, lấy vật làm hình thái tồn tại trong quá trình vận động của nó Qua đây ta cũng thấy rõ được nguồn gốc của giá trị
Trang 3thặng dư được tạo ra trong sản xuất và do hao phí sức lao động của người lao động chứ không phải do sự chệnh lệch về giá cả, mua rẻ bán đắt mà ra
Thực tế cho thấy không phải lúc nào các giai đoạn và hình thái cũng đều ăn khớp với nhau Mỗi sự ách tách, gián đoạn ở một giai đoạn nào đó đều gây rối loạn hay sự đình trệ cho sự vận động của tư bản Nếu ngừng hay kéo dài thời gian ở bất kể giai đoạn nào thì cũng đều sẽ gây ra những ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của tư bản
2 Chu chuyển của tư bản
2.1 Khái niệm
Sự tuần hoàn của tư bản, nếu xét nó với tư cách là một quá trình định kỳ đổi mới và thường xuyên lặp đi lặp lại, thì gọi là chu chuyển của tư bản.
2.2 Cách đo lường chu chuyển của tư bản
Chu chuyển tư bản được đo lường bằng thời gian chu chuyển hoặc tốc độ chu chuyển
tư bản
a Thời gian chu chuyển tư bản
Thời gian chu chuyển tư bản là thời gian tính từ khi tư bản ứng ra dưới một hình thái nhất định cho đến khi thu về cũng dưới hình thái đó, kèm theo giá trị thặng dư Thời gian chu chuyển tư bản cũng là thời gian tư bản thực hiện được một vòng tuần hoàn Tuần hoàn tư bản bao gồm quá trình sản xuất và quá trình lưu thông, nên thời gian chu chuyển của tư bản cũng bao gồm thời gian sản xuất và thời gian lưu thông
Thời gian chu chuyển = thời gian sản xuất + thời gian lưu thông
Þ Thời gian chu chuyển của tư bản càng rút ngắn thì càng tạo điều kiện cho giá trị thặng
dư được sản xuất ra nhiều hơn, tư bản càng lớn nhanh hơn
b Tốc độ chu chuyển của tư bản
Tốc độ chu chuyển tư bản dùng để chỉ sự vận động nhanh hay chậm của tư bản ứng trước Tốc độ chu chuyển của tư bản là số lần mà một tư bản được ứng ra dưới một hình thái nhất định quay về dưới hình thái đó kèm theo giá trị thặng dư tính trong một đơn vị thời gian nhất định Ta có công thức số vòng ( lần) chu chuyển của tư bản như sau:
n= CH
ch Trong đó: n: số vòng quay chu chuyển của tư bản
CH: thời gian của 1 năm
ch: thời gian 1 vòng chu chuyển
Þ Từ công thức trên ta thấy, tốc độ chu chuyển của tư bản tỷ lệ nghịch với thời gian 1
vòng chu chuyển của tư bản Thời gian của một vòng chu chuyển tư bản càng ngắn thì tốc độ chu chuyển càng nhanh và ngược lại
2.3 Tư bản cố định và tư bản lưu động
Trang 4Trong quá trình sản xuất, các bộ phận khác nhau của tư bản chu chuyển không giống nhau Căn cứ vào phương thức chu chuyển của từng bộ phận, C.Mác đã chia tư bản sản xuất thành tư bản cố định và tư bản lưu động
a Tư bản cố định
- Tư bản cố định là bộ phận tư bản sản xuất tồn tại dưới hình thức tư liệu lao động như máy móc, thiết bị nhà xưởng tham gia vào toàn bộ quá trình sản xuất, nhưng giá trị của
nó bị khấu hao từng phần và được chuyển dần vào sản phẩm mới được sản xuất ra
- Trong quá trình sử dụng tư bản cố định bị hao mòn dần và có hai hình thức hao mòn:
Hao mòn hữu hình: hao mòn do quá trình sản xuất, tác động của tự nhiên làm mất đi
về giá trị sử dụng và giá trị
Hao mòn vô hình: hao mòn thuần túy về mặt giá trị do sự phát triển của khoa học công nghệ dẫn đến máy móc bị mất giá trong khi vẫn đang sử dụng
Þ Để tránh hao mòn và khôi phục tư bản cố định cả về giá trị và hiện vật thì cần phải tính toán kỹ lưỡng, tăng quỹ khấu hao tài sản cố định, làm cho lượng tư bản sử dụng tăng lên,
tránh được thiệt hại hao mòn hữu hình do tự nhiên phá hủy và hao mòn vô hình gây ra Nhờ đó mà có điều kiện đổi mới thiết bị nhanh
b Tư bản lưu động
Tư bản lưu động là bộ phận tư bản tồn tại dưới hình thái sức lao động, nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu phụ,… giá trị của nó lưu thông toàn bộ cùng với sản phẩm và được hoàn lại toàn bộ cho các nhà tư bản sau mỗi quá trình sản xuất
2.4 Giải pháp nâng cao tốc độ chu chuyển tư bản
Dựa vào công thức tốc độ chu chuyển tư bản ở trên ta thấy thời gian chu chuyển tư bản phụ thuộc vào độ dài hay ngắn của thời gian sản xuất và thời gian lưu thông Thời gian sản xuất dài, ngắn ngoài sự phụ thuộc vào đặc điểm của từng ngành sản xuất khác nhau, còn phụ thuộc vào trình độ tiến bộ khoa học kỹ thuật công nghệ và sự ứng dụng vào quá trình sản xuất, phụ thuộc vào trình độ tổ chức phân công lao động và trình độ dịch vụ các yếu tố gắn với đầu vào của sản xuất
Thời gian lưu thông dài, ngắn phụ thuộc vào nhiều nhân tố như: tình hình thị trường (cung – cầu và giá cả…); khoảng cách từ sản xuất đến thị trường; trình độ phát triển của giao thông vận tải… tuy nhiên trong những năm gần đây ở các nước tư bản thì thời gian lưu thông vừa có xu hướng ngắn lại vừa có xu hướng dài ra vì một mặt do tiến bộ khoa học kĩ thuật giúp thời gian lưu thông giảm xuống, mặt khác các doanh nghiệp lại mở rộng quy mô hơn nữa làm cho quy mô tư bản trong lĩnh vực lưu thông ngày càng tăng
Như vậy, do chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố, nên thời gian chu chuyển của các tư bản diễn ra khác nhau Để nâng cao hiệu quả sử dụng tư bản, các nhà tư bản thường tìm mọi biện pháp khai thác mặt thuận lợi và hạn chế mặt không thuận lợi của những nhân tố
Trang 5nói trên để nâng cao tốc độ chu chuyển tư bản nhằm tăng cường bóc lột ngày càng nhiều giá trị thặng dư của người công nhân Từ đó cũng làm tăng thêm mâu thuẫn trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa
Tác động của khoa học kĩ thuật hiện đại cho phép sử dụng những thành tựu kĩ thuật
và công nghệ sản xuất mới, tổ chức dịch vụ sản xuất một cách khoa học, qua đó rút ngắn đáng kể thời gian gián đoạn lao động, làm tăng hiệu quả hoạt động của tư bản
Các phương thức rút ngắn thời gian lưu thông có thể thực hiện bằng cách năng cao chất lượng của hàng hóa, phát triển và cải tiến mạng lưới cùng các phương pháp thương nghiệp, đặc biệt chú trọng đến việc phát triển ngành giao thông vận tải Tuy sự tồn tại của thời gian lưu thông là điều tất yếu và rất quan trọng đối với thời gian sản xuất, song, việc rút ngắn khoảng thời gian này sẽ làm cho nhà tư bản nằm trong lĩnh vực lưu thông giảm xuống, tăng lượng tư bản đầu tư cho sản xuất và tạo ra nhiều giá trị thặng dư, nâng cao hiệu quả hoạt động của tư bản hơn nữa
Þ Tư bản lưu động chu chuyển nhanh hơn tư bản cố định Việc tăng tốc độ chu chuyển của tư bản có ý nghĩa quan trọng:
- Đối với tư bản cố định thì việc nâng cao tốc độ chu chuyển tư bản sẽ tiết kiệm được chi phí bảo quản, sửa chữa, giảm hao mòn hữu hình và hao mòn vô hình
- Nâng cao tốc độ lưu chuyển tư bản lưu động sẽ cho phép tiết kiệm tư bản ứng trước khi quy mô sản suất như cũ hoặc mở rộng thêm mà không cần có tư bản phụ
* Kết luận: Tuần hoàn tư bản và chu chuyển tư bản là hai mặt của một vấn đề vận động
của tư bản Chu chuyển tư bản chỉ có thể tiếp tục khi có tuần hoàn trôi chảy Mặt khác quá trình tuần hoàn của tư bản là quá trình thống nhất giữa lưu thông và sản xuất Khi nào
mà giai đoạn dùng tiền mua hàng và bán hàng và thu tiền về là những hành vi lưu thông thì lưu thông của tư bản là một bộ phận của lưu thông hàng hoá Nhưng nếu chỉ coi nó là những giai đoạn với những chức năng nhất định của tuần hoàn thì tư bản hoàn thành vòng tuần hoàn của bản thân nó ở bên trong quá trình lưu thông giúp cho nhà tư bản trút bỏ hình thái tiền tệ và mang hình thái mới khiến cho nó có thể tham gia vào sản xuất ở giai đoạn thứ ba, lưu thông hàng hoá giúp cho nhà tư bản trút bỏ hình thái hàng hoá để bắt đầu một vòng tuần hoàn mới của nó đồng thời tạo thêm một món lời cho nhà tư bản bỏ túi, đó là giá trị thặng dư
Quá trình chu chuyển của tư bản có nhanh thì mới giúp cho việc tuần hoàn được quay lại quá trình tuần hoàn để trở về hình thái ban đầu của nó được nhanh chóng Vì vậy việc tăng tốc độ chu chuyển tư bản và tìm mọi biện pháp để tăng tốc độ chu chuyển vốn
là yêu cầu của mọi nền sản xuất Nền kinh tế XHCN có khả năng thực hiện tốt vấn đề ấy
B Ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu lý luận tuần hoàn và chu chuyển tư bản.
Trang 6Để một doanh nghiệp có thể duy trì hoạt động kinh doanh và phát triển thì việc tạo vốn và sử dụng vốn hiệu quả là một trong những vấn đề quan trọng nhất cần được lưu ý C.Mác đã trình bày vai trò của vốn thông qua nhiều học thuyết trong đó có “tuần hoàn và chu chuyển” Có thể thấy ngay từ xưa các nhà kinh tế đã đánh giá cao vai trò của vốn và việc sử dụng vốn một cách hiệu quả Và để đạt được điều này ta có thể dựa vào những luận điểm trên đưa ra một số những phương pháp, biện pháp, công cụ quản lý hiệu quả
1 Về phía các doanh nghiệp:
- Xác định đường lối sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp, tiết kiệm tư bản ứng trước, hạn chế rủi ro trong kinh doanh Khả năng sản xuất và tiệu thụ sản phẩm của một doanh nghiệp là điều kiện tiên quyết của hiệu quả sử dụng vốn Trong điều kiện kinh tế thị trường quy mô và tính chất sản xuất, kinh doanh không phải do doanh nghiệp quyết định
mà là do thị trường Do đó, lựa chọn đúng đắn phương án kinh doanh, phương án sản phẩm là giải pháp đầu tiên có ý nghĩa quyết định hiệu quả kinh doanh và hiệu quả sự dụng vốn Các phương án đều phải được xây dựng dựa trên cơ sở tiếp cận thị trường Đây
là điều cần thiết để sản phẩm sản xuất ra của doanh nghiệp có khả năng tiêu thụ được, quá trình sản xuất có thể tiến hành bình thường, trôi chảy, tài sản cố định có khả năng phát huy hêt công suất, vốn lưu động có thể chu chuyển đều đặn
- Đổi mới và kiện toàn bộ máy quản lý, đầu tư chi phí để đội ngũ quản lý có thể trau dồi thêm kiến thức Chúng ta phải thường xuyên đào tạo, bồi dưỡng kiến thức mới cho họ, chỉ có làm như vậy mới đáp ứng được xu thế của thời đại Một cán bộ quản lý có năng lực, có tri thức là 1 điều kiện không thể thiếu được cho các doanh nghiệp
- Tổ chức và quản lý sản xuất tốt, cần phải tiến hành thông suốt đều đặn, nhịp nhàng giữa các khâu dự trữ, sản xuất và tiêu thụ, hạn chế tối đa tình trạng ngừng việc của máy móc,
ứ đọng vật tư, … gây lãng phí yếu tố sản xuất và làm chậm tốc độ luân chuyển vốn Sản xuất cần năng động, bắt kịp nhu cầu thị hiếu của người tiêu dùng
- Lựa chọn và sử dụng hợp lý các nguồn vốn Các doanh nghiệp nên cân nhắc huy động những nguồn vốn bổ sung ngoài nguồn vốn ngân sách nhà nước đầu tư nhằm đảm bảo sản xuất kinh doanh tiến hành bình thương và mở rộng quy mô hoặc đầu tư chiều sâu
* Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định các doanh nghiệp cần:
+ Bố trí dây chuyền sản xuất hợp lý, khai thác hết công suất thiết kế, giảm chi phí khấu hao trong giá thành sản phẩm + Xử lý dứt điểm những tài sản cố định không cần dùng nhằm thu hồi vốn cố định chưa
sử dụng vào luân chuyển, bổ sung thêm vốn cho sản xuất + Phân cấp quản lý tài sản cố định cho các phân xưởng, bộ phận trong nội bộ doanh nghiệp giảm tối đa thời gian ngừng việc giữa ca hoặc ngừng việc để sửa chữa + Thường xuyên quan tâm đến việc bảo toàn vốn cố định, tránh mất mát hư hỏng trước thời hạn khấu hao
* Nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng vốn lưu động:
Trang 7+ Xác định đúng nhu cầu vốn lưu động cần thiết cho từng kỳ sản xuất
+ Tổ chức tốt quá trình thu mua, dự trữ vật tư, hạn chế tình trạng ứ đọng làm mất phẩm chất vật tư, gây ứ đọng vốn lưu động
+ Tổ chức đa dạng các hình thức tiêu thụ sản phẩm, mở rộng thị trường trong và ngoài nước nhằm tiêu thụ sản phẩm nhanh, vươn lên làm chủ thị trường
+ Tiết kiệm các yếu tố chi phí quản lý doanh nghiệp, chi phí lưu thông nhằm góp phần giảm chi phí sản xuất tăng lợi nhuận
- Áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, kinh doanh Kỹ thuật tiến bộ và công nghệ hiện đại là điều kiện vật chất để doanh nghiệp sản xuất ra những sản phẩm mới, hợp thị hiếu, chất lượng cao, nhờ đó doanh nghiệp có thể tăng khối lượng sản phẩm tiêu thụ, tăng giá bán, tăng lợi nhuận cũng như rút ngắn chu kỳ sản xuất sản phẩm, giảm tiêu hao nguyên vật liệu hoặc sử dụng các loại vật tư thay thế nhằm tăng tốc độ luân chuyển vốn, tiết kiệm chi phí vật tư và hạ giá thành sản phẩm
- Tổ chức và giám sát tốt các hoạt động hạch toán kế toán và phân tích hoạt động kinh tế Qua số liệu, tài liệu kế toán, đặc biệt là các báo cáo kế toán tài chính, doanh nghiệp thường xuyên nắm được số vốn hiện có, cả về mặt giá trị và hiện vật, nguồn hình thành
và các biến động tăng, giảm vốn trong kỳ, mức độ đảm bảo vốn lưu động, tình hình và khả năng thanh toán Nhờ đó, doanh nghiệp có thể đề ra các giải pháp đúng đắn để xử lý kịp thời các vấn đề tài chính nhằm đảm bảo cho quá trình kinh doanh thuận lợi theo kế hoạch đề ra
2 Về phía người lao động:
Cần phải nhận thức được việc cải thiện trình độ lao động của mình để xây dựng lên
một nguồn lao động có chất lượng Có tinh thần trách nhiệm trong công việc, luôn ham tìm tòi học hỏi thêm kĩ năng cho bản thân mình
3 Về phía nhà nước:
- Tạo hành lang pháp lý thông thoáng hơn, đơn giản hóa các thủ tục hành chính để
khuyến khích các doanh nghiệp và các nhà đầu tư trong và ngoài nước
- Cần ngày càng nâng cao kĩ năng và tinh thần trách nhiệm của đội ngũ cán bộ quản lý
- Liên tục đưa ra các chính sách hợp lý để kích thích sản xuất, kích thích khả năng tiêu dùng, nới lỏng các điều luật để hàng hóa lưu thông nhanh hơn, giảm các loại thuế, đẩy mạnh tốc độ phát triển của nền kinh tế
4 Đối với các tổ chức xã hội, đoàn thể:
Khuyến khích các tổ chức xã hội tham gia cho doanh nghiệp vây vốn để tận dụng nguồn vốn nhàn rỗi của các cơ quan này, đồng thời mở rộng thị trường vốn trong nước, đáp ứng nhu cầu vốn đầu tư của doanh nghiệp
PHẦN KẾT LUẬN
Trang 8Chúng ta đều biết rằng doanh nghiệp là một thành phần quan trọng và tiên quyết của một nền kinh tế ở bất kì quốc gia nào, là nguồn gốc tạo nên sức mạnh kinh tế và sự giàu
có của một quốc gia Chính vì lẽ đó việc vận dụng lý luận của C.Mác về tuần hoàn và chu chuyển tư bản với điều kiện hiện có của doanh nghiệp là rất cần thiết để xác định được vị thế của mình trên thị trường
Với lý luận nêu trên, chắc hẳn rằng ta đã có được tiền đề và cơ sở lý luận để phát triển nền kinh tế theo con đường đúng đắn và hợp lý nhất C.Mác đã cho ra đời một học thuyết
có ý nghĩa sâu sắc không chỉ đúng với những gì diễn ra trong quá khứ mà nó còn tồn tại
và được ứng dụng rộng rãi mãi sau này Các doanh nghiệp phần nào nắm bắt và bước đầu vận dụng thành công lý luận tuần hoàn và chu chuyển của C.Mác, ngày càng tăng chứng
tỏ đã khẳng định được chỗ đứng của quốc gia Tuy nhiên bên cạnh những thành tựu đã đạt được việc sử dụng hiệu quả các nguồn vốn còn rất nhiều hạn chế, khó khăn trở ngại
Vì vậy mỗi doanh nghiệp và các thành phần kinh tế khác của nền kinh tế quốc dân cũng cần phải hiểu rõ và vận dụng hiệu quả các lý luận về vấn đề tuần hoàn và chu chuyển tư bản cũng như nguồn vốn trong các doanh nghiệp, giúp cho nền kinh tế phát triển và lớn mạnh hơn nữa