Vận dụng lý thuyết để đánh giá thực trạng điều hành chính sách tiền tệ của NHNN Việt Nam từ 2008 đến nay thông qua chính sách tái chiết khấu
Trang 1BẢNG PHÂN CÔNG CÔNG VIỆC
VÀ ĐÁNH GIÁ THÀNH VIÊN TRONG NHÓM
Các thành viên trong nhóm thảo luận lựa chọn tên đề tài và thống nhất nội dung của bài thảo luận Trên cơ sở đó các thành viên thống nhất phân công công việc và thực hiện làm chi tiết các công việc được phân giao.
ST
T Tên thành viên
Công việc thực hiện
Đánh giá của nhóm
Đánh giá của giáo viên
Tính cấp thiết của đề tài, Mục đích, đối tượng,phạm vi nghiên cứu
Nhóm có sự đoàn kết, các thành viên đều đóng góp ý kiến cho bài thảo luận Cả nhóm thống nhất đánh giáđiểm cho tất cả các thành viên là điểm A
Tổng hợp, sửa chữa và thuyết trình
LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài.
Trang 2Nói đến tiền là nói đến sự ổn định của tiền, mà sự ổn định của tiền liên quanmật thiết và chịu sự ràng buộc bởi hoạt động của toàn hệ thống ngân hàng Thôngqua các thao tác của mình, Ngân hàng Trung ương (NHTW) có thể làm thay đổitiền tệ trên tất cả các mặt: lưu lượng, chi phí, giá trị… Toàn bộ các thao tác có liênquan đến tiền của NHTW luôn nằm trong hệ thống những ý đồ mang tính chiếnlược mà người ta gọi là chính sách tiền tệ Nếu chính sách tài chính tập trung vàothành phần, kết cấu các mức chi phí, thuế khoá của Nhà nước, thì chính sách tiền tệquốc gia lại tập trung vào việc giải quyết khả năng thanh toán cho toàn bộ nền kinh
tế quốc dân, bao gồm việc đáp ứng khối lượng tiền cung ứng cho lưu thông, điềukhiển hệ thống tiền tệ và tín dụng đáp ứng vốn cho hoạt động kinh tế, tạo điều kiệnthúc đẩy thị trường tiền tệ, thị trường vốn theo những quỹ đạo đã định, kiểm soáthoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) và các tổ chức tín dụngkhác, cùng với việc xác định tỷ giá hối đoái hợp lý nhằm ổn định và thúc đẩy kinh
tế đối ngoại, hướng tới mục tiêu cuối cùng là ổn định tiền tệ, giữ vững sức mua củađồng tiền, ổn định giá cả hàng hoá
Nội dung quan trọng nhất của chính sách tiền tệ là việc cung ứng tiền chonền kinh tế Việc cung ứng tiền có thể thông qua con đường tín dụng, cũng có thểthông qua hoạt động của thị trường mở (mua bán giấy tờ có giá), thị trường hối đoái(mua bán ngoại tệ) và để điều tiết mức tiền cung ứng, NHTW các nước sử dụng cáccông cụ khác nhau như lãi suất, tỷ giá, dự trữ bắt buộc… Chính vì thế mà chínhsách tiền tệ tác động đến nền kinh tế là một điều hiển nhiên, bởi nó được sinh ra là
để điều tiết tiền tệ, mà sự vận động của tiền tệ trong nền kinh tế lại như máu lưuthông trong cơ thể con người Không khó khăn nếu muốn chứng minh về vấn đềnày, nhất là trong giai đoạn gần đây - chính phản ứng của thị trường đối với nhữngthay đổi của chính sách tiền tệ sẽ là biểu hiện rõ nhất về những tác động của chínhsách tiền tệ đối với nền kinh tế
Tình hình kinh tế Việt Nam trong thời gian qua cũng đã có những dấu hiệubất ổn, ngoài những nguyên nhân khách quan, chủ quan; trong nước, ngoài nước thìchính sách tiền tệ cũng đóng một vai trò không kém phần quan trọng đặc biệt là đốivới công cụ chính sách lãi suất tái chiết khấu Chính vì thế, trong quá trình học tậpmôn học, được sự hướng dẫn của cô giáo, nhóm chúng em xin lựa chọn đề tài:
“Vận dụng lý thuyết để đánh giá thực trạng điều hành chính sách tiền tệ của
NHNN Việt Nam từ 2008 đến nay thông qua chính sách tái chiết khấu” để phân
tích hiệu quả tác động của chính sách lãi suất tái chiết khấu với lượng cung tiền trênthị trường
Trang 32 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu
Phân tích sự ảnh hưởng và hiệu quả tác động của công cụ chính sách lãi suất táichiết khâu của Ngân hàng Trung ương tới thị trường tiền tệ trong thời gian qua
Nhiệm vụ nghiên cứu.
Thứ 1: Phân tích làm rõ về sự tác động gián tiếp của chính sách lãi suất táichiết khấu tới lượng cung tiền trên thị trường tiền tệ, ưu nhược điểm của công cụnày
Thứ 2: vận dụng lý thuyết trên để đánh giá việc sử dụng công cụ chính sáchlãi suất tái chiết khấu của NHNN Việt Nam trong các thời kỳ để từ đó đánh giá vềhiệu quả và hiệu lực của công cụ có thỏa mãn được mục đích của NHNN trong việcđiều tiết thị trường tiền tệ
Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu các chính sách tái chiết khấu của NHNN từnăm 2007 đến nay
3 Cấu trúc bài thảo luận
Chương 1: Cơ sở lý luận
Chương 2: Thực trạng điều hành chính sách tiền tệ của NHNN Việt Namthông qua chính sách tái chiết khấu
Chương 3: Một số giải pháp để nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền
tệ của NHNN Việt Nam trong thời gian tới thông qua chính sách tái chiết khấu.Tuy nhiên, do thời gian còn hạn hẹp và sự hiểu biết các vấn đề chưa sâu sắc,chắc chắn bài viết còn có rất nhiều thiếu sót Bởi vậy, chúng em mong được sự đánhgiá của cô để có thể sửa chữa, khắc phục những mặt kiến thức còn yếu của mình và
để bài viết có thể hoàn thiện hơn Chúng em xin chân thành cảm ơn PGS.TS Lê ThịKim Nhung đã tận tình giúp đỡ!
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ
VÀ CÔNG CỤ TÁI CHIẾT KHẤU
Trang 41.1 Chính sách tiền tệ:
1.1.1 Khái niệm:
Chính sách tiền tệ là hệ thống các quan điểm, các chủ trương và biện pháp của Nhànước nhằm tác động và điều chỉnh các hoạt động về tiền tệ, tín dụng, ngân hàng,ngoại hối, tạo ra sự ổn định của lưu thông tiền tệ để thúc đẩy nền kinh tế quốc dânphát triển
1.1.2 Mục tiêu của chính sách tiền tệ:
- Ổn định kinh tế, giá cả, lãi suất, thị trường tài chính
- Tăng trưởng kinh tế
- Tạo công ăn việc làm cho người lao động
1.1.3 Các công cụ của chính sách tiền tệ:
- Các công cụ gián tiếp:
+ Nghiệp vụ thị trường mở: NHTW sử dụng các nghiệp vụ mua bán chứngkhoán trên thị trường tiền tệ để thay đổi cơ số tiền, từ đó tác động đến lượng cungứng và mức lãi suất trên thị trường
+ Chính sách tái chiết khấu bao gồm các quy định về việc cho vay của NHTWđối với các Ngân hàng trung gian (NHTG), chủ yếu dưới hình thức chiết khấu lạicác giấy tờ có giá
+ Dự trữ bắt buộc: là số tiền mà NHTG buộc phải duy trì trên tài khoản tiềngửi tại NHTW
+ Chính sách tỷ giá hối đoái: là sự can thiệp của NHTW vào tỷ giá làm cungtiền thay đổi, lãi suất trên thị trường liên ngân hàng thay đổi
- Các công cụ trực tiếp: hạn mức tín dụng, khung lãi suất, biên độ dao động tỷ
giá, chính sách quản lý ngoại hối
1.2 Công cụ lãi suất tái chiết khấu:
1.2.1 Chính sách tái chiết khấu:
Chính sách tái chiết khấu bao gồm các qui định về việc cho vay của NHTW đối vớicác NHTM NHTW thường cho các NHTM vay dưới hình thức chiết khấu lại cácgiấy tờ có giá ngắn hạn (chủ yếu là tín phiếu kho bạc và thương phiếu) do cácNHTM đưa đến, bởi vậy chính sách cho vay của NHTW đối với các NHTM đượcgọi là chính sách tái chiết khấu
Trang 5Các NHTM vay từ NHTW chủ yếu là nhằm giải quyết vấn đề thiếu hụt tiền mặt tạmthời để đáp ứng nhu cầu thanh toán hoặc để bù đắp thiếu hụt trong quỹ dự trữ bắtbuộc Những thay đổi trong chính sách tái chiết khấu của NHTW sẽ tác động đếnkhối lượng vay chiết khấu của các NHTM, từ đó ảnh hưởng tới lượng tiền cungứng.
NHTW thông qua việc thay đổi các qui định về hạn mức tái chiết khấu, lãi suất táichiết khấu và các điều kiện tái chiết khấu sẽ ảnh hưởng đến các hoạt động đi vaychiết khấu từ NHTW của các NHTM trên hai phương diện: khối lượng và giá.Khối lượng vốn khả dụng được bổ sung từ NHTW có thể bị giới hạn hoặc nới rộngcăn cứ vào hạn mức tái chiết khấu và các điều kiện tái chiết khấu, từ đó ảnh hưởngđến khả năng tạo tiền của hệ thống NHTM, làm cho lượng tiền cung ứng bị thayđổi Khi lượng vốn khả dụng thay đổi, quan hệ cung cầu vốn và do đó lãi suất trênthị trường liên ngân hàng cũng thay đổi
Sự thay đổi mức lãi suất tái chiết khấu tác động trước hết vào chi phí đầu vào củacác NHTM, vì thế các ngân hàng này dần dần tăng (hoặc giảm) lãi suất cho vay, từ
đó làm giảm (hoặc tăng) nhu cầu tín dụng Bên cạnh đó, khi lãi suất chiết khấu tănglên (hoặc giảm), các NHTM không thể vay NHTW một cách dễ dàng (hoặc là cóthể mở rộng khả năng vay) Điều này buộc các NHTM phải giảm bớt khả năng cungứng tín dụng để hồi phục dự trữ (hoặc mở rộng cho vay trong trường hợp ngượclại)
1.2.2 Lãi suất tái chiết khấu:
Theo Điều 9, Luật NHNN/06/1997/QHX, lãi suất tái chiết khấu là lãi suất áp dụngkhi NHNN tái chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác (tínphiếu kho bạc, chứng chỉ tiền gửi) cho các TCTD
Lãi suất tái chiết khấu thực hiện trên cơ sở các giấy tờ có giá: người nắm giữ giấy tờ
có giá đem tới cầm cố tại ngân hàng để có được một khoản vay với giá trị nhỏ hơngiá trị trên các giấy tờ cầm cố (phần chênh lệch chính là tỷ lệ chiết khấu) và ngânhàng sẽ thu lại toàn bộ khoản tiền khi các giấy tờ này đáo hạn Trong trường hợpcác giấy tờ đó chưa đến hạn thanh toán mà ngân hàng lại đang cần vốn kinh doanh,
họ có thể đem các giấy tờ có giá này tới chiết khấu tại Ngân hàng Trung ương(NHTW) với lãi suất tái chiết khấu NHTW đã công bố trước đó để thu được nguồnvốn phục vụ hoạt động kinh doanh
1.2.3 Vai trò của lãi suất tái chiết khấu:
Trang 6 Lãi suất tái chiết khấu đóng vai trò như mức lãi suất “sàn” trên thị trường
Lý do rất đơn giản: các tổ chức tín dụng đã vay vốn từ NHNN để cung cấp tín dụngcho khách hàng, nếu lãi suất cho vay khách hàng thấp hơn lãi suất huy động vốn từNHNN, các tổ chức tín dụng sẽ không có lãi Do vậy, lãi suất tái chiết khấu NHNNđưa ra cũng chính là mức lãi suất cho vay thấp nhất của các tổ chức tín dụng
Việc NHNN tái chiết khấu các giấy tờ có giá cũng tương tự như động thái tăng cungtiền trên thị trường Tuy nhiên, lãi suất tái chiết khấu tăng cao sẽ hạn chế khả năngtiếp cận nguồn vốn của các TCTD và ngược lại Nghiệp vụ chiết khấu và tái chiếtkhấu được thực hiện theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng Lãi suất chiếtkhấu được NHNN xác định và công bố, phù hợp với mục tiêu của chính sách tiền tệtrong từng thời kỳ Tăng lãi suất tái chiết khấu được coi là một trong số các công cụthắt chặt tiền tệ, kiềm chế lạm phát của NHTW các quốc gia
Lãi suất tái chiết khấu là phương thức để NHTW đưa tiền vào lưu thông, thựchiện vai trò người cho vay cuối cùng
Thông qua việc tái chiết khấu, NHTW đã tạo cơ sở đầu tiên thúc đẩy hệ thốngNHTM thực hiện việc tạo tiền, đồng thời khai thông thanh toán, kiểm soát đượchoạt động của các NHTM, có thể tác động tới việc điều chỉnh cơ cấu đầu tư đối vớinền kinh tế thông qua việc ưu đãi tín dụng vào các lĩnh vực cụ thể Tái chiết khấu làđầu mối tăng tiền trung ương, tăng khối lượng tiền tệ vào lưu thông Do đó ảnhhưởng trực tiếp đến quá trình điều khiển khối lượng tiền và điều hành chính sáchtiền tệ Tùy theo tình hình từng giai đoạn, tùy thuộc yêu cầu của việc thực hiệnchính sách tiền tệ trong giai đoạn ấy, cần thực hiện chính sách nới lỏng hay thắt chặttín dụng mà NHTW quy định lãi suất thấp hay cao
Lãi suất tái chiết khấu có tác dụng chỉ đạo lãi suất tín dụng trong nền kinh tếcủa từng giai đoạn
Khi NHTW nâng lãi suất tái chiết khấu buộc các NHTM cũng phải nâng lãi suất tíndụng của mình lên để không bị lỗ vốn Do lãi suất tín dụng tăng lên, giảm cầu về tíndụng và kéo theo giảm cầu về tiền tệ (nhu cầu về giữ tiền của nhân dân giảm đi)
1.2.4 Tác động của chính sách tái chiết khấu:
Cơ chế tác động:
Đây là công cụ ảnh hưởng đến khả năng vay nợ của các NHTM, mà bản chất của nó
là lãi suất ngân hàng NHTW cấp tín dụng dưới nhiều hình thức thông qua đó tácđộng đến cung tiền tệ, thông dụng nhất là tái cấp vốn dưới hình thức chiết khấu và
Trang 7tái chiết khấu các thương phiếu Khi chấp nhận chiết khấu hay tái chiết khấu cácthương phiếu của các NHTM là NHTW đã làm tăng khối lượng tiền tệ Đây là hìnhthức phát hành tiền được đảm bảo bằng các giấy tờ có giá và khi các giấy tờ có giáđáo hạn NHTW sẽ đòi được các món nợ cho vay
Thông qua lãi suất tái chiết khấu NHTW có thể khuyến khích giảm hay tăng mứccung tín dụng đối với nền kinh tế ; đồng thời giảm hoặc tăng mức cung tiền tệ Khithực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ, NHTW sẽ tăng lãi suất chiết khấu Khi đó cácNHTM sẽ nâng lãi suất cho vay hoặc hạn chế bớt cơ hội cho vayvà ngược lại
Sơ đồ đơn giản mô tả cơ chế tác động của chính sách tái chiết khấu như sau:
Ảnh hưởng của chính sách tái chiết khấu tới lượng cung tiền trên thị trường:
- Khi NHTW tăng lãi suất tái chiết khấu, các NHTM không thể vay NHTW mộtcách dễ dàng buộc các NHTM phải giảm bớt khả năng cung ứng tín dụng đểphục hồi dự trữ theo đó các NHTM cũng sẽ tăng lãi suất cho vay cao hơn lãisuất tái chiết khấu, điều này làm giảm cầu về tín dụng tương ứng làm giảmlượng cung tiền ra thị trường
- Khi NHTW giảm lãi suất tái chiết khấu, các NHTM có thể vay NHTW mộtcách dễ dàng nên có thể mở rộng cho vay tín dụng , có thể giảm lãi suất cho vayxuống, làm tăng cầu về tín dụng và từ đó tăng lượng cung tiền ra thị trường
Trang 81.2.5 Ưu và nhược điểm của công cụ chính sách tái chiết khấu:
Ưu điểm của công cụ này là các khoản cho vay của NHTW đều được đảm bảobằng các giấy tờ có giá Do đó các khoản cho vay sẽ chắc chắn được thu hồi khiđến hạn
Nhược điểm của công cụ chính sách tái chiết khấu: Chính sách chỉ có thể pháthuy khi các NHTM có nhu cầu vay từ NHTW Với sự phát triển của thị trườngtài chính, các NHTM có thể tìm kiếm được các nguồn vay khác ngoài NHTWlàm cho sự phụ thuộc của chúng vào NHTW giảm đi, do đó làm giảm mức độphát huy hiệu quả của công cụ này Hơn nữa, NHTW khó kiểm soát được hoàntoàn những tác động của công cụ này bởi NHTW chỉ có thể thay đổi mức lãisuất tái chiết khấu và các điều kiện chiết khấu mà không thể bắt các NHTM vay
từ mình Đồng thời mức lãi suất tái chiết khấu có thể làm méo mó, sai lệchthông tin về cung cầu vốn trên thị trường Do vậy công cụ này cũng không dễđảo ngược như nghiệp vụ thị trường mở
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA NHNN VIỆT NAM THÔNG QUA CHÍNH SÁCH TÁI CHIẾT KHẤU TỪ NĂM 2008 ĐẾN NAY 2.1 Tổng quan kinh tế Việt Nam giai đoạn 2007 đến nay:
Trang 9 Giai đoạn khủng hoảng kinh tế 2007 – 2009
Do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, cộng với những nguyênnhân chủ quan bên trong, lạm phát đã trở lại, chỉ số lạm phát đã tăng lên hai con số.Dấu hiệu lạm phát cao đã bắt đầu từ tháng 6 năm 2007 khi CPI tháng 6 tăng đột biếnxấp xỉ 1%, và tỉ lệ lạm phát tăng tới 12,6% so với tháng 12 năm 2006 và đến 2008,mức CPI lên tới 19,89% so với tháng 12 năm 2007 Giai đoạn lạm phát 2007 – 2009 đãảnh hưởng không nhỏ đến nền kinh tế - chính trị - xã hội Việt Nam
Giai đoạn 2010 – 2011
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, trong cả năm 2010, chỉ số giá tiêu dùngtăng 11.75% so với tháng 12 năm 2009 Con số 11,75% tuy không quá bất ngờnhưng vẫn vượt so với chỉ tiêu được Quốc hội đề ra hôi đầu năm gần 5%
Nhờ những điều chỉnh chính sách kịp thời của Chính phủ theo hướng tăngcường ổn định kinh tế vĩ mô, nền kinh tế đã có những chuyển biến theo hướng ổnđịnh hơn nhưng nhìn chung vẫn còn rất nhiều khó khăn Tuy lạm phát có xu hướnggiảm trong nửa cuối của năm 2011 nhưng tính chung cả năm vẫn cao khi chỉ số giátiêu dùng (CPI) tăng 18,13%, cao hơn mục tiêu cuối năm đề ra là 18%
Điểm nhấn 2011: Mục tiêu ổn định vĩ mô thay cho tăng trưởng kinh tế với 6nhóm giải pháp tập trung vào chính sách tiền tệ và tài khóa Do được thực hiện kiênđịnh và xuyên suốt trong năm 2011, CPI đã giảm dần từ tháng 4 cho tới nay chứkhông bị tăng trở lại như trong năm 2010
Biểu đồ CPI theo tháng trong 2 năm 2010 và 2011
Giai đoạn 2012 – 2014
Từ năm 2004 đến 2011, lạm phát ở nước ta có xu hướng gia tăng, cao điểm
đã lên mức 2 con số, do đó, chống lạm phát là một nhiệm vụ quan trọng cấp báchtrong điều hành chính sách kinh tế vĩ mô Song, từ năm 2012 đến năm 2013, lạmphát có xu hướng ổn định dưới mức 7%
Trang 10Ngay từ đầu năm 2014, Chính phủ đã tiếp tục kiên định mục tiêu ổn địnhkinh tế vĩ mô, trong đó, kiểm soát lạm phát là một trong những trụ cột quan trọng.Kết quả này lại tiếp tục được thể hiện qua chỉ số giá tiêu dùng (CPI) năm 2014, chỉtăng 1,84% so với tháng 12/2013, chỉ bằng 26,2% chỉ tiêu mức lạm phát của Quốchội đặt ra (7%) và bằng 37% mức dự kiến lạm phát của Chính phủ (5%).
Nếu xét mức lạm phát bình quân, thì cả năm 2014 so với năm 2013 tăng4,09%, dù xét theo chỉ tiêu nào, thì kết quả này cũng là điều đáng ghi nhận Đây làmức lạm phát thấp nhất trong 10 năm trở lại đây và khá bất ngờ đối với các dự báocủa nhiều cơ quan chức năng, các tổ chức và chuyên gia kinh tế Có thể nhận địnhrằng, kết quả này là một trong những sự kiện nổi bật nhất, một trong những thànhcông đuợc ghi nhận của kinh tế Việt Nam trong năm 2014
2.2.2 Tổng quan tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2007 – 2014
Các số liệu thống kê cho thấy, GDP nước ta tăng liên tục từ năm 2000 đến
2007, đạt mức 8,44% sau đó sụt giảm năm 2008 ở mức 6,31% và 2009 là 5,32%,năm 2010 lại tăng lên 6,78%, hai năm tiếp theo 2011 và 2012 lại tiếp tục sụt giảm
và ở mức 5,89% và 5,03% Năm 2012 có tỷ lệ tăng GDP thấp nhất trong vòng nhiềunăm nhưng điều cần nhấn mạnh là sự “không bình thường” trong giai đoạn 2007đến nay Theo nguồn số liệu của Tổng cục Thống kê, những chỉ tiêu liên quan trựctiếp đến tăng trưởng trong thời kỳ 2007-2012 là:
Tỷ lệ tăng vốn đầu tư toàn xã hội/GDP luôn ở mức trên 40% (cao nhất năm
2007 đạt 46,5%), tuy nhiên, đến năm 2011-2012 giảm nhanh còn 34,6% Trong đó,
tỷ lệ đầu tư của các khu vực kinh tế nhà nước dao động quanh mức 37 - 38%, khuvực ngoài nhà nước trên 35% và khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài xoayquanh mức 26% trong khi tỷ lệ tích lũy nội bộ dưới 30% Trong giai đoạn này, tốc
độ tăng của tổng sản phẩm (GO) xoay quanh mức 11 - 13% và tốc độ tăng giá trịgia tăng (VA) dao động từ 6-8%
Đóng góp của các yếu tố vốn, lao động và nhân tố năng suất tổng hợp (TFP)trong tăng trưởng GDP tương ứng là 76, 16 và 7%, so với giai đoạn trước đó đãthay đổi theo hướng xấu đi, giai đoạn 2000-2006 số liệu các yếu tố tương ứng là 51,
23 và 26% Trong giai đoạn 2006 -2012, nước ta luôn có tỷ lệ nhập siêu, năm caonhất là 2008 lên đến 20,1% và năm 2011 là 8% Từ năm 2012 đến nay con số nàyđang giảm, theo nhận định của nhiều nhà kinh tế là "không bình thường" Tỷ lệ thu– chi ngân sách với thu đạt 27,2% - chi 36,3% tiếp tục mất cân đối hơn so với giaiđoạn 2000-2005, với tỷ lệ thu - chi ngân sách tương ứng là 24,6% và 32,6% Các tỷ
Trang 11lệ nợ công, nợ nước ngoài và nợ công nước ngoài, theo đánh giá của Bộ Tài chính,trong giai đoạn từ 2007 đến nay tiếp tục gia tăng nhưng vẫn ở ngưỡng an toàn.
Những số liệu nêu trên chỉ ra rằng, trước năm 2007 nền kinh tế nước ta đãđạt được nhiều thành tựu như: tốc độ phát triển kinh tế tương đối cao (khoảng 7,2%/năm); GDP bình quân đầu người tăng gấp 2 lần năm 2001 (nếu tính giá hiện hànhthì khoảng 3,4 lần); thu ngân sách, kim ngạch xuất nhập khẩu tăng khoảng 4 lần vàquan trọng là Việt Nam đã bước đầu thành công trong hội nhập kinh tế quốc tế Tuynhiên, tăng trưởng kinh tế hiện tai đang bộc lộ nhiều hạn chế, đặc biệt khi có biếnđộng
Thứ nhất, tăng trưởng kinh tế dựa trên thâm dụng vốn đầu tư là cơ bản Điềunày thể hiện ở chỗ sự tăng trưởng kinh tế những năm qua vẫn theo chiều rộng làchính, dựa trên khai thác nguồn lực sẵn có, nghĩa là dựa trên lợi thế tĩnh, chứa chưadựa trên khai thác tối ưu lợi thế động Để khai thác lợi thế tĩnh Việt Nam phải đẩymạnh thu hút đầu tư nước ngoài và trong nước với nhiều hình thức khác nhau Sựphụ thuộc nhiều vào vốn đầu tư để tăng trưởng dẫn đến hệ quả là muốn duy trì mứctăng trưởng cao, phải tiếp tục tăng vốn thêm nữa
Thứ hai, bất cập trong đầu tư công ở nước ta là tập trung vào đầu tư cho kinh
tế rất cao (chiếm 73% tổng vốn đầu tư của Nhà nước) trong khi đầu tư vào các lĩnhvực xã hội có liên quan trực tiếp đến sự phát triển của con người (khoa học, giáodục, đào tạo, y tế, cứu trợ xã hội, văn hoá, thể thao…) lại rất thấp và đang có xuhướng giảm dần trong những năm gần đây Hơn nữa, vì nhiều nguyên nhân, trong
đó có tham nhũng, lãng phí làm cho đầu tư công có hiệu quả thấp
Thứ ba, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam vẫn chưa dựa nhiều vào tri thức,khoa học - công nghệ; Năng suất lao động toàn xã hội thấp tăng chậm so với tiềmnăng Mức tiêu tốn năng lượng để tạo ra một đơn vị GDP của nước ta cao so cácnước trong khu vực Nguồn lực phân bổ không hợp lý cho các lĩnh vực…
Tóm lại, tăng trưởng kinh tế nước ta trong thời gian vừa qua chủ yếu theochiều rộng (về số lượng) và chứa đựng những yếu tố không ổn định
Trang 12Vốn đầu tư xã hội/GDP năm 2011 đạt 33,3% thấp hơn kế hoạch đã đặt ra40% là nguyên nhân góp phần làm giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế trong năm Cùngvới đó, lãi suất chưa giảm nhiều; nhu cầu ngoại tệ và sức ép tỷ giá cuối năm cònlớn; nhiều doanh nghiệp (DN) còn rất khó khăn Hệ quả là mức tăng trưởng kinh tếcủa cả năm 2011 chỉ đạt 5,89%, thấp hơn so với chỉ tiêu điều hành là 6%.
Từ năm 2012, chính sách kinh tế nước ta đã chuyển hướng sang mục tiêu ưutiên kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô Tuy nhiên, sức mua chung của nềnkinh tế suy giảm tạo nên vòng luẩn quẩn: sức mua giảm - tồn kho tăng - sản xuấtgiảm - nợ xấu tăng - tín dụng giảm…
Điều này dẫn tới tăng trưởng GDP bình quân 4 năm 2011-2014 chỉ đạt 5,7%/năm, khá thấp so với mục tiêu Đại hội XI đề ra bình quân 7-7,5%/năm và thấp hơnmức điều chỉnh theo theo Nghị quyết của Quốc hội 6,5-7%/năm (tốc độ tăng GDPbình quân giai đoạn 2006-2010 là 7%/năm) Có thể nói giai đoạn 2011-2014 là thời
kỳ nền kinh tế tăng trưởng dưới tiềm năng và mục tiêu quan trọng nhất của chínhsách Nhà nước là ổn định vĩ mô, khắc phục tình trạng bất ổn kéo dài
Trong 3 năm 2012-2014, hệ quả của các biện pháp giảm tổng cầu đã tácđộng kiềm hãm sức mua của thị trường và tốc độ tăng trưởng kinh tế Số lượngdoanh nghiệp (DN) ngưng hoạt động, phá sản, giải thể có xu hướng tăng nhanh từđầu năm 2012 và kéo dài sang năm 2014
Vì thế, trong suốt 2 năm 2013 và 2014 nền kinh tế vẫn đối diện với 4 tháchthức: (i) Nguy cơ tái lạm phát cao kèm theo sự trì trệ của thị trường đã thu hẹp dưđịa của các chính sách tài khóa và tiền tệ
(ii) Tình hình nợ xấu chưa được cải thiện nên dòng tín dụng vẫn bị tắcnghẽn, nền kinh tế không hấp thụ được vốn Tình trạng thừa tiền thiếu vốn còn kéodài Khả năng tiếp cận vốn của DN vẫn còn khó khăn, nhất là DNNVV
Trang 13(iii) Do lạm phát kỳ vọng cả năm 6,5-7%, nên việc kéo giảm lãi suất tiếtkiệm tiền gửi bị hạn chế và lãi suất cho vay dù đã kéo giảm nhiều lần nhưng vẫncòn khá cao, đặc biệt lãi suất vay trung - dài hạn, nên không kích thích được DNđang có thị trường mở rộng đầu tư và vẫn là nguy cơ làm tăng nợ xấu đối với những
DN đang nỗ lực phục hồi sản xuất
(iiii) Những nỗ lực để làm ấm thị trường bất động sản chưa mang lại nhiềukết quả, nên thanh khoản của thị trường này ít được cải thiện
Cho đến thời điểm cuối năm 2014, có thể nói những khó khăn của nền kinh
tế đã được cải thiện phần nào Theo đó, GDP năm 2014 tăng 5,93%; lạm phát đượckiểm soát (tăng 1,86%), thấp nhất trong 10 năm qua Đặc biệt hàng tồn kho ngànhcông nghiệp chế biến chỉ tăng 9,4% so với mức tăng 21,5% cùng kỳ 2013; thanhkhoản ngân hàng thương mại (NHTM) có sự ổn định hơn so với các năm trước;thành quả nổi bật là kinh tế vĩ mô ổn định hơn, lạm phát được kiểm soát, lãi suấtgiảm, tỷ giá ổn định…
2.2 Diễn biến lãi suất tái chiết khấu của Việt Nam từ 2007 đến nay và mức độ ảnh hưởng của lãi suất này tới các lãi suất khác trên thị trường:
Trong giai đoạn từ 2007 đến 2014, NHNN đã có 32 lần ra quyết định điềuchỉnh lãi suất tái chiết khấu trong vòng 7 năm (trong đó có 8 lần ra quyết định điềuchỉnh nhưng không làm thay đổi giá trị lãi suất tái chiết khấu) Điều này đã cho thấyNHNN đã sử dụng triệt để công cụ tái chiết khấu trong điều hành chính sách tiền tệcủa mình với mục tiêu kiểm soát lượng cung tiền trên thị trường từ đó ổn định kiềmchế lạm phát Chi tiết tại Biểu đồ số 01: Diễn biến lãi suất tái chiết khấu từ 2007đến 2014