A. LÝ THUYẾT 1. Ưu điểm của việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài 2. So sánh công ty TNHH1 thành viên và Doanh nghiệp tư nhân B. BÀI TẬP TÌNH HUỐNG Công ty TNHH Sơn Trà, trụ sở tại tỉnh N, có chức năng sản xuất và kinh doanh vật liệu xây dựng. Công ty Cổ phần Thái Dương, trụ sở tại tỉnh P, chức năng kinh doanh dịch vụ xây dựng. Ngày 03/01/2006, công ty Sơn Trà do bà Nguyễn Vân Trà, phó GĐ làm đại diện ký hợp đồng bằng văn bản số 01/HĐ với cty Thái Dương do ông Thái, Phó Giám đốc cty làm đại diện, có ủy quyền của ông Dương, Giám đốc kiêm chủ tịch HĐQT. Theo hợp đồng, cty Sơn Trà bán cho công ty Thái Dương gạch bê tông lát đường. Hợp đồng có một số nội dung sau: Tên hàng: Gạch bê tông lát đường Số lượng: 300.000 viên Thời gian giao hàng: Từ đầu tháng 2 đến hết tháng 3/2006 Thanh toán: thanh toán bằng tiền mặt sau khi bên mua kiểm tra hàng hóa và trước khi bốc hàng lên phương tiện vận chuyển của bên mua. Phạt vi phạm hợp đồng: - Hàng giao không đúng chất lượng: phạt 8% tổng giá trị hợp đồng - Giao hoặc nhận hàng chậm: phạt 5% tổng giá trị số hàng giao hoặc nhận chậm cho mỗi đợt 5 ngày giao hoặc nhận hàng chậm.
Trang 1BÀI TẬP THẢO LUẬN MÔN LUẬT KINH TẾ VÀ THƯƠNG MẠI 1.2
Nhóm thực hiên: 11
Lớp học phần: 1223TLAW0411
Giảng viên: Đỗ Phương Thảo
Trang 2A LÝ THUYẾT
1 Ưu điểm của việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài
2 So sánh công ty TNHH1 thành viên và Doanh nghiệp tư nhân
B BÀI TẬP TÌNH HUỐNG
Công ty TNHH Sơn Trà, trụ sở tại tỉnh N, có chức năng sản xuất và kinh doanh vật liệu xây dựng Công ty Cổ phần Thái Dương, trụ sở tại tỉnh P, chức năng kinh doanh dịch vụ xây dựng
Ngày 03/01/2006, công ty Sơn Trà do bà Nguyễn Vân Trà, phó GĐ làm đại diện ký hợp đồng bằng văn bản số 01/HĐ với cty Thái Dương do ông Thái, Phó Giám đốc cty làm đại diện, có ủy quyền của ông Dương, Giám đốc kiêm chủ tịch HĐQT Theo hợp đồng, cty Sơn Trà bán cho công ty Thái Dương gạch bê tông lát đường Hợp đồng có một số nội dung sau:
Tên hàng: Gạch bê tông lát đường
Số lượng: 300.000 viên
Thời gian giao hàng: Từ đầu tháng 2 đến hết tháng 3/2006
Thanh toán: thanh toán bằng tiền mặt sau khi bên mua kiểm tra hàng hóa và trước khi bốc hàng lên phương tiện vận chuyển của bên mua
Phạt vi phạm hợp đồng:
- Hàng giao không đúng chất lượng: phạt 8% tổng giá trị hợp đồng
- Giao hoặc nhận hàng chậm: phạt 5% tổng giá trị số hàng giao hoặc nhận chậm cho mỗi đợt 5 ngày giao hoặc nhận hàng chậm
Câu hỏi 1: Nêu những văn bản pháp luật chủ yếu điều chỉnh hợp đồng
số 01/HĐ.
Tình tiết bổ sung
Ngày 07/01/2006, ông Dương nhân danh công ty Thái Dương gửi công văn yêu cầu hủy bỏ hợp đồng số 01/HĐ, với lý do: hợp đồng số 01/HĐ không có giá trị
vì thiếu điều khoản chất lượng, giá cả và địa điểm giao nhận hàng Công ty Sơn Trà phản đối yêu cầu của cty Thái Dương và yêu cầu cty Thái Dương phải thực thiện hợp đồng theo thỏa thuận
Câu hỏi 2 Yêu cầu của cty Thái Dương có căn cứ hợp pháp để được chấp nhận không? tại sao
Tình tiết bổ sung
Ngày 10/01/2006, hai công ty, với thành phần đại diện như khi ký hợp đồng ngày 03/01/2006, đã thỏa thuận bổ sung nội dung của hợp đồng số 01/HĐ với những điều khoản sau:
Trang 3- Chất lượng: theo mẫu hàng
- Đơn giá: 2.500 đ/viên
- Tổng giá trị hợp đồng: 750.000.000 đồng
- Địa điểm giao hàng: tại kho của công ty Sơn Trà, quận M, Tp HCM
Do giá gạch lát bê tông trên thị trường tăng cao, ngày 20/01/2006 ông Sơn, Giám đốc kiêm chủ tịch HĐTV công ty Sơn Trà gửi công văn thông báo cho cty Thái Dương với nội dung không chấp nhận hợp đồng và cho rằng hợp đồng số 01/
HĐ bị vô hiệu, vì hợp đồng này do phó Giám đốc công ty Sơn Trà ký không có giấy ủy quyền của Giám đốc Công ty Thái Dương gửi công văn phản đối việc hợp đồng bị vô hiệu của cty Sơn Trà, vì trước khi ký hợp đồng số 01/HĐ, ông Trần Sơn đã chấp thuận (qua điện thoại) để bà Trà ký hợp đồng
Câu hỏi 3: Hợp đồng số 01/HĐ có vô hiệu do người ký không đúng thẩm quyền hay không? tại sao?
Tình tiết bổ sung
Tại Điều 5 của hợp đồng các bên thỏa thuận:
Hàng giao theo lịch biểu giao hàng như sau:
- Đợt 1: từ ngày 05/02/2006 đến ngày 15/02/2006, giao một lần 100.000 viên
- Đợt 2: từ 05/03/2006 đến 15/03/2006, giao một lần 200.000 viên
Ngày 03/02/2006, công ty Sơn Trà thông báo cho Cty Thái Dương là sẽ giao hàng đợt 1 (100.000 viên) vào ngày 07/02/2006, nhưng công ty Thái Dương trả lời từ chối nhận hàng vì chưa chuẩn bị được phương tiện vận chuyển Công ty Thái Dương đề nghị được nhận hàng vào ngày 15/2/2006, nhưng vì có khó khăn
về kho bãi nên công ty Sơn Trà không chấp nhận, đồng thời yêu cầu công ty Thái Dương phải nhận hàng vào ngày 07/02/2006
Câu hỏi 4 Yêu cầu giao hàng vào ngày 07/02/2006 của cty Sơn Trà có căn cứ hợp pháp hay không? tại sao?
Tình tiết bổ sung
Ngày 07/02/2006, công ty Thái Dương đến nhận hàng tại kho của công ty Sơn Trà, sau khi kiểm tra hàng đã phát hiện 50% số hàng giao (50.000 viên) không đảm bảo chất lượng theo đúng mẫu hàng Công ty Thái Dương từ chối nhận và ngừng thanh toán số hàng không đúng chất lượng, đồng thời yêu cầu cty Sơn Trà nộp phạt vi phạm giao hàng không đúng chất lượng theo Điều 5 của hợp đồng Cty Sơn Trà chấp nhận việc từ chối nhận hàng của cty Thái Dương, nhưng không chấp nhận nộp tiền phạt, đồng thời yêu cầu công ty Thái Dương đến nhận số hàng còn thiếu (của đợt 1) vào ngày 15/02/2006 Cty Thái Dương không chấp nhận yêu cầu
Trang 4giao hàng (vào ngày 15/10/2006) của cty Sơn Trà, vì việc tổ chức vận chuyển làm hai lần đối với số hàng của đợt 1 sẽ làm phát sinh chi phí cho công ty
Câu hỏi 5: Yêu cầu của các bên có căn cứ hợp pháp để được chấp nhận hay không? tại sao ?
Tình tiết bổ sung
Ngày 03/03/2006, công ty Sơn Trà thông báo cho cty Thái Dương đến nhận hàng đợt 2 vào ngày 10/03/2006 Ngày 20/3/2006 Cty Thái Dương mới đến nhận hàng Trước đó, ngày 18/03/2006 xảy ra sự kiện bất khả kháng làm xập kho hàng
và hư hỏng 50% số hàng (100.000 viên) mà cty Sơn Trà đã chuẩn bị sẵn để giao cho Cty Thái Dương Cty Sơn Trà đã phải bỏ ra 10.000.000 đồng chi phí bảo quản
và ngăn chặn, hạn chế thiệt hại Vì không nhận được đủ hàng hóa (50% của đợt 2), cty Thái Dương đã không thanh toán số hàng này cho cty Sơn Trà Cty Sơn Trà yêu cầu cty Thái Dương:
- Thanh toán tiền cho số hàng hóa hư hỏng do rủi ro (hỏa hoạn) gây ra là: 100.000x2500 đồng = 250.000.000 đồng
- Nộp phạt vi phạm nghĩa vụ nhận hàng (nhận hàng chậm 10 ngày), với số tiền là: 5%x200.000x2500x2 đồng = 50.000.000 đồng
- Bồi thường 10.000.000 đồng tiền chi phí bảo quản hàng hóa, ngăn chặn và hạnj chế thiệt hại (do cty Thái Dương nhận hàng chậm và do xảy ra hỏa hoạn)
Câu hỏi 6: Yêu cầu đòi tiền phạt và tiền bồi thương thiệt hại của cty Sơn Trà có căn cứ hợp pháp để được chấp nhận hay không? tại sao?
Trang 5A LÝ THUYẾT
Câu 1 : Ưu điểm của việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài
Trong bối cảnh Việt Nam đã gia nhập WTO và nền kinh tế nước ta đã chuyển sang mô hình phát triển theo thể chế thị trường, các tranh chấp kinh tế không những đơn thuần là tranh chấp giữa hai chủ thể giao kết hợp đồng kinh tế,
mà còn có những tranh chấp dưới các dạng khác nhau phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh như tranh chấp giữa các thành viên trong công ty, tranh chấp về
cổ phần, cổ phiếu, tranh chấp giữa công ty và các thành viên của công ty… Cụ thể, theo thống kê của Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC), trong khi Toà kinh tế Hà Nội trong năm 2007 phải xử gần 9.000 vụ án, trong đó có khoảng
300 vụ án kinh tế và Toà kinh tế thành phố Hồ Chí Minh phải xử gần 42.000 vụ án các loại, trong đó có 1.000 vụ án kinh tế, thì VIAC cũng chỉ tiếp nhận khoảng 30
vụ Tính trung bình mỗi trọng tài viên của VIAC chỉ xử 0, 25 vụ một năm, trong khi mỗi thẩm phán Toà kinh tế Hà Nội phải xử trên 30 vụ một năm và mỗi thẩm phán ở Toà kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh xử trên 50 vụ một năm
Vậy, khi phát sinh tranh chấp thì doanh nghiệp cần tìm đến tổ chức nào để giải quyết một cách có hiệu quả, nhanh gọn, tránh những tổn thất quá lớn cho doanh nghiệp?
Xuất phát từ tính đa dạng, phức tạp của quan hệ kinh tế trong nền kinh tế thị trường, trên cơ sở của nguyên tắc tự do định đoạt, trang chấp kinh tế - thương mại
có thể được giải quyết dưới những hình thức khác nhau như thương lượng, hoà giải, trọng tài, tòa án
Trong đó, trọng tài thương mại là một tổ chức phi chính phủ, chỉ nhận giải quyết các vụ tranh chấp khi các bên có thoả thuận bằng văn bản về việc chọn trọng tài Quá trình giải quyết, được thực hiện theo nguyên tắc “phân xử trọng tài” phù hợp với quy định trong Pháp lệnh Trọng tài thương mại và quy chế của Tổ chức trọng tài mà các bên đã lựa chọn
Thực tiễn hoạt động giải quyết tranh chấp kinh doanh - thương mại bằng Trọng tài cho thấy có một số ưu điểm sau:
Thứ nhất, quyết định của Trọng tài là chung thẩm và vì vậy nó có giá trị
bắt buộc đối với các bên, các bên không thể chống án hay kháng cáo Việc xét xử tại Trọng tài chỉ diễn ra ở một cấp xét xử, đó cũng chính là điều khác biệt cơ bản
so với xét xử tại Tòa án bởi thông thường xét xử tại Tòa án diễn ra ở hai cấp Hội đồng trọng tài sau khi tuyên phán quyết xong là đã hoàn thành nhiệm vụ của mình
và chấm dứt sự tồn tại
Trang 6Thứ hai, hoạt động của Trọng tài diễn ra liên tục vì Hội đồng Trọng tài xét
xử vụ kiện là do các bên thỏa thuận lựa chọn, hoặc được chỉ định để giải quyết vụ kiện, do đó các trọng tài viên là người theo vụ kiện từ đầu đến cuối, vì vậy họ có điều kiện để nắm bắt và tìm hiểu thấu đáo các tình tiết của vụ/việc Chính điều này
có lợi ngay cả khi các bên luôn hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp thông qua đàm phán, trọng tài có thể hỗ trợ các bên đạt tới một thỏa thuận, điều mà ít khi xảy ra ở Tòa án
Khi xét xử, Trọng tài cho phép các bên được sử dụng kinh nghiệm của các chuyên gia và điều này được thể hiện ở quyền chọn Trọng tài viên của các bên.
Thứ ba, trọng tài xét xứ bí mật bởi tiến trình giải quyết của Trọng tài có
tính riêng biệt Hầu hết các quy định pháp luật về Trọng tài của các quốc gia đều thừa nhận nguyên tắc Trọng tài xử kín nếu các bên không có thỏa thuận khác Đây
là một ưu điểm quan trọng bởi các doanh nghiệp không muốn các chi tiết của vụ tranh chấp bị đem ra công khai trước Tòa án, điều mà các doanh nghiệp luôn coi là tối kỵ trong hoạt động kinh doanh của mình
Thứ tư, khi xét xử, trọng tài cho phép các bên được sử dụng kinh nghiệm
của các chuyên gia và điều này được thể hiện ở quyền chọn Trọng tài viên của các bên Các bên có thể chọn một Hội đồng Trọng tài dựa trên trình độ, năng lực, sự hiểu biết vững vàng của họ về pháp luật thương mại quốc tế, về các lĩnh vực chuyên biệt như licensing, leasing, xuất nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ, sở hữu trí tuệ, chứng khoán
Thứ năm, hoạt động xét xử của Trọng tài liên tục do đó tiết kiệm thời gian,
chi phí và tiền bạc cho doanh nghiệp Trong khi đó giải quyết tranh chấp bằng Tòa
án thường rất khó đạt được điều này bởi Tòa án phải giải quyết nhiều tranh chấp cùng một lúc, do đó tình trạng án tồn đọng là điều không thể tránh khỏi
Thứ sáu, giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài thể hiện tính năng động, linh
hoạt và mềm dẻo, do đó để thích ứng hơn so với giải quyết tranh chấp bằng Tòa
án Tòa án khi xét xử phải tuân thủ một cách đầy đủ và nghiêm ngặt các quy định
có tính chất quy trình, thủ tục, trình tự được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự
2004 và các văn bản hướng dẫn liên quan
Thực tiễn cho thấy giải quyết tranh chấp bằng trọng tài VIAC thường kéo dài tối
đa là 6 tháng, trong khi đó giải quyết tranh chấp tại Tòa án có trường hợp kéo dài mấy năm
Thứ bảy, việc xét xử tranh chấp bằng Trọng tài đảm bảo tính bí mật cao và
vì vậy sẽ tránh cho các bên nguy cơ làm tổn thương đến mối quan hệ hợp tác làm
ăn vốn có, trong khi đó việc xét xử công khai tại Tòa án thường dễ làm cho các
Trang 7bên rơi vào thế đối đầu nhau với kết cục là một bên được thừa nhận như một người chiến thắng, còn bên kia thấy mình là một kẻ thua cuộc
Việc xét xử tranh chấp bằng Trọng tài trên thực tế đã làm giảm đáng kể mức độ xung đột, căng thẳng của những bất đồng bởi nó diễn ra trong một không gian kín, nhẹ nhàng, mang nặng tính trao đối đề tìm ra sự thật khách quan của vụ/việc Đó chính là những yếu tố tạo điều kiện để các bên duy trì được quan hệ đối tác, quan hệ thiện chí đối với nhau Hơn nữa, sự tự nguyện thi hành quyết định của một bên sẽ làm cho bên kia có sự tin tưởng tốt hơn trong quan hệ làm ăn có thể diễn ra trong tương lai
Với những ưu điểm như vậy, việc giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài đã ngày càng trở thành một phương thức tố tụng kinh doanh - thương mại hữu hiệu và được các bên lựa chọn bên ngoài tố tụng bằng Tòa án
Trang 8Câu 2: So sánh công ty TNHH 1 thành viên và Doanh nghiệp tư nhân
Ta có bảng so sánh sau đây :
Đặc điểm Công ty TNHH 1 thành viên Doanh nghiệp tư nhân
Thành
viên
Quy mô Vừa và nhỏ Một chủ sở hữu ( Một cá
nhân hoặc một tổ chức)
Nhỏ Một chủ sở hữu là cá nhân
Khả năng
huy động
vốn và
chia sẻ rủi
ro
Khả năng huy động vốn thấp, không được phát hành cổ phần Huy động vốn phải thực hiện theo cách của công
ty TNHH dẫn đến thay đổi loại hình công ty
Rất thấp, không được phát hành chứng khoán, có thể vay vốn tại các tổ chức tín dụng hoặc của các tổ chức, cá nhân khác để kinh doanh
Tính phức
tạp của tổ
chức
quản lý
Không quá phức tạp
- Chủ sở hữu là một tổ chức gồm :
+ Hội đồng thành viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và Kiểm soát viên ( có 2 người đại diện trở lên) + Chủ tịch công ty, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, Kiểm soát viên( có một người đại diện )
- Chủ sở hữu là cá nhân gồm : Chủ tịch công ty, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc
Đơn giản
Do chủ doanh nghiệp quyết định
Thông thường gồm : Chủ doanh nghiệp tư nhân Giám đốc doanh nghiệp tư nhân
Ngành
nghề kinh
doanh
trong
doanh
nghiệp
Rộng + nhà nước không cấm Rộng + nhà nước không cấm
Khả năng
chuyển
nhượng
vốn
Không có Chuyển nhượng vốn có thể làm thay đổi chủ sở hữu hoặc loại hình công ty
Không có Chủ doanh nghiệp tư nhân chỉ có quyền cho thuê (chuyển quyền chiếm hữu và sử dụng doanh nghiệp trong thời hạn nhất định) hoặc bán doanh nghiệp (chuyển quyền sở hữu
Trang 9doanh nghiệp cho người khác
để nhận tiền)
Trách
nhiệm của
nhà
đầu tư
Chịu trách nhiệm hữu hạn
- Chủ sở hữu chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty
- Chủ sở hữu là cá nhân : phải tách bạch tài sản công ty với tài sản riêng, chi tiêu cá nhân và gia đình với các chi tiêu trên cương vị là Chủ tịch công
ty, Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc
Chịu trách nhiệm vô hạn về các khoản nơ :
Chủ DNTN phải chịu trách nhiệm đến cùng đối với mọi khoản nợ của doanh nghiệp bằng toàn bộ tài sản thuộc sở hữu của mình
Tư cách
pháp lý
của doanh
nghiệp
Có tư cách pháp nhân Không có tư cách pháp nhân
Có tư cách pháp lý để tiến hành hoạt động kinh doanh như một doanh nghiệp thực thụ
Khả năng
chuyển
đổi doanh
nghiệp
Cty TNHH 1 TV <=> Cty TNHH 2
TV, Cty CP
DNTN <=> Cty TNHH 1 TV, Cty TNHH 2 TV
Tâm lý xã
hội
Mức độ
rủi ro
B BÀI TẬP TÌNH HUỐNG
Câu hỏi 1 : Những văn bản pháp luật chủ yếu điều chỉnh hợp đồng số 01/HĐ là :
Trang 10Theo điều 388 Luật dân sự 2005 thì "Hợp đồng dân sự là thỏa thuận giữa
các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự " Từ đây
ta có thể thấy hợp đồng 01/ HĐ giữa công ty TNHH Sơn Trà và công ty cổ phần Thái Dương được xác định là một hợp đồng dân sự
Theo khoản 1 điều 2 Luật dân sự 2005 quy định về hiệu lực của luật dân sự ‘
Bộ luật dân sự được áp dụng đối với quan hệ dân sự được xác lập từ ngày Bộ luật này có hiệu lực trừ trường hợp được bộ luật này hoặc nghị quyết của Quốc hội có quy định khác’
Hợp đồng số 01/ HĐ chịu sự điều chỉnh của luật dân sự 2005
Theo khoản 1 diều 1 Luật thương mại 2005 thì Luật Thương Mại 2005 điều
chỉnh các “hoạt động thương mại thực hiện trên lãnh thổ nước cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam” Hoạt động thương mại được định nghĩa theo khoản 1 điều 3 Luật Thương Mại là “hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng
hóa, cung ứng dịch vụ, dầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác” Việc kí kết hợp đồng giữa 2 công ty ở đây là hoạt động mua bán hàng hóa, theo đó, bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán, bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho
bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hóa theo thỏa thuận (theo khoản 8 điều 3 Luật Thương Mại 2005) nhằm mục đích sinh lợi cho cả 2 bên, do đó, hợp
đồng mua bán hàng hóa số 01/HĐ thuộc phạm vi điều chỉnh của luật thương mại
2005
Hợp đồng số 01/ HĐ chịu sự điều chỉnh của Luật Thương Mại 2005
Vậy, nguồn luật chủ yếu điều chỉnh hợp đồng số 01/HĐ bao gồm:
- Luật dân sự 2005
- Luật thương mại 2005
Câu hỏi 2 Yêu cầu của Công ty Thái Dương có căn cứ hợp pháp để được chấp nhận không? Tại sao?
Theo đề bài thì ngày 07/01/2006 ông Dương nhân danh công ty Thái Dương gửi công văn yêu cầu hủy bỏ hợp đồng số 01/HĐ với lý do: hợp đồng số 01/ HĐ không có giá trị vì thiếu điều khoản chất lượng, giá cả và địa điểm giao nhận hàng Ta thấy yêu cầu này của công ty Thái Dương không hợp lý bởi vì :
- Theo điều 402 Luật dân sự 2005 quy định về nội dung của hợp đông dân
sự thì các bên có thể thỏa thuận về những nội dung sau: