Nhiệm vụ của nghiên cứu Để đạt được các mục đích nghiên cứu trên, luận văn phải làm rõ những nhiệm vụ cụ thể sau: Thứ nhất: Nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật an
Trang 1An toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ
trong phỏp luật lao động Việt Nam
Lờ Thị Phương Thỳy
Khoa Luật Luận văn ThS ngành: Luật Kinh tế; Mó số: 60 38 50 Người hướng dẫn: PGS.TS Phạm Cụng Trứ
Năm bảo vệ: 2008
Abstract: Nghiờn cứu làm rừ những vấn đề lý luận cơ bản về phỏp luật an toàn, vệ sinh
lao động, sự cần thiết của việc ban hành cỏc quy định phỏp luật về an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ Phõn tớch, đỏnh giỏ thực trạng cỏc quy định phỏp luật về an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ và việc thực thi phỏp luật trờn thực tế trong cỏc loại hỡnh doanh nghiệp ở Việt Nam Đỏnh giỏ kết quả, những bất cập và nguyờn nhõn của những bất cập, tồn tại Đề xuất một số yờu cầu cơ bản của việc hoàn thiện phỏp luật
về an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ; sửa đổi, bổ sung một số quy định an toàn, vệ sinh lao động cho lao động nữ Tăng cường cụng tỏc phổ biến, giỏo dục phỏp luật; nõng cao chất lượng hoạt động của tổ chức cụng đoàn; tăng cường cụng tỏc quản lý, thanh tra, xử phạt, nhằm nõng cao hiệu quả ỏp dụng phỏp luật an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ
Keywords: An toàn lao động; Lao động nữ; Luật lao động; Phỏp luật Việt Nam; Vệ sinh
Trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, vấn đề đảm bảo an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) ngày càng liờn quan chặt chẽ đến sự thành đạt của mỗi doanh nghiệp, góp phần quyết
định đến sự phỏt triển kinh tế bền vững của mỗi quốc gia Xõy dựng một nền sản xuất an toàn với những sản phẩm cú tớnh cạnh tranh cao gắn liền với việc bảo vệ sức khỏe người lao động là yờu cầu tất yếu của sự phỏt triển kinh tế bền vững và đủ sức cạnh tranh trong nền kinh tế toàn
cầu húa
Trang 2Cựng với những thành tựu trong phỏt triển kinh tế - xó hội, thời gian qua cụng tỏc ATVSLĐ ở nước ta đó cú những chuyển biến đỏng kể về hệ thống văn bản phỏp luật và bộ mỏy
tổ chức
Thể chế hoỏ đường lối của Đảng, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ Luật Lao động năm 2002 đó dành chương IX quy định về ATVSLĐ Trờn thực tế, rất nhiều ngành, nhiều địa phương, doanh nghiệp và người sử dụng lao động đó cú những biện phỏp, sỏng kiến cải thiện điều kiện làm việc, bảo đảm an toàn vệ sinh lao động và mụi trường sản xuất kinh doanh
Tuy vậy, cụng tỏc BHLĐ núi chung và cụng tỏc ATVSLĐ nói riêng ở nước ta cũn quỏ nhiều khú khăn và tồn tại cần giải quyết Nhiều doanh nghiệp, đặc biệt cỏc doanh nghiệp khu vực phi chớnh thức mới chỉ quan tõm đầu tư phỏt triển sản xuất, thu lợi nhuận, thiếu sự đầu tư tương xứng để cải thiện điều kiện làm việc an toàn cho người lao động Vỡ vậy, Việt Nam đó xảy ra nhiều vụ tai nạn lao động làm chết và bị thương nhiều người, thiệt hại tài sản của Nhà nước và doanh nghiệp
Nguyờn nhõn chớnh để xảy ra tai nạn lao động một mặt do chủ sử dụng lao động thiếu quan tõm cải thiện điều kiện làm việc an toàn, mặt khỏc do ý thức tự giỏc chấp hành nội quy, quy chế làm việc bảo đảm an toàn lao động của người lao động chưa cao, thiếu sự kiểm tra, giỏm sỏt thường xuyờn của cơ quan thanh tra Nhà nước về an toàn lao động Hậu quả của thực tế trờn khụng chỉ gõy thiệt hại về tớnh mạng và sức khỏe của người lao động, làm thiệt hại tài sản của nhà nước mà cũn ảnh hưởng khụng tốt đến quỏ trỡnh phỏt triển kinh tế xó hội của đất nước
ở n-ớc ta, 50,86% dõn số là nữ, tương ứng với hơn 50% lao động nữ đã, đang và ngày càng có đóng góp quan trọng vào nền kinh tế quốc dân Tuy nhiên, do những đặc điểm về tõm sinh lý, giới tớnh, lao động nữ thường gặp khú khăn hơn so với lao động nam trong quan hệ lao động Cựng với quan niệm sai lệch về Giới, những khú khăn này đó làm cho lao động nữ trở thành đối tượng dễ bị tổn thương hơn trong quan hệ lao động, đặc biệt là đối tượng lao động nữ đang chiếm số đụng trong lực lượng lao động trong cỏc doanh nghiệp cỏc loại - nơi mà việc ỏp dụng phỏp luật ATVSLĐ cũn nhiều bất cập và tồn tại
2 Lịch sử nghiờn cứu vấn đề
Qua thực tế tỡm hiểu, học viờn thấy đó xuất hiện một số bài bỏo, cụng trỡnh nghiờn cứu cú
đề cập tới một số khớa cạnh của vấn đề an toàn, vệ sinh lao động đối với người lao động núi chung, với một số lượng hạn chế
Tuy nhiờn, chưa cú một cụng trỡnh khoa học nào trực tiếp đi sõu vào tỡm hiểu vấn đề an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ cũng như để từ đú cú những kiến nghị xỏc đỏng nhằm nõng cao việc bảo vệ ngày càng tốt hơn quyền lợi của đối tượng lao động này Luận văn đi vào tỡm hiểu, tổng hợp một vấn đề mới với nhiều đúng gúp cho việc nghiờn cứu, xõy dựng và ban hành phỏp luật liờn quan tới lao động nữ trong chế định an toàn, vệ sinh lao động
Trang 33 Mục đích và nhiệm vụ của nghiên cứu
Dựa vào những kết quả đó, luận văn đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật
vệ sinh, an toàn lao động và nâng cao hiệu quả áp dụng, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
3.2 Nhiệm vụ của nghiên cứu
Để đạt được các mục đích nghiên cứu trên, luận văn phải làm rõ những nhiệm vụ cụ thể sau:
Thứ nhất: Nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật an toàn, vệ sinh
lao động cũng như sự cần thiết của việc ban hành các quy định pháp luật về an toàn, vệ sinh đối với lao động nữ
Thứ hai: Phân tích và đánh giá thực trạng các quy định pháp luật về an toàn, vệ sinh lao
động đối với lao động nữ và việc thực thi trên thực tế, đánh giá những kết quả cũng như sự bất cập, nguyên nhân của sự bất cập, tồn tại
Thứ ba: Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật an toàn, vệ sinh lao động đối với
lao động nữ và nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định về an toàn, vệ sinh lao động trong thực tiễn
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Luận văn đặt mục tiêu nghiên cứu hướng vào tìm hiểu các quy
định pháp luật về an toàn, vệ sinh đối với lao động nữ ở Việt Nam (văn bản và thực tế áp dụng) Bên cạnh đó, trong chừng mực nhất định cũng có đề cập đến các quy phạm quốc tế có liên quan
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu các quy định pháp luật về an toàn,
vệ sinh đối với lao động nữ trong các loại hình doanh nghiệp ở Việt Nam
5 Phương pháp nghiên cứu
Trang 4Để giải quyết nhiệm vụ của đề tài đặt ra, đã dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lê Nin với phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Ngoài ra, luận văn sử dung các phương pháp nghiên cứu cụ thể khác như: phương pháp lịch sử, tổng hợp, so sánh, phân tích số liệu, tài liệu, thống kê, phương pháp chuyên gia, phương pháp liên ngành, …
6 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:
Chương I: Những vấn đề chung về pháp luật an toàn, vệ sinh lao động đối với lao
động nữ ở Việt Nam Chương II: Pháp luật an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ và thực tế
thực hiện ở Việt Nam Chương III Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật an toàn,
vệ sinh đối với lao động nữ ở Việt Nam
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁP LUẬT AN TOÀN, VỆ SINH
LAO ĐỘNG ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG NỮ Ở VIỆT NAM
1.1 Khái quát chung về pháp luật an toàn, vệ sinh lao động
1.1.1 Khái niệm pháp luật an toàn, vệ sinh lao động
An toàn, vệ sinh lao động là tổng hợp các biện pháp được tiến hành nhằm thiết lập điều
kiện làm việc tốt nhất cho người lao động, hạn chế đến mức thấp nhất khả năng bị tai nạn lao động hoặc giảm thiểu tỷ lệ người bị mắc bệnh nghề nghiệp trong môi trường làm việc
Các quy định về an toàn, vệ sinh lao động có thể được đề cập trong các văn bản pháp luật
về an toàn, vệ sinh lao động do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành Ngoài ra, trong các văn bản nội bộ của công ty như thoả ước, nội quy lao động hay quy chế an toàn, vệ sinh lao động của công ty, cũng có các quy định về an toàn vệ sinh lao động
Xuất phát từ tầm quan trọng đặc biệt trong việc bảo vệ sức khỏe của người lao động nên việc thực hiện các quy định về an toàn, vệ sinh lao động có tính bắt buộc cao đối với các đơn vị
Trang 5sử dụng lao động, với các chủ thể tham gia quan hệ lao động việc thực hiện các quy định này có tính chất bắt buộc chặt chẽ nhằm giảm thiểu đến mức thấp nhất những nguy cơ rủi ro xảy ra, gây ảnh hưởng đến tính mạng và sức khoẻ của người lao động
1.1.2 Đặc điểm cơ bản của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động
pháp luật an toàn, vệ sinh lao động có những điểm đặc thù khác với các chế định pháp luật khác Cụ thể là:
- Các quy định về an toàn, vệ sinh lao động mang tính chất khoa học kỹ thuật rõ nét
- Để đảm bảo hiệu quả áp dụng pháp luật, các quy định về an toàn, vệ sinh lao động mang tính chất bắt buộc cao
- Các quy phạm pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động mang tính chất xã hội rộng rãi
- Pháp luật về an toàn vệ sinh lao động đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bảo
vệ tính mạng, sức khoẻ của người lao động
An toàn lao động, vệ sinh lao động là chính sách kinh tế xã hội lớn, có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển bền vững và bảo vệ sức khoẻ người lao động Đặc biệt trong cơ chế thị trường hiện nay, khi mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận là mối quan tâm hàng đầu của các chủ doanh nghiệp thì vấn đề đảm bảo an toàn, vệ sinh lao động càng trở nên bức xúc
Đảm bảo an toàn, vệ sinh lao động là đảm bảo sức khoẻ, tính mạng người lao động, duy trì nền sản xuất ổn định và tạo tiền đề góp phần cho sự phát triển kinh tế xã hội bền vững
1.1.3 Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật an toàn, vệ sinh lao động
Nguyên tắc cơ bản của pháp luật về an toàn vệ sinh lao động là những tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt trong quá trình xây dựng và áp dụng các quy phạm pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động:
- Nguyên tắc Nhà nước thống nhất quản lý về an toàn, vệ sinh lao động
- Nguyên tắc thực hiện an toàn, vệ sinh lao động là nghĩa vụ bắt buộc đối với các bên trong quan hệ lao động
- Nguyên tắc đảm bảo sự tham gia của tổ chức công đoàn trong lĩnh vực an toàn, vệ sinh
lao động
Có thể nói, tổ chức lao động quốc tế và các công ước khác của Liên hiệp quốc trong lĩnh vực bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động đã xây dựng được những khuôn mẫu cho các quốc gia vận dụng trong quá trình xây dựng pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động
Trang 61.2 Một số vấn đề cơ bản về pháp luật an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ ở Việt Nam
1.2.1 Đặc điểm của lao động nữ
Lao động nữ có những đặc điểm riêng biệt so với lao động nam chính từ sự khác biệt về giới tính mà chúng ta thường đề cập đến tính đặc thù của lao động nữ Tính đặc thù của lao động
nữ thể hiện ở những điểm đặc trưng cơ bản sau đây:
- Về thể lực và tâm sinh lý của lao động nữ: Lao động nữ có thời kỳ phát triển thể chất,
tinh thần, thời kỳ lão hoá khác biệt so với lao động nam; nhu cầu ăn uống, nghỉ ngơi, giải trí cũng khác
- Lao động nữ có vị thế kinh tế xã hội kém hơn so với lao động nam, đặc biệt là ở những
quốc gia phương Đông như Ấn Độ, Trung Quốc, Việt Nam Điều này bởi chi phối sâu sắc bởi ý thức hệ trọng nam khinh nữ đã có từ ngàn đời nay của các quốc gia này Phụ nữ có vị trí yếu thế, thiệt thòi hơn trong xã hội, họ mất đi các quyền tham gia, quyền quyết định các vấn đề liên quan đến bản thân, con cái và gia đình của họ; cơ hội học tập, phát triển và thụ hưởng vật chất bị hạn chế làm cho phụ nữ thiếu các điều kiện cần thiết để phát triển
- Lao động nữ có ít cơ hội để làm việc và cơ hội thăng tiến của lao động nữ cũng thấp hơn rất nhiều so với lao động nam: lao động nữ luôn phải chịu vị trí thấp, yếu thế hơn trong xã
hội, lao động thời gian dài hơn với những công việc giản đơn hơn và thu nhập thấp hơn
- Lao động nữ ngoài công việc mà họ đang tham gia với tư cách là người lao động thuần tuý còn phải thực hiện những thiên chức của người phụ nữ trong gia đình
1.2.2 Sự cần thiết khách quan phải có các quy định về an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ
- Xu thế phát triển nền kinh tế trong bối cảnh hội nhập quốc tế Việt Nam là một trong số
ít quốc gia trên thế giới đi đầu trong việc thể chế hoá và đưa vào cuộc sống nguyên tắc nam nữ bình đẳng trong công tước quốc tế về bình đẳng giới CEDAW
- Tạo điều kiện cho phụ nữ thêm cơ hội và điều kiện tiến bộ, phát triển và thụ hưởng bình đẳng với nam giới
- Vai trò thực tế của các quy định này trong việc bảo vệ sức khoẻ, tính mạng, đảm bảo thiên chức của người phụ nữ trong gia đình sau khi hết thời gian làm việc
- Góp phần nâng cao nhận thức và thực hiện bình đẳng giới ở Việt Nam, giúp lao động
nữ ngày càng tự tin, hòa mình vào cộng đồng và phát huy hết tài năng, sức sáng tạo trong lao động
Trang 7- Góp phần tạo nên tính đầy đủ, toàn diện và thống nhất trong pháp luật Việt Nam nói chung và pháp luật lao động nói riêng
Như vậy, các quy định ưu tiên cho lao động nữ không phải chỉ vì lợi ích riêng của đối tượng lao động này mà còn vì lợi ích của xã hội, của quốc gia
1.2.3 Lược sử pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ ở Việt Nam
Ngay từ rất sớm, vấn đề an toàn, vệ sinh lao động đã được quan tâm đề cập tới trong nhiều văn bản chỉ đạo, điều hành, đáng chú ý là một số văn bản như:
- Sắc lệnh số 29/SL – sắc lệnh lao động đầu tiên
- Nghị định 181/CP ban hành Điều lệ tạm thời về Bảo hộ lao động
- Pháp lệnh Bảo hộ lao động Pháp lệnh có hiệu lực từ ngày 01/01/1992
- Ngày 23/6/1994, Bộ luật Lao động đã được Quốc hội thông qua tại kỳ họp khoá IX
- Ngày 31/12/1994, Chính phủ ban hành Nghị định 195/CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về thời gian làm việc, thời giờ nghỉ ngơi của người lao động
- Ngày 26/3/1998, Thủ tướng Chính phủ ra chỉ thị số 13/CT/TTg nhằm tăng cường chỉ đạo và tổ chức thực hiện công tác bảo hộ lao động trong tình hình xã hội mới
- Ngày 27/12/2002, Nghị định số 110/2002/NĐ-CP được ban hành về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 06/CP ngày 20/1/1995 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Bộ luật lao động sửa đổi về an toàn lao động, vệ sinh lao động
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cũng đã ban hành theo thẩm quyền và phối hợp với cơ quan có thẩm quyền liên quan ban hành nhiều văn bản chỉ đạo khác Hệ thống pháp luật quy định về an toàn, vệ sinh lao động nói chung và đối với lao động nữ nói riêng đã được xây dựng với nhiều văn bản có hiệu lực pháp lý và tính khả thi cao, đặc biệt là sự ra đời của Bộ luật Lao động năm 1994 cùng với các Luật sửa đổi, bổ sung Bộ luật Lao động năm 2002, năm 2006
và năm 2007
CHƯƠNG 2
PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ AN TOÀN, VỆ SINH LAO ĐỘNG ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG
NỮ VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN Ở VIỆT NAM
2.1 Các quy định hiện hành về an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ
Trang 82.1.1 Các quy định chung về bảo đảm an toàn,vệ sinh lao động đối với lao động nữ
Các quy định chung về an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ bao gồm những vấn
đề sau đây:
- Đơn vị sử dụng lao động phải đảm bảo những yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh
đối với nhà xưởng, máy móc, nguyên vật liệu, tổ chức sản xuất
- Các đơn vị sử dụng lao động có trách nhiệm lập báo cáo khả thi về an toàn, vệ sinh lao động khi xây dựng, cải tạo môi trường lao động
- Quy định cụ thể về điều kiện lao động khi sử dụng lao động nữ Doanh nghiệp phải có khoản chi phí thích hợp vào mục đích mua sắm trang thiết bị bảo hộ lao động, cải tạo nhà xưởng, xây dựng nhà tắm, nhà vệ sinh nữ, xây dựng, sửa chữa mua sắm tài sản mau hỏng cho nhà trẻ, lớp mẫu giáo (nếu có) của doanh nghiệp để tạo điều kiện cho lao động nữ làm việc tại đây yên tâm làm việc
Tuy nhiên, trên thực tế thực hiện, những quy định mang tính chất bảo vệ và ưu tiên trên cũng phần nào cản trở quá trình tham gia vào thị trường lao động của lao động nữ
2.1.2 Các quy định về an toàn nghề nghiệp và bảo vệ sức khoẻ của lao động nữ
- Pháp luật lao động dành quyền ưu tiên cho lao động nữ, dành cho đối tượng lao động này những quyền ưu đãi riêng biệt mà đối tượng lao động khác không có
- Pháp luật lao động xác định rõ các công việc, ngành nghề không được sử dụng hoặc hạn chế sử dụng lao động nữ nhằm bảo vệ sức khoẻ của lao động nữ
- Người sử dụng lao động có trách nhiệm trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân cho lao động nữ như găng tay cách điện, ủng cách điện, mặt nạ phòng độc, dây an toàn, phao an toàn, sào cách điện Người sử dụng lao động cùng người lao động kiểm tra để bảo đảm tiêu chuẩn chất lượng trước khi cấp phát, đồng thời định kỳ kiểm tra trong quá trình sử dụng và mã số theo dõi
Các quy định về trang bị phương tiện kỹ thuật an toàn, vệ sinh lao động nằm rải rác trong một số văn bản cấp ngành hoặc cơ sở và mang tính chung chung, chưa có quy định cụ thể về hình thức, chất lượng… của phương tiện cung cấp, cũng như chưa đưa ra yêu cầu mức độ bắt buộc thực hiện
2.1.3 Các quy định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi hợp lý để bảo vệ sức khoẻ của lao động nữ
Trang 9Pháp luật lao động có những quy định riêng về thời giờ làm việc của lao động nữ trong các trường hợp đặc biệt nhằm giúp họ thực hiện đầy đủ chức năng của người phụ nữ trong gia đình và trong xã hội
i) Người sử dụng lao động không được sử dụng người lao động nữ có thai từ
tháng thứ bảy hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi làm thêm giờ, làm việc ban đêm và đi công tác xa;
ii) Người lao động nữ làm công việc nặng nhọc, khi có thai đến tháng thứ bảy,
được chuyển làm công việc nhẹ hơn hoặc được giảm bớt một giờ làm việc hàng ngày mà vẫn hưởng đủ lương;
iii) Người lao động nữ trong thời gian hành kinh được nghỉ mỗi ngày 30 phút;
trong thời gian nuôi con dưới 12 tháng tuổi, được nghỉ mỗi ngày 60 phút trong thời gian làm việc, mà vẫn hưởng đủ lương
Do thời gian làm việc kéo dài (bao gồm cả thời gian làm việc trong giờ tiêu chuẩn và làm thêm) có ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng lao động, sức khoẻ và khả năng tái sản xuất sức lao động của lao động nữ nên pháp luật lao động có xu hướng hạn chế việc huy động lao động nữ làm thêm
2.1.4 Các quy định về chế độ thai sản đối với lao động nữ
Lao động nữ được ưu tiên dành thời gian nghỉ để đi khám thai, dưỡng sức, được nghỉ và hưởng chế độ khi bị sảy thai, khi sinh con và đặc biệt trong trường hợp nhận trẻ sơ sinh làm con nuôi, lao động nữ vẫn được hưởng chế độ bảo hiểm xã hội
Trong thời gian nghỉ việc để đi khám thai, để thực hiện biện pháp kế hoạch hoá gia đình hoặc do sảy thai; nghỉ để chăm sóc con dưới bảy tuổi ốm đau, nhận trẻ sơ sinh làm con nuôi, người lao động nữ được hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội hoặc được người sử dụng lao động trả một khoản tiền bằng mức trợ cấp bảo hiểm xã hội
Hết thời gian nghỉ thai sản theo chế độ và cả trong trường hợp được phép nghỉ thêm không hưởng lương, khi trở lại làm việc, người lao động nữ vẫn được bảo đảm chỗ làm việc
2.1.5 Giải quyết quyền lợi cho lao động nữ bị tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp
Pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động đã xác lập nguyên tắc giải quyết quyền lợi cho lao động nữ bị tai nạn, bệnh nghề nghiệp
1) Người sử dụng lao động phải thanh toán các khoản chi phí y tế và tiền lương từ khi sơ
cứu, cấp cứu đến khi điều trị ổn định thương tật;
Trang 102) Được nhận đủ tiền lương trong thời gian điều trị tai nạn lao động hoặc bệnh nghề
nghiệp, tiền lương của lao động nữ trong trường hợp này được tính theo mức tiền lương đóng bảo hiểm xã hội của tháng trước khi bị tai nạn lao động;
3) Sau khi điều trị thương tật ổn định người bị tai nạn lao động được giới thiệu đi giám
định khả năng lao động tại hội đồng giám định y khoa theo Quyết định của Bộ Y tế Căn cứ vào kết quả giám định sức khoẻ, người bị tai nạn lao động được hưởng trợ cấp của bảo hiểm xã hội một lần từ 4 đến 12 tháng lương tối thiểu nếu mức suy giảm khả năng lao động
từ 5 → 30% hoặc được hưởng trợ cấp hàng tháng với mức từ 0,4 đến 1,6 tháng tiền lương tối thiểu nếu mức suy giảm khả năng lao động từ 31 → 100%;
4) Được phụ cấp phục vụ 80% mức tiền lương tối thiểu nếu mức suy giảm khả năng lao
động từ 81% trở lên mà bị liệt cột sống, mù hai mắt, cụt hai chi, tâm thần nặng;
5) Được trang cấp phương tiện trợ giúp cho sinh hoạt phù hợp với tổn thất chức năng do
tai nạn gây ra với niên hạn sử dụng của từng loại được quy định theo Thông tư số 06 của
Bộ Lao động - Thường binh và Xã hội ngày 4/4/1995;
6) Người lao động chết khi bị tai nạn lao động (kể cả chết trong thời gian điều trị lần đầu)
thì gia đình được trợ cấp một lần bằng 24 tháng tiền lương tối thiểu và được hưởng chế độ
Tuy nhiên, để các quy phạm pháp luật đi vào thực tế cuộc sống đòi hỏi phải có sự đầu tư
về vật chất và đồng lòng của tất cả các bên liên quan trong quan hệ lao động, đặc biệt là sự cam kết thực hiện pháp luật an toàn, vệ sinh lao động của người sử dụng lao động và người lao động
Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật của nước ta đã phần nào đáp ứng được những yêu cầu về mặt pháp lý đối với lao động nữ ở Việt Nam
2.2 Thực trạng thực hiện các quy định về an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động
nữ ở Việt Nam
2.2.1 Thực trạng điều kiện làm việc của lao động nữ ở Việt Nam
Trang 11- Nhìn một cách tổng thể, các doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ đã có cố gắng trong việc đầu tư trang thiết bị, cải thiện điều kiện làm việc
- Tuy nhiên, ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ, đặc biệt là các doanh nghiệp có sử dụng nhiều lao động nữ do tiềm lực kinh tế còn hạn chế nên việc đầu tư để cải thiện điều kiện làm việc cho người lao động đang gặp nhiều khó khăn Nhiều chủ doanh nghiệp do chạy theo lợi nhuận trước mắt nên bỏ qua vấn đề an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nói chung và lao động nữ nói riêng
Nghiên cứu thực tế cho thấy nhieuf doanh nghiệp đã có những lỗi vi phạm đáng báo động: tiếng ồn, độ rung, bụi, yếu tố nhiệt, tốc độ gió, vấn đề ánh sáng, vấn đề công nghệ, thiết bị
và dây chuyền sản xuất, …
Trong thời gian tới, công tác an toàn, vệ sinh lao động trong các doanh nghiệp nhà nước còn phải tiếp tục thúc đẩy và quản lý chặt chẽ hơn nữa
2.2.2 Tình hình thực hiện các quy định về an toàn nghề nghiệp và bảo vệ sức khoẻ của lao động nữ
Không phải lúc nào và doanh nghiệp nào cũng có thể trang bị đầy đủ các dụng cụ bảo hộ lao động cho tất cả công nhân, kể cả trong các khu công nghiệp, khu chế xuất, …
Công tác bảo hộ lao động trong các doanh nghiệp mặc dù được triển khai nhưng việc thực hiện lại chưa thật sự nghiêm túc
Số liệu điều tra cơ bản về bảo hộ lao động đối với lao động nữ làm việc trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh thì có tới 30% doanh nghiệp trong cả nước hiện nay chưa thực hiện tốt công tác đảm bảo an toàn, vệ sinh lao động nói chung và lao động nữ nói riêng
Do không đảm bảo đầy đủ tiêu chuẩn về an toàn, vệ sinh lao động như được quy định nên tình trạng tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp xảy ra đối với người lao động, đặc biệt là lao động nữ ngày càng nhiều
Mặc dù có rất nhiều hạn chế như vậy, nhưng trong những năm gần đây, chất lượng và trình độ của người sử dụng lao động và người lao động đã phần nào được cải thiện cùng với sự phát triển đất nước, đặc biệt trong lĩnh vực khoa học, giáo dục Trong tình hình đó, vấn đề bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động trong các doanh nghiệp có nhiều điểm đáng chú ý
2.2.3 Thực tiễn áp dụng các quy định thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi đối với lao động nữ
Trang 12Nhìn chung, vấn đề an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ liên quan tới lĩnh vực thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi đang ngày càng thực hiện theo hướng tuân thủ các quy định của pháp luật
Mặc dù vậy, tình trạng vi phạm các quy định về an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động nữ trong lĩnh vực thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi trong các doanh nghiệp cũng đang
có xu hướng tăng lên
2.2.4 Tình hình thực hiện các quy định về thai sản đối với lao động nữ
Nhìn chung, các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế đã có những chính sách đối với lao động nữ trong thời kỳ thai sản tuân thủ quy định của pháp luật, như tạo điều kiện để lao động đi khám thai theo chế độ, điều chuyển lao động nữ làm công việc khác nhẹ hơn khi họ có thai đến tháng thứ 7…
Tuy vậy, vẫn có nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp ngoài Nhà nước vẫn có hiệ tượng vi phạm những quy định này
Hậu quả của những yếu kém trong việc thực hiện công tác đảm bảo an toàn, vệ sinh lao động trong các doanh nghiệp ngoài Nhà nước đó không chỉ hiện tượng tai nạn lao động diễn ra thường xuyên với những thiệt hại nghiêm trọng về người và của, mà nó còn làm suy giảm nghiêm trọng sức khoẻ của lao động nữ làm việc trong các doanh này, từ đó, gây nguy hại đến cả những thế hệ do có sự liên quan chặt chẽ giữa sức khoẻ lao động với sức khoẻ sinh sản của bộ phận lao động đặc biệt này
Trong thời gian qua, cùng với sự ra đời của các quy định pháp luật, công tác quản lý nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động đã có những bước tiến triển đáng kể: về tổ chức, về công tác thanh tra, …
2.3 Đánh giá khái quát về thực trạng pháp luật an toàn, vệ sinh lao động đối với lao động
nữ
2.3.1 Những kết quả đạt được