Luận văn tôt nghiệp nâng cao chất lượng tín dụng tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh huyện Mỹ Lộc. Luận văn đưa ra cơ sở lý luận về tín dụng, thực trạng phát triển tín dụng tại Ngân hàng Agribank huyện Mỹ Lộc và các giải pháp.
Trang 1MỤC LỤC
SV: Lê Thùy Linh_Lớp TCNH1-K4
Trang 22 NHNo&PTNT Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
Trang 3DANH MỤC BẢNG, HÌNH Danh mục bảng
Danh mục hình
SV: Lê Thùy Linh_Lớp TCNH1-K4
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đất nước đang chuyển mình với những bước đi đúng hướng, những thành tựumới trong mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội Xu hướng toàn cầu hoá trên thếgiới cùng với việc Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của WTO đã mở ra nhiều cơhội mới cho mọi nhà, mọi doanh nghiệp, mọi lĩnh vực trong đó không thể không nóitới ngân hàng - một lĩnh vực hết sức nhạy cảm ở Việt Nam Chúng ta đang bắt đầuthực hiện các cam kết mở cửa, khiến cho các doanh nghiệp đứng trước sự cạnh tranhngày càng khốc liệt, cơ hội nhiều nhưng thách thức cũng không nhỏ Điều này tạo ranhững ảnh hưởng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, vì thếảnh hưởng đến hoạt động của các ngân hàng thương mại (NHTM) nói chung và hoạtđộng tín dụng ngân hàng nói riêng
Trong hoạt động của các NHTM Việt Nam hiện nay, hoạt động tín dụng là mộtnghiệp vụ truyền thống, nền tảng, chiếm tỉ trọng cao trong cơ cấu tài sản và cơ cấu thunhập, nhưng cũng là hoạt động phức tạp, tiềm ẩn những rủi ro lớn cho các NHTM Tíndụng trong điều kiện trong nền kinh tế mở, cạnh tranh và hội nhập vẫn tiếp tục đóngmột vai trò quan trọng trong kinh doanh ngân hàng và đang đặt ra những yêu cầu mới
về nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng Xuất phát từ thực tiễn đó, em quyết định
chọn đề tài: “Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp
và Phát triển Nông thôn Chi nhánh huyện Mỹ Lộc”.
2 Mục đích nghiên cứu:
Đánh giá chất lượng hoạt động tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Pháttriển Nông thôn chi nhánh huyện Mỹ Lộc
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Chất lượng tín dụng của Ngân hàng
- Phạm vi nghiên cứu: tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chinhánh huyện Mỹ Lộc
- Thời gian nghiên cứu: giai đoạn 2010 – 2012
4 Phương pháp nghiên cứu
Chuyên đề sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu sau: phương phápphân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh vàluận giải
5 Kết cấu của chuyên đề
Ngoài lời mở đầu và kết luận, chuyên đề gồm 3 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về chất lượng tín dụng tại ngân hàng thương mại Chương 2: Chất lượng tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Chi nhánh huyện Mỹ Lộc
Trang 5Chương 3: Một số giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Chi nhánh huyện Mỹ Lộc
Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của cô giáo Th.s Nguyễn ThịHải Yến, sự giảng dạy nhiệt tình của các thầy cô giáo trường Đại học Công nghiệp HàNội, và sự giúp đỡ nhiệt tình các cô chú, anh chị cán bộ nhân viên Ngân hàng Nôngnghiệp và Phát triển Nông thôn chi nhánh huyện Mỹ Lộc đã giúp đỡ, chỉ bảo và tạođiều kiện thuận lợi cho em hoàn thành chuyên đề này
Do còn hạn chế về thời gian ngiên cứu, tài liệu thu thập cũng như trình độ hiểubiết, chuyên đề sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Em mong các thầy cô quan tâm,đóng góp ý kiến để hoàn thiện bản báo cáo này
Sinh viên thực hiện
Lê Thùy Linh
Trang 6CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG
TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI1.1 Khái quát về tín dụng
có khả năng hoàn trả nợ vay (gốc, lãi) đúng hạn
Thứ hai, tín dụng là sự chuyển nhượng một tài sản có thời hạn Ngân hàng làtrung gian tài chính “đi vay để cho vay”, nên mọi khoản tín dụng của ngân hàng đềuphải có thời hạn, bảo đảm cho ngân hàng hoàn trả vốn huy động Để xác định thời hạncho vay hợp lý, ngân hàng phải căn cứ vào tính chất thời hạn nguồn vốn của mình vàquá trình luân chuyển vốn của đối tượng cho vay Nếu ngân hàng có nguồn vốn dàihạn ổn định, thì có thể cấp được nhiều tín dụng dài hạn; ngược lại, nếu nguồn vốnkhông ổn định và kỳ hạn ngắn, mà cấp nhiều tín dụng dài hạn thì sẽ gặp rủi ro thanhkhoản Mặt khác, thời hạn cho vay phải phù hợp với chu kỳ luân chuyển vốn của đốitượng vay thì người vay mới có điều kiện trả nợ đúng hạn Nếu ngân hàng xác địnhthời hạn vay nhỏ hơn chu kỳ luân chuyển vốn của đối tượng vay, thì khách hàngkhông có đủ nguồn để trả nợ khi đến hạn, gây khó khăn cho khách hàng Ngược lại,nếu thời hạn cho vay lớn hơn chu kỳ luân chuyển vốn sẽ tạo điều kiện cho khách hàng
sử dụng vốn vay không đúng mục đích, tiềm ẩn rủi ro tín dụng cho ngân hàng
Thứ ba, tín dụng phải trên nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi Nếu không có sựhoàn trả thì không được coi là tín dụng Giá trị hoàn trả phải lớn hơn giá trị lúc chovay (giá trị gốc), nghĩa là ngoài việc hoàn trả giá trị gốc, khách hàng phải trả cho ngânhàng một khoản lãi, đây chính là giá của quyền sử dụng vốn vay Khoản lãi phải luônluôn là một số dương, có như vậy mới bù đắp được chi phí hoạt động và tạo ra lợinhuận cho ngân hàng, phản ánh bản chất hoạt động kinh doanh của ngân hàng
Thứ tư, tín dụng là hoạt động tiềm ẩn rủi ro cao cho ngân hàng Việc thu hồi tíndụng phụ thuộc không những vào bản thân khách hàng, mà còn phụ thuộc vào môi
Trang 7trường hoạt động, ngoài tầm kiểm soát của khách hàng như sự biến động về giá cả, lãisuất, tỷ giá, lạm phát, tăng trưởng kinh tế, thị trường, thiên tai… Khi khách hàng gặpkhó khăn do môi trường kinh doanh thay đổi, dẫn đến khó khăn trong việc trả nợ, điểunày khiến cho ngân hàng gặp rủi ro tín dụng.
Thứ năm, tín dụng phải trên cơ sở cam kết hoàn trả vô điều kiện Quá trình xinvay và cho vay diễn ra trên cơ sở những căn cứ pháp lý chặt chẽ như: Hợp đồng tíndụng, khế ước vay tiền, hợp đồng bảo đảm tiền vay, bảo lãnh…, trong đó bên đi vayphải cam kết hoàn trả vô điều kiện khoản vay cho ngân hàng khi đến hạn
Từ những đặc điểm trên cho thấy, tín dụng ngân hàng phải đảm bảo được hainguyên tắc cơ bản sau:
- Vốn vay phải được sử dụng đúng mục đích
- Vốn vay phải được hoàn trả cả gốc và lãi đúng thời hạn đã cam kết trong hợpđồng
1.1.3 Vai trò của tín dụng
1.1.3.1 Đối với nền kinh tế
Vai trò kinh tế cơ bản của tín dụng ngân hàng là luân chuyển vốn từ nhữngngười (cá nhân, hộ gia đình, công ty và chính phủ) có nguồn vốn thặng dư (do chi tiêu
ít hơn thu nhập) đến những người thiếu hụt ( do nhu cầu chi tiêu vượt quá thu nhập).Nhu cầu vay vốn không chỉ để đầu tư kinh doanh mà còn dùng để thỏa mãn nhu cầutiêu dùng trước mắt Việc luân chuyển vốn từ người tiết kiệm sang người sử dụng vốnlại quan trọng với nền kinh tế vì những người tiết kiệm thường không đồng thời lànhững người có cơ hội sinh lời cao Như vậy, nếu không có ngân hàng, thì việc luânchuyển vốn giữa các chủ thể trong nền kinh tế sẽ ách tắc Chính vì vậy, kênh luânchuyển vốn qua ngân hàng có ý nghĩa rất lớn trong việc thúc đẩy tính hiệu quả của nềnkinh tế
Tín dụng ngân hàng không giới hạn chỉ trong chức năng truyền thống là luânchuyển vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu mà còn giúp phân bổ hiệu quả các nguồn lực tàichính trong nền kinh tế Thông qua tín dụng ngân hàng mà vốn từ những người thiếucác dự án đầu tư hiệu quả được chuyển tới những người có các dự án đầu tư hiệu quảhơn nhưng thiếu vốn Kết quả là, kinh tế tăng trưởng, tạo công ăn việc làm, và năngsuất lao động cao
Thông qua việc đầu tư vốn tín dụng vào những ngành, nghề, khu vực kinh tếtrọng điểm sẽ thúc đẩy sự phát triển của các ngành, nghề đó, hình thành nên cơ cấuhiện đại, hợp lý và hiệu quả
Tín dụng ngân hàng góp phần lưu thông tiền tệ, hàng hóa, điều tiết thị trường,kiểm soát giá trị đồng tiền và thúc đẩy quá trình mở rộng giao lưu kinh tế giữa cácnước
Trang 8Tín dụng ngân hàng mang lại nguồn thu lớn cho Ngân sách Nhà nước (NSNN)thông qua thuế thu nhập và lãi từ ủy thác đầu tư vốn của Chính phủ.
Tín dụng ngân hàng là kênh truyền tải vốn tài trợ của nhà nước đến nôngnghiệp, nông thôn, góp phần xóa đói giảm nghèo, ổn định chính trị, xã hội
Tín dụng ngân hàng ràng buộc trách nhiệm khách hàng phải hoàn trả vốn gốc
và lãi trong thời hạn nhất định như thỏa thuận Do đó, buộc khách hàng phải nỗ lực,tận dụng hết khả năng của mình để sử dụng vốn vay hiệu quả, đẩy nhanh quá trình táisản xuất, đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp và đảm bảo nghĩa vụ trả nợ cho ngânhàng
1.1.3.3 Đối với ngân hàng
Tín dụng là hoạt động truyền thống, chiểm tỷ trọng lớn nhất trong tổng tài sản
có và mang lại nguồn thu nhập chủ yếu cho ngân hàng (từ 70 đến 90%) Mặc dù tỷtrọng của hoạt động tín dụng đang có xu hướng giảm, nhưng tín dụng ngân hàng vẫnluôn là nghiệp vụ sử dụng vốn quan trọng nhất đối với mỗi ngân hàng
Thông qua hoạt động tín dụng mà ngân hàng đa dạng hóa được danh mục tàisản có, giảm thiểu rủi ro
Thông qua hoạt động tín dụng, ngân hàng mở rộng được các loại hình dịch vụkhác, như thanh toán, thu hút tiền gửi, kinh doanh ngoại tệ, tư vấn…
1.1.4 Phân loại tín dụng ngân hàng
Kinh tế thị trường càng phát triển, xu hướng tự do hóa càng sâu sắc, thì cácngân hàng càng phải nghiên cứu đưa ra các hình thức tín dụng đa dạng nhằm đáp ứngtốt nhất nhu cầu của khách hàng, từ đó đa dạng hóa danh mục đầu tư, thu hút kháchhàng, tăng lợi nhuận, thực hiện phân tán rủi ro và đứng vững trong cạnh tranh Chính
vì vậy, ngân hàng cung cấp rất nhiều loại tín dụng, cho nhiều đối tượng khách hàngvới những mục đích sử dụng khác nhau Để tránh nhầm lẫn và có cái nhìn tổng quát vềcác loại tín dụng, người ta phân loại tín dụng theo một số tiêu chí sau:
Trang 91.1.4.1 Căn cứ vào thời hạn tín dụng
Tín dụng ngắn hạn: Là loại tín dụng có thời hạn đến 1 năm và được sử dụng để
bù đắp thiếu hụt vốn lưu động tạm thời của các doanh nghiệp, phục vụ nhu cầu tiêudùng cá nhân và hộ gia đình
Tín dụng trung hạn: Là loại tín dụng có thời hạn trên 1 năm đến 5 năm và sửdụng chủ yếu để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới trang thiết bị, mởrộng sản xuất và xây dựng công trình vừa và nhỏ có thời hạn thu hồi vốn nhanh Tíndụng trung hạn còn là nguồn vốn quan trọng hình thành nên vốn lưu động thườngxuyên của các doanh nghiệp, đặc biệt là đối với doanh nghiệp mới thành lập
Tín dụng dài hạn: Là loại tín dụng có thời hạn trên 5 năm, đáp ứng cho nhu cầuđầu tư dài hạn như: xây dựng cơ bản (nhà xưởng, dây chuyền sản xuất…), xây dựng
cơ sở hạ tầng (đường xá, cảng biển, sân bay…) , cải tiến và mở rộng sản xuất có quy
mô lớn Do thời gian đầu tư thường kéo dài, nên tín dụng dài hạn thường áp dụng hìnhthức giải ngân nhiều lần theo tiến độ dự án Nhìn chung, tín dụng dài hạn chịu rủi rorất lớn, bởi vì thời hạn càng dài, thì những biến động không dự tính có thể xảy ra cànglớn
1.1.4.2 Căn cứ vào bảo đảm tín dụng
Tín dụng có bảo đảm: là tín dụng có tài sản cầm cố, thế chấp hoặc có bảo lãnhcủa người thứ ba Hình thức tín dụng này áp dụng đối với những khách hàng không đủ
uy tín, khi vay vốn phải có tài sản đảm bảo hoặc phải có người bảo lãnh Tài sản bảođảm hoặc bảo lãnh của người thứ ba là căn cứ pháp lý để ngân hàng có thêm nguồnthu dự phòng khi nguồn thu chính (dòng tiền) của con nợ thiếu hụt, tạo áp lực buộccon nợ phải trả nợ, giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng
Tín dụng không có bảo đảm: Là tín dụng không có tài sản cầm cố, thế chấp haykhông có bảo lãnh của người thứ ba Loại tín dụng này áp dụng cho những khách hàngmới, có hệ số tín nhiệm không cao
1.1.4.3 Căn cứ vào mục đích tín dụng
- Tín dụng bất động sản: Đây là các khoản tín dụng đầu tư vào bất động sản,bao gồm:
+ Tín dụng ngắn hạn cho xây dựng và mở rộng đất đai
+ Tín dụng dài hạn để mua đất đai, nhà cửa, căn hộ, cơ sở dịch vụ, trang trại vàbất động sản ở nước ngoài
- Tín dụng công thương nghiệp: Đây là các khoản tín dụng cấp cho các doanhnghiệp để trang trải các chi phí như mua hàng hóa, nguyên vật liệu, trả thuế, và chi trảlương
Trang 10- Tín dụng nông nghiệp: Đây là các khoản tín dụng cấp cho các hoạt động nôngnghiệp, nhằm trợ giúp các hoạt động trồng trọt, thu hoạch mùa màng và chăn nuôi giasúc.
- Tín dụng tiêu dùng: Đây là các khoản tín dụng cấp cho cá nhân, hộ gia đình đểmua sắm hàng hóa tiêu dùng đắt tiền như xe hơi, nhà di động, trang thiết bị trongnhà…
1.1.4.4 Căn cứ vào chủ thể vay vốn
Tín dụng doanh nghiệp (tín dụng bán buôn): Gọi là bán buôn vì những doanhnghiệp thường có những khoản vay giá trị lớn
Tín dụng cá nhân, hộ gia đình (tín dụng bán lẻ): Gọi là tín dụng bán lẻ vì những
cá nhân thường vay với những khoản vay có giá trị nhỏ nhằm vào mục đích tiêu dung
Tín dụng cho các tổ chức tài chính: Đây là các khoản tín dụng cấp tín dụng chocác ngân hàng, công ty bảo hiểm, công ty tài chính và các tổ chức tài chính khác.Những khoản đi vay này trở thành nguồn vốn của ngân hàng đi vay, nên chúng có thểdung để trả nợ hay cho vay lại
1.1.4.5 Căn cứ vào phương thức hoàn trả nợ vay
Tín dụng trả góp: là loại tín dụng mà khách hàng phải hoàn trả vốn gốc và lãivay định kỳ thành những khoản bằng nhau Loại tín dụng này áp dụng cho nhữngkhoản vay lớn và có thời hạn dài
Tín dụng hoàn trả một lần: là loại tín dụng mà khách hàng chỉ hoàn trả vốn gốc
và lãi vay một lần khi đến hạn Loại tín dụng này áp dụng cho những khoản vay nhỏ
và có thời hạn ngắn
Tín dụng hoàn trả theo yêu cầu: là loại tín dụng mà khách hàng có thể hoàn trả
nợ vay bất cứ khi nào Loại tín dụng này thường áp dụng cho những khoản vay thấuchi, thẻ tín dụng
1.1.4.6 Căn cứ vào hình thái giá trị của tín dụng
Tín dụng bằng tiền: là tín dụng mà hình thái giá trị của nó là bằng tiền Tíndụng bằng tiền gọi là cho vay
Tín dụng bằng tài sản: là loại tín dụng mà hình thái giá trị của nó là bằng tàisản Hình thức tín dụng này chính là cho thuê tài chính
Tín dụng bằng uy tín: Là tín dụng mà hình thái giá trị của nó là bằng uy tín.Hình thức tín dụng này chính là bảo lãnh ngân hàng
Trang 111.1.4.7 Căn cứ vào xuất xứ tín dụng
Tín dụng trực tiếp: là hình thức tín dụng, trong đó ngân hàng cấp vốn trực tiếpcho khách hàng có nhu cầu vay vốn, đồng thời khách hàng hoàn trả nợ vay trực tiếpcho ngân hàng
Tín dụng gián tiếp: là hình thức cấp tín dụng thông qua trung gian như: tín dụng
ủy thác, tín dụng thông qua tổ chức đoàn thể
1.1.4.8 Tín dụng khác
Bao gồm các khoản tín dụng khác chưa được phân loại ở trên (ví dụ: tín dụngkinh doanh chứng khoán)
1.1.5 Các phương thức cho vay
Cho đến nay, các ngân hàng thường sử dụng các phương thức cho vay phổ biếndựa trên cơ sở thỏa thuận với khách hàng gồm:
- Cho vay từng lần: Mỗi lần vay vốn khách hàng và tổ chức tín dụng thực hiệnthủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng
- Cho vay theo hạn mức tín dụng: Tổ chức tín dụng(TCTD) và khách hàng xácđịnh và thỏa thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong một khoảng thời gian nhất định
- Cho vay theo dự án đầu tư: TCTD cho khách hàng vay vốn để thực hiện các
dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các dự án đầu tư phục vụ đờisống
- Cho vay hợp vốn: Một nhóm TCTD cùng cho vay đối với một dự án vay vốnhoặc phương án vay vốn của khách hàng; trong đó, một TCTD làm đầu mối dàn xếp,phối hợp với các tổ chức tín dụng khác
- Cho vay trả góp: Khi vay vốn, tổ chức tín dụng và khách hàng xác định vàthỏa thuận số lãi vốn vay phải trả cộng với số nợ gốc được chia ra để trả nợ theo nhiều
kỳ hạn trong thời hạn cho vay
- Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng: TCTD cam kết đảm bảo sẵn sàngcho khách hàng vay vốn trong phạm vi hạn mức tín dụng nhất định TCTD và kháchhàng thỏa thuận thời hạn hiệu lực của hạn mức tín dụng dự phòng, mức phí trả cho hạnmức tín dụng dự phòng
- Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng: Tổ chức tíndụng chấp thuận cho khách hàng được sử dụng số vốn vay trong phạm vi hạn mức tíndụng để thanh toán tiền mua hàng hóa, dịch vụ và rút tiền mặt tại máy rút tiền tự độnghoặc điểm ứng tiền mặt là đại lý của tổ chức tín dụng Khi cho vay phát hành và sửdụng thẻ tín dụng, tổ chức tín dụng và khách hàng phải tuân theo các quy định củapháp luật về phát hành và sử dụng thẻ tín dụng
- Cho vay theo hạn mức thấu chi: Là việc cho vay mà TCTD thỏa thuận bằngvăn bản chấp thuận cho khách hàng chi vượt số tiền có trên tài khoản thanh toán của
Trang 12khách hàng phù hợp với các quy định của pháp luật về hoạt động thanh toán qua các tổchức cung ứng dịch vụ thanh toán.
Các phương thức cho vay khác mà pháp luật không cấm, phù hợp với quy địnhtại Quy chế này và điều kiện hoạt động kinh doanh của TCTD và đặc điểm của kháchhàng vay
1.1.6 Chính sách tín dụng ngân hàng
Một trong những biện pháp quan trọng để các khoản tín dụng ngân hàng đápứng được các tiêu chuẩn pháp lý và bảo đảm an toàn là việc hình thành một “ chínhsách tín dụng an toàn và hiệu quả” Chính sách tín dụng cung cấp cho cán bộ tín dụng
và nhà quản lý một khung chỉ dẫn chi tiết để ra các quyết định tín dụng và định hướngdanh mục đầu tư tín dụng của ngân hàng Thông qua kết cấu danh mục tín dụng củamột ngân hàng, ta có thể biết được chính sách tín dụng của ngân hàng này là như thếnào Nếu một chính sách tín dụng hoạt động không hiệu quả thì phải tiến hành kiểmtra hoặc phải được tăng cường quản lý bởi ban lãnh đạo ngân hàng
Sau đây là những yếu tố quan trọng nhất thường cấu thành trong chính sách tíndụng của một ngân hàng:
- Mục đích của danh mục tín dụng ngân hàng, bao gồm các đặc điểm của mộtdanh mục tín dụng xét theo các tiêu chí như: các loại tín dụng, những kỳ hạn tín dụng,các độ lớn tín dụng, chất lượng tín dụng, đối tượng khách hàng nòng cốt, khách hàngmục tiêu…
- Phân cấp thẩm quyền cho vay đối với từng cán bộ tín dụng và từng hội đồngtín dụng (quy định mức cho vay tối đa, các loại tín dụng được phép, và chữ ký củangười có trách nhiệm)
- Phân cấp chịu trách nhiệm hàng ngày trong công việc và báo cáo thông tintrong nội bộ phòng tín dụng
- Quy trình tiếp nhận, kiểm tra, đánh giá và ra quyết định đối với đơn xin vaycủa khách hàng
- Hồ sơ bắt buộc đối với từng đơn xin vay, và những gì phải được lưu giữ tạingân hàng (ví dụ như các báo cáo tài chính, hợp đồng bảo đảm tín dụng…)
- Phân cấp chịu trách nhiệm trong nội bộ ngân hàng, cụ thể ai là người chịutrách nhiệm duy trì và kiểm tra hồ sơ tín dụng
- Các chỉ dẫn, nhận định, đánh giá và hoàn tất hồ sơ bảo đảm tín dụng
- Quy định chính sách và quy trình ấn định mức lãi suất tín dụng mức phí vàcác điều kiện hoàn trả nợ vay
- Quy định những tiêu chuẩn chất lượng áp dụng chung cho tất cả các loại tíndụng
- Quy định giới hạn tín dụng tối đa cho một khách hàng
- Quy định lĩnh vực hoạt động chính của ngân hàng, từ đó hướng tín dụng vàolĩnh vực này
Trang 13- Các phương án ưu tiên trong việc phát hiện, phân tích và xử lý tín dụng có vấnđề.
Tùy theo đặc điểm cụ thể của từng ngân hàng, nhà quản lý có thể bổ sung thêmnhững quy định cho phù hợp Ví dụ, có ngân hàng quy định không cấp một số loại tíndụng nhất định, nhưng lại quy định ưu tiên đối với một số loại tín dụng khác…
Chính sách tín dụng ngân hàng mang lại nhiều ưu điểm trong quá trình thựchiện cho vay Trước hết, đối với cán bộ tín dụng, họ biết được cần phải làm các bướcnhư thế nào khi tiến hành một khoản cho vay và biết được trách nhiệm của mình đếnđâu; đối với ngân hàng, thông qua chính sách tín dụng, ngân hàng có thể đạt được mộtdanh mục tín dụng đa dạng mục đích, như làm tăng khả năng sinh lời, kiểm soát đượctiềm ẩn rủi ro và đáp ứng được các đòi hỏi từ phía nhà quản lý Bất kỳ một sự ngoại lệnào trong chính sách tín dụng cũng phải được quy định đầy đủ, các lý do tại sao lại có
sự ngoại lệ cũng phải liệt kê
1.1.7 Kiểm tra tín dụng
Ngày nay các ngân hàng sử dụng rất nhiều các quy trình khác nhau để kiểm tratín dụng, tuy nhiên, những nguyên lý chung đang được áp dụng tại hầu hết các ngânhàng bao gồm:
Nguyên lý 1: Tiến hành kiểm tra tất cả các loại tín dụng theo định kỳ nhất định,
ví dụ, đối với các khoản tín dụng nhỏ và vừa thì định kỳ kiểm tra có thể là 30, 60, hay
90 ngày; đối với những khoản tín dụng lớn thì phải kiểm tra thường xuyên hơn
Nguyên lý 2: Xây dựng kế hoạch, chương trình, nội dung quá trình kiểm tramột cách thận trọng và chi tiết, bảo đảm rằng những khía cạnh quan trọng nhất củamỗi khoản tín dụng phải được kiểm tra, bao gồm:
- Kế hoạch trả nợ của khách hàng, nhằm bảo đảm rằng khách hàng không chậmtrễ trong việc thanh toán nợ theo kế hoạch
- Chất lượng và điều kiện của tài sản bảo đảm tín dụng
- Tính đầy đủ và hợp lệ của hợp đồng tín dụng, bảo đảm rằng ngân hàng có đầy
đủ thẩm quyền hợp pháp để sở hữu các tài sản bảo đảm tín dụng đối với người vaytrước tòa án nếu cần thiết
- Đánh giá điều kiện tài chính và những dự báo về người vay, trên cơ sở đó xemxét lại nhu cầu tín dụng của người vay thay đổi như thế nào
- Đánh giá xem khoản tín dụng có còn tuân thủ chính sách cho vay của ngânhàng và các tiêu chuẩn do cơ quan quản lý đặt ra
Nguyên lý 3: Kiểm tra thường xuyên các khoản tín dụng lớn, bởi vì nếu các
“đại gia” bị vỡ nợ sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến điều kiện tài chính của ngân hàng
Nguyên lý 4: Quản lý chặt chẽ và thường xuyên các khoản tín dụng có vấn đề,tăng cường kiểm tra giám sát khi phát hiện những dấu hiệu không lành mạnh liên quanđến khoản tín dụng của ngân hàng
Trang 14Nguyên lý 5: Tăng cường kiểm tra tín dụng khi nền kinh tế có những biểu hiện
đi xuống, hoặc ngành nghề sử dụng nhiều tín dụng của ngân hàng có biểu hiện nhữngvấn đề nghiêm trọng trong phát triển (ví dụ như xuất hiện các đối thủ cạnh tranh mới,hay có sự áp dụng công nghệ mới đòi hỏi phải có sản phẩm mới và các phương phápphân phối mới)
Kiểm tra tín dụng không phải là công việc thừa, lãng phí, mà rất cần thiết đểhình thành chính sách cho vay của ngân hàng một cách lành mạnh Nó không nhữnggiúp cho nhà quản lý nhận ra vấn đề một cách nhanh chóng, mà còn có tác dụng kiểmtra thường xuyên xem cán bộ tín dụng có chấp hành đúng chính sách cho vay của ngânhàng Với lý do này, đồng thời tăng cường tính khách quan của công tác kiểm tra tíndụng, hầu hết các ngân hàng lớn đều thành lập phòng “kiểm tra tín dụng” độc lập với
“phòng tín dụng” Kiểm tra tín dụng giúp cho Hội đồng quản trị và Ban giám đốc điềuhành trong việc đánh giá toàn bộ tiềm ẩn rủi ro đối với ngân hàng, từ đó đề ra các biệnpháp phòng chống cũng như định hướng chính sách “quỹ dự phòng bù đắp rủi ro” vàchiến lược tăng vốn chủ sở hữu của ngân hàng trong tương lai
1.1.8 Sự cần thiết của tín dụng ngân hàng
Trong suốt sự phát triển lâu dài của tín dụng thì hình thức tín dụng ngân hàng tỏ
ra có ưu thế hơn các hình thức tín dụng trước nó như tín dụng cho vay nặng lãi, tíndụng thương mại
Hình thức tín dụng ngân hàng ra đời tỏ rõ ưu thế của mình bởi:
- Nguồn vốn cho vay rất lớn vì đó là toàn bộ nguồn vốn trong nền kinh tế màngân hàng có thể tập trung và huy động được
- Đây là hình thức tín dụng rất linh hoạt vì đối tượng cho vay là tiền
Hình thức tín dụng ngân hàng là hình thức tín dụng chủ yếu trong nền kinh tếthị trường và nó luôn luôn đáp ứng nhu cầu về vốn cho nền kinh tế một cách linh hoạtkịp thời
Là trung gian tài chính, ngân hàng đóng vai trò là người môi giới giữa một bên
là những người có tiền cho vay và bên kia là những người có nhu cầu cần vay vốn.Thông qua cơ chế thị trường bằng những biện pháp kinh tế năng động và áp dụng cácphương pháp kỹ thuật hiện đại, tiên tiến Ngân hàng có khả năng thu hút những nguồnvốn tiền tệ, tiết kiệm, dự trữ trong xã hội để chuyển giao đúng nơi, đúng lúc, phù hợpvới nhu cầu vốn trong sản xuất kinh doanh Chính nhờ có tín dụng Ngân hàng mànhững đồng tiền tạm thời nhàn rỗi đã trở thành tiền hoạt động, biến những đồng tiềnnằm phân tán thành vốn tiền tệ tập trung phục vụ cho nhu cầu sản xuất kinh doanh vàqua đó làm cho phát triển mọi hoạt động sản xuất kinh doanh, giúp cho nền kinh tếngày càng phát triển
Trang 151.2 Chất lượng tín dụng của ngân hàng thương mại
1.2.1 Khái niệm chất lượng tín dụng của ngân hàng thương mại
Chất lượng, giá cả và lượng hàng hoá là ba chỉ tiêu quan trọng để đánh giá sứcmạnh và khả năng của doanh nghiệp Để có thể đứng vững trong hoạt động kinh doanhthì việc cải thiện chất lượng sản phẩm là điều tất yếu Các nhà kinh tế nói đến chấtlượng bằng nhiều cách: Chất lượng là "Sự phù hợp với mục đích và sự sử dụng", là"một trình độ dự kiến trước về độ đồng đều và độ tin cậy với chi phí thấp và phù hợpvới thị trường" hay chất lượng là" năng lực của một sản phẩm hoặc một dịch vụ nhằmthoả mãn những nhu cầu của người sử dụng"
1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng của ngân hàng thương mại 1.2.2.1 Nhân tố thuộc về phía ngân hàng
Quy mô và cơ cấu kỳ hạn của nguồn vốn ngân hàng: muốn cho vay được thìđiều kiện trước tiên là ngân hàng phải có vốn Nhưng chỉ có vốn thôi thì chưa đủ, doyêu cầu phải đảm bảo khả năng thanh toán thường xuyên nên các khoản vay của ngânhàng cần phải được tài trợ một cách phù hợp từ nguồn vốn phù hợp Quy mô cácnguồn vốn là một trong những nhân tố quyết định quy mô cho vay của ngân hàng
Năng lực của ngân hàng trong việc thẩm định các hợp đồng: Một trong nhữngtiêu chí đánh giá chất lượng tín dụng của ngân hàng là vốn và lãi được hoàn trả đúng
kỳ hạn Điều này sẽ không thể có được nếu như việc thực hiện dự án không đạt hiệuquả như mong muốn, hoặc khách hàng không có thiện chí, cố tình lừa đảo Để hạn chếnguy cơ đó ngân hàng cần phải thực hiện tốt công tác thẩm định dự án, thẩm địnhkhách hàng Thông thường công tác thẩm định khách hàng được tiến hành trước vàchủ yếu tập trung vào xem xét các mặt: tư cách pháp lý, khả năng tài chính, khả năngquản lý điều hành sản xuất kinh doanh, năng lực sản xuất kinh doanh, mức độ tínnhiệm Nếu khách hàng đáp ứng đầy đủ các yêu cầu do ngân hàng đặt ra thì dự án đầu
tư sẽ được tiếp tục xem xét để quyết định có cho vay hay không Vấn đề đặt ra ở đây làthủ tục và các điều kiện, tiêu chuẩn sử dụng làm căn cứ để đánh giá khách hàng và dự
án đầu tư có hợp lý hay không Nếu thủ tục rườm rà, các điều kiện, tiêu chuẩn đặt raquá khắt khe, không phù hợp với thực tế thì sẽ có rất ít khách hàng bảo đảm thỏa mãnđược yêu cầu của ngân hàng Điều đó gây cản trở cho ngân hàng trong việc thu hútthêm khách hàng, mở rộng quan hệ tín dụng Ngược lại, nếu quy trình điều kiện đặt rakhông chặt chẽ có thể sẽ khiến cho ngân hàng sai lầm trong việc ra quyết định chovay, dẫn đến rủi ro tín dụng Chính vì vậy trong quá trình hoạt động các ngân hàngphải không ngừng cải tiến, hoàn thiện công tác thẩm định của mình
Trang 16Năng lực giám sát và xử lý các tình huống tín dụng của ngân hàng: cho dù côngtác thẩm định dự án, thẩm định khách hàng được tiến hành tốt, giúp cho ngân hàng lựachọn được những khách hàng tốt, những dự án khả thi có khả năng sinh lời cao song
đó chưa phải là sự đảm bảo chắc chắn để có được chất lượng tín dụng cao Bởi lẽ hoạtđộng sản xuất kinh doanh luôn chứa đựng những rủi ro tiềm ẩn không thể lường trướcđược Chính vì vậy mà công tác giám sát và xử lý các tình huống tín dụng sau khi chovay có ý nghĩa rất quan trọng Hoạt động giám sát chủ yếu tập trung vào các vấn đềnhư: sự tuân thủ đúng mục đích sử dụng vốn của khách hàng, tình hình hoạt động thực
tế của dự án, tiến độ trả nợ, quá trình sử dụng, bảo quản và biến động tài sản của kháchhàng, những vấn đề mới nảy sinh trong quá trình thực hiện dự án Thực hiện tốt côngtác này sẽ giúp ngân hàng phát hiện và ngăn chặn kịp thời những biểu hiện tiêu cựcnhư sử dụng vốn sai mục đích, âm mưu tẩu tán tài sản, lừa đảo ngân hàng
Chính sách tín dụng của ngân hàng: Chính sách tín dụng của ngân hàng là một
hệ thống các biện pháp nhằm liên quan đến việc mở rộng hoặc hạn chế tín dụng nhằmđạt được các mục tiêu của ngân hàng đó trong từng thời kỳ
Với ý nghĩa như vậy, rõ ràng chính sách tín dụng có tác động rất lớn đến chấtlượng tín dụng của ngân hàng Trước hết về mặt quy mô tín dụng, nếu chính sách tíndụng của ngân hàng trong một thời kỳ nào đó là hạn chế thì có nghĩa là quy mô tíndụng của ngân hàng đó sẽ bị thu hẹp Khi đó không thể nói chất lượng tín dụng củangân hàng đó là tốt ít ra về mặt quy mô Ngoài ra chính sách tín dụng của ngân hàngcòn bao gồm một loạt các vấn đề như quy định về điều kiện, tiêu chuẩn tín dụng đốivới khách hàng, lĩnh vực tài trợ, biện pháp bảo đảm tiền vay, quy trình quản lý tíndụng, lãi suất… Nếu chính sách tín dụng được xây dựng và thực hiện một cách khoahọc và chặt chẽ, kết hợp được hài hòa lợi ích của ngân hàng, của khách hàng và của xãhội thì sẽ hứa hẹn một chất lượng tín dụng tốt Ngược lại, nếu việc xây dựng và thựchiện chính sách tín dụng không hợp lý, không khoa học thì chắc chắn chất lượng tíndụng của ngân hàng sẽ không cao thậm chí rất thấp
Thông tin tín dụng: thông tin luôn là yếu tố cơ bản cần thiết cho công tác quản
lý dù ở bất cứ lĩnh vực nào Trong hoạt động tín dụng ngân hàng cũng thế, để thẩmđịnh dự án, thẩm định khách hàng trước hết phải có thông tin về dự án, về khách hàng
đó, để làm tốt công tác giám sát sau khi cho vay cũng cần có thông tin Thông tin càngchính xác, kịp thời thì càng thuận lợi cho ngân hàng trong việc đưa ra quyết định chovay, theo dõi việc dùng vốn vay và tiến độ trả nợ Thông tin chính xác kịp thời đầy đủcòn giúp cho ngân hàng xây dựng hoặc điều chỉnh kế hoạch kinh doanh, chính sách tíndụng một cách linh hoạt phù hợp với tình hình thực tế Tất cả những điều đó góp phầnnâng cao chất lượng tín dụng cho ngân hàng
Trang 17Công nghệ ngân hàng, trang thiết bị kỹ thuật cũng là một nhân tố tác động tớichất lượng tín dụng của ngân hàng, nhất là trong thời đại khoa học kỹ thuật phát triểnnhư vũ bão hiện nay Một ngân hàng sử dụng công nghệ hiện đại được trang bị cácphương tiện kỹ thuật chất lượng cao sẽ tạo điều kiện đơn giản hóa các thủ tục, rút ngắnthời gian giao dịch, đem lại sự tiện lợi tối đa cho khách hàng vay vốn Đó là tiền đề đểngân hàng thu hút thêm khách hàng, mở rộng tín dụng Sự hỗ trợ của các phương tiện
kỹ thuật hiện đại còn giúp cho việc thu thập thông tin nhanh chóng, chính xác, côngtác lập kế hoạch, xây dựng chính sách tín dụng cũng có hiệu quả hơn
Chất lượng nhân sự và quản lý nhân sự của ngân hàng: Cho dù khoa học kỹthuật hiện đại đã mở ra cơ hội tự động hóa trong nhiều lĩnh vực song nhân tố cònngười vẫn luôn giữ vai trò quyết định Đặc biệt trong hoạt động tín dụng ngân hàng làhoạt động phức tạp, có liên quan đến nhiều vấn đề của đời sống xã hội thì vai trò củacon người lại càng quan trọng Do đó vấn đề nhân sự là vấn đề cực kỳ quan trọng đốivới mỗi ngân hàng, trong đó nổi bật lên hai vấn đề: chất lượng nhân sự và quản lýnhân sự Chất lượng nhân sự ở đây không chỉ đơn thuần đề cập đến trình độ chuyênmôn mà còn bao gồm cả lương tâm, đạo đức, tác phong, kỷ luật lao động của ngườicán bộ ngân hàng nói chung và cán bộ tín dụng nói riêng Trong đó vấn đề lương tâm
và đạo đức của cán bộ tín dụng là hết sức quan trọng Điều này sẽ ảnh hưởng đến trựctiếp trong quá trình thẩm định tín dụng của Ngân hàng, nếu cán bộ tín dụng có lươngtâm vào đạo đức nghề nghiệp sẽ không dễ bị sa ngã, tránh cho Ngân hàng những hợpđồng tín dụng kém tính khả thi, tránh việc thua lỗ trong hoạt động tín dụng của Ngânhàng Chất lượng nhân sự tốt, biểu hiện ở sự năng động sáng tạo trong công việc, tinhthần trách nhiệm và ý thức tổ chức kỷ luật cao của các cán bộ, trong một chừng mựcnào đó có thể giúp cho ngân hàng bù đắp lại những hạn chế về công nghệ, kỹ thuật,nhờ đó mà ngân hàng vẫn có thể tồn tại và phát triển được cho dù phải cạnh tranh vớinhững đối thủ có tiềm lực mạnh hơn về công nghê, trang thiết bị kỹ thuật Bên cạnhchất lượng nhân sự thì công tác quản lý nhân sự cũng cần đặc biệt chú ý, bởi lẽ khôngphải cứ có cán bộ tín dụng giỏi là có chất lượng tín dụng cao Mỗi cán bộ tín dụng đều
có những điểm mạnh và điểm yếu riêng, điều quan trọng là phải bố trí, sắp xếp côngviệc của họ sao cho phát huy hết thế mạnh và hạn chế điểm yếu của từng người, đồngthời có chế độ đãi ngộ hợp lý nhằm nâng cao tinh thần trách nhiệm, tạo sự phối hợpnhịp nhàng hoạt động của từng thành viên trong một guồng máy thống nhất cùnghướng tới mục tiêu chung là nhu cầu chất lượng tín dụng ngân hàng
1.2.2.2 Nhân tố thuộc về phía khách hàng
Nhu cầu đầu tư của khách hàng: Bất kỳ loại hàng hóa hay dịch vụ nào muốntiêu thụ được thì cần phải có người mua Tín dụng ngân hàng cũng vậy, ngân hàng
Trang 18không thể cho vay nếu như không có người vay Xét trong phạm vi toàn bộ nền kinh tếthì nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển luôn là cần thiết nhưng với từng ngân hàng thìkhông phải lúc nào cũng như vậy Có những lúc nhu cầu đầu tư của khách hàng khôngcao, chẳng hạn trong giai đoạn hoạt động kinh doanh gặp khó khăn, trong trường hợp
đó nhu cầu vay vốn của khách hàng sẽ không cao và do đó ngân hàng sẽ khó khăn nếumuốn mở rộng tín dụng
Khả năng của khách hàng trong việc đáp ứng các điều kiện, tiêu chuẩn tín dụngcủa ngân hàng: Để đảm bảo an toàn, tránh rủi ro khi cho vay, các ngân hàng thườngđặt ra những điều kiện, tiêu chuẩn tín dụng nhằm phân loại, chọn ra những khách hàng
có thể hay không thể cho vay Chỉ những khách hàng nào đáp ứng đầy đủ các yêu cầucủa ngân hàng thì mới được xem xét cho vay Những điều kiện tiêu chuẩn này có thểrất khác nhau tùy theo ngân hàng cụ thể, song nhìn chung các ngân hàng đều quan tâmtới một số vấn đề như sau: tính hợp lý, hợp pháp của mục đích sử dụng vốn, năng lựctài chính, năng lực sản xuất kinh doanh của khách hàng, tính khả thi của dự án, cácbiện pháp đảm bảo Rõ ràng khả năng của khách hàng trong việc đáp ứng các điềukiện, tiêu chuẩn tín dụng sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng tín dụng của ngânhàng Bởi nếu đa số các khách hàng không thể đáp ứng được yêu cầu của ngân hàng,
có thể do điều kiện đặt ra quá khắt khe, không thực tế hoặc do khả năng của các kháchhàng quá thấp, thì ngân hàng không thể mở rộng cho vay trong khi vẫn bảo đảm antoàn tín dụng
Khả năng của khách hàng trong việc quản lý và sử dụng khoản vay có hiệu quả:Khi cho vay thì ngân hàng trông đợi khoản trả nợ sẽ được lấy từ chính kết quả hoạtđộng của dự án chứ không phải bằng cách phát mại tài sản thế chấp, cầm cố Điều nàylại phụ thuộc vào hiệu quả quản lý và sử dụng vốn vay của khách hàng Có nhiều yếu
tố cần thiết để đảm bảo cho việc sử dụng vốn vay của khách hàng có hiệu quả cao,trong đó có một nhân tố giữ vai trò quyết định như năng lực và trình độ quản lý nguồnvốn của khách hàng
1.2.2.3 Nhân tố khách quan khác
Môi trường tự nhiên: nói chung môi trường tự nhiên không tác động trực tiếptới hoạt động tín dụng của ngân hàng mà vai trò của nó thể hiện qua sự tác động đếnhoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng Điều kiện tự nhiên diễn biến thuận lợihay bất lợi sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của khách hàng, do đó ảnhhưởng tới khả năng trả nợ cho ngân hàng
Môi trường kinh tế: là một tế bào trong nền kinh tế, sự tồn tại và phát triển củangân hàng cũng như khách hàng chịu ảnh hưởng rất nhiều của môi trường này Sự biếnđộng của nền kinh tế theo chiều hướng tốt hay xấu sẽ làm cho hiệu quả hoạt động của
Trang 19ngân hàng và khách hàng biến động theo Những tác động do môi trường kinh tế gây
ra có thể là trực tiếp đối với ngân hàng hoặc tác động xấu đến hiệu quả kinh doanh củakhách hàng, qua đó gián tiếp ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng của ngân hàng
Môi trường chính trị, xã hội: sự ổn định của môi trường chính trị, xã hội là mộtcăn cứ quan trọng để ra quyết định của các nhà đầu tư Nếu môi trường này ổn định thìcác nhà đầu tư sẽ yên tâm thực hiện việc mở rộng đầu tư và do đó nhu cầu vốn tíndụng ngân hàng sẽ tăng lên
Môi trường pháp lý không chặt chẽ nhiều khe hở và bất cập sẽ tạo cơ hội chocác nhà đầu tư yếu kém làm ăn bất chính, lừa đảo lẫn nhau và lừa đảo ngân hàng Môitrường pháp lý không chặt chẽ và thiếu sự ổn định cũng khiến các nhà đầu tư trungthực e dè, không dám mạnh dạn đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh do đó hạn chếnhu cầu về vốn tín dụng ngân hàng Hệ thống các văn bản pháp luật và các quy địnhhiện hành nếu thiếu sự hoàn chỉnh, thiếu tính đồng bộ, chồng chéo sẽ gây khó khăncho việc hoạt động sản xuất kinh doanh của các nhà đầu tư, cũng gây khó khăn trongviệc quản lý hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại Ngân hàng là một doanhnghiệp luôn phải hoạt động trong hành lang pháp lý hẹp hơn bất kỳ một doanh nghiệpsản xuất hay thương mại nào Vì vậy, một hệ thống pháp lý càng hoàn chỉnh, đồng bộthì sẽ càng đem lại hiệu quả hoạt động của ngân hàng, của khách hàng và đảm bảođược chất lượng tín dụng của các khách hàng đó với ngân hàng Còn nếu môi trườngpháp lý không hoàn chỉnh, có nhiều lỗ hổng thì kết quả sẽ ngược lại cho cả ngân hàng
và các khách hàng từ đó làm xấu đi chất lượng của các khoản tín dụng của ngân hàngđối với doanh nghiệp
Trong nền kinh tế thị trường các chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước baogồm các chính sách tài chính tiền tệ, chính sách lãi suất, chính sách đối ngoại… có vaitrò quan trọng đối với hoạt động của nền kinh tế nói chung và hoạt động của các ngânhàng, các doanh nghiệp nói riêng Chính sách kinh tế trong hoàn cảnh này thì có tácdụng cho cả ngân hàng và doanh nghiệp nhưng trong hoàn cảnh khác thì ngược lại.Các chính sách này nhằm ưu tiên phát triển hay hạn chế một ngành nào đó để đảm bảocân đối kinh tế Do vậy các chủ trương, chính sách của Nhà nước phải đúng đắn thìmới thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, là điều kiện cần để đạt được chất lượng
và hiệu quả của các khoản tín dụng ngân hàng
Các yếu tố thiên tai: Chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhiều khimang tính thời vụ Trong cơ cấu kinh tế nhiều thành phần của Nhà nước có các doanhnghiệp trong các ngành Nông – Lâm – Ngư nghiệp lại chiếm một tỷ lệ không nhỏ thìyếu tố này rất quan trọng Khi thiên tai xảy ra như: lũ lụt, hạn hán, mưa bão, hỏahoạn… gây ảnh hưởng xấu đến tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, dẫn
Trang 20đến khả năng hoàn trả các khoản nợ là khó khăn hoặc không thể, làm cho chất lượngcủa các khoản tín dụng bị giảm sút.
1.2.3 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng tại ngân hàng thương mại
1.2.3.1 Chỉ tiêu định tính
Tín dụng là một trong những hoạt động mang lại thu nhập chủ yếu cho cácNHTM, song không phải tất cả các NHTM đều thực hiện tốt hoạt động này Một sốngân hàng gặp khó khăn trong việc không thể tìm được dự án thích hợp để cho vayhoặc gặp khó khăn trong việc huy động vốn Vì vậy việc xem xét chất lượng hiệu quảtín dụng là hết sức cần thiết, nó giúp ngân hàng có thể đánh giá lại hoạt động cho vaycủa mình từ đó đưa ra các giải pháp nhằm khắc phục những tồn tại, thiếu sót và đẩymạnh hơn công tác tín dụng của ngân hàng
Để đánh giá chất lượng tín dụng, ngân hàng cần phải xem xét cả những chỉ tiêu về mặtđịnh tính và mặt định lượng Về mặt định tính, các chỉ tiêu được thể hiện qua một sốkhía cạnh sau:
- Chất lượng tín dụng được thể hiện thông qua khả năng đáp ứng tốt nhu cầucủa khách hàng, thủ tục đơn giản, thuận tiện, cung cấp vốn nhanh chóng, kịp thời, antoàn, kỳ hạn và phương thức thanh toán hợp lý, phù hợp với chu kỳ kinh doanh củakhách hàng
- Những ngân hàng có lịch sử hoạt động lâu đời, cơ sở vật chất trang thiết bị tốt,đồng thời ngân hàng tham gia vào nhiều hình thức huy động vốn, đa dạng hóa vàkhông ngừng cung ứng các dịch vụ ngân hàng mới Ngân hàng có tổng nguồn vốn huyđộng lớn, ổn định lượng khách hàng vay đông đảo chứng tỏ ngân hàng có uy tín
- Ngoài ra chất lượng tín dụng còn được xem xét thông qua tình hình hoạt độngsản xuất kinh doanh của ngân hàng, tình hình khai thác tiềm năng của ngân hàng trênđịa bàn hoạt động
Trang 21sao Để đánh giá chất lượng tín dụng của mình thông qua chỉ tiêu định tính, Ngân hàngthường thuê các công ty kiểm toán uy tín.
1.2.3.2 Chỉ tiêu định lượng
Chỉ tiêu định lượng gồm một số tiêu chí cơ bản như sau:
- Doanh số cho vay: là chỉ tiêu phản ánh tất cả các khoản tín dụng mà ngânhàng đã phát ra cho vay trong một khoảng thời gian nào đó, không kể món cho vay đó
đã thu hồi về hay chưa Doanh số cho vay thường được xác định theo tháng, quý, năm
- Doanh số thu nợ: là toàn bộ các món nợ mà ngân hàng đã thu về từ các khoảncho vay của ngân hàng kể cả năm nay và những năm trước đó
- Chỉ tiêu dư nợ
Chỉ tiêu dư nợ = Dư nợ ngắn hạn (hoặc trung – dài hạn)Tổng dư nợ x 100%
Đây là một chỉ tiêu định lượng xác định cơ cấu tín dụng trong trường hợp dư nợđược phân theo thời hạn cho vay (ngắn, trung, dài hạn) Chỉ tiêu này còn cho thấy biếnđộng của tỷ trọng giữa các loại dư nợ tín dụng của một ngân hàng qua các thời kỳ khácnhau
- Nợ quá hạn: là chỉ tiêu phản ánh các khoản nợ khi đến hạn mà khách hàngkhông trả được cho ngân hàng mà không có nguyên nhân chính đáng thì ngân hàng sẽchuyển từ tài khoản dư nợ sang tài khoản quản lý khác gọi là nợ quá hạn Nợ quá hạn
là chỉ tiêu phản ánh chất lượng của nghiệp vụ tín dụng tại ngân hàng
- Tỷ lệ nợ quá hạn
Tỷ lệ nợ quá hạn= Số dư nợ quá hạn x 100%
Tổng dư nợNguyên tắc quan trọng nhất của cho vay là sự hoàn trả, do đó tính an toàn làyếu tố quan trọng bậc nhất để cấu thành chất lượng cho vay Khi một khoản vay khôngđược hoàn trả đúng hạn như đã cam kết, mà không có lý do chính đáng thì nó sẽ viphạm nguyên tắc cho vay quan trọng nhất của Ngân hàng và nó bị chuyển sang nợ quáhạn với lãi suất cao hơn lãi suất bình thường Trên thực tế phần lớn các khoản nợ quáhạn là các khoản nợ có vấn đề , có khả năng mất vốn lớn, có nghĩa là tính an toàn thấp
Tỷ lệ nợ quá hạn phản ánh số dư nợ gốc và lãi đã quá hạn mà chưa thu hồiđược Nợ quá hạn cho biết, cứ trên 100 đồng dư nợ hiện hành có bao nhiêu đồng đãquá hạn, đây là một chỉ tiêu cơ bản cho biết chất lượng hoạt động tín dụng của ngânhàng Tỷ lệ nợ quá hạn cao chứng tỏ chất lượng tín dụng thấp; ngược lại, tỷ lệ nợ quáhạn thấp chứng tỏ chất lượng tín dụng cao
Thông thường thì tỷ lệ nợ quá hạn tốt nhất ở mức ≤ 5% Tuy nhiên, chỉ tiêu nàyđôi khi cũng chưa phản ánh hết chất lượng tín dụng của ngân hàng Bởi vì bên cạnhnhững ngân hàng có được tỷ lệ nợ quá hạn hợp lý do đã thực hiện tốt các khâu trong
Trang 22quy trình tín dụng, còn có những ngân hàng có được tỷ lệ nợ quá hạn thấp thông quaviệc cho vay đảo nợ, không chuyển nợ quá hạn theo quy định.
Nợ quá hạn xuất hiện là do nhiều nguyên nhân, có thể là do ngân hàng khôngxem xét kỹ khoản vay, đánh giá không chính xác thời gian sử dụng vốn cần thiết củangân hàng, có thể do khách hàng gặp khó khăn tạm thời trong việc kinh doanh vì môitrường kinh doanh không thuận lợi, khách hàng cố tình không trả nợ cho ngân hàng…
Vì nhiều nguyên nhân dẫn đến nợ quá hạn nên ta chia nợ quá hạn ra là hai nhóm:
+ Nhóm 1: nợ quá hạn có khả năng thu hồi
Tỷ lệ nợ quá hạn có
khả năng thu hồi =
Số nợ quá hạn có khả năng thu hồi
x 100Tổng số nợ quá hạn
+ Nhóm 2: nợ quá hạn không có khả năng thu hồi
Hai nhóm chỉ tiêu này cho thấy chính xác hơn về mức rủi ro tín dụng của ngânhàng, trong điều kiện nền kinh tế gặp khó khăn thì cho dù ngân hàng có tỷ lệ nợ quáhạn cao nhưng tỷ lệ nợ quá hạn có khả năng thu hồi lớn thì vẫn coi đó là có chất lượngtín dụng ổn định (với giả thiết là các yếu tố khác không đổi) Do đó khi đánh giá chấtlượng tín dụng của ngân hàng người ta thường quan tâm tới nhóm nợ cuối gồm nợnhóm nợ dưới tiêu chuẩn, nợ nghi ngờ, nợ có khả năng mất vốn, vì đây là ba nhóm nợkhông có hoặc ít có khả năng thu hồi, tiềm ẩn nguy cơ mất vốn của ngân hàng Chính
vì thế, việc sử dụng chỉ tiêu này cho phép đánh giá chính xác hơn về chất lượng tíndụng
- Chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn
ổn định về số dư và kỳ hạn, nên năng lực cho vay của một NHTM thường bị giới hạnbởi năng lực huy động vốn Thật là lý tưởng, nếu NHTM chủ động được nguồn vốnhuy động để cân đối nhu cầu cho vay (lúc đó hệ số H1 xấp xỉ bằng 100%) Tuy nhiên,trong thực tế không phải lúc nào và ở đâu ngân hàng cũng tự cân đối được vốn huyđộng để đáp ứng nhu cầu cho vay Hai khả năng trong đó có thể xảy ra là:
Thứ nhất, tại địa bàn hoạt động nhu cầu vay vốn đầu tư là rất lớn, trong khi đókhả năng huy động vốn là rất khó Để giải quyết mâu thuẫn này, buộc ngân hàng phải
Trang 23đi vay từ các ngân hàng khác (hoặc vay trung ương) để cho vay lại Do phải đi vay vớichi phí cao nên có thể làm cho hiệu quả hoạt động của tín dụng giảm Chính vì vậy,giải pháp tốt nhất cho ngân hàng là phải từng bước chủ động cải thiện nguồn vốn huyđộng của mình.
Thứ hai, tại địa bàn hoạt động nhu cầu vay vốn là rất ít, trong khi đó khả nănghuy động vốn lại rất cao Để giải quyết mâu thuẫn này, buộc ngân hàng phải cho cácngân hàng khác (hoặc chuyển về trung ương) vay lại nguồn vốn huy động.Trongtrường hợp này thì hệ số H1 là nhỏ hơn 100% rất nhiều Do phải cho vay lại nguồnvốn huy động với lãi suất thấp nên có thể làm giảm hiệu quả hoạt động của ngân hàng.Chính vì vậy, giải pháp tốt nhất cho ngân hàng là phải chủ động tìm đầu ra (cho vay,đầu tư) để sử dụng hiệu quả nguồn vốn huy động
- Lợi nhuận từ hoạt động tín dụng
Lợi nhuận từ hoạt động
tín dụng/Tổng dư nợ =
Lợi nhuận từ hoạt động tín dụng
x 100Tổng dư nợ
Lợi nhuận từ hoạt động tín dụng của NHTM chiếm từ 70% - 85% lợi nhuận củaNHTM Nếu lợi nhuận của một ngân hàng tăng lên hằng năm, điều đó chứng tỏ chấtlượng tín dụng được nâng lên Chỉ tiêu này phản ánh chênh lệch giữa chi phí đầu vào(lãi suất huy động và thu lãi đầu ra) Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lợi của vốntín dụng, một khoản tín dụng ngắn hạn hay dài hạn không thể xem xét chất lượng của
nó nếu không đem lại lợi nhuận cho ngân hàng Chỉ tiêu này cao chứng tỏ các khoảnvay của ngân hàng sinh lợi và ngược lại, chỉ tiêu này thấp chứng tỏ các khoản vaykhông sinh lợi, đồng thời chất lượng tín dụng chưa được tốt Tuy nhiên, chỉ tiêu nàycũng mang tính chất tương đối, nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: chính sách lãi suất,chính sách khách hành, … Thông thường trong hoạt động ngân hàng, nếu chất lượngtín dụng tốt, tỷ lệ nợ quá hạn thấp thì lợi nhuận từ hoạt động tín dụng sẽ cao hơn khicùng một mức dư nợ so với các ngân hàng khác
- Vòng quay vốn tín dụng
Vòng quay vốn tín dụng = Doanh số thu nợ
Dư nợ bình quân
Dư nợ bình quân =(Dư nợ đầu năm + Dư nợ cuối năm)/2
Hệ số này phản ánh số vòng chu chuyển của vốn tín dụng Vòng quay vốn tíndụng càng cao chứng tỏ nguồn vốn vay ngân hàng đã luân chuyển nhanh, tham gia vàonhiều chu kỳ sản xuất và lưu thông hàng hóa Với một số vốn nhất định, nhưng dovòng quay vốn tín dụng nhanh nên ngân hàng sẽ đáp ứng được nhu cầu vay vốn chokhách hàng tốt hơn Hệ số này càng cao càng tốt, nó phản ánh tình hình quản lý vốntín dụng tốt, chất lượng tín dụng được nâng cao Tuy nhiên, chỉ tiêu này chỉ phản ánh
Trang 24một cách tương đối, vì nếu ngân hàng cho vay các doanh nghiệp sản xuất chiếm tỷtrọng lớn dư nợ, thì chỉ tiêu này sẽ thấp hơn NHTM khác cho vay các doanh nghiệpthương mại Sự khác biệt trong lĩnh vực kinh doanh của khách hàng không thể kết luậnrằng ngân hàng này có vòng quay vốn tín dụng kém ngân hàng kia.
1.2.4 Sự cần thiết phải nâng cao chất lượng tín dụng tại ngân hàng thương mại
Ngân hàng là ngành dịch vụ đã có lịch sử tồn tại và phát triển hàng trăm năm
Nó là ngành mang lại siêu lợi nhuận song đồng thời nó cũng là ngành chịu nhiều rủi
ro Một trong những rủi ro đáng sợ đối với Ngân hàng là rủi ro tín dụng và nó cũng làmột trong những nguyên nhân chính gây ra tình trạng mất khả năng thanh toán củaNgân hàng, bằng chứng là đã xảy ra những cuộc khủng hoảng tài chính trên thế giới
Có thể nói bất kỳ một quốc gia nào trên thế giới cũng có thể lâm và tình trạng đó, vìthế vấn đề nâng cao chất lượng tín dụng không chỉ đối là cần thiết đối với Ngân hàng,với khách hàng mà còn đối với toàn xã hội nữa
1.2.5 Những kinh nghiệm về nâng cao chất lượng tín dụng ở ngân hàng thương mại một số nước và bài học và bài học rút ra để vận dụng ở Việt Nam
1.2.5.1 Kinh nghiệm của Malayxia
Các NHTM đều có quỹ dự phòng chung ít nhất 1% tổng số nợ Ngoài ra còn cóquỹ dự phòng đặc biệt cho các khoản nợ tổn thất và có nghi ngờ
Nợ tổn thất là nợ không có khả năng thu hồi, số tiền này cần được xóa sổ hoặc
1.2.5.2 Kinh nghiệm của Thái Lan
Sau khủng hoảng tài chính năm 1997, Thái Lan đã nhanh chóng đưa ra nhữngbiện pháp cải cách hệ thống ngân hàng nhằm nâng cao chất lượng tín dụng như sau:
- Thứ nhất, Thái Lan đóng cửa 52 chi nhánh ngân hàng và công ty tài chính,tiến hành tổ chức sắp xếp lại các ngân hàng thương mại
- Thứ hai, các NHTM Thái Lan đã cố gắng nâng cao chất lượng tín dụng, phântán rủi ro bằng cách tập trung vào các giải pháp quy định phân loại và lựa chọn kháchhàng; hạn mức cho vay với một khách hàng không quá 25% vốn tự có; các khoản nợngoài bảng tổng kết tài sản hạn chế dưới 25% tổng số vốn; các ngân hàng không đượcđầu tư quá 20% tổng số vốn vào cổ phần, giấy chứng nhận nợ của một công ty; xếploại tài sản có thành ba loại: tổn thất, có nghi ngờ và kém tiêu chuẩn; quỹ dự phòng
Trang 25được lập cho các khoản tín dụng bị xếp loại nghi ngờ ở mức tỷ lệ 50% và mất trắng ởmức 100% Nợ kém tiêu chuẩn ngân hàng được quyền xử lý Ngoài ra chú ý tới cáckhoản nợ cần lưu ý (những khoản nợ tốt hơn khoản nợ kém tiêu chuẩn) để sớm đưa ragiải pháp xử lý, đưa các khoản nợ này trở thành những khoản nợ bình thường Tỷ lệ
dự trữ thanh khoản theo quy định là 7% trong đó 2% tiền gửi tại Ngân hàng Trungương tối đa không quá 2,5% tiền mặt, còn lại dưới dạng chứng khoán, và buộc cácngân hàng bị đóng cửa phải tăng vốn điều lệ lên 15% tổng nguồn vốn thì mới có thểtiếp tục hoạt động
- Thứ ba, Chính phủ tiếp hành thành lập cơ quan tái cơ cấu tài chính (FinancialSector Restructuring Agency – FRA) để quản lý thanh khoản cho 58 chi nhánh ngânhàng và các công ty tài chính có vấn đề FRA có nhiệm vụ đảm bảo an toàn cả vốn lẫnlãi cho người gửi tiền, đồng thời thành lập công ty quản lý tài sản (Asset ManagementCompany - AMC) có trách nhiệm quản lý các khoản nợ khó đòi, tiến hành xử lý thunợ
Với những kiên quyết trong cải cách ngân hàng theo “Cơ chế cứu hộ” củaChính phủ đồng thời với sự trợ giúp của IMF 17,2 tỷ USD đã giúp Thái Lan phục hồisau khủng hoảng
1.2.5.3 Kinh nghiệm của Hàn Quốc
Sau khủng hoảng tài chính Đông Nam Á, Hàn Quốc tích cực cải tổ hệ thốngngân hàng, cơ cấu lại các công ty các tập đoàn lớn như sau:
- Tiến hành đóng cửa 16 ngân hàng thương mại và các công ty tài chính thiếuvốn
- Bán 51% Korea First Bank cho New Bridge Bank (Mỹ), 70% Seoul Bank choHong Kong – Shanghai Bank Cooperation
- Thành lập công ty quản lý tày sản (Korean Asset Management KAMKO) với số vốn 21.000 tỷ Won tương đương 5% GDP, tiến hành mua lại nợ khóđòi từ các Ngân hàng năm 1998 là 12.600 tỷ Won, 1999 là 15.400 tỷ Won
Company Tiến hành tự do hóa cán cân thanh toán vốn, khuyến khích tư bản nước ngoàimua lại các doanh nghiệp trong nước, mở cửa 11 trong 42 ngành mà không cho phépnước ngoài đầu tư vào, tự do hóa việc vay vốn ngắn hạn của các doanh nghiệp, chophép người nước ngoài mua sắm bất động sản trong nước
- Cải cách công tác quản trị ngân hàng và doanh nghiệp từng bước hạn chếphương thức thống trị gia đình, bãi bỏ quy định không cho người nước ngoài làm giámđốc, doanh nghiệp phải công bố công khai thông tin tài chính
1.2.5.4 Kinh nghiệm của Trung Quốc
Từ năm 1998, Trung Quốc tiến hành cơ cấu lại hệ thống NHTM và doanhnghiệp Nhà nước trong thời gian 3 năm, nhằm nâng cao chất lượng tín dụng ngânhàng, cụ thể:
- Bán hàng loạt các doanh nghiệp yếu kém, tách khoản nợ của doanh nghiệpNhà nước ra khỏi bảng cân đối kế toán của ngân hàng
Trang 26- Xóa bỏ các chi nhánh thua lỗ của các ngân hàng thương mại quốc doanh,thành lập các NHTM cổ phần địa phương ở 300 thành phố.
- Tháng 4/1999 Trung Quốc thử nghiệm thành lập công ty xử lý tài sản thế chấp
để thu hồi nợ cho ngân hàng, công ty CINDA có trách nhiệm thu các khoản nợ khó đòilên đến 363,2 triệu USD của Ngân hàng Xây dựng Trung Quốc Tháng 10/1999 mộtcông ty xử lý tài sản thứ hai ra đời để xử lý nợ khó đòi của NHTM Qua thí điểm thànhcông Trung Quốc đã mạnh dạn chuyển giao toàn bộ số nợ khó đòi lên đến 299 tỷ USDtương đương 20% GDP cho các công ty xử lý của 4 NHTM lớn nhất đó là: Ngân hàngXây dựng Trung Quốc (China Construction bank), Ngân hàng Trung Quốc (Bank òChina), Ngân hàng Công thương Trung Quốc (Industrial and Commercial Bank ofChina), Ngân hàng Nông nghiệp Trung Quốc (Agriculture Bank of China)
1.2.5.5 Kinh nghiệm của Citibank
Trong môi trường hoạt động ngân hàng, Citibank đã xây dựng một khung quản
lý rủi ro, trong đó bao gồm các chính sách tín dụng được tuyên bố một cách rõ ràng,quy trình quản lý rủi ro, các công cụ và nguồn tin cần thiết để ra quyết định, về độingũ nhân sự có cùng một sự hiểu biết, một ngôn ngữ chung, trách nhiệm về vai trò của
họ trong quy trình tín dụng Khi những yếu tố này được hội tụ một cách đầy đủ sẽ tạo
ra trong ngân hàng một văn hóa tín dụng hiệu quả
Mô hình tín dụng thương mại được tiêu chuẩn hóa và phải trải qua 3 giai đoạncủa quá trình xét duyệt: gặp gỡ khách hàng, thẩm định, thực hiện giao dịch
Ba giai đoạn trong chính sách tín dụng chủ chốt của Citibank bao gồm: hìnhthành chiến lược và kế hoạch cho vay, tiến hành cho vay khách hàng, đánh giá và báocáo thực thi Trong các giai đoạn này trách nhiệm của các bộ phận tham gia được thểhiện một cách cụ thể, rõ ràng như sau:
Ủy ban quản lý thực hiện các nhiệm vụ: thiết lập mục tiêu hoạt động và tiêuchuẩn danh mục đầu tư đối với ngân hàng, đặt hạn mức tín dụng đối với Ủy ban chínhsách tín dụng
Ủy ban chính sách tín dụng thực hiện các nhiệm vụ sau: Đặt ra hạn mức tíndụng cùng với Ủy ban quản lý, xây dựng chính sách tín dụng, quản lý và đánh giádanh mục đầu tư và quản trị rủi ro
Bộ phận quản trị rủi ro thực thi các nhiệm vụ: lập ra chiến lược kinh doanh,nhận định thị trường mục tiêu và mức chấp nhận rủi ro, gặp gỡ khách hàng và đánh giárủi ro, xét duyệt dư nợ rủi ro, theo dõi việc hoàn trả và các hồ sơ tín dụng, theo dõi vàduy trì giao dịch, giải ngân cho nhà đầu tư: theo dõi các vấn đề phát sinh trong quátrình tín dụng; xúc tiến tiến độ khoản vay
1.2.5.6 Bài học rút ra vận dụng để nâng cao chất lượng tín dụng ở Việt Nam
Vấn đề chất lượng tín dụng là vấn đề quan trọng hàng đầu đối với NHTM CácNHTM trong hoạt động tín dụng phải chú trọng tăng cường công tác thu thập thông
Trang 27tin, sàng lọc những thông tin tin cậy để có những quyết định cho vay đúng đắn, tránhrủi ro đáng tiếc có thể xảy ra.
Trích lập quỹ dự phòng rủi ro theo đúng quy định
Nâng cao trình độ chuyên môn cũng như kiến thức xã hội cho cán bộ công nhânviên
Áp dụng khoa học công nghệ kĩ thuật hiện đại vào dịch vụ ngân hàng tăngcường công tác kiểm tra, giám sát một cách chặt chẽ
Trong điều kiện hiện nay, để có thể hội nhập với nền kinh tế thế giới thì việctham khảo kinh nghiệm của ngân hàng các nước là cần thiết để tìm ra giải pháp nângcao chất lượng tín dụng cho NHTM Việt Nam
Trang 28CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN CHI NHÁNH MỸ LỘC
2.1 Giới thiệu khái quát về Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Chi nhánh Mỹ Lộc
2.1.1 Tổng quan về Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam
Năm 1988, Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp Việt Nam được thành lập theoNghị định số 53/HĐBT ngày 26/3/1988 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) vềviệc thành lập các ngân hàng chuyên doanh, trong đó có Ngân hàng Phát triển Nôngnghiệp Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn
Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp hình thành trên cơ sở tiếp nhận từ Ngânhàng Nhà nước: tất cả các chi nhánh Ngân hàng Nhà nước huyện, Phòng Tín dụngNông nghiệp, quỹ tiết kiệm tại các chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố.Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp TW được hình thành trên cơ sở tiếp nhận Vụ Tíndụng Nông nghiệp Ngân hàng Nhà nước và một số cán bộ của Vụ Tín dụng Thươngnghiệp, Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng,Vụ kế toán và một số đơn vị
Ngày 14/11/1990, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ)
ký Quyết định số 400/CT thành lập Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam thay thế Ngânhàng Phát triển Nông nghiệp Việt Nam Ngân hàng Nông nghiệp là Ngân hàng thươngmại đa năng, hoạt động chủ yếu trên lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, là một phápnhân, hạch toán kinh tế độc lập, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về hoạt động của mìnhtrước pháp luật
Ngày 15/11/1996, được Thủ tướng Chính phủ ủy quyền, Thống đốc Ngân hàng
Nhà nước Việt Nam ký Quyết định số 280/QĐ-NHNN đổi tên Ngân hàng Nôngnghiệp Việt Nam thành Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Việt Nam,tên tiếng anh là Agribank Việt Nam
Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Việt Nam là Ngân hàng lớnnhất Việt Nam cả về vốn, tài sản, đội ngũ cán bộ nhân viên, mạng lưới hoạt động và sốlượng khách hàng Tính đến 31/10/2012, vị thế dẫn đầu của Agribank vẫn được khẳngđịnh với trên nhiều phương diện:
Tổng tài sản: trên 560.000 tỷ đồng
Tổng nguồn vốn: trên 513.000 tỷ đồng
Vốn điều lệ: 29.605 tỷ đồng
Tổng dư nợ: trên 469.000 tỷ đồng
Trang 29Mạng lưới hoạt động: gần 2.400 chi nhánh và phòng giao dịch trên toàn quốc,Chi nhánh Campuchia.
Nhân sự gần 42.000 cán bộ
Agribank luôn chú trọng đầu tư đổi mới và ứng dụng công nghệ ngân hàng phục vụđắc lực cho công tác quản trị kinh doanh và phát triển màng lưới dịch vụ ngân hàngtiên tiến Agribank là ngân hàng đầu tiên hoàn thành Dự án Hiện đại hóa hệ thốngthanh toán và kế toán khách hàng (IPCAS) do Ngân hàng Thế giới tài trợ Với hệthống IPCAS đã được hoàn thiện, Agribank đủ năng lực cung ứng các sản phẩm, dịch
vụ ngân hàng hiện đại, với độ an toàn và chính xác cao đến mọi đối tượng khách hàngtrong và ngoài nước Hiện nay, Agribank đang có hàng triệu khách hàng là hộ sảnxuất, hàng chục ngàn khách hàng là doanh nghiệp
2.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Chi nhánh Mỹ Lộc
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Chi nhánh Mỹ Lộc (viết tắt làNHNo&PTNT Mỹ Lộc hoặc NHNo huyện Mỹ Lộc) là ngân hàng loại III có tiền thân
là một phòng giao dịch trực thuộc NHNo&PTNT huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam Saukhi Nhà nước phân bố lại địa giới hành chính cơ cấu tái lập lại các tỉnh - thành phố,NHNo&PTNT Mỹ Lộc được tái thành lập trực thuộc là một đơn vị thành viên củaNHNo&PTNT tỉnh Nam Định, chính thức đi vào hoạt động từ tháng 5 năm 1997 cótrụ sở đóng tại Km số 5 – đường 21A – xã Mỹ Hưng – huyện Mỹ Lộc – tỉnh NamĐịnh
Do nhu cầu phát triển hoạt động kinh doanh, từ ngày 01 tháng 05 năm 2009NHNo&PTNT Mỹ Lộc chuyển về trụ sở mới đóng tại Km số 7 - đường 21A – thị trấn
Mỹ Lộc – huyện Mỹ Lộc – tỉnh Nam Định là nơi tập trung đông dân cư và là trungtâm văn hóa, kinh tế, xã hội của toàn huyện
Đồng thời thực hiện Quyết định 608/QĐ-HĐQT-TDHo ngày 09/06/2010 củahội đồng quản trị NHNo&PTNT Việt Nam và QĐ 108 của giám đốc NHNo&PTNTkhu công nghiệp Hòa Xá ngày 20/07/2010 về việc chấp thuận mở Phòng giao dịch(PGD) Đặng Xá bộ phận phụ thuộc CN NHNo&PTNN Mỹ Lộc trực thuộcNHNo&PTNT khu công nghiệp Hòa Xá PGD Đặng Xá chính thức đi vào hoạt động
Trang 30+ Khai thác và nhận tiền gửi của các tổ chức, cá nhân và tổ chức tín dụng dướihình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và các loại tiền gửi khác trong vàngoài nước bằng Việt Nam Đồng và ngoại tệ.
+ Phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu, kỳ phiếu và giấy tờ có giá khác đểhuy động vốn các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo quy định củaNHNo&PTNT Việt Nam
+ Việc huy động vốn có thể bằng Việt Nam Đồng, ngoại tệ, vàng và các công
cụ theo quy định của NHNo&PTNT Việt Nam
+ Các quy định huy động vốn khác theo quy định của NHNo&PTNT ViệtNam
- Cho vay:
+ Cho vay ngắn hạn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh dịch
vụ, đời sống cho các tổ chức, cá nhân và hộ gia đình thuộc mọi thành phần kinh tế theophân cấp ủy quyền
+ Cho vay trung, dài hạn nhằm thực hiện các dự án đầu tư phát triển các dự ánsản xuất, kinh doanh dịch vụ, đời sống cho các tổ chức, cá nhân và hộ gia đình thuộcmọi thành phần kinh tế theo phân cấp ủy quyền
- Cung ứng các dịch vụ thanh toán và ngân quỹ gồm:
+ Cung ứng các phương tiện thanh toán
+ Thực hiện các dịch vụ thanh toán trong nước cho khách hàng
+ Thực hiện các dịch vụ thu chi hộ
+ Thực hiện các dịch vụ thu và phát tiền mặt cho khách hàng
+ Thực hiện các dịch vụ thanh toán khác theo quy định
- Kinh doanh các dịch vụ ngân hàng khác theo luật các tổ chức tín dụng gồm:thu và phát tiền mặt, mua bán vàng bạc đá quý, máy rút tiền tự động, dịch vụ thẻ, kétsắt, nhận bảo quản, cất giữ, chiết khấu thương phiếu và các loại giấy tờ có giá khác,thẻ thanh toán, nhận ủy thác cho vay của các tổ chức tín dụng, tài chính, tổ chức cánhân trong và ngoài nước, cho thuê tài chính và các dịch vụ ngân hàng khác được phépcủa Ngân hàng Nhà nước, NHNo&PTNT cho phép
- Hướng dẫn khách hàng xây dựng dự án thẩm định các dự án tín dụng vượtquyền phán quyết, trình chi nhánh cấp trên
- Kinh doanh ngiệp vụ ngoại hối khi được phép
- Thực hiện hạch toán kinh doanh và phân phối thu nhập theo quy định củaTổng Giám đốc NHNN Việt Nam
- Thực hiện kiểm tra kiểm toán nội bộ
- Tổ chức thực hiện phân tích tình hình kinh tế liên quan tới hoạt động tiền tệ,tín dụng và đề ra kế hoạch kinh doanh phù hợp với kế hoạch kinh doanh của chi nhánhcấp trên và kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của địa phương,
- Chấp hành đầy đủ các báo cáo thống kê theo chế độ quy định
- Thực hiện công tác thông tin tuyên truyền quảng cáo tiếp thị phục vụ cho việckinh doanh của Chi nhánh và việc quảng bá thương hiệu NHNo&PTNT Việt Nam
Trang 31- Được bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh đảm bảo chấtlượng sản phẩm, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh hoàn thanh toán, bảo lãnh đối ứng vàcác hình thức bảo lãnh ngân hàng khác.
- Thực hiện các nghiệp vụ khác theo quy định của NHNN Việt Nam
Cán bộ ngân hàng tích cực tuyên truyền đường lối chính sách của Đảng và Nhànước, chế độ cho vay cũng như các hình thức gửi tiết kiệm làm cho mọi người dânhiểu rõ được công tác hoạt động của NHNo&PTNT Mỹ Lộc
Là một ngân hàng thương mại đóng trên địa bàn huyện dưới sự chỉ đạo trực tiếpcủa NHNo&PTNT tỉnh Nam Định, NHNo&PTNT Mỹ Lộc có những biện pháp quản
lý và cơ chế thích hợp để mang lại hiệu quả trong công tác cho vay và huy động vốntrên địa bàn phần lớn là nông nghiệp
Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ ngân hàng, mọi dịch vụ phục vụkhách hàng của NHNo&PTNT Mỹ Lộc cũng được nâng cao như mở tài khoản chokhách hàng giao dịch nội tệ, ngoại tệ, chuyển tiền đi khắp nơi trên toàn quốc nhanhchóng thuận tiện Đội ngũ cán bộ công nhân viên có trình độ cao đáp ứng nhu cầu kinhdoanh của đơn vị
2.1.3 Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình hoạt động
2.1.3.1 Đặc điểm tự nhiên – kinh tế xã hội
Mỹ Lộc là một huyện có diện tích tự nhiên cũng như đơn vị hành chính ít nhấttrong 9 huyện của tỉnh Nam Định Huyện Mỹ Lộc là một huyện đồng bằng ở phía bắctỉnh Nam Định được thành lập từ sự sát nhập của 3 xã ngoại thành Nam Định và 8 xãthuộc huyện Bình Lục - tỉnh Hà Nam Nơi đây địa hình thấp, bằng phẳng, đất phù savới sông Hồng và sông Đào chảy qua là cơ sở cho việc trồng lúa và màu trên địa bànhuyện Các ngành kinh tế chính của huyện là cơ khí sửa chữa, vật liệu xây dựng, chếbiến thực phẩm Đặc biệt Mỹ Lộc là huyện cửa ngõ của thành phố Nam Định, có cáctrục giao thông chính bao gồm cả đường bộ, đường sắt, đường thủy
Năm 1997, khi tái lập, các doanh nghiệp đóng trên địa bàn hầu như không có.Sản phẩm công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp chủ yếu nằm rải rác tại các hộ kinhdoanh nhỏ lẻ và các làng nghề truyền thống như: dệt may, mây tre đan, mộc mỹ nghệ,sản xuất quy mô nhỏ, tỷ trọng công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp thấp Sau 15 năm táilập, Mỹ Lộc đã có Khu công nghiệp Mỹ Trung đang đầu tư xây dựng Huyện cũngđang hoàn thiện quy hoạch Khu công nghiệp Mỹ Thuận có quy mô 150 ha Đó là nỗlực của huyện nhằm đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế Trong giai đoạn tới, côngnghiệp huyện sẽ có nhiều khởi sắc
Trang 322.1.3.2 Cơ chế chính sách của Đảng và Nhà nước của ngành Ngân hàng có tác động đến hoạt động kinh doanh
Cơ chế chính sách của Đảng, Nhà nước và của ngành Ngân hàng hoàn thiệnhơn, các văn bản, quy định được thể chế hoá hướng dẫn cụ thể hơn Ngân hàng cấptrên điều hành linh hoạt chính sách lãi suất phù hợp theo từng thời kì đã tháo gỡ đượcnhiều khó khăn vướng mắc, tạo điều kiện cho Ngân hàng cơ sở chủ động trong hoạtđộng kinh doanh và mang lại nhiều hiệu quả thiết thực, nâng cao được trách nhiệm củatập thể, cá nhân hạn chế được nhiều sai sót, rủi ro trong hoạt động kinh doanh
- Khó khăn
Do suy thoái kinh tế thế giới đã làm ảnh hưởng tới nền kinh tế trong nước, giá
cả một số mặt hàng thiết yếu tăng vọt như giá vàng, giá xăng dầu, vật liệu xây dựng vàchỉ số giá tiêu dùng tăng mạnh Ngân hàng nhà nước thực hiện chính sách thắt chặt tíndụng, thay đổi lãi suất cơ bản làm cho tâm lý nhân dân lo ngại ảnh hưởng không nhỏđến huy động vốn và đầu tư tăng trưởng tín dụng Bên cạnh những khó khăn nêu trêncòn phải tập trung chỉ đạo và thực hiện chủ trương hiện đại hoá hoạt động Ngân hàng
- Các cơ chế nghiệp vụ và chỉ đạo điều hành của Ngân hàng tỉnh Nam ĐịnhNgân hàng tỉnh có nhiều chủ trương chỉ đạo, điều hành kinh doanh kịp thời,linh hoạt đối với các Ngân hàng cơ sở ở tất cả các mặt nghiệp vụ Đặc biệt cơ chế điềuhành kế hoạch như điều hành cơ chế lãi suất, hướng dẫn thực hiện lãi suất, có nhiềugiải pháp đột phá, mạnh dạn đưa ra các sản phẩm, dịch vụ để cạnh tranh với thị trường
và chiếm lĩnh thị phần, mặt khác còn có các biện pháp quản lý, ngăn chặn có hiệu quảcác hiện tượng vi phạm cơ chế điều hành, vi phạm quy trình nghiệp vụ ở các Ngânhàng cơ sở, các phòng ban đã có sự phối kết hợp để hướng dẫn các mặt nghiệp vụ, tổchức kiểm tra giải quyết kịp thời các sai sót ở cơ sở không để ảnh hưởng đến hoạtđộng kinh doanh đến mức phải xử lý
- Các yếu tố cạnh tranh trên địa bàn
Về nguồn vốn, trên địa bàn có các tổ chức khác cùng huy động vốn là Ngânhàng chính sách xã hội, kho bạc nhà nước, bưu điện, bảo hiểm nhân thọ
Đối với Ngân hàng chính sách xã hội cũng thường xuyên tổ chức huy độngthông qua các tổ tiết kiệm và vay vốn, lãi suất huy động so với lãi suất Ngân hàngkhông chênh lệch Về môi trường huy động, Ngân hàng chính sách xã hôi được cấp ủy– chính quyền tạo điều kiện hơn so với Ngân hàng nông nghiệp
Trang 33Đối với bưu điện cũng thực hiện chức năng huy động vốn, thời gian huy độngcũng thường xuyên như Ngân hàng nếu so sánh lãi suất huy động của bưu điện caohơn so với lãi suất Ngân hàng từ 0.02% - 0.05%/tháng, mạng lưới huy động được tổchức trực tiếp đến các điểm xã.
Về khách hàng vay vốn và dư nợ tín dụng khách hàng đang có dư nợ Ngânhàng nông nghiệp hiện nay hơn 90% là khách hàng thuộc vùng 2 và vùng 3, đến nayNgân hàng chính sách xã hội đã cho vay hơn 40% khách hàng không thuộc tiêu chí hộnghèo trên địa bàn
Về hoạt động dịch vụ, ngành bưu điện cũng tham gia dịch vụ chuyển tiền và cónhững lợi thế nhất định vì tại các xã, bưu điện đều có điểm giao dịch rất thuận lợi đốivới nhân dân nên ít nhiều hoạt động dịch vụ có những chi phối ảnh hưởng
- Những ảnh hưởng từ điều kiện thực tế của ngân hàng
Thời tiết diễn biến phức tạp, bệnh dịch làm ảnh hưởng tới sản xuất và đời sốngcủa nhân dân, chỉ số giá tiêu dùng tăng vọt làm cho một số mặt hàng thiết yếu tăngtheo tác động mạnh đến chi phí của người sản xuất từ đó làm cho hoạt động của Ngânhàng bị chi phối ảnh hưởng đến kết quả hoạt động kinh doanh
Các mô hình sản xuất trên địa bàn hình thành chưa rõ nét do đó dẫn đến quy môđầu tư và cơ cấu vốn đầu tư chưa tập trung còn bị động
Đời sống nhân dân trên địa bàn còn nghèo, mặt bằng thu nhập bình quân đầungười còn thấp, mức sống ở vùng nông thôn so với vùng thị trấn trên cùng địa bàn còn
có khoảng cách chênh lệch tương đối lớn
Nguồn vốn tự huy động tại địa phương luôn luôn gặp khó khăn do cơ chế lãi suất, thunhập của nhân dân, sự quan tâm của cấp uỷ - chính quyền một số cơ sở, sự phối kếthợp của các tổ chức đoàn thể xã hội chưa tốt nên nguồn vốn tự huy động còn nhiềuhạn chế
2.1.4 Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý
Trang 34Hình 2.1 Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý
Trang 37Chức năng, nhiệm vụ của từng bộ phận:
- Các phòng ban bao gồm:
+ Phòng kế hoạch – kinh doanh bao gồm 14 người trong đó có 1 trưởngphòng, 1 phó phòng đồng thời kiêm cán bộ tín dụng Phòng tín dụng mang lại nguồnthu chủ yếu cho NHNo&PTNT, nghiên cứu xây dựng chiến lược khách hàng tín dụng,phân loại khách hàng, đề xuất các chính sách ưu đãi đối với từng loại khách hàng Mởrộng theo hướng đầu tư tín dụng khép kín: sản xuất, tiêu thụ, chế biến, xuất khẩu, gắntín dụng đối với sản xuất, lưu thông và tiêu dùng Phân tích kinh tế theo ngành, nghềkinh tế kỹ thuật, danh mục khách hàng lựa chọn biện pháp cho vay an toàn và đạt hiệuquả cao Thẩm định và đề xuất cho vay các dự án tín dụng theo phân cấp uỷ quyền.Thẩm định các dự án, hoàn thiện hồ sơ trình ngân hàng cấp trên Tiếp nhận và thựchiện các dự án thuộc nguồn vốn trong và ngoài nước Trực tiếp làm dịch vụ uỷ thácnguồn vốn Chính phủ, bộ ngành khác Thường xuyên phân loại nợ, phân tích nợ quáhạn tìm nguyên nhân và đề xuất hướng khắc phục Tổng hợp, báo cáo và kiểm trachuyên đề theo quy định
+ Phòng kế toán – ngân quỹ: có khối lượng khách hàng giao dịch đông
và thường xuyên hàng ngày, yêu cầu trình độ, nhanh chóng và chính xác cao Phòngbao gồm 13 người có 1 trưởng phòng, 1 phó phòng và 1 trưởng quỹ Phòng kế toán –ngân quỹ trực tiếp hạch toán kế toán, hạch toán thống kê và thanh toán theo quy định.Xây dựng các chỉ tiêu kế hoạch tài chính, quyết toán kế hoạch thu chi, quỹ tiền lương.Quản lý các quỹ chuyên dùng theo quy định Tổng hợp lưu trữ hồ sơ tài liệu về hạchtoán kế toán, quyết toán và các báo cáo theo quy định Thực hiện nghiệp vụ thanh toántrong và ngoài nước, chấp hành an toàn kho quỹ và định mức tồn quỹ theo quy định.Quản lý sử dụng thiết bị thông tin, điện toán và các nhiệm vụ khác Quản lý tài sản,tiền gửi, tiền vay của các cá nhân đơn vị, thực hiện các nghiệp vụ thanh toán liên ngânhàng trong hệ thống và ngoài hệ thống, thực hiện cơ chế tài chính của ngành theo cácvăn bản chế độ hiện hành Phân tích tài chính, cung cấp số liệu chính xác kịp thời cholãnh đạo trong khâu chỉ đạo kinh doanh
+ Phòng hành chính: có nhiệm vụ quản lý hoạt động của Ngân hàng,công tác quản trị hành chính, công tác văn thư, lưu trữ
- Phòng giao dịch Đặng Xá là một bộ phận trực thuộc NHNo&PTNT Mỹ Lộc
Trang 38+ Đứng đầu phòng giao dịch là giám đốc phòng giao dịch có nhiệm vụđiều hành, kiểm tra giám sát tình hình hoạt động của phòng giao dịch theo sự chỉ đạocủa ban giám đốc.
+ Cơ cấu phòng giao dịch gồm 2 tổ: tổ tín dụng và tổ kế toán – ngân quỹ
có nhiệm vụ và tổ chức giống như phòng kế hoạch – kinh doanh và phòng kế toán –ngân quỹ nhưng quy mô và địa bàn hoạt động hẹp hơn
+ Các tổ thu lưu động do giám đốc ngân hàng kí quyết định thành lập,gồm 3 thành viên: 1 cán bộ làm nghiệp vụ tín dụng là tổ trưởng, 1 cán bộ làm nghiệp
vụ kế toán,1 cán bộ làm nghiệp vụ thủ quỹ Tổ thu lưu động có nhiệm vụ: nhận vàthẩm định hồ sơ vay vốn, thực hiện giải ngân cho khách hàng theo hồ sơ được giámđốc chi nhánh phê duyệt, vào các ngày thu bàn tại địa phương, tiến hành thu nợ, thu lãitheo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng, sổ vay vốn
Vấn đề lao động là vấn đề mà ban lãnh đạo ngân hàng rất quan tâm Cùng với
sự quyết tâm và phấn đấu của ban lãnh đạo cơ quan đến nay NHNo&PTNT Mỹ Lộc đãcó:
- Biên chế:
Với tổng biên chế là 34 cán bộ công nhân viên trong đó:
+ Phòng kế toán – ngân quỹ 09 người = 26,5%