Trong quá trình dạy trên lớp thì Gv vận dụng thơ Trần Đăng Khoa để dạy kiểu bài kể chuyện TT và miêu tả Sáng tạo vì không có 1 nhà thơ nào có trí tưởng tượng bay bổng, phong phú như TĐK.
Trang 1VÀI KINH NGHIỆM NHỎ HSG 6:
1. Nhiều GV cho rằng, bồi dưỡng HSG 6 dễ hơn 7,8,9 nhưng
cá nhân mình lại thấy ngược lại Bởi vì nếu xét ở góc độ kiến thức thì lớp 6 rất đơn giản nhưng để bồi dưỡng các em đạt thì khó hơn các lớp khác Cái khó đầu tiên là các em còn rất “non”, lớp 6 mới chỉ làm quen với cách học mới vì thế mình xin chia sẻ mấy kinh nghiệm nhỏ sau với hi vọng giúp được phần nào cho đồng nghiệp.
2 Tập trung luyện viết thay vì dạy nhiều lí thuyết vì lí thuyết 6 rất đơn giản.
3 Tập trung Kể tưởng tượng nhiều, kể tưởng tượng hay kể đời thường thì cũng giống nhau ở chỗ là: đều có nhân vật, sự việc, các sự việc nối tiếp nhau (diễn biến) dẫn đến két thúc có ý nghĩa
4 Nay thực hiện theo thông tư mới nên số bài kiểm tra giảm, số tiết thực hàn, luyện tập tăng thầy cô nên tận dụng thời gian này để cho các
em làm bài
5 Sau 1 buổi ôn thì cho các em 2 đề về nhà làm sau mấy hôm nạp , gv chấm sửa cẩn thận để rút kinh nghiệm ở buổi sau Trong một đội tuyển không nên cho 1 đề mà cho làm nhiều để Thường thứ cứ 2 bạn làm chung một đề để Gv dễ so sánh, chọn lọc.
6 Trong quá trình dạy trên lớp thì Gv vận dụng thơ Trần Đăng Khoa để dạy kiểu bài kể chuyện TT và miêu tả Sáng tạo vì không có 1 nhà thơ nào có trí tưởng tượng bay bổng, phong phú như TĐK.
7 Đừng chờ nhà trường lên lịch bồi dưỡng, cứ có thời gian là gọi các em đi học.
8 Khen nhiều hơn chê, tìm điểm tiến bộ để khen các em đơn giản
vì ai cũng thích khen ngợi cả.
9 Cứ cho điểm 8,9, 10 đừng hạn chế điểm, đừng tiếc điểm số Chúng ta đi dạy thì nhận lương còn HS đi học thì nhận điểm thế thôi.
Trang 210 Thỉnh thoảng mời các em đi ăn cốc chè, cây kem hoặc mua gói bánh để động viên các em, vì dù sao các em cũng còn rất hồ nhiên nên được thầy cô mời là một điều khích lệ lớn.
11 Ra đề về nhà nhưng GV vẫn trao thưởng kiểu giải nhất, nhì để tạo động lực (Mục này tùy vào điều kiện của GV, phần thưởng đơn giản chỉ
và 1 gói bánh thôi…)
12 Ra phần thưởng cho các em nếu đỗ hoặc đạt giải nhất, nhì, ba….
I Phần đọc hiểu (4 điểm)
Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu sau:
CÂY DỪA
“Cây dừa xanh tỏa nhiều tàu, Dang tay đón gió, gật đầu gọi trăng Thân dừa bạc phếch tháng năm, Quả dừa - đàn lợn con nằm trên cao.
Đêm hè hoa nở cùng sao, Tàu dừa - chiếc lược chải vào mây xanh,
Ai mang nước ngọt, nước lành,
Ai đeo bao hũ rượu quanh cổ dừa.
Tiếng dừa làm dịu nắng trưa, Gọi đàn gió đến cùng dừa múa reo.
Trời trong đầy tiếng rì rào, Đàn cò đánh nhịp bay vào bay ra.
Đứng canh trời đất bao la,
Mà dừa đủng đỉnh như là đứng chơi.”
(Trần Đăng Khoa, “Góc sân và khoảng
trời”) Câu 1 Xác định những phương thức biểu đạt được sử dụng trong văn bản trên?
Câu 2 Những biện pháp tu từ nào được tác giả sử dụng trong văn bản trên? Mỗi biện pháp tu từ lấy 1 ví dụ cụ thể.
Trang 3Câu 3 Nêu nội dung của văn bản trên.
Câu 4 Bài thơ được viết theo thể thơ nào? Nêu đặc điểm của thể thơ đó.
Câu 5 Hình ảnh cây dừa gợi cho em những cảm xúc gì về thiên nhiên đất nước, con người Việt Nam?
Phần II Làm văn: (16 điểm)
Câu 1: (4.0 điểm )
Mưa xuân Không phải mưa Đó là sự bâng khuâng gieo hạt xuống mặt đất nồng ấm, mặt đất lúc nào cũng phập phồng, như muốn thở dài vì bổi hổi, xốn xang , Hoa xoan rắc nhớ nhung xuống cỏ non ướt đẫm Đồi đất đỏ lấm tấm một thảm hoa trẩu trắng.
(Vũ Tú Nam )
Xác định và phân tích giá trị của các từ láy có trong đoạn văn trên để thấy được những cảm nhận hết sức tinh tế của nhà văn Vũ Tú Nam về mưa xuân
Câu 2 : (12 điểm): Đọc bài ca dao sau dao sau đây:
Con cò mà đi ăn đêm,
Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao.
Ông ơi ông vớt tôi nao,
Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng.
Có xáo thì xáo nước trong, Đừng xáo nước đục đau lòng cò con.
Hãy tưởng tượng và viết thành một câu truyện ngắn?
Trang 4
-UBND HUYỆN …
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
-HƯỚNG DẪN CHẤM THI CHỌN HSG
MÔN: NGỮ VĂN 6
1 Phương thức biểu đạt của văn bản: miêu tả và biểu cảm.
2 - Nội dung văn bản: Với cách nhìn của trẻ em, nhà thơ trẻ Trần Đăng Khoa
đã miêu tả cây dừa giống như con người luôn gắn bó với đất trời và thiên nhiên.
- Chủ đề văn bản: Qua việc miêu tả cây dừa, tác giả Trần Đăng Khoa ca ngợi vẻ đẹp nên thơ, đáng yêu của vườn quê, của thiên nhiên, của con người Việt Nam.
4 - Cây dừa được tả bằng những hình ảnh đẹp:
+ Hình ảnh nên thơ: “Dang tay đón gió, gật đầu gọi trăng”; “Đêm hè hoa nở
cùng sao, Tàu dừa - chiếc lược chải vào mây xanh ”
+ Hình ảnh ngộ nghĩnh: “Quả dừa - đàn lợn con nằm trên cao”; “Ai mang nước ngọt, nước lành, Ai đeo bao hũ rượu quanh cổ dừa”.
- Tác giả dùng phép so sánh (quả dừa → đàn lợn con; tàu dừa → chiếc lược) và phép nhân hóa (Dang tay đón gió, gật đầu gọi trăng; Đứng canh đứng chơi) để
tả cây dừa làm cho cây dừa vừa cụ thể, vừa sinh động, lại mang hồn người.
5 Cảm xúc :Tác giả dùng biện pháp ẩn dụ để miêu tả cây dừa như một người
lính Hình ảnh cây dừa thật đáng yêu như một con người ung dung, thanh cao
nơi làng quê.
→ Đó là tư thế và thần thái của cây dừa hiện lên rất đẹp trong bức tranh làng
quê Việt Nam, phải chăng đó cũng là những vẻ đẹp và phẩm chất của con người Việt Nam?
Câu 2: (6 điểm)
A Yêu cầu chung:
1 Về nội dung: Bằng sự sáng tạo và trí tưởng tượng phong phú, người viết dựa
vào nội dung bài ca dao để viết được một câu chuyện ngắn gọn, đầy đủ về nội dung, ý nghĩa
Trang 52 Về hình thức: Bài văn phải có bố cục rõ ràng: Mở bài, Thân bài, Kết bài Lời kể phải hấp dẫn, diễn đạt lưu lóat, chữ viết sạch đẹp không sai lỗi chính tả.
B Yêu cầu cụ thể: Đảm bảo các nội dung theo dàn ý sau:
1 Mở bài: ( 1 điểm )
- Giới thiệu được nhân vật và tình huống:
+ Tiếng van xin văng vẳng làm cho em chú ý ( 0, 5 điểm )
+ Lần theo hướng có tiếng nói, em gặp một con cò ướt sũng nước nằm trước lều của người coi ao cá đầu làng ( 0, 5 điểm )
2 Thân bài ( 4 điểm )
- Kể diễn biến câu chuyện:
+ Đàn cò con đói quá, cò mẹ buộc phải kiếm ăn ban đêm ( 1 điểm )
+ Vì không quen nhìn bóng tối, cò đậu vào một cành mềm nên bị ngã xuống ao ( 1 điểm )
+ Người coi ao cá vớt cò lên, doạ trừng trị cò vì tội ăn trộm ( 1 điểm )
+ Cò thanh minh van xin, cầu mong được chết trong sạch ( 1 điểm )
3 Kết bài: ( 1 điểm )
- Kể kết thúc câu chuyện: Thì ra đây là một giấc mơ Hôm trước em vừa được học bài ca dao:’’ Con cò mà đi ăn đêm” Em suy nghĩ mãi về thân phận và lời cầu xin của cò mẹ
Lưu ý: Trên đây chỉ là những gợi ý cơ bản Khi chấm giáo viên cần vận dụng linh hoạt và cho điểm từng phần cho phù hợp Cần khuyến khích những bài viết tốt, có cảm xúc, biết kể sáng tạo, hấp dẫn, chữ viết sạch đẹp.
Kể lại nội dung câu ca dao “Con cò mà đi ăn đêm…”
Bài làm
Do hoàn cảnh khó khăn nên đã ba tuần nay cò mẹ không tìm được thức ăn cho gia đình Một buổi tối như bao buổi tối hôm nào Bóng tối bao trùm cả bầu trời, tĩnh lặng.
Cò mẹ nhìn con bằng một ánh mắt thương xót, nó quyết tâm đi kiếm ăn vào ban đêm,
nó mong sao tìm được một chút thức ăn cho gia đình
Cò mẹ đứng giữa mọt bầu trời đen như mực chỉ có vài ánh sao đêm lập loè Nó vốn chưa kiếm ăn vào ban đêm bao giờ nên nó đi loạng choạng rồi chúi xuống, trời tối quá
Trang 6nên nó không thể định hướng được Nó thấm mệt không thể bay tiếp được nữa và quyết định đỗ lại để nghỉ ngơi cho lại sức Nó thấy mừng vì đã phát hiện ra một cành cây là là nó vội vàng đỗ xuống không ngờ nó lại đỗ nhầm phải một cành cây mềm lại vươn ra ngoài ao khiến nó trượt chân dù đã cố gượng khiến nó lộn nhào xuống ao
Nó đuối sức tưởng như là nó không còn một hơi sức nào để cố ngoi lên bờ nhưng một hình ảnh đã loé lên trong tâm trí của nó Đó là hình ảnh lũ con đang kêu đói loé lên trong tâm trí nó khiến nó cố hết sức dù nó đang rất mệt Nó cố gắng hết sức còn lại để vùng vẫy, ngoi lên để bơi vào bờ và kêu cứu
"Ôi! Thật là may mắn làm sao" nó nghĩ thế vì đang lúc nó tuyệt vọng nhất thì nó đã nhìn thấy ánh đèn loang loáng cùng với ánh đèn đó là tiếng người kêu to: "Có kẻ trộm!
Có kẻ trộm" Nó sững sờ, nghĩ:
– Ôi thôi xong rồi! Không còn hy vọng gì nữa sao ?
Nó lạnh cả sống lưng, nó nghĩ tiếp: "Thế này thì mình khó mà thanh minh rồi" Ông ta chiếu thẳng đèn vào nó và lấy cái vợt vớt nó lên:
– Bắt được mày rồi, ta rình mày mãi hôm nay mới bắt được, ngay ngày mai ta sẽ được một nồi sáo măng ngon đây – Ông chủ ao cá nói giọng tự hào
Lúc ấy nó mới trấn tĩnh lại đưoạc và nói không ra hơi
– Xin ông đừng nghi oan cho tôi
Ông chủ quát to :
– Oan uổng cái gì, ta đã mất bao nhiêu cá rồi đừng có mà già mồm mà cãi, ta nhất định không tha cho mày đâu
Cò mẹ ứa nước mắt Thôi mình khó có thể thanh minh được rồi – Cò mẹ nghĩ.Nó cố lấy sức để nói một mạch với ông chủ ao cá rằng:
– Vì một tai nạn rủi ro nên tôi đã bị ngã xuống ao cá nhà ông.Nếu tôi có lòng dạ xấu
xa thì có chết tôi cũng không ân hận nhưng mong ông đừng hiểu lầm mà kẻo thiên hạ người ta bảo cò con có một người mẹ đy ăn cắp, ăn trộm
Nói xong nó rũ người ra, nó đoán chắc trông hình dạng của nó lúc này thảm hại lắm: người thì run cầm cập, rúm ró; mặt mũi tái xanh tái mét; nó không còn hơi sức để thanh minh nữa Nó thật là thảm hại
Ông chủ ao cá vừa soi đèn vừa nghĩ ngợi – mặt có vẻ rất đăm chiêu Ông lẩm bẩm :"Trông nó thế kia thì không giống một thằng ăn trộm, với lại loài cò không thường đi kiếm ăn vào buổi tối" Hình như Cò mẹ nghe thấy những lời lẩm bẩm của
Trang 7ông chủ ao cá nên nó thở phào như mới trút ra được một gánh nặng Bỗng ông chủ ao
cá hỏi Cò mẹ nhưng bằng một giọng dịu dang không gay gắt như vừa nãy:
– Cớ sao nhà mi lại phải lặn lội đi kiếm ăn vào buổi tối như thế này?
Con Cò mẹ kể lại câu chuyện:
– Gia đình tôi rất đông con, hoàn cảnh gia đình lại khó khăn, chồng đã mất cách đây 1 tuần trước vì mải kiếm cái ăn cho tôi và các con nên kiệt sức và chết Bây giờ lại còn mỗi mình tôi ,tôi chẳng biết xoay sở ra sao nên hôm nay quyết định đy kiếm mồi cho các con không may tôi đậu vào một cành cây và ngã xuống ao nhà ông
Ông chủ nghe hết câu chuyện nét mặt ông dịu lại, nói với nó một giọng đầy xót xa, thương cảm:
– Thật tội nghiệp cho nhà ngươi!
Ông chủ ao cá không mắng Cò mẹ nữa và còn cho cò mẹ sưởi ấm và đãi nó một bữa
cá no nê , ông còn cho Cò mẹ mang một ít cá về mớm cho cò con ăn ,ông còn dặn nó là: "Lần sau nếu có khó khăn gì thì hãy đến đây, ta giúp đỡ cho" Cò mẹ rối rít cảm ơn rồi vội vàng mang thức ăn về cho các con của mình, vừa đúng lúc thì bình minh đã ửng hồng phía chân trời xa xăm kia
Từ đấy Cò mẹ đã có một mối quan hệ thân thiết với ông chủ ao cá Từ câu chuyện trên em thấy: Tình mẫu tử thật là cao cả; người mẹ có thể hi sinh cả thân mình, lao vào nguy hiểm để có thể bảo vệ con nuôi lớn con thành người có ích Các bạn ơi mình khuyên với các bạn một điều rằng: Hãy luôn ngoan ngoãn, hiếu thảo với cha mẹ và hãy tỏ ra là một người con có hiếu trước khi quá muộn !!!
ĐỀ THI HỌC SINH GIỎI MÔN NGỮ VĂN 6
(Thời gian làm bài : 120 phút)
I MỤC TIÊU CẦN ĐẠT
1 Kiến thức : Đánh giá mức độ chuẩn kiến thức trong chương trình Ngữ văn
6.
2 Kĩ năng : Rèn luyện kĩ năng đọc hiểu văn bản, biết tạo lập văn bản miêu tả,
tự sự.
Trang 83 Thái độ : Biết đối mặt với khó khăn, thử thách, có tinh thần trách nhiệm;
yêu mến, tự hào về đất nước…
=> Năng lực : Phát triển năng lực tư duy, năng lực sử dụng ngôn ngữ, năng lực
sáng tạo, năng lực cảm thụ thẩm mĩ của học sinh…
II HÌNH THỨC THỰC HIỆN
1 Hình thức : Tự luận
2 Thời gian : 90 phút
3 Cách tổ chức kiểm tra : Tổ chức kiểm tra chung
III KHUNG MA TRẬN
Nội dung
Mức độ cần đạt
Tổng
Vận dụng cao
I
Đọc-hiểu
Ngữ liệu:
-Đoạn
trích/văn bản
nghệ thuật
ngoài sách
giáo khoa.
- Độ dài
khoảng 50
-300 chữ.
- Nhận diện xác định đúng
từ loại/ cụm từ
-Hiểu tác dụng của biện pháp
tu từ.
-Hiểu nội dung,
ý nghĩa của đoạn trích/ văn bản.
Tổng
II Làm
văn
Văn tự sự
( Viết bài
văn ngắn không quá 1
trang giấy
thi)
- Nhận biết phương thức biểu đạt chính cần sử dụng
để tạo lập văn bản.
- Nhận biết các yêu câu của đề về bài văn tự sự.
- Hiểu được các đặc điểm của bài văn tự sự
và hiểu được thứ tự kể hợp
lý cần sử dụng trong bài làm.
- Vận dụng kết hợp tự
sự với miêu
tả, biểu cảm để tạo lập bài văn
tự sự sâu sắc, sinh động, có ý nghĩa.
- Liên hệ với thực tiễn đời sống để làm nổi bật chủ đề
Trang 9Miêu tả
sáng tạo
- Nhận biết phương thức biểu đạt chính cần sử dụng
để tạo lập văn bản.
- Nhận biết các yêu câu của đề về đối tượng miêu tả.
- Hiểu được các đặc điểm của đối tượng miêu
tả và hiểu được trình tự hợp lý cần sử dụng trong bài làm.
- Vận dụng kết hợp miêu tả với
tự sự, biểu cảm để tạo lập bài văn miêu tả sâu sắc, sinh động, có ý nghĩa.
- Liên hệ với thực tiễn đời sống, rút
ra bài học, nêu
ấn tượng, cảm nghĩ …
Tổng
Tổng
số
Phần I Đọc hiểu (4,0 điểm)
Đọc doạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:
Quê hương mỗi người đều có Vừa khi mở mắt chào đời Quê hương là dòng sữa mẹ Thơm thơm giọt xuống bên nôi
Quê hương mỗi người chỉ một Như là chỉ một mẹ thôi
Quê hương nếu ai không nhớ
Sẽ không lớn nổi thành người.
(Bài học đầu cho con, Đỗ Trung Quân, Hoa cỏ cần gặp, Nxb Văn
học, 1991)
Trang 10Câu 1 Xác định các danh từ có trong hai câu thơ:
Quê hương mỗi người đều có Vừa khi mở mắt chào đời
Câu 2.Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ trong câu :
Quê hương là dòng sữa mẹ
Câu 3 Nêu nội dung chính của đoạn thơ trên
Phần II Làm văn ( 16 điểm)
Câu 1: ( 6 điểm)
Cho hai nhân vật là một giọt nước mưa còn đọng trên lá non và một vũng nước đục ngầu trong vườn Hãy hình dung cuộc trò chuyện lí thú giữa hai nhân vật và kể lại bằng một bài văn ngắn không quá một trang giấy thi.
Câu 2: (10 điểm)
Dựa vào bài thơ “Lượm” của Tố Hữu và sự tưởng tượng của bản thân, em hãy miêu tả lại hình ảnh chú bé Lượm trong cuộc gặp gỡ tình cờ ở Huế và trong lần đi liên lạc cuối cùng.
V HƯỚNG DẪN CHẤM
* Hướng dẫn chung:
- Hướng dẫn chấm được xây dựng theo hướng đánh giá năng lực Giám khảo nắm bắt được nội dung trình bày trong bài làm của thí sinh để đánh giá một cách tổng quát Cần linh hoạt khi vận dụng hướng dẫn chấm Phát hiện và trân trọng những bài làm thể hiện tính sáng tạo, tư duy độc lập Nếu học sinh làm bài theo cách riêng (không có trong đáp án) nhưng đáp ứng yêu cầu cơ bản và có sức thuyết phục vẫn được chấp nhận.
- Tổng điểm toàn bài là 10,0 điểm, chiết đến 0,5.
* Hướng dẫn cụ thể:
1 Xác định các danh từ có trong hai câu thơ trên: quê hương,
người, khi, mắt, đời.
1.0
Trang 112 Biện pháp tu từ : so sánh: Quê hương là dòng sữa mẹ
Tác dụng : Làm nổi bật vẻ đẹp, giá trị quý báu của quê hương đối với mỗi con người Ở đó mỗi người được đón nhận những tình cảm ngọt ngào, gần gũi, máu thịt và thiêng liêng; được hun đúc những tình cảm tốt đẹp
1,5
3 Nêu nội dung chính của đoạn thơ trên: Quê hương gần gũi, máu
thịt, thiêng liêng với mỗi người Quê hương là mảnh đất ai cũng cần ghi nhớ, biết ơn
1,5
Câu1
(6 đ)
Đảm bảo cấu trúc của một bài văn tự sự với đầy đủ các phần mở bài,
thân bài, kết bài Biết lựa chọn ngôi kể phù hợp.
0.5
Xác định đúng yêu cầu của đề: Bài văn ngắn nói về câu chuyện giữa
một giọt nước mưa còn đọng trên lá non và một vũng nước đục ngầu
trong vườn Mỗi nhân vật cần thể hiện được một nét đặc điểm hình
dáng, tính cách, một quan điểm sống (tức là đã được nhân hoá) Chẳng
hạn giọt nước mưa trên lá non thì xinh đẹp nhưng kiêu ngạo và không
tự biết mình; vũng nước đục ngầu trong vườn thì điềm đạm, hiểu rõ
công việc mình đang làm, không quan tâm đén hình thức Gọi là cuộc
trò chuyện nên rất cần các cuộc đối thoại Lời hội thoại cần phải ngắn
gọn mà sâu sắc, thể hiện được tính cách của từng nhân vật Viết dưới
dạng bài tự luận ngắn dài không quá một trang giấy thi.
0.5