Tiểu luận Nâng cao hiệu quả quản lý công tác dân số của Đảng và Nhà nước ta trong thời kỳ đổi mớiCụ thể, Công tác dân số là một bộ phận rất quan trọng của chiến lược phát triển đất nước. Nó không chỉ có ý nghĩa về kinh tế mà còn có ý nghĩa VH –XH , góp phần quyết định sự phát triển bền vững của đất nước đồng thời là yếu tố cơ bản nâng cao chất luợng cuộc sống của từng người và của toàn XH, góp phần thực hiện thắng lợi công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước. Công tác dân số là một bộ phận quan trọng của chiến lược phát triển đất nứơc, bởi vì bùng nổ dân số sẽ gây sức ép, hạn chế sự phát triển kinh tế xã hội, phá huỷ thiên nhiên, môi trường (đói nghèo, thất nghiệp, tệ nạn xã hội gia tăng, ô nhiễm môi truờng,…). Công tác dân số liên quan đến con nguời , đến nguồn nhân lực, Chỉ có quan tâm đúng mức đến công tác này mới tạo điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế xã hội bền vững.
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Công tác dân số là một bộ phận rất quan trọng của chiến lược phát triển đấtnước Nó không chỉ có ý nghĩa về kinh tế mà còn có ý nghĩa VH –XH , gópphần quyết định sự phát triển bền vững của đất nước đồng thời là yếu tố cơbản nâng cao chất luợng cuộc sống của từng người và của toàn XH, góp phầnthực hiện thắng lợi công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước
Công tác dân số là một bộ phận quan trọng của chiến lược phát triển đấtnứơc, bởi vì bùng nổ dân số sẽ gây sức ép, hạn chế sự phát triển kinh tế xãhội, phá huỷ thiên nhiên, môi trường (đói nghèo, thất nghiệp, tệ nạn xã hội giatăng, ô nhiễm môi truờng,…) Công tác dân số liên quan đến con nguời , đếnnguồn nhân lực, Chỉ có quan tâm đúng mức đến công tác này mới tạo điềukiện thuận lợi để phát triển kinh tế xã hội bền vững
Công tác dân số là yếu tố cơ bản nâng cao chất luợng cuộc sống của từngnguời và của toàn xã hội chỉ có thực hiện quy mô gia đình ít con, khoẻ mạnhmới có điều kiện nâng cao chất luợng cuộc sống cho các thành viên trong giađình Mỗi gia đình là một tế bào của xã hội Gia đình ấm no, hạnh phúc sẽ làđiều kiện tốt để xây dựng xã hội giàu mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh.Công tác dân số góp phần quyết định thực hiện công nghiệp hoá, hiện đạihoá đất nước Công tác này tạo ra quy mô dân số, cơ cấu dân số, phân bố dân
số hợp lý, mới có điều kiện tạo nguồn nhân lực phù hợp với yêu cầu côngnghiệp hoá - hiện đại hóa đất nước Quy mô dân số ổn định một mặt chúng ta
có thể tiết kiệm chi phí cho trẻ em phụ thuộc, có điều kiện nuôi dưỡng, đào tạo
và phát triển nguồn nhân lực tốt hơn, đồng thời tạo điều kiện để đất nước cónguồn bổ sung nhân lực cần thiết phục vụ cho sự phát triển kinh tế xã hội
Trang 2Mặt khác trong xu thế hội nhập kinh tế thế giới Việt nam là một nước cóđầy đủ tiềm năng phát triển với nguồn lao động dồi dào Vì thế nâng cao chấtlượng dân số sẽ tạo điều kiện nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứngyêu cầu công nghiệp hoá - hiện đại hóa đất nước Để nâng cao chất lượng dân
số và nguồn nhân lực, con nguời cần đuợc quan tâm nuôi duỡng, chăm sóc sứckhoẻ, thể lực và giáo dục từ khi sinh ra cho đến khi thành người lao động cóhọc vấn, kĩ năng chuyên môn phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế xã hộingày càng cao, đồng thời có điều kiện hưởng thụ và cống hiến cao nhất chobản thân và xã hội…
Nhận thức rõ được tầm quan trọng của công tác dân số trong thời kỳ đồimới Đảng và Nhà nước ta đã tập chung đầu tư cho công tác dân số, đẩy mạnhcông tác tuyên truyền giáo dục về dân số và tăng cường quản lý đối với côngtác dân số là yếu tố quyết định sự thành công của các trương trình dân số vàphát triển Và công tác dân số là một nội dung trọng tâm trong chương trìnhhành động của các cấp uỷ Đảng, chính quyền
Chính vì vai trò quan trọng của công tác dân số đòi hỏi phải có sự lãnh đạocủa Đảng và sự quản lý của nhà nước đây chính là điều tất yếu nên em chọn
đề tài “ Nâng cao hiệu quả quản lý công tác dân số của Đảng và Nhà nước
ta trong thời kỳ đổi mới” làm đề tài tiểu luận để hoàn thành môn học Quản lý chăm sóc sức khoẻ cộng đồng.
Trong quá trình làm đề tài có nhiều thiếu xót Em mong nhận được sự chỉbảo của cô để đề tài đạt được kết quả cao hơn Em xin chân thành cảm ơn
2 Mục đích và phạm vi nghiên cứu của đề tài
2.1 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Đề tài nghiên cứu về sự quản lý của Đảng và Nhà nước về công tác dân sốthông qua việc nghiên cứu vai trò của công tác dân số đối với sự phát triển củađất nước và thông qua việc tìm hiểu thực trạng quản lý công tác dân số của
Trang 3Đảng và Nhà nước ta để đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quảquản lý công tác dân số của Đảng và Nhà nước ta trong thời kỳ đổi mới.
2.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đề tài nghiên cứu trong phạm vi sự quản lý của Đảng và Nhà nước ta vềcông tác dân số trong thời kỳ đổi mới
3 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Đề tài nghiên cứu để làm rõ một số vấn đề lý luận về công tác dân số,nghiên cứu để làm rõ những ưu điểm và hạn chế trong sự quản lý của Đảng vàNhà nước ta đối với công tác dân số
4 Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu tổng hợp, phân tích tài liệu, phântích số liệu…
5 Ý nghĩa của đề tài
Đề tài làm rõ hơn vai trò quan trọng của công tác dân số đối với sự pháttriển đất nước nói chung và đối với sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hóanói riêng
Mặt khác đề tài còn chỉ ra tầm quan trọng trong sự lãnh đạo của Đảng ,quản lý của Nhà nước đối với công tác dân số Đây chính là yếu tố quyết địnhtới sự thành công của các chương trình dân số
6 Kết cấu của đề tài
Đề tài bao gồm phần mở đầu gồm có 3 chương và phần danh mục tài liệutham khảo
Trang 4CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC DÂN SỐ CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TA
TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI
1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Khái niệm quản lý
Thuật ngữ quản lý theo nghĩa Hán Việt, gồm 2 quá trình tích hợp: quá trình
“ quản” gồm sự duy trì ở trạng thái ổn định, quá trình “ lý” là sự sửa sang, sắpxếp, đổi mới, đưa vào thế phát triển Như vậy quản lý là một quá trình gồm haimặt, không chỉ giữ vững sự ổn định mà còn hướng tới sự phát triển, tạo nên sựvận động phù hợp thích ứng và có hiệu quả trong mối tương tác giữa các nhân
tố bên trong ( nội lực) với các nhân tố bên ngoài (ngoại lực)
Theo giáo trình khoa học quản lý của Học Viện Chính Trị Quốc Gia HồChí Minh “ quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đính của chủ thể quản
lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đã đề ra”
1.1.2 Khái niệm dân số
Theo pháp lệnh dân số (2003) : Dân số là tập hợp người sinh sống trongmột quôc gia, khu vực, vùng địa lý kinh tế hoặc đơn vị hành chính” Dân sốbao gồm 4 yếu tố cơ bản:
+ Quy mô dân số
+ Cơ cấu dân số
+ Phân bố dân cư
+ Chất lượng dân số
Quy mô dân số: là số người sống trong một quốc gia, khu vực vùng địa lýkinh tế , hoặc đơn vị hành chính tại thời điểm nhất định
Trang 5Cơ cấu dân số: là sự phân chia tổng số dân thành các bộ phận theo một sốtiêu chí nhất đinh: giới tinh, độ tuổi , dân tộc, trình độ học vấn, nghề nghiệp,tình trạng hôn nhân và các đặc trưng khác.
Phân bố dân cư: là sự phân chia tổng số dân theo khu vực, vùng địa lý kinh
1.1.2 Tác động của dân số đối với sự phát triển kinh tế xã hội.
Dân số phát triển hợp lý sẽ là điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế - xãhội
Dân số phát triển hợp lý nghĩa là quy mô dân số, cơ cấu dân số, phân bốdân cư chất luợng dân số phù hợp với trình độ phát triển kinh tế xã hội, có thểtạo ra của cải nhiều nhất cho xã hội, là cho kinh tế có tốc độ tăng truởng nhanh
và xã hội phát triển bền vững
a) Dân số với phát triển kinh tế
Dân số tăng quá nhanh hoặc quá chậm sẽ đều anh hưởng không tốt đếnphát triển kinh tế xã hội, đặc biệt là trường hợp dân số tăng quá nhanh
Dân số tăng quá nhanh sẽ làm giảm vốn đầu tư cho kinh tế do nhu cầu tiêudùng nhiều, khả năng tích luỹ giảm
Khi dân số tăng quá nhanh sẽ là tăng quá mức lực lượng lao động so vớitrình độ phát triển kinh tế nên không có đủ việc làm, do đó cũng hạn chế tốc
độ tăng trưởng kinh tế nhưng nếu dân số giảm sẽ dẫn đến tình trạng thiếu laođộng, ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế
Trang 6Dân số tăng quá nhanh sẽ ảnh hưởng không tốt đến cải thiện điều kiện giáodục, hạn chế nâng cao trình độ khoa học- công nghệ cho người là động, làmgiảm năng suất lao động và sự tăng trưởng kinh tế
Dân số tăng quá nhanh khiến việc cung cấp lương thực, thực phẩm sẽkhông đảm bảo do diện tích canh tác có hạn, ngày càng bị thu hẹp
b) Dân số với sự phát triển xã hội
Dân số với việc làm: dân số tăng quá nhanh sẽ làm tăng nhanh nguồn lao
động dẫn đến thiếu việc làm, không những tác động xấu đến kinh tế mà cả vănhoá, xã hội, môi trường
Tình trạng thất nghiệp là một trong những nguyên nhân chính làm tăng tệnạn xã hội do đời sống khó khăn, bần cùng nên gia tăng những nguời làmnghề bất chính như buôn bán ma tuý, mại dâm, cờ bạc Năm 2005 tỷ lệ thấtnghiệp ở thành thị nước ta giảm xuống còn 5,3 % Tình trạng thiếu việc làm ởnông thôn dẫn đến di dân tự do theo mùa vụ vào các thành thị, làm trầm trọngthêm việc đáp ứng những dịch vụ xã hội cơ bản (điện, nước, nhà ở…) gây ônhiễm môi trường ( chất thải sinh hoạt, phương tiện giao thông quá cũ và thôsơ) tàn phá tài nguyên thiên nhiên ( phá rừng, đốt rấy, lấp ao hồ, xẻ đá….) vàgia tăng tệ nạn xã hội ( trộm cắp, mại dâm, ma tuý, cờ bạc ) tình trạng thấtnghiệp nhất là ở tuổi thanh niên là lứa tuổi có nhiều nhu cầu ham muốnnhưng lại thiếu chín chắn chính là nguyên nhân cơ bản dẫn đến tội phạm và tệnạn xã hội
Dân số tăng quá nhanh nhưng đất đai nhà cửa đều có hạn làm tăng mâuthuẫn trong gia đình và ngoài xã hội
Dân số với giáo dục và y tế: Quy mô và tỷ lệ tăng dân số có liên quan mật
thiết đến phát triển giáo dục và y tế
Dân số tăng quá nhanh dẫn đến ngành giáo dục không đáp ứng được yêucầu (về trường lớp, giáo viên, cơ sở vật chất, tài chính…) do đó có nhiều
Trang 7nguời chưa được học tập hoặc chất lượng giáo dục thấp dẫn đến nguồn nhânlực có trình độ thấp.
Dân số tăng quá nhanh, y tế không thể đáp ứng tốt các nhu cầu về chămsóc sức khoẻ của nhân dân ( tình trạng quá tải của các bệnh viện ở nước ta làminh chứng cụ thể) dẫn đến chất lượng dân số thấp
Dân số với tài nguyên môi trường: dân số tăng quá nhanh, để đảm bảo sinh
tồn nguời dân phải khai thác quá mức tài nguyên dẫn đến tài nguyên thiênnhiên ngày càng khan hiếm, môi trường bị suy thoái và ô nhiễm nặng Rừng bịtàn phá gây mất cân bằng sinh thái, thiên tai dồn dập nặng nề Khoáng sản bịkhai thác cạn kiệt.Một số loại động thực vật bị tuyệt chủng môi trường nước,không khí bị ô nhiễm nặng do chất thải công nghiệp và sinh hoạt
1.2.2 Vai trò của Đảng và Nhà nước trong việc quản lý công tác dân số
1.2.2.1 Sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân số
Sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng là điều kiện tiên quyết tạo nên nhữngthành tựu trong công tác dân số suốt 50 năm thực hiện công tác này
Theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 ( khoá VII) về chính sách DS –KHHHGĐ, chỉ thị số 50 của Ban Bí thư khoá VII về việc đẩy mạnh thực hiệnnghị quyết Trung ương 4 (khoá VII), Nghị quyết số 47 của Bộ Chính trị (khoáVII) về tiếp tục thực hiện chính sách DS – KHHHGĐ
Đảng ta đã đề ra một số quan điểm chỉ đạo cơ bản về công tác dân số nhưsau:
+ Công tác dân số là một bộ phận quan trọng của chiến lược phát triển đấtnước, có vai trò quan trọng đối với từng người và toàn xã hội
Nghị quyết Trung ương 4 (khoá VII) khẳng định: Công tác dân số là một
bộ phận quan trọng của chiến lược phát triển đất nước, đồng thời là yếu tố cơbản nâng cao chất lượng cuộc sống của từng nguời và của toàn xã hội, góp
Trang 8phần quyết định thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hóađất nước.
+ Thực hiện công tác dân số đồng bộ, từng bước và có trọng điểm theochưong trình, phù hợp với mục tiêu từng thời kỳ, giai đoạn
Thực hiện đồng bộ, từng bước và có trọng điểm việc điều hoà quan hệtrong lĩnh vực dân số:
Điều hoà quan hệ giữa số lượng với chất lượng dân số: quy mô dân số
hợp lý là điều kiện cần thiết để tạo ra nhiều của cải, nâng cao chất lượng dân
số, ngược lại chất lượng dân số nâng lên mới có điều kiện đầu tư cho tuyêntruyền giáo dục nhận thức đúng để phát triển quy mô dân số hợp lý
Điều hoà quan hệ giữa phát triển dân số với phát triển nguồn nhân lực:
dân số bao hàm trong nó nguồn nhân lực và là cơ sở hình thành nguồn nhânlực Nguồn nhân lực chủ yếu là số nguời đang ở độ tuổi lao động ( từ 15 đến
60 tuổi) Muốn có nguồn nhân lực dồi dào đáp ứng yêu cầu phát triển đất nướctrong thời kỳ mới phải chăm lo phát triển dân số, ngược lại nguồn nhân lực cóchất lượng cao sẽ tạo điều kiện phát triển dân số hợp lý hơn
Điều hoà quan hệ giữa phân bố và di chuyển dân cư với sự phát triển kinh
tế xã hội: phân bố và di chuyển dân cư hợp lý sẽ tạo điều kiện phát huy mọi
tiềm năng kinh tế và giải quyết nhiều vấn để xã hội do thiếu việc làm và tậptrung đông dân đem lại, ngược lại phát triển kinh tế xã hội tương đối đồng đềugiữa các vùng miền thành thị - nông thôn, miền núi- miền xuôi…) sẽ làm choviệc phân bố và di chuyển dân cư dễ dang, thuận lợi hơn Giai đoạn trước năm
2000 nước ta tập trung di chuyển dân cư lên vùng kinh tế mới tạo điều kiệnphát triển kinh tế xã hội, giai đoạn 2001-2010 tập trung phát triển kinh tế xãhội để từ đó điều chỉnh phân bố dân cư và di chuyển dân cư
Tập trung ưu tiên cho các vùng khó khăn có mức sinh cao, vùng nghèo,vùng sâu, vùng xa để giải quyết các vấn đề dân số và nâng cao mức sống của
Trang 9nhân dân Hỗ trợ kinh phí để xây dựng các tài liệu truyền thông, mở các chiếndịch truyền thông miễn phí Tăng cường dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản,
kế hoạch hoá gia đình miễn phí Lồng ghép công tác dân số với các chính sáchcho vay vốn để xoá đối giảm nghèo nhất là đối với phụ nữ có hoàn cảnh kinh
có điều kiện đầu tư, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục tốt, do vậy đứa trẻ pháttriển toàn diện thành nguời lao động có thể lực tốt trình độ cao, khả năng thamgia lao động xã hội hiệu quả cao Việc chăm sóc sức khoẻ sinh sản, kế hoạchhoá gia đình tốt sẽ góp phần nâng cao thể lực của những nguời tham gia laođộng xã hội nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả lao động
Đầu tư cho công tác dân số có thể mang lại hiệu quả kinh tế rất cao Trênthế giới nguời ta ước tinh chi 1 đồng cho công tác dân số thì sẽ tiết kiệm được
40 đồng phục vụ con nguời để phát triển kinh tế vì không phải chi phí quámức cho trẻ em phụ thuộc và chữa trị bệnh tật liên quan đến sức khoẻ sinhsản
Bởi vậy, cần huy động đầu tư cho công tác dân số từ nhiều nguồn nhưngchủ đạo vẫn là ngân sách nhà nước, tranh thủ các nguồn viện trợ quốc tế, tăngcường huy động sự đóng góp của cộng đồng
+ Đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục về dân số gắn với nâng caochất lượng dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản, kế hoach hoá gia đình
Tăng cường truyền truyền giáo dục đường lối, chính sách của Đảng và nhànước về dân sô có nhận thức đúng, tự giác thực hiện các mục tiêu, chính sách
Trang 10về dân số Quy mô dân số nwcs ta hiện nay vẫn chưa ổn định, dân soo vẫn tiếptục tăng trong một vài thập kỷ tới do hậu quả của việc bùng nổ dân số nhữngnăm trước đây Do vậy, cần phải làm cho mọi người nhận thức đầy đủu và tựgiác thực hiện tốt chính sách dân số nhằm ổn định quy mô được ở mức hợp lý.Tăng cường tuyên truyền những kiến thức cơ bản về dân số, sức khoẻ sinhsản, kế hoạch hoá gia đình, làm cho mọi người hiểu đúng khái niệm sức khoẻsinh sản Tăng cường tuyên truyền vai trò gia đình và thực hiện bình đẳng giớitrong việc thực hiện các chương trình dân số Trong gia đình, việc sinh con,thực hiện các chính sách dân số cần có sự bàn bạc giữa hai vợ chồng, nhưngquyền quyết định nên trao cho phụ nữ Ngoài xã hội cần tăng cường tuyêntruyền và thực hiện quyền bình đẳng giới để nâng cao vị thế của người phụ nũtương xứng với sự đóng góp của họ đối với gia đình và xã hội Tăng cườngthông tin tuyên truyền về kiến thức và kinh nghiệm về lĩnh vực dân số.
+ Đẩy mạnh xã hội hoá công tác dân số
Các cấp uỷ Đảng, chính quyền trực tiếp tham gia lãnh đạo, chỉ đạo côngtác dân số trên cơ sở bộ máy chính quyền chuyên trách đủ mạnh để quản lýtheo chương trình, mục tiêu và đẩy mạnh xã hội hoá công tác dân số là yếu tốquyết định sự thành công của chương trình dân số và phát triển
Công tác dân số phải là một nội dung trọng tâm trong chương trình hànhđộng của cấp Uỷ Đảng, chính quyền
Các cán bộ lãnh đạo chủ chốt ở các cấp, các ngành phải trực tiếp lãnh đạo,chỉ đạo và huy động toàn xã hội tham gia thực hiện các mục tiêu chiến lược vàchương trình quốc gia về dân số
Kiện toàn bộ máy chuyên trách dân số từ Trung ương đến từng cơ sở đểcung cấp đây đủ và kịp thời thông tin và dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sảnđến từng người dân
Trang 11Các cán bộ cấp uỷ Đảng, chính quyền, các tổ chức, đoàn thể tham giatuyên truyền, vận động, hướng dẫn và gương mẫu thực hiện các chính sáchdân số.
Đảng viên, cán bộ, công nhân viên và cán bộ trong các tổ chức, đoàn thểchính trị - xã hoịo phải gương mẫu đi đầu thực hiện các đường lối, chính sáchcủa Đảng và Nhà nước về dân số
1.2.2.2 Vai trò quản lý của Nhà nước trong công tác dân số
Khoản 10, Điểu 3 của pháp lệnh dân số chỉ rõ: “Công tác dân số là việcquản lý và tổ chức thực hiện các hoạt động công tác đến quy mô dân số, cơcấu dân số, phân bố dân cư và nâng cao chất lượng dân số Vai trò quản lýNhà nước về dân số thể hiện qua những nội dung sau đây:
Một là: Nhà nước tạo ra quy mô và cơ cấu dân số hợp lý làm tiền đề cho
phát triển đất nước Nhà nước thể hiện chính sách kế hoạch hoá gia định đểđiều chỉnh mức sinh hợp lý, góp phần xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc,bình đẳng tiến bộ cho mỗi gia đình và toàn xã hội Nhà nước có chính sách vàbiện pháp ngăn chặn lựa chọn giới tính thai nhi để đảm bảo cân bằng giới tínhtheo quy luật sinh sản tự nhiên Nhà nước hỗ trợ, giúp đỡ để bảo vệ, duy trịnòi giống đối với các dân tộc thiểu số, nhất là các dân tộc ít người như Ôđu,Brâu, Pà Thẻn,…
Hai là :Nhà nước điều chỉnh phân bố dân cư hợp lý Nhà nước ưu tiên đầu
tư cho những vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, mật độ dân
số thấp tạo việc làm và điều kiện sống tốt để thu hẹp khoảng cách giữa cácvùng so với thành thị để hạn chế di dân ra đô thị Nhà nước cải thiện đời sốngnhân dân để hạn chế di cư tự phát
Ba là: Nhà nước không ngưng nâng cao chất lượng dân số Nhà nước tạo
điều kiện để mỗi nguời dân phát triển đầy đủ, bình đẳng về thể chất, trí tuệ,tinh thần Nhà nước có chính sách nâng cao những chỉ số cơ bản của con
Trang 12nguời như chiều cao, cân nặng, sức bền, tuổi thọ trung bình, trình độ học vấn
và thu nhập bình quân
Bốn là: Nhà nước bảo vệ lợi ích chính đáng của con người, của nhân dân
lao động Quyền con người được sinh sống, cư trú, đi lại hợp pháp, cơ việclàm và thu nhập chính đáng Nhà nước cấm di cư và cư trú trái phép, thu nhậpbất chính, việc làm không chính đáng Quyền phát triển toàn diện về sinh lý,tâm lý, đức trí, thể, mỹ phù hợp với lứa tuổi và điều kiện sống,… Quyền sinhsản: lựa chọn số con và khoảng cách, thời gian sinh con phù hợp khả năngnuôi dưỡng, giáo dục của gia đình và điều kiện kinh tế - xã hội của địa phưongđất nước Quyền chăm sóc sức khoẻ sinh sản: được cung cấp đủ thông tin vàdịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản
Năm là: Nhà nước phát huy cao độ nguồn lực và động lực chủ yếu của dân
số Nhà nước tác động làm cho dân số phù hợp với sự phát triển sẽ góp phầnxoá đói, giảm nghèo, giảm tình trạng thất nghiệp, giảm suy dinh dưỡng, giảm
tỷ lệ mù chữ, nâng cao trình độ học vấn, mở rộng dịch vụ y tế và xã hội, giảmrủi ro về môi trường, huy động nguồn lực để đầu tư cho phát triển sản xuấtkinh doanh, khoa học công nghệ và đảm bảo công bằng xã hội
Nhà nước tác động làm cho dân số phù hợp sẽ là động lực quan trọng kíchthích phát triển nhanh và bền vững, nâng cao đời sống vật chất và tinh thầncủa nhân dân, nâng cao tiềm lực sản xuất, góp phần xây dựng dân giàu nướcmạnh,xã hội công bằng,dân chủ,văn minh
Trang 13CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ CÔNG TÁC DÂN SỐ CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TA TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI
2.1 Những thành tựu đạt được trong lãnh đạo, quản lý công tác dân số của Đảng và Nhà nước ta.
Công tác dân số là một bộ phận rất quan trọng của chiến lược phát triển đấtnước Nó không chỉ có ý nghĩa về kinh tế mà còn có ý nghĩa về văn hoá , xãhội, góp phần quyết định sự phát triển bền vững
Trong nhưng năm đổi mới vừa qua, công tác dân số luôn được Đảng vàNhà nước ta quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo Từ Đại hội Đảng lần thứ VI đến nay,Đảng đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị đề cập đến công tác dân số đặcbiệt là nghị quyết TW 4 khoá VII, chỉ thị số 50 của Ban Bí thư khoá VII, nghịquyết số 47 của Bộ chính trị khoá IX
Nhà nước đã có nhiều văn bản thể chế hoá đường lối, quan điểm cuả Đảng.Điển hình là: Chiến lược DS – KHHGĐ đến năm 2000, chiến lược dân số ViêtNam 2001-2010, pháp lệnh dân số 2003, nghị định số 12 của chính phủ( 2003) về sinh con theo phương pháp khoa học, quyết định số 190 của Thủtướng chính phủ về chính sách di dân thực hiện quy hoạch bố trí dân cư giaiđoạn 2003 -2010…
Trên cơ sở đó, nhận thức về các chính sách dân số trong các cấp lãnh đạođảng và chính quyền địa phương cũng được nâng lên đáng kể Sự quan tâmcủa các cấp uỷ Đảng và chính quynề đối với công tác dân số thể hiện đãlồng ghép mục tiêu dân số vào chính sách kinh tế- xã hội của địa phương hànhđộng triển khai công tác dân số căn cứ vào mục tiêu chung và tình hình thựctiễn cụ thể
Hệ thống tỏ chức công tác dân số được kiện toàn từ trung ương đến cơ sởtương đối vững chắc và hoạt động có hiệu quả