1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Sáng kiến kinh nghiệm ngữ văn 7, đề tài rèn kĩ năng viết đoạn văn cho học sinh

22 44 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 154 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trước hết là trong văn học có năng lực thực hành và năng lực sử dụng TiếngViệt như một công cụ để tư duy và giao tiếp.Để rèn luyện cho học sinh kĩ năng viết đoạn văn biểu cảm, giáo viên

Trang 1

tư duy sáng tạo, bước đầu có năng lực cảm thụ các giá trị chân, thiện, mĩ trong nghệthuật Trước hết là trong văn học có năng lực thực hành và năng lực sử dụng TiếngViệt như một công cụ để tư duy và giao tiếp.

Để rèn luyện cho học sinh kĩ năng viết đoạn văn biểu cảm, giáo viên phảihướng dẫn cho các em cách thức viết đoạn văn, cách sử dụng vốn từ ngữ, diễn đạtcâu trong đoạn văn, bố cục đoạn văn trong một văn bản, cách sử dụng các phươngtiện liên kết trong đoạn văn Tuỳ theo từng phương thức diễn đạt khác nhau mà viếttheo lối qui nạp, diễn dịch, song hành hay móc xích

Để viết được đoạn văn phải có nhiều câu kết hợp tạo thành, cũng như vậy để tạothành văn bản yêu cầu phải có các đoạn văn liên kết với nhau mà thành (khi đã dùngcác phương tiện liên kết trong văn bản)

1.2 Cơ sở thực tiễn

T

ừ việc khảo sỏt thực tiễn , chỳng tụi thấy phần lớn các em học phân môn Tậplàm văn còn yếu mà đặc biệt là cách dựng đoạn văn biểu cảm khiến cho học sinhcòn rất lúng túng Thường thì thời lượng quá ngắn mà kiến thức nhiều, nên học sinhkhông thể tìm hiểu kĩ các đoạn văn mẫu Phần lớn học sinh hiểu sơ sài về mặt líthuyết, vì thế xác định đề bài, chủ đề và bố cục đoạn văn càng bối rối: việc rèn kĩnăng viết được tiến hành trong các tiết phân tích đề, dàn ý và dựng đoạn, liên kếtđoạn từ thấp đến cao, từ một tiêu đề, một ý, một đoạn văn đến nhiều đoạn, cuối cùng

là một văn bản hoàn chỉnh Khi viết còn chưa hiểu kĩ đề bài nên hay bị sai lệch Việcphân phối thời gian, số lượng câu cho các đoạn, các ý lớn, ý nhỏ chưa rõ ràng, cụthể Cho nên, có nhiều trường hợp viết thừa hoặc thiếu chưa xác định cụ thể đề tài,chủ đề của đoạn văn Quá trình lập luận, trình bày chưa chặt chẽ, lô gíc và sinh

Trang 2

động Chưa biết vận dụng nhiều phương pháp liên kết trong một đoạn văn hoặcnhiều đoạn văn Vì thế các đoạn văn thường hay đơn thuần, nhàm chán.

Phần lớn học sinh chưa biết sử dụng ngôn ngữ cho phù hợp với từng kiểu vănbản Và đặc biệt là phong cách văn bản

Qua Đề kiểm tra Ngữ Văn ( thời gian 45 phỳt) vừa qua:

Phần II Tự luận:

Cảm nhận của em sau khi đọc bài thơ "Tiếng gà trưa" của Xuân Quỳnh.

Chúng tôi khảo sát thực tế bài làm của học sinh ở khối 7 và thấy rằng :

Trên 70% số học sinh chưa biết viết đoạn văn biểu cảm

Số học sinh có khả năng dựng đoạn và sử lí yêu cầu của đề bài trên 21%, số họcsinh đạt giỏi là con số o - một con số đáng báo động trong việc học phân môn Làmvăn hiện nay trong nhà trường THCS

Trên đây là tình trạng viết văn, dựng đoạn văn của học sinh THCS và nó cũng cónhiều nguyên nhân chủ quan, khách quan tác động Cho nên chúng ta càng quan tâmnhiều hơn nữa trong việc dạy một tiết Tập làm văn, đặc biệt là dạy một tiết dựngđoạn văn trong văn bản biểu cảm

II Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng phần lớn là học sinh khối lớp 7 - bậc THCS

Phạm vi nghiên cứu của đề tài này là rèn kỹ năng viết đoạn văn biểu cảm cho họcsinh THCS

III Ph ương pháp nghiên cứu

Để hoàn thiện đề tài này, người viết đó sử dụng những phương pháp nghiên cứusau:

- Phương pháp khảo sát, thống kê nhằm khảo sát tỡnh hỡnh thực tế viết đoạnvăn của các em

- Phương pháp so sánh nhằm so sánh kết quả thực nghiệm giữa hai lớp 7B và7C

- Phương pháp thực nghiệm nhằm thực nghiệm kĩ năng viết đoạn văn biểu cảmđối với học sinh

IV Những đóng góp mới của đề tài

Đề tài này sẽ giúp cho các em biết cách xây dựng đoạn văn biểu cảm nói riêng

và đoạn văn thuộc các thể loại nói trên, với bố cục đoạn văn dù ngắn hay dài đều

Trang 3

phải đảm bảo mặt nội dung và hoàn chỉnh về hình thức, hướng dẫn cho các em rènluyện kĩ năng viết đoạn văn theo bố cục ba phần: Mở bài, Thân bài, Kết luận.

Mỗi đoạn văn đều bao hàm một ý chính của nó ý chính đó, có thể đứng ở đầuđoạn văn theo cách diễn dịch hoặc đứng cuối đoạn văn theo cách qui nạp hoặc ýchính của các câu bình đẳng nhau, ngang hàng nhau theo cách song hành

Qua đó, rèn luyện cho học sinh kĩ năng diễn đạt đúng và hay bằng các hình thứcnói hoặc viết, tập vận dụng một cách sáng tạo, tổng hợp những kiến thức đã tiếp thuđược qua các môn Văn – Tiếng Việt và những kiến thức văn hoá xã hội để có thể nói

và viết theo yêu cầu, đề tài khác nhau, những kiểu văn bản khác nhau mà cuộc sốngđặt ra cho các em

V Cấu trúc của đề tài

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, Sáng kiếnkinh nghiệm cũn triển khai thành

I Lý thuyết về đoạn văn

II Rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn biểu cảm

III Tiến hành thực nghiệm

B NỘI DUNG

I

LÍ THUYẾT VỀ ĐOẠN VĂN

Văn bản được cấu thành bởi các đoạn văn theo những phương thức và bằngnhững phương tiện khác nhau Dựng đoạn được triển khai từ ý trong dàn bài Có thểĐoạn văn là một ý hoặc nhiều ý và cũng có thể một ý có nhiều đoạn Trong đoạnvăn thường có bố cục ba phần: mở đoạn, phát triển đoạn và kết đoạn ở góc độ đặcđiểm cấu trúc thì các đoạn văn có thể là đoạn diễn dịch, qui nạp, móc xích, songhành…

Để rèn luyện được kĩ năng viết đoạn văn, đòi hỏi học sinh phải suy nghĩ yêu cầudiễn đạt thành lời, thành đoạn, phải sử dụng các phương tiện ngôn ngữ sao cho phùhợp với ý của đoạn để hiệu qủa biểu đạt cao hơn, đoạn văn có sức cuốn hút hơn vớingười đọc Kĩ năng dựng đoạn văn gắn với kĩ năng luyện nói trên lớp Có triển khai

ý thành đoạn cũng mới tiến hành được Đây là những thao tác, những kĩ năng có khithực hiện và rèn luyện đồng thời cùng một lúc

Qua đó, ta có thể hiểu được: Đoạn văn là đơn vị trực tiếp tạo nên văn bản, bắtđầu từ chỗ viết hoa lùi đầu dòng, kết thúc bằng dấu chấm xưống dòng và thườngbiểu đạt một ý tương đối hoàn chỉnh Đoạn văn thường do nhiều câu tạo thành Đoạnvăn thường có từ ngữ chủ đề và câu chủ đề Từ ngữ chủ đề là các từ ngữ được dùng

Trang 4

làm đề mục hoặc các từ ngữ được lặp lại nhiều lần (thường là chỉ từ, đại từ, các từđồng nghĩa) nhằm duy trì đối tượng được biểu đạt Câu chủ đề mang nội dung kháiquát, lời lẽ ngắn gọn, thường đủ hai thành phần chính và đứng ở đầu hoặc cuối đoạnvăn (hay còn gọi là câu chốt) Các câu trong đoạn văn có nhiệm vụ triển khai và làm

rõ chủ đề của đoạn bằng các phép diễn dịch, qui nạp, song hành…

Khi chuyển từ đoạn này sang đoạn khác, cần sử dụng các phương tiện liên kết

để thể hiện quan hệ ý nghĩa của chúng Có nhiều phương tiện liên kết trong đoạnvăn: dùng từ ngữ có tác dụng liên kết, quan hệ từ, đại từ, chỉ từ, các cụm từ thể hiện

ý liệt kê, so sánh, đối lập, tổng kết, khái quát… và dùng câu nối trong đoạn văn.Đoạn văn liên kết nhằm mục đích tạo sự liền mạch một cách hợp lí, tạo tính chỉnhthể cho văn bản

Như vậy, các phương tiện liên kết vốn mang ý nghĩa, nhưng đồng thời chúngcũng là hình thức làm rõ tính liên kết của nội dung đoạn văn Mặt khác, lại có nhữngphương tiện liên kết đồng nghĩa, gần nghĩa với nhau, nên cần lựa chọn các phươngtiện liên kết cho phù hợp với ý đồ chủ quan của người viết, với sự việc được phảnánh và tình huống giao tiếp cụ thể

Vì vậy, chúng ta cần tận dụng những hiểu biết và khả năng trên của học sinh đểphát huy tính tích cực, tính chủ động và sáng tạo của học sinh trong việc rèn luyện kĩnăng viết đoạn văn được tốt và làm nền tảng cho chương trình THPT Mặc dù vậy,học sinh ở các trường THCS, phần lớn có khuynh hướng không thích học văn màđặc biệt là phân môn tập làm văn Và vì thế nó đã ảnh hưởng rất nhiều đến việc tiếpthu, vận dụng sáng tạo các kĩ năng viết đoạn văn của các em

II

RÈN LUYỆN KĨ NĂNG VIẾT ĐOẠN VĂN BIỂU CẢM

2.1 Đ ặc điểm của đoạn văn biểu cảm

2.1.1 Khái niệm Văn biểu cảm

Văn biểu cảm là văn viết ra nhằm biểu đạt tình cảm, cảm xúc, sự đánh giá của con người đối với thế giới xung quanh và khêu gợi lòng đồng cảm nơi người đọc Văn biểu cảm còn gọi là văn trữ tình, bao gồm các thể loại văn học như thơ trữ tình, ca dao trữ tình, tuỳ bút

Tình cảm trong văn biểu cảm thường là những tình cảm đẹp thấm nhuần tư tưởng nhân văn sâu sắc.

Ngoài biểu cảm trực tiếp như tiếng kêu, lời than, đoạn văn biểu cảm còn sử dụng các biện pháp tự sự, miêu tả để khơi gợi tình cảm.

( Sách giáo khoa – Ngữ Văn – 7 / Tập I – Trang 73)

Trang 5

2.1.2 Đặc điểm của đoạn văn biểu cảm

- Mỗi đoạn văn biểu cảm tập trung biểu đạt một tình cảm chủ yếu như yêuthiên nhiên, yêu loài vật, yêu con người, yêu thương trường lớp, bạn hữu, yêu giađình, yêu quê hương đất nước, ghét thói tầm thường, độc ác…

- Để biểu đạt tình cảm ấy, người viết có thể chọn hình ảnh có ý nghĩa ẩn dụ,tượng trưng (một đồ vật, một loài cây cỏ, một danh lam thắng cảnh hay một hiệntượng nào đó) để gửi gắm cảm xúc, ý nghĩ của mình, trang trải nỗi lòng mình mộtcách kín đáo hoặc nồng hậu, mãnh liệt, thiết tha

Ví dụ: “ Bằng Sơn qua bảo “ Tấm gương” đã lấy tấm gương làm ẩn dụ để ca ngợi những đức tính tốt đẹp của con người của tình bạn trung thực, chân thành, thẳng thắn, không nói dối, không nịnh hót hay độc ác với bất cứ ai Đồng thời tác giả chỉ rõ có một gương mặt đẹp quả là hạnh phúc lúc soi gương; nếu có thêm một tâm hồn đẹp đẽ để soi vào tấm gương lương tâm thì hạnh phúc mới thật trọn vẹn”.

(Ngữ Văn – 7 / Tr-84,85)

- Cũng như đoạn văn thuộc các thể loại khác, đoạn văn biểu cảm cũng có bố cục

ba phần

Mở đoạn : Có thể giới thiệu sự vật, cảnh vật trong thời gian và không gian Cảm

xúc ban đầu của người viết

Phát triển đoạn : Biểu lộ cảm xúc, ý nghĩ một cách cụ thể, chi tiết, sâu sắc

Kết thúc đoạn : Kết đọng cảm xúc, ý nghĩ của mình.

- Đoạn văn biểu cảm chỉ thực sự có giá trị khi tình cảm và tư tưởng hoà quệnvới nhau chặt chẽ Cảm xúc phải chân thật, trong sáng, tư tưởng phải tiến bộ, đúngđắn Câu văn, lời văn, giọng văn phải có giá trị biểu cảm

- Trong văn biểu cảm, tình cảm con người đã qua suy nghĩ, khác với trạng thái,cảm xúc ( biểu hiện ra nét mặt cử chỉ)

- Có hai cách (lối) biểu cảm

Biểu cảm trực tiếp: Thông qua cách sử dụng các từ cảm : ôi, hỡi, tôi, ta… Tácdụng bộc lộ, biểu hiện tình cảm, thái độ đối với sự việc có liên quan Điều này thấy

rõ nhất trong thơ trữ tình, trong tuỳ bút, trong đối thoại nội tâm của nhân vật

Biểu cảm gián tiếp: Thông qua cách miêu tả cử chỉ, động tác, thái độ của nhânvật và tình cảm của người viết

Mặc dù vậy, biểu cảm trực tiếp, biểu cảm gián tiếp không đối lập nhau, khôngtách rời nhau mà cần được bổ sung cho nhau để giúp cho biểu cảm sâu sắc tinh tếhơn

Trang 6

2.2 Yêu cầu của đoạn văn biểu cảm

Cũng như các bài văn khác, đoạn văn trong văn biểu cảm cũng có những yêucầu cụ thể nhằm giúp học sinh nắm một cách khái quát về mặt hình thức cũng nhưnội dung đoạn văn biểu cảm Từ đó, các em mới có thể viết đoạn (xây dựng đoạn)đúng với yêu cầu Đoạn văn biểu cảm với việc nâng cao năng lực cảm thụ văn họccủa học sinh là những yêu cầu, nội dung liên quan mật thiết với nhau

Về mặt hình thức của đoạn văn :

Yêu cầu trước hết là học sinh phải nắm được dấu hiệu, qui ước khi viết đoạnvăn biểu cảm:

Đoạn văn là một phần của văn bản được tính từ chỗ viết hoa lùi đầu dòng

Trước khi viết đoạn văn biểu cảm, giáo viên hướng dẫn cho các em tìm hiểu đề,xác định ý và từ việc xác định được ý chính của bài mà đi đến xây dựng câu chủ đề.Việc viết câu chủ đề đúng với ý chính đã tìm được ở trên sẽ giúp học sinh địnhhướng cách lựa chọn nội dung trình bày theo cấu trúc diễn dịch, qui nạp hay cáckiểu cấu trúc khác Đồng thời cũng định hướng cho các em lựa chọn các phép liênkết, phương tiện liên kết, cách dùng từ ngữ cho phù hợp với cảm xúc trong bài viếtcủa mình

Câu chủ đề có thể đứng ở đầu đoạn (theo cấu trúc diễn dịch), có thể đứng ở cuốiđoạn (theo cấu trúc qui nạp) v.v…Câu chủ đề phải mang nội dung khái quát, lời lẽ ngắngọn, hàm xúc và thường đủ hai thành phần chính của câu : chủ ngữ và vị ngữ Các câucòn lại trong đoạn văn có nhiệm vụ diễn giải, chứng minh, làm rõ hoặc kết luận nhữngcảm xúc đã thể hiện trong câu chủ đề

Các câu trong đoạn văn biểu cảm phải được liên kết với nhau một cách chặt chẽbằng các phép liên kết, phương tiện liên kết, từ ngữ- câu liên kết, hoặc các mối quan

hệ phụ thuộc, không phụ thuộc giữa các đoạn văn mở bài, thân bài, kết bài

Đoạn văn phải có sự lựa chọn, sử dụng ngôn ngữ trong sáng, chuẩn mực, giàugiá trị biểu cảm để gọi ra được cảm xúc, tình cảm của người viết, có sức thuyếtphục, lay động người đọc, người nghe Từ ngữ ấy phải thể hiện được thái độ rõ ràngcủa người viết: đó là tình cảm buồn, vui, yêu ghét, hay thích thú…Có thể biểu cảmtrực tiếp hoặc biểu cảm gián tiếp hoặc kết hợp cả hai lối biểu cảm…

Ví dụ 1 : Em thương con cò trong bài ca dao vì thân phận, vì cảnh ngộ, vì gieo neo mà phải đi ăn đêm Vạc mới đi ăn đêm, “ con cò mà đi ăn đêm” là một nghịch lí đầy bi kịch Bi kịch ấy làm ta rơi lệ khi nghe tiếng kêu thảm thiết của cò:

“Ông ơi ông vớt tôi nao Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng.”

Trang 7

(Nguyễn Thị Hoa - lớp 7A – Trường THCS Xuân Trúc )

Ví dụ 2: “ Hình ảnh người dân chài mới đẹp làm sao:

“ Dân chài lưới, làn da ngăm rám nắng

Cả thân hình nồng thở vị xa xăm”

Vẻ đẹp của người lao động ở đây là vẻ đẹp khoẻ mạnh và tràn trề sức sống Có

lẽ, biển cả vốn gần gũi thân yêu với họ đã cho họ vẻ đẹp cường tráng, đáng mến ấy”.

(Khánh Vân– Lớp 6 Văn– Trường THCS Trần Phú– Hải Phòng)

Về mặt nội dung:

“Đoạn văn biểu cảm thể hiện được các năng lực: Tri giác ngôn ngữ nghệ

thuật, năng lực tưởng tượng, năng lực phân tích, chứng minh, năng lực cảm xúc thẩm mĩ…”

(Trích: Giảng dạy Tập làm văn ở trường THCS – TS Lê Xuân Soan – Nhà xuất

bản Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh)

Trên đây là những yêu cầu cơ bản nhất để có thể giáo viên vận dụng văn trongnhà trường vào nghiên cứu soạn giảng Tập làm văn, đặc biệt là vận dụng vào các tiếtthực hành Tập làm văn và làm văn trong trường THCS

2.3 Rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn biểu cảm

Rèn các kĩ năng làm văn nói chung và viết đoạn văn biểu cảm nói riêng khôngchỉ xuất phát từ mục đích, yêu cầu của môn học (mang tính thực hành tổng hợp cao)trong nhà trường THCS mà còn là trách nhiệm, nhiệm vụ của người thầy giáo trongchương trình thay sách giáo khoa hiện nay Điều quan trọng nhất khi viết đoạn vănbiểu cảm là học sinh nắm vững các thao tác, cách thức trình bày đoạn văn biểu cảm,

để từ các kĩ năng Tập làm văn phát triển thành kĩ xảo, thói quen làm văn

Để thực hành những điều nói trên đây, chúng ta hãy thử kiểm chứng bằng một

ví dụ cụ thể sau:

Đề bài: Phát biểu cảm nghĩ về bài ca dao “ Đêm qua ra đứng bờ ao”:

“Đêm qua ra đứng bờ ao, Trông cá cá lặn, trông soa sao mờ.

Buồn trông con nhện chăng tơ, Nhện ơi, nhện hỡi, nhện chờ mối ai ? Buồn trông chênh chếch sao mai, Sao ơi, sao hỡi, nhớ ai sao mờ ?

Trang 8

Đêm đêm tưởng giải ngân hà, Chuôi sao tinh đẩu đã ba năm tròn.

Đá mòn nhưng dạ chẳng mòn Tào khê nước chảy hãy còn trơ trơ.”

Trên đây là một bài văn biểu cảm về một bài ca dao Vì vậy, đề văn biểu cảmbao giờ cũng nêu ra được đối tượng biểu cảm và định hướng tình cảm cho bài viết.Xác định rõ các bước làm văn biểu cảm: Tìm hiểu đề, tím ý, lập dàn ý, viết các đoạnvăn mở bài, thân bài, kết bài

Để tiến hành rèn luyện các kĩ năng Tập làm văn, trước hết học sinh phải xácđịnh ý cho đoạn văn

1 Xác định ý cho bài văn biểu cảm.

Giáo viên định hướng cho học sinh xác định các vấn đề sau:

+ Đối tượng biểu cảm trong đề bài trên ?

+ Mục đích biểu cảm ?

+ Cảm xúc, tình cảm trong các trường hợp

+ Tình cảm, cảm xúc phải chân thật, trong sáng có sức thuyết phục

+ Lời văn, hơi văn, mạch văn phải phù hợp, gợi cảm

Trước hết chúng ta hình dung cụ thể đối tượng biểu cảm ở đây là : Bài ca dao.Bài ca dao ấy nói về lòng thương nhớ và tình cảm thuỷ chung của nhân vật trữ tìnhkhi xa quê hương

Hình thành được cảm xúc tình cảm của mình sau khi đọc xong bài ca dao

Lời văn, giọng văn phải bọc lộ cảm xúc, tình cảm chân thành khi đọc hiểu bàidao: Bài ca dao thấm thía bao nỗi buồn thương tha thiết, mong chờ, nhớ trông…Quá trình tìm hiểu đề là quá trình xác định ý cho bài văn biểu cảm ý của bài vănnằm ngay trong từ ngữ, hình ảnh: Đêm qua, đứng bờ ao, trông, buồn trông, buồn trông( mức độ tăng dần), rồi: sao ơi, sao hỡi, tưởng, nhớ ba năm, Đà mòn, dạ chẳng mòn ; trong kết cấu của bài ca dao… Vấn đề là giáo viên tổ chức hướng dẫn như thế

nào để học sinh phát hiện ra các ý chính của bài mà đề yêu cầu Có như vậy việc tìm ý,triển khai ý mới trở thành kĩ năng ở các em Tránh tình trạng khi viết đoạn lại khôngtrúng với ý mình đã xác lập, viết lan man, từ ngữ nghèo nàn không gọi ra được cảmxúc, tình cảm của người viết

Chẳng hạn theo yêu cầu của đề văn trên đây, giáo viên tổ chức cho các em xácđịnh được các ý chính:

Trang 9

+ Nỗi cô đơn, buồn vắng, chờ mong.

+ Cảnh vật với nỗi nhớ cố hương

+ Sự gắn bó thuỷ chung của người lữ khách đối với gia đình và quê hương.+ Nỗi lòng của nhân vật trữ tình trong bài ca dao và cảm xúc, tình cảm củatâm hồn con người

Như vậy, chúng ta đã xác định các ý trong bài văn biểu cảm và mỗi ý trên đây

có thể được xây dựng bằng một hoặc hai đoạn văn

2 Xác định câu chủ đề.

Từ những ý đã được xác định trên đây, giáo viên hướng dẫn cho học sinh tậpviết các câu chủ đề Đây là khâu quan trọng trong việc tạo lập đoạn văn Vì có viếtđược câu chủ đề thì mới có thể triển khai ý của đoạn văn và lựa chọn nội dung trìnhbày của đoạn văn

Trước hết, chúng ta xác định câu chủ đề mang tính khái quát cho toàn bài văn: Bài ca dao “ Đêm qua ra đứng bờ ao” diễn tả bao nỗi buồn thương nhớ, cô đơn

và lòng chung thuỷ của người lữ khách đối với quê nhà

Ta xác định câu chủ đề cho từng đoạn văn như sau:

Câu chủ đề 1 : Tâm trạng của người lữ khách luôn lẻ loi, trống vắng, chờ trông

cứ vương vấn mãi không thôi

Câu chủ đề 2 : Nỗi nhớ quê nhà của nhân vật trữ tình diễn ra triền miên.

Câu chủ đề 3 : Lời thơ thấm thía bao nỗi buồn thương, nhớ – tấm lòng thuỷ

chung đối với quê nhà

Câu chủ đề 4 : Tấm lòng thuỷ chung toả sáng trong bài ca và tâm hồn con người.

Từ đó, giáo viên định hướng cho các em viết các đoạn văn bằng việc lựa chọncác phép liên kết, phương tiện liên kết, từ ngữ liên kết v.v

3 Liên kết đoạn văn và cách dùng từ, ngữ khi xây dựng đoạn văn.

Cũng như các kiểu văn bản khác, bài văn biểu cảm là một thể thống nhất vềhình thức, hoàn chỉnh về nội dung Trong đó, đoạn văn có một vai trò hết sức quantrọng trong việc cấu thành một văn bản biểu cảm hoàn chỉnh Vì vậy, các câu, cácđoạn trong văn bản phải liên kết với nhau một cách chặt chẽ

Rèn kĩ năng viết đoạn văn và việc sử dụng các cách liên kết là một thao táckhông thể thiếu được Các đoạn văn mở bài, thân bài, kết bài có thể được viết theocác cách như sau

4 Cách viết đoạn văn biểu cảm.

Trang 10

Trước hết, giáo viên hướng dẫn học sinh nắm một cách khái quát yêu cầu củacác đoạn văn mở bài, đoạn văn thân bài, đoạn văn kết bài.

Đoạn văn mở bài : Khái quát được cảm xúc, tình cảm của người viết khi đọc bài

ca dao “ Đêm qua ra đứng bờ ao”, nêu lên những ấn tượng sâu sắc nhất của mình

Đoạn thân bài : Triển khai mạch cảm xúc, tình cảm của người viết bằng việc sử

dụng những từ ngữ gợi cảm xúc, tình cảm Lần lượt nêu lên những suy nghĩ của riêngmình về những khía cạnh của tác phẩm Không lan man, dàn đều mà nên xoáy sâu vàocác trọng tâm, trọng điểm Phải đi “a” qua “b, c, d”

Đoạn kết bài : Nêu lên những cảm nghĩ chung, có thể đánh giá và liên hệ Tránh

dài dòng, trùng lặp, đơn điệu

Thao tác cơ bản : Phát biểu cảm nghĩ không thể nói chung chung mà rất cụ thể.

Phải chỉ ra được yêu thích, thú vị… ở chỗ nào, tại sao lại yêu thích, thú vị? Nghĩa làphải phân tích, trích dẫn

Có lúc phải khen chê Khen, chê chính là viết lời bình Giáo viên qua những bàigiảng cụ thể, qua việc hướng dẫn đọc sách sẽ giúp các em làm quen dần cách bìnhvăn, biến thành kĩ năng, kĩ xảo Lúc nào viết được lời bình hay, sâu sắc thì bài cảmnghĩ mới thực sự mang vẻ đẹp trí tuệ

Có lúc phải biết liên tưởng so sánh Từ hiện tượng này mà nghĩ, mà nhớ đếnhiện tượng khác tức là liên tưởng

Viết lời bình, so sánh, liên tưởng là thao tác cơ bản trong văn biểu cảm

4.1.Cách viết đoạn mở bài trong văn biểu cảm.

Trước hết phải nói rằng mở bài hay nhất, biểu cảm hay nhất là đạt hai yêu cầusau:

Tính khái quát

Tính định hướng

Từ đó, ta có thể trình bày một đoạn văn mẫu (đoạn mở bài) để học sinh học tập,bắt chước(bắt chước nhưng không ghi chép nguyên mẫu), rồi vận dụng cách bài ấycho bài của mình

Chẳng hạn, khi viết đoạn văn mở bài cho đề bài trên ta có thể viết như sau:

Từ lúc lọt lòng, khi còn nằm trên nôi, ta đã được nghe những lời ru ngọt ngào,xúc động của bà, của mẹ: à ơi, “ Anh đi anh nhớ quê nhà ” Lời ru ấy cứ giăng mắcmãi lòng ta Bài ca dao “ Đêm qua ra đứng bờ ao ” còn là một kỉ niệm không phai

mờ trong tâm trí tôi từ thuở bé thơ Lớn lên, tôi vẫn thường ru em như thế:

“Đêm qua ra đứng bờ ao,

Trang 11

Trông cá cá lặn, trông sao sao mờ.

Buồn trông con nhện chăng tơ, Nhện ơi, nhện hỡi, nhện chờ mối ai ? Buồn trông chênh chếch sao mai, Sao ơi, sao hỡi, nhớ ai sao mờ ? Đêm đêm tưởng giải ngân hà, Chuôi sao tinh đẩu đã ba năm tròn.

Đá mòn nhưng dạ chẳng mòn Tào khê nước chảy hãy còn trơ trơ.”

Đoạn văn trên được viết theo lối biểu cảm trực tiếp: biểu lộ cảm xúc, tình cảmcủa người viết thông qua việc sử dụng các từ ngữ: ta đã được nghe… không phai mờ trong tâm trí tôi từ thuở bé thơ…

4.2 Cách viết đoạn thân bài

Quá trình viết đoạn văn thân bài, giáo viên lưu ý học sinh: Giọng văn, hơi vănbiểu cảm không gò bó, khô khan, đảm bảo được các yêu cầu diễn đạt, dùng từ, đặtcâu, lựa chọn các đặc điểm, nội dung trình bày của đoạn văn Nghĩa là tuỳ thuộc vàomạch cảm xúc của người viết mà có cách lựa chọn cho thích hợp

Từ đề bài trên đây, ta có thể viết các đoạn văn thân bài như sau( lưu ý mỗi đoạnvăn được viết ra phải xuất phát từ các ý đã tìm được ở phần trên)

Đoạn văn 1 : Thao thức, lẻ loi, chỉ biết ra đứng bờ ao, nơi vắng vẻ ở cuối sân,

ngõ sau hay bờ ao Cứ trông gần, trông xa, nhưng nào thấy, vì “cá lặn, sao mờ” tự bao giờ Các điệp từ ( trông, cá, sao ) gợi lên trong lòng lữ khách sự buồn vắng, chơivơi…

“ Đêm qua ra đứng bờ ao Trông cá cá lặn, trông sao sao mờ”

Nỗi niềm ấy mới chỉ diễn ra “đêm qua” , còn đầy vơi trong lòng Giữa đêmkhuya trống vắng, không một người thân thương, chỉ còn biết “buồn trông” và khẽthốt lên:

“Buồn trông con nhện giăng tơ Nhện ơi, nhện hỡi nhện chờ mối ai ?”

Nhện cỏn con bé tí Nhện sao thấu hiểu nỗi buồn nhớ cô đơn của kẻ xa quêhương Đêm đã về khuya, sao mai đã “chênh chếch” nằm nghiêng nghiêng trên bầu

Ngày đăng: 18/10/2021, 15:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w