1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Sáng kiến kinh nghiệm lịch sử 9, đề tài dạy học tích hợp lịch sở và văn học

42 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sáng Kiến Kinh Nghiệm Dạy Học Tích Hợp Lịch Sử Và Văn Học
Định dạng
Số trang 42
Dung lượng 210 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để chuẩn bị cho năm học này, vừa qua Bộ GD-ĐT cũng đã tập huấn giáo viên về đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá theo định hướng phát triểnnăng lực học sinh, trong đó tập tr

Trang 1

A PHẦN MỞ ĐẦU

I Lý do chọn đề tài.

Từ nhiều năm nay, Bộ GD-ĐT đã chỉ đạo tích hợp nhiều nội dung giáo dụcvào quá trình dạy học các môn học trong trường phổ thông như: giáo dục đạo đức,học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; giáo dục pháp luật; giáodục phòng chống tham nhũng; giáo dục chủ quyền quốc gia, tài nguyên và môitrường về biên giới, biển, đảo; sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả; bảo vệmôi trường; đa dạng sinh học và bảo tồn thiên nhiên

Để chuẩn bị cho năm học này, vừa qua Bộ GD-ĐT cũng đã tập huấn giáo viên

về đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá theo định hướng phát triểnnăng lực học sinh, trong đó tập trung xây dựng các chủ đề dạy học trong mỗi mônhọc và chủ đề tích hợp, liên môn phù hợp với phương pháp dạy học tích cực vàphù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của địa phương, nhà trường

Dạy học liên môn là một trong những nguyên tắc quan trọng trong dạy học nóichung và dạy học lịch sử nói riêng Đây được coi là một quan niệm dạy học hiệnđại, nhằm phát huy tính tích cực của học sinh, đồng thời nâng cao chất lượng giáodục

Khoa học lịch sử thuộc nhóm khoa học xã hội nên dạy học liên môn là hìnhthức tìm tòi những nội dung giao thoa giữa các môn học với môn lịch sử như giữalịch sử - văn học, giữa lịch sử - triết học, lịch sử - địa lý kiến thức của các môn

có thể bổ sung, hổ trợ cho nhau, muốn hiểu được một tác phẩm văn học phải hiểuđược hoàn cảnh sáng tác tức là phải biết hoàn cảnh lịch sử, kiến thức của triết học

sẽ giúp ta hiểu về lực lượng sản xuất là gì, sự đấu tranh giữa các mặt đối lập làđộng lực cho xã hội phát triển Vì vậy, vận dụng nguyên tắc liên môn trong dạyhọc lịch sử là việc thực hiện tính kế thừa trong nhận thức các quá trình lịch sử dântộc và thế giới từ cổ đến kim, làm cho học sinh hiểu rõ sự phát triển của xã hộimột cách thống nhất, liên tục, tránh nhận thức rời rạc, tản mạn Đồng thời học sinh

có thể thấy mối liên hệ hữu cơ giữa các lĩnh vực của đời sống xã hội, giữa cácmôn học, từ đó phát triển tư duy cho hoc sinh

II Mục đích nghiên cứu.

Trước hết, các chủ đề liên môn, tích hợp có tính thực tiễn nên sinh động, hấpdẫn đối với học sinh, có ưu thế trong việc tạo ra động cơ, hứng thú học tập chohọc sinh Học các chủ đề tích hợp, liên môn, học sinh được tăng cường vận dụngkiến thức tổng hợp vào giải quyết các tình huống thực tiễn, ít phải ghi nhớ kiếnthức một cách máy móc

Trang 2

Điều quan trọng hơn là các chủ đề tích hợp, liên môn giúp cho học sinh khôngphải học lại nhiều lần cùng một nội dung kiến thức ở các môn học khác nhau, vừagây quá tải, nhàm chán, vừa không có được sự hiểu biết tổng quát cũng như khảnăng ứng dụng của kiến thức tổng hợp vào thực tiễn.

Dạy học theo các chủ đề liên môn không những giảm tải cho giáo viên trongviệc dạy các kiến thức liên môn trong môn học của mình mà còn có tác dụng bồidưỡng, nâng cao kiến thức và kĩ năng sư phạm cho giáo viên, nâng cao chất lượngsinh hoạt tổ/nhóm chuyên môn trong trường phổ thông, tập trung vào thực hiệnđổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá theo định hướng phát triểnnăng lực học sinh; đồng thời giúp cho cán bộ quản lý, giáo viên bước đầu chủđộng lựa chọn nội dung, xây dựng các chủ đề dạy học trong mỗi môn học và cácchủ đề tích hợp, liên môn

Mặt khác xây dựng kế hoạch dạy học phù hợp với các chủ đề theo hình thức,phương pháp, kỹ thuật dạy học và kiểm tra đánh giá theo hướng phát triển nănglực học sinh, tạo tiền đề tích cực cho việc triển khai thực hiện đổi mới chươngtrình và SGK giáo dục phổ thông sau năm 2015

III Đối tượng nghiên cứu

Để tạo cho học sinh hứng thú học lịch sử, phát huy tính tích cực xây dựng bài,

kích thích sự tìm hiểu khám phá về kiến thức…Thiết nghĩ có rất nhiều công trìnhnghiên cứu, nhiều ý kiến xoay quanh vấn đề trên, vậy trong khuôn khổ bài viếtnhỏ này tôi xin trình bày một vài kinh nghiệm dùng thơ Tố Hữu trong việc giảngdạy lịch sử 9(phần lịch sử Việt Nam)

IV Phương pháp nghiên cứu

Như đã xác định, đối tượng, phạm vi vận dụng của đề tài là chương trình lịch

sử lớp 9 ( phần lịch sử Việt Nam) Vì vậy, trước hết cần phải nghiên cứu kỹ phầnnày Đặc biệt là các bài có thể khai thác, vận dụng được Trong khi thực hiện côngđoạn này, cần phải liên hệ, so sánh và đặt nó trong mối quan hệ liên quan các bàithơ qua từng giai đoạn Đây là một thao tác rất quan trọng, góp phần xác địnhđược đúng mức độ vận dụng của đối tượng là học sinh lớp 9, tránh sa đà, ôm đồm.Tiến hành sưu tầm các bài thơ có quan hệ sát với nội dung các bài lịch sửthuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài Cần lưu ý rằng, không phải trong một tập thơliên quan ta có thể khai thác được hết tất cả chủ đề mà nên lựa chọn những bài thơsát nhất, “đắt” nhất để sử dụng

Chọn lựa, phân loại và sắp xếp các bài hoặc đoạn thơ sao cho phù hợp với yêucầu, phương pháp của một bài giảng

Trang 3

V Giới hạn phạm vi nghiên cứu:

Lựa chọn các bài thơ trong các tập thơ “Từ ấy”, “Việt Bắc”, “Gió lộng”, “Ra

Trận”, “Máu và hoa”, “Một tiếng đờn”, “Ta với ta” lồng ghép vào một số bài

học lịch sử lớp 9( phần lịch sử Việt Nam)

B PHẦN NỘI DUNG

I Cơ sở lý luận

Trong thực tế, giảng dạy lịch sử là môn học có kiến thức liên môn, song có lẽ

có mối quan hệ tác động qua lại mật thiết và bổ sung cho nhau nhiều nhất là mốiquan hệ giữa lịch sử và văn học Trước hết lịch sử đề cập đến nhiều lĩnh vực khácnhau của cuộc sống cho nên việc lồng ghép kiến thức văn học vào trong giờ dạylịch sử là điều không thể thiếu được Nếu như văn học thường mô tả những sựkiện bằng hình tượng thì lịch sử tái tạo lại quá khứ bằng những con số, sự kiện cụthể, điều đó đã tác động rất lớn đến nhận thức của học sinh Đã có không ít tácphẩm văn học từ bản thân nó là một tư liệu lịch sử như “Hịch tướng sĩ”; Hoàng Lênhất thống chí”… là những minh chứng hùng hồn cho mối quan hệ tương đồnggiữa lịch sử và văn học … Khi dạy bài “Bình Ngô đại cáo”, giáo viên không thểkhông nhắc tới cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, cũng như khi học bài “Ai tư vãn”,chúng ta có sự đồng cảm với nỗi lòng của Công chúa Ngọc Hân với tình cảm củangười vợ giành cho chồng, và đó cũng chính là tình cảm của toàn dân tộc ViệtNam trước sự ra đi quá đột ngột của vị anh hùng áo vải Quang Trung - NguyễnHuệ…

Các nhà nghiên cứu lý luận dạy học hiện đại cho rằng, trong một tiết học, bài học,giáo viên có thể lược bỏ bớt những nội dung kiến thức không phải là trọng tâmtrong sách giáo khoa và có thể cung cấp thêm cho học sinh một số kiến thức mởrộng nằm ngoài sách giáo khoa môn học mình đang dạy Những kiến thức đóthuộc nhiều kênh thông tin khác nhau: có thể là trên sách báo, truyền hình, ngoài

xã hội hoặc ở sách giáo khoa các môn học khác Tuy nhiên, việc cung cấp kiến

Trang 4

thức đó phải sát với bài học, phải đảm bảo tính phù hợp, vừa sức nhằm làm nổi bậttrọng tâm bài học và gây được hứng thú cho học sinh trong việc tiếp nhận kiếnthức Việc làm này càng có tác dụng đối với những bài học, tiết học được xem là

“khô khan” như nhiều tiết, bài lịch sử vì chúng có quá nhiều số liệu mà học sinhcho là khó nhớ Tất nhiên, việc

cung cấp kiến thức “bên ngoài” bao nhiêu, như thế nào để đạt hiệu quả cao

lại là chuyện khác

Theo chúng tôi, thực ra cơ sở này vừa mang tính lý luận, vừa mang tính thực

tiễn Suy cho cùng, đối tượng nghiên cứu của văn học cũng như sử học đều là Con Người Văn học ngợi ca vẻ đẹp của non sông, đất nước, ca ngợi những con người

mang những phẩm chất tốt đẹp, cao quý cũng như đả kích, lên án cái xấu của họthì lịch sử cũng ghi nhận công lao, đóng góp của những con người ấy (nhân vậtlịch sử) và phán xét nghiêm minh đối với những người có tội với dân, với nước

Không phải ngẫu nhiên mà trong chương trình văn học lại có phân môn Văn học

sử và trong chương trình lịch sử lại có phần Lịch sử văn học.

Khi chúng ta, tức là những giáo viên giảng dạy lịch sử, giảng dạy đến sự kiện,biến cố lịch sử nào, nhân vật lịch sử nào thì dù muốn hay không, chúng ta cũngthường liên tưởng đến những bài thơ, áng văn đã từng đề cập đến sự kiện đó, conngười đó mà chúng ta từng được đọc, được học Trong thực tế, có không ít ngườivừa là nhà văn, nhà thơ đồng thời là nhà sử học mà Bác Hồ kính yêu của chúng ta

là một ví dụ điển hình Bác không những là một Nhà văn hóa, Nhà giáo dục lớn

mà còn là người nghiên cứu lịch sử, là tác giả của rất nhiều tác phẩm thơ, văn nổi tiếng “Tuyên ngôn độc lập”, “Vi hành”, “Ngục trung nhật ký”… Chính Người

đã từng dạy rằng:

“Dân ta phải biết sử ta

Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”

II Thực trạng của vấn đề.

“ Lịch sử là sự kiện”, đó là một tổng kết mang tính chất kinh điển Bản thân

những sự kiện lịch sử vốn đã khô khan, nhất là những bài, những chương viết vềcác trận đánh có rất nhiều những con số về ngày, tháng, năm xảy ra sự kiện hoặcnhững số liệu về các thành tựu đã đạt được trên mọi lĩnh vực Để chuyển tải chohọc sinh những số liệu một cách khô cứng như vậy, đòi hỏi người giáo viên phảilinh hoạt và sáng tạo trong việc sử dụng phương pháp Thực tế cho thấy, trongnhững năm gần đây, giáo viên giảng dạy môn lịch sử một cách khô khan, cứngnhắc, nặng về cung cấp kiến thức, sự kiện một cách đơn thuần, do vậy không gâyđược hứng thú học tập cho học sinh trong việc tiếp thu bài học Tình hình này lại

Trang 5

càng trở nên đáng lo ngại hơn khi mà Đắk Nông chúng ta, một khu vực miền núi,mặt bằng kinh tế - giáo dục cũng như dân trí còn chưa cao Mặt khác, tài liệu thamkhảo cũng chưa đủ, nếu không muốn nói là rất thiếu Trong tình trạng đó, đại đa sốgiáo viên mới ra trường chỉ biết bám vào sách giáo khoa một cách lệ thuộc, truyềnthụ kiến thức đơn thuần theo phương pháp “đọc - ghi”, làm cho tiết học trở nênkhô khan đối với học trò Đây cũng là một trong những nguyên nhân chính làmcho học sinh chưa thích học bộ môn lịch sử.

Bảng 1 Kết quả khảo sát về thái độ của học sinh về việc học tập môn lịch sử

trước khi áp dụng đề tài.

học bộ môn

Thích học bộ môn

22 (59,46%)20(55,56%)27(71,05%)28(70%)

15(40,54%)16(44,44%)11(28,95%)12(30%)

Từ thực tế đó, cá nhân tôi đã có 20 năm liên tục giảng dạy khối 9 tôi đã cóđiều kiện để dự giờ rất nhiều các tiết dạy của đồng nghiệp Qua dự giờ, tôi đã rút

ra được một kinh nghiệm mà bản thân tôi cho là rất quý giá Đó là: khi áp dụngkiến thức thơ, văn vào việc giảng dạy lịch sử đã gây hứng thú cho học sinh trongviệc tiếp thu bài Điều này cũng đã được nhiều đồng nghiệp của tôi thừa nhận vàhọc hỏi sau khi họ dự giờ của cá nhân tôi Từ kinh nghiệm này, nhiều giáo viên đãbước đầu mạnh dạn đưa thơ, văn vào trong bài giảng nhằm minh họa cho một số

sự kiện lịch sử trong bài dạy Những tiết học như vậy trở nên sinh động hơn hẳn.Khi cô giáo đọc thơ minh hoạ, cả lớp chăm chú lắng nghe và tỏ ra rất thích thú,sau tiết học, nhiều em còn nhờ cô giáo đọc để chép vào sổ tay Những tiết học nhưthế đã để lại trong lòng các em những ấn tượng lâu bền Chắc chắn những sự kiệntrong bài học lịch sử sẽ lưu lại trong ký ức các em sâu hơn, lâu hơn Có thể nói,nền văn học nước ta đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, sứ mệnh của nó: phản ánhhiện thực, đặc biệt là văn học hiện đại Trong đó phải kể đến hai cây đại thụ Đó làlãnh tụ Hồ Chí Minh kính yêu và nhà thơ lớn Tố Hữu Trong khuôn khổ bài viếtnày tôi đề cập đến vấn đề sử dụng các tác phẩm thơ của Tố Hữu để giảng dạy một

số bài trong chương trình lịch sử lớp 9( phần lịch sử Việt Nam)

III Các biện pháp giải quyết vấn đề

Tố Hữu là nhà thơ của lý tưởng cộng sản, thơ Tố Hữu tiêu biểu cho khuynhhướng thơ trữ tình chính trị Tố Hữu là một chiến sĩ – thi sĩ, làm thơ trước hết là

Trang 6

phải phục vụ sự nghiệp cách mạng, cho lý tưởng của Đảng Trong thơ Tố Hữu từtrước đến sau, dù đề tài, nội dung cảm hứng có đa dạng đến đâu thì vẫn nhất quán

ở chỗ lấy lý tưởng cách mạng, quan điểm chính trị làm hệ quy chiếu cách nhìnnhận và xúc cảm về mọi phương diện, mọi hiện tượng của đời sống, kể cả đờisống riêng tư của chính nhà thơ Với Tố Hữu, “ tả tình hay tả cảnh, kể chuyệnmình hay kể chuyện người, viết về các vấn đề lớn hay về một sự việc nhỏ (…) là

để nói cho được cái lý tưởng cộng sản ấy thôi” (Chế Lan Viên)

Thơ Tố Hữu là thơ trữ tình chính trị Mọi sự kiện, vấn đề lớn của đời sống cáchmạng, lý tưởng chính trị, những tình cảm chính trị thông qua trái tim nhạy cảm củanhà thơ đều có thể trở thành đề tài và cảm hứng nghệ thuật thực sự Tố Hữu là nhàthơ của lẽ sống lớn, của những tình cảm lớn, niềm vui lớn của cách mạng và conngười cách mạng Đặc biệt ở những bước ngoặt trong đời sống cách mạng của dântộc, hồn thơ Tố Hữu thường phản ứng nhạy bén và dào dạt cảm hứng, kết tinhtrong những bài thơ đặc sắc, được sự đồng cảm và hưởng ứng rộng rãi của đôngđảo công chúng, đem đến cho văn học cách mạng một tiếng thơ sôi nổi, trẻ trung,mới mẻ và tràn đầy cảm hứng lãng mạn, đã mở ra một khuynh hướng lớn và có vịtrí chủ đạo – khuynh hướng trữ tình chính trị – trong suốt mấy chục năm của nềnthơ hiện đại Việt Nam Do khuynh hướng cảm hứng ấy mà thơ Tố Hữu chú trọngtác động đến tình cảm, cảm xúc của người đọc, đặc biệt khai thác giá trị gợi cảmcủa nhạc điệu thơ

Kế tục truyền thống thơ ca dân tộc, đặc biệt là thơ ca dân gian và thơ cổ điển,thơ Tố Hữu đậm đà tính dân tộc cả trong nội dung và nghệ thuật biểu hiện, hiệnthực đời sống cách mạng, những tình cảm chính trị, đạo lí cách mạng qua sự cảmnhận và thể hiện của Tố Hữu đã gắn bó, hòa nhập với truyền thống tinh thần - tìnhcảm và đạo lí của dân tộc, làm phong phú thêm cho truyền thống ấy

Nếu mỗi nghệ sĩ là một người thư ký của thời đại, theo quan niệm Balzac, thì TốHữu chính là người thư ký của cách mạng Thơ ông là biên niên sử cách mạng Cóthể lần theo dấu vết thơ ông mà tìm những bước thăng trầm của cách mạng, củakháng chiến

1 KHAI THÁC MỘT SỐ BÀI THƠ VẬN DỤNG VÀO VIỆC GIẢNG DẠY MỘT SỐ BÀI LỊCH SỬ(LỚP 9) CỤ THỂ:

Bài 14 “Việt Nam sau Chiến tranh thế giới thứ nhất”

a Làm sáng tỏ tội ác của thực dân Pháp xâm lược cũng như nỗi thống khổ củanhân dân ta do chính sách bóc lột bằng cách mở đồn điền hết sức tàn bạo:

… “Ôi nhớ những năm nào thuở trước

Xóm làng ta xơ xác héo hon

Trang 7

Nửa đêm thuế thúc trống dồn

Sân đình máu chảy, đường thôn lính đầy

Cha trốn ra Hòn Gay cuốc mỏ

Anh chạy vào Đất Đỏ làm phu

Bán thân đổi lấy đồng xu

Thịt xương vùi gốc cao su mấy tầng!

Con đói là ôm lưng mẹ khóc

Mẹ đợ con đấu thóc cầm hơi

Kiếp người cơm vãi cơm rơi

Biết đâu nẻo đất phương trời mà đi! ”

(Ba mươi năm đời ta có Đảng)

b/Trong mục “Xã hội Việt Nam”:Tố cáo những bất công trong xã hội:

“Hai đứa bé cùng chung nhà một tuổi

Cùng ngây thơ, khờ dại, như chim con

Bụi đời dơ chưa vẩn đục hồn non

Cùng trinh tiết như hai tờ giấy mới

Ồ lạ chửa! Đứa xinh tròn mũm mĩm

Cười trong chăn và nũng nịu nhìn me

Đứa ngoài sân, trong cát bẩn bò lê

Ghèn nhầy nhụa, ruồi bu trên môi tím!

Đứa chồm chập vồ ôm li sữa trắng

Rồi cau mày: "Nhạt lắm! Em không ăn!"

Đứa ôm đầu, trước cổng đứng treo chân

Chờ mẹ nó mua về cho củ sắn!

Đứa ngây ngất trong phòng xanh mát rượi

Đây ngựa nga, đây lính thổi kèn Tây

Đứa kia thèm, giương mắt đứng nhìn ngây

Không dám tới, e đòn roi, tiếng chưởi!

Vẫn chưa hết những cảnh đời đau khổ

Nhưng kể làm chi nữa, bạn lòng ơi!

Trang 8

Hai đứa kia như sống dưới hai trời

Chỉ khác bởi không cùng chung một tổ:

Đứa vui sướng là đứa con nhà chủ

Và đứa buồn, con mụ ở làm thuê.”

(Hai đứa bé)

Bài 15 “Phong trào cách mạng Việt Nam” Trong phong trào của các tầng

lớp tiểu tư sản trí thức Tháng 6 – 1924 , tiếng bom của Phạm Hồng Thái tại SaĐiện (Quảng Châu, Trung Quốc) đã cổ vũ, thúc đẩy phong trào tiến lên, mở màncho thời đại đấu tranh mới của dân tộc:

Sống, chết, được như Anh

Thù giặc, thương Nước mình

Giáo viên giới thiệu: Ghi nhận công lao của Người đối với cuộc cách mạng

Việt Nam, Tố Hữu dành những lời ngợi ca đầy xúc động và tràn trề nhiệt

huyết: “Hồ Chí Minh/ Người lính già/ Đã quyết chiến hy sinh/ Cho Việt Nam độc lập/ Cho thế giới hòa bình!”.

Với Tố Hữu, khi đó, Hồ Chí Minh là vị lãnh tụ, là “cảm tử quân đi tiên phong”, là

“ngọn đuốc thiêng liêng”, “trẻ mãi không già”:

“Từ đó, Người đi những bước đầu

Lênh đênh bốn biển, một con tàu

Cuộc đời sóng gió Trong than bụi

Tay đốt lò, lau chảo, thái rau

Mở mắt trông quanh, màu sắc mới

Những bờ bến lạ, nước nông sâu

A', Âu đâu cũng lòng trong đục

Vàng máu chia hai cảnh khổ giàu

Muôn nỗi đời như ảnh trắng đen

Bâng khuâng đêm lạnh, thức bên đèn

Một hòn gạch nóng nung tâm huyết

Trang 9

Mẩu bánh mì con nuôi chí bền

Bao nẻo người đi, bước trước sau

Một câu hỏi lớn: Hướng về đâu?

Năm châu thăm thẳm, trời im tiếng

Sách thánh hiền lâu đã nhạt màu…

Ôi nhân loại! Địa cầu cháy bỏng

Lò sát sinh ngập máu xương rơi

Lũ đế quốc như bầy quỉ sống

Nướng người ăn, nhảy nhót, reo cười

Bỗng sấm nổ Rạng đông chớp giật

Hoan hô Cách mạng tháng Mười Nga!

Tủ sắt ngai vàng quăng xuống đất

Công nông ta làm chủ đời ta,

Xóm thợ Pa-ri nghèo cuối ngõ

Tưng bừng gác trọ đón bình minh

Mác - Lê-nin đến Từng trang đỏ

Chân lý đây rồi, lẽ tử sinh!

Đứng dậy! Ơi Người cùng khổ ơi!

Tiếng chuông ta đánh, giục liên hồi

Hãy bay đi, hãy bay qua sóng

Về nước non xa, thức tỉnh đời ”

(Theo chân Bác)

Bài 17 Cách mạng Việt Nam trước khi Đảng cộng sản ra đời”

Bước phát triển mới của phong trào cách mạng Việt Nam: Phong trào yêunước của các tầng lớp nhân dân phát triển kết thành một làn sóng cách mạng dântộc dân chủ khắp cả nước

“Khóc là nhục Rên, hèn Van, yếu đuối

Và dại khờ là những lũ người câm

Trên đường đi như những bóng âm thầm

Nhận đau khổ mà gởi vào im lặng

Đời ta đã chứa bao nhiêu cay đắng

Trang 10

Bao nhiêu xương, bao nhiêu máu oan hồn

Chưa vừa ư, những xác không mồ chôn

Những thi thể khô gầy đương mòn mỏi!

Đời đói lạnh bởi không hề đòi hỏi

Ngậm căm hờn mà chuốc những ưu tư

Nẻo đường ra đã vạch tự bao giờ

Mời chân bước mà vẫn còn e ngại!

Quyết chiến đấu! Nào, ta liên hiệp lại

Hỡi tù nhân khốn nạn của bần cùng!

Ngày mai đây, tất cả sẽ là chung

Tất cả sẽ là vui và ánh sáng!”

(Liên hiệp lại! )

Bài 18 “Đảng cộng sản Việt Nam ra đời”

a Tập thơ “Từ ấy” là tiếng hát trong trẻo, phấn chấn, say mê của người thanh

niên cộng sản khi mới bắt gặp lí tưởng cách mạng Nó là một mốc son đánh dấu sựchuyển biến trong cuộc đời, trong thơ Tố Hữu Như chính nhà thơ đã từng viết

“Từ ấy là một tâm hồn trong trẻo của tuổi mười tám đôi mươi, đi theo lí tưởng cao

đẹp dám sống, dám đấu tranh” Toàn bộ bài thơ là niềm vui sướng, say mê mãnhliệt của nhà thơ Tố Hữu trong buổi đầu gặp gỡ lí tưởng cuộc sống và tác dụng kìdiệu của lý tưởng cách mạng đối với quá trình nhận thức cũng như đối với đời thơ

Tố Hữu Bài thơ còn thể hiện quá trình vận động của tâm trạng cũng như nhậnthức của người thanh niên trí thức tiểu tư sản sang người trí thức cách mạng giàulòng yêu nước:

“Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ

Mặt trời chân lý chói qua tim

Hồn tôi là một vườn hoa lá

Rất đậm hương và rộn tiếng chim

Tôi buộc lòng tôi với mọi người

Để tình trang trải với trăm nơi

Để hồn tôi với bao hồn khổ

Gần gũi nhau thêm mạnh khối đời

Tôi đã là con của vạn nhà

Trang 11

Là em của vạn kiếp phôi pha

Là anh của vạn đầu em nhỏ

Không áo cơm, cù bất cù bơ ”

(Từ ấy)

b Khi nói về ý nghia lịch sử của việc thành lập Đảng cộng sản Việt Nam:

“Thuở nô lệ, thân ta nước mất

Cảnh cơ hàn, trời đất tối tăm

Một đời đau suốt trăm năm

Chim treo trên lửa, cá nằm dưói dao

Giặc cướp hết, non cao biển rộng

Cướp cả tên nòi giống tổ tiên

Lưỡi gươm cắt đất ngăn miền

Non sông một khúc ruột liền chia ba

Lũ bán nước lột da dân nước

Tan mồ cha cũng rước voi iày

Máu đà nhúng đỏ bàn tay

Biết chi đau đớn cỏ cây đồng bào!

Lần đếm bước đến khi hừng sáng

Mặt trời kia! Cờ Đảng giương cao!

Đảng ta, con cuả phong trào

Mẹ nghèo mang nặng khổ đau khôn cầm

Như đứa trẻ sinh nằm trong cỏ

Không quê hương, sương gió tơi bời

Đảng ta sinh ở trên đời

Một hòn máu đỏ nên Người hôm nay

Đảng ta đó, trăm tay nghìn mắt

Đảng ta đây, xương sắt da đồng

Đảng ta, muôn vạn công nông

Đảng ta, muôn vạn tấm lòng niềm tin

Đảng ta Mác – Lê-nin vĩ đại

Trang 12

Lại hồi sinh, trả lại cho ta

Trời ca, đất rộng bao la

Bát cơm, tấm áo, hương hoa, hồn người.”

(Trích trong tập thơ “Từ ấy”)

Bài 19 “Phong trào công nhân và nông dân 1930-1931 Xô Viết Nghệ - Tĩnh”

Sau khi trình bày cho học sinh diễn biến của phong trào Cách mạng

1930-1931 và Xô Viết Nghệ – Tĩnh, giáo viên có thể sử dụng đoạn thơ sau để minh hoạthêm:

“…Trống Xô-viết, Nghệ An vang động

Bắc Trung Nam làn sóng đấu tranh

Hầm than, xưởng máy, lều gianh

Đứng lên tự cứu mà giành ấm no

Đứng lên cứu tự do, độc lập

Đứng lên giành ruộng đất, áo cơm!

Đứng lên thân cỏ, thân rơm

Búa liềm không sợ súng gươm bạo tàn!!

Máu có chảy, xương tan thịt nát

Bớ công nông! Tiếng hát càng cao

Năm năm chìm nổi ba đào

Phong trào tạm lắng, phong trào lại lên ”

(Ba mươi năm đời ta có Đảng)

Bài 20 “Cuộc vận động dân chủ trong những năm 1936 – 1939”:Căn cứ vào

tình hình trong nước và thế giới, tiếp thu đường lối của Quốc tế cộng sản Đảngcộng sản Đông dương nêu nhiệm vụ trước mắt của nhân dân Đông dương là:“Chống phát xít, chống chiến tranh đế quốc, chống bọn phản động thuộc địa và taysai, đòi tự do, dân chủ, cơm áo và hoà bình” Một phong trào đấu tranh của quầnchúng với các cuộc bãi công, bãi thị, bãi khoá, mít tinh đã nổ ra mạnh mẽ trongNam, ngoài Bắc:

“…Chống phát xít, cường quyền hiếu chiến

Khắp năm châu, trận tuyến Bình dân

Trang 13

Trùng trùng cách mạng ra quân

Phất cao cờ đỏ, công nhân dẫn đầu

Còi máy gọi bến tàu hầm mỏ

Hòn Gai kêu Đất Đỏ đấu tranh

Áo nâu liền với áo xanh

Nông thôn cùng với thi thành đứng lên

Đòi cơm áo, đòi quyền dân chủ

Đường càng đi đội ngũ càng đông

Suối ngàn đã chảy thành sông

Đố ai tát cạn được dòng nước xuôi

Càng tức nước, càng xui bờ vỡ

Lòng dân ta như lửa thêm dầu

Lưỡi lê, mũi súng, nhà tù

Càng đau, càng khổ, càng thù, càng căm

( Ba mươi năm đời ta có Đảng)

Bài 21 “Việt Nam trong những năm 1939-1945”

a Tháng 9 – 1940, Pháp đầu hàng Nhật và mở cửa cho Nhật vào Đông Dương:

“…Nước đà mất tám mươi năm

Đã Tây lại Nhật, đứng nằm sao yên?

Thân một cổ hai xiềng nô lệ

Phải vùng lên mà bẻ cho tan

Diệt bầy Tây - Nhật - Việt gian

Việt Nam độc lập hoàn toàn tự do! ”

(Trích trong tập “Gió Lộng”)

b Pháp và Nhật đã câu kết chặt chẽ với nhau, dùng nhiều thủ đoạn tàn ác đểđàn áp, bóc lột nhân dân ta, gây ra nạn khan hiếm lương thực nghiêm trọng, làmcho khoảng 2 triệu đồng bào ta chết đói:

“…Lúa mùa mất sạch mọi nơi

Giặc còn vơ vét hết nồi đến thăng!

Đói xo khắp xóm khắp làng

Trang 14

Rau dưa chết giá, ngô lang xạc xờ

Buồn trông đồng trắng bãi khô

Lúa chiêm thôi hết ước mơ đầy nồi!

Một quan gạo sáu lon thôi

Không tiền mua cám mà nuôi mẹ già

Cháu thơ đói lả ôm bà

Con đeo chân bố khóc la đêm ngày! ”

(Ba mươi năm đời ta có Đảng)

c Dưới hai tầng áp bức, bóc lột nặng nề của thực dân Pháp và phát xít Nhật, cáctầng lớp nhân dân ta bị đẩy đến tình trạng cực khổ, điêu đứng Họ đã quyết tâm vùnglên đấu tranh giành quyền sống, tinh thần cách mạng của nhân dân ta càng lên cao:

“Bà con ơi, tính sao đây?

Bã nâu thính trấu nhét đầy bụng sao?

Ăn xin, xin chẳng có nào

Nằm lăn mà khóc, mà gào ai thương?

Há đành chết lặng trên giường

Há đành gục xuống bên đường chết queo?

Dậy đi, hỡi bạn đói nghèo

Tay cầm thúng mủng, lưng đèo cháu con

Sợ chi doạ nạt roi đòn

Rủ nhau ta tới công môn ta đòi

Phát cho ta gạo ngô khoai

Cứu dân đi hỡi các ngài mặt mo!

Lúa ta chất ứ đầy kho

Dành cho ai hưởng, chẳng cho ta dùng?

Phát ngay cho kẻ bần cùng

Mẹ cha, con cháu, vợ chồng ta ăn!

Bà con ơi, chớ tần ngần

Cứu đời ta sống, phải cần tay ta!

Tiến lên hăng nữa, đừng tha

Cầm dao, cầm súng xông ra phen này!

Đánh cho giặc Nhật tan thây

Vằm cho nát mặt cả bầy Việt gian

Diệt trừ phát-xít dã man

Việt Nam độc lập hoàn toàn tự do

Đời dân ta mới ấm no!

Trang 15

Lời Đảng gọi vang to khắp nước

Núi sông nghe chân bước trước sau

Bắc Sơn phất ngọn cờ đầu

Nam Kỳ khởi nghĩa bắc cầu tiến lên

Máu dù chảy hai miền thấm đỏ

Nghìn đầu rơi xuống cỏ, không lui

Núi càng rung, biển càng sôi

Thép nung càng luyện, càng tôi, càng bền.”

(Ba mươi năm đời ta có Đảng)

c Về Cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ:

Các anh chị bước lên đài gươm máy

Đầu sắp rơi mà môi vẫn cười tươi!

Chỉ còn đây một giây sống nữa thôi

Mà mắt đó vẫn trông đời bình thản

Giữa lúc giặc hằm hằm tay lắp đạn

Anh hùng lên tấm ván vẫn hiên ngang

Vẫn oai nghi, như bao thưở, đường hoàng!

Hơi chiến sĩ vẫn rền vang, dõng dạc:

"Hỡi giặc Pháp, tám mươi năm tội ác

Trên đầu bay Sống thác ta cần chi!

Giết ta đi, lũ khốn, giết ta đi

Máu ta thấm vào muôn lòng rên xiết

Bay sẽ thấy cả Việt Nam đoàn kết

Đứng phắt lên, giết chết cả loài bay

Đứng phắt lên, chặt đứt xích xiềng này!

Một thây ngã, một trăm đầu xốc tới

Trăm đầu rụng, thì muôn chân lính mới

Sẽ xông lên! Cờ phấp phới bay cao

Sẽ không rơi xuống đất một giây nào

Kèn xung trận kêu gào muôn chiến sĩ

Quyết chiến thắng, hỡi đồng bào, đồng chí!

Nước Việt Nam độc lập !"

Ôi thương đau

Lời chưa xong chiến sĩ đã rơi đầu!

Các anh chị

Hãy ngàn năm yên nghỉ!

Bao lời ngọc, chúng tôi ghi xương tuỷ

Trang 16

Và xin thề trước bóng dáng thiêng liêng:

Quyết hy sinh, phá tan hết gông xiềng

Cho Tổ quốc muôn muôn năm độc lập!

(Quyết hi sinh)

Bài 22.“Cao trào cách mạng tiến tới tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945”

a Nhằm khắc họa hình ảnh lãnh tụ Hồ Chí Minh và tình cảm của Người khi trở

về quê hương sau 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước, có thể khai thác:

“Ôi sáng xuân nay, xuân bốn mốt

Sáng rừng Việt Bắc trắng hoa mơ

Người về Im lặng Con chim hót

Thánh thót bờ lau, vui ngẩn ngơ…

Bác đã về đây, Tổ quốc ơi!

Nhớ thương, hòn đất ấm hơi Người

Ba mươi năm ấy, chân không nghỉ

Mà đến bây giờ mới tới nơi!

Ai đã đến, ai chưa đến đó

Có hòn núi Mác, suối Lê-nin

Hãy về thăm quê ta Pác Bó

Nơi Bác về, nguồn nước mới sinh… ”

(Theo chân Bác)

b) Về cao trào kháng Nhật cứu nước chuẩn bị Cách mạng Tháng Tám:

Máu Việt Nam đang chảy

Đỏ đồng, ôi máu yêu!

Miền Nam đang bốc cháy

Đồng bào ôi lửa thiêu!

Mau mau lên đứng dậy!

Gươm gươm đâu, tuốt ra

Súng súng đâu, vác chạy

Cứu cứu đồng bào ta!

Trang 17

Giết giết quân xâm lược!

Mau xung phong! Xung phong!

Cờ bay lên cứu nước

Máu giặc phải thành sông!

Ha ha! Bay phải chết

Lũ tàn ác gian tham!

Muôn trái tim đoàn kết

Toàn dân tộc Việt Nam!

Mỗi khu vườn, góc pgố

Mỗi ô ruộng, đường quê

Và rừng xanh núi đỏ

Đã vang động lời thề

Đất ta, ta quyết giữ

Một tấc cũng không nhường!

Đây là giờ sinh tử

Ta cần chi máu xương?

Tiến lên, quân giải phóng!

Qua cái chết vinh quang

Tiến lên, giành quyền sống

Trang 18

Ào ào ào ào ào ào

Đường tiến công, sông núi xôn xao

Bác đã về xuôi Chào Đại hội

Tiến quân ca sôi nổi Tân Trào!

Tổng khởi nghĩa! Lệnh truyền đêm trước

Sáng quân ra giải phóng Thái Nguyên

Hà Nội, Huế, Sài Gòn, cả nước

Đứng lên ta giành hết chính quyền!

(Theo chân Bác)

b Ngày 2 – 9 – 1945 , tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh thaymặt Chính phủ Lâm thời trịnh trọng đọc bản Tuyên ngôn độc lập, tuyên bố trướcquốc dân và thế giới rằng nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã ra đời:

… “Việt Nam, ta lại gọi tên mình

Hạnh phúc nào hơn được tái sinh

Mát dạ ông cha nghìn thuở trước

Cho đời, hai tiếng mới quang vinh!

Hôm nay sáng mồng hai tháng chín

Thủ đô hoa, vàng nắng Ba Đình

Muôn triệu tim chờ chim cũng nín

Bỗng vang lên tiếng hát ân tình

Hồ Chí Minh! Hồ Chí Minh!

Người đứng trên đài, lặng phút giây

Trông đàn con đó, vẫy hai tay

Cao cao vầng trán Ngời đôi mắt

Độc lập bây giờ mới thấy đây!

Người đọc tuyên ngôn Rồi chợt hỏi:

"Đồng bào nghe tôi nói rõ không?"

Ôi câu hỏi, hơn một lời kêu gọi

Rất đơn sơ mà ấm bao lòng!

Trang 19

Cả muôn triệu một lời đáp: "Có!"

Như Trường Sơn say gió biển Đông

Vâng, Bác nói, chúng con nghe rõ

Mỗi tiếng Người mang nặng núi sông

Trời bỗng xanh hơn, nắng chói loà

Ta nhìn lên Bác, Bác nhìn ta

Bốn phương chắc cũng nhìn ta đó

Nước Việt Nam dân chủ cộng hoà!

(Theo chân bác)

Bài 25 “Kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp(1946 – 1950):

a Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vừa ra đời đã phải đối mặt với muônvàn khó khăn, thử thách Quân đội các nước Đồng minh dưới danh nghĩa giải giápquân Nhật đã lũ lượt kéo vào nước ta

Từ vĩ tuyến 16 trở ra bắc, gần 20 vạn quân Tưởng Giới Thạch kéo vào đóng

ở Hà Nội và hầu hết các tỉnh Theo sau chúng là tay sai thuộc các tổ chức phảnđộng như Việt Nam Quốc dân đảng (Việt Quốc), Việt Nam Cách mạng đồng minhhội (Việt Cách) về nước hòng cướp chính quyền của ta Từ vĩ tuyến 16 trở vàoNam, quân Anh tạo điều kiện cho thực dân Pháp quay trở lại xâm lược Lợi dụngtình hình đó, bọn phản động trong nước ngóc đầu dậy, làm tay sai cho Pháp chốngphá cách mạng

Ngoài ra, trên cả nước ta, còn 6 vạn quân Nhật chờ giải giáp Một bộ phận quânNhật theo lệnh quân Anh đánh lại lực lượng vũ trang của ta, tạo điều kiện choquân Pháp mở rộng phạm vi chiếm đóng

Trong khi đó, chính quyền cách mạng vừa mới thành lập, chưa được củng cố,lực lượng vũ trang còn non yếu Nền kinh tế nông nghiệp nước ta vốn đã lạc hậu,lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề; hậu quả của nạn đói cuối năm 1944 - đầu năm

1945 chưa khắc phục được Tiếp đó là nạn lụt lớn, làm vỡ đê ở chín tỉnh Bắc Bộ,rồi hạn hán kéo dài, khiến cho nửa tổng số ruộng đất không canh tác được Nhiều

xí nghiệp còn nằm trong tay tư bản Pháp Các cơ sở công nghiệp của ta chư kịpphục hồi sản xuất Hàng hóa khan hiếm, giá cả tăng vọt, đời sống nhân dân gặpnhiều khó khăn

Ngân sách Nhà nước lúc này hầu như trống rỗng, kho bạc Nhà nước chỉ có hơn1,2 triệu đồng Chính quyền cách mạng chưa quản lí được Ngân hàng Đông

Trang 20

Dương Trong lúc đó, quân Trung Hoa Dân quốc lại tung ra thị trường các loại tiềnTrung Quốc đã mất giá, làm cho nền tài chính nước ta thêm rối loạn.

Tàn dư văn hóa lạc hậu của chế độ thực dân, phong kiến để lại hết sức nặng nề,hơn 90% dân số không biết chữ

Đất nước đứng trước tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”

Đảng ta đã phải nhiều lần nhân nhượng với thực dân Pháp để tránh phải cùngmột lúc đụng độ với nhiều kẻ thù, nhưng ta càng nhân nhượng, chúng càng lấn tới.Trước tình hình đó Ban thường vụ Trung ương Đảng quyết định phát động toànquốc kháng chiến

“ …Đời đang buổi bình minh hửng đỏ

Tây lại vào cắn cổ, cắn chân

Chém cha cái lũ thực dân

Đã leo đằng cẳng lài lân đằng đầu!

Một bước nhịn, bước sau cố nhịn

Giặc càng hung Còn nín được sao?

Hỡi quốc dân, hỡi đồng bào!

Có gươm, có súng, có dao hãy dùng

Quyết kháng chiến đến cùng cứu nước!

Toàn dân trông phía trước, tiến lên!

Nửa đêm vang tiếng lệnh truyền

Phố giăng chiến luỹ, đường xuyên chiến hào …

Dân ta gan dạ anh hùng:

Trẻ làm đuốc sống, già xông lửa đồn

Chân toạc máu, chân dồn đuổi giặc

Tay chém thù, tay sắc như gươm!

Củ khoai, củ sắn thay cơm

Khoai bùi trong dạ, sắn thơm trong lòng

Hớp ngụm nước suối trong dỡ khát

Trông trời cao mà mát tâm can! …”

(Ba mươi năm đời ta có Đảng)

Trang 21

b Phong trào “diệt giặc đói”:

“…Khoai mãn mùa đi, đến sắn về

Say màu hương mới, dậy hồn quê

Rướn thân lên trải ngàn tay rộng

Như những chàng trai đón bốn bề

Những buổi mai hường, nắng mới tinh

Bên đường sương mát, lá rung rinh

Ta đi trong gió thơm khoai sắn

Lòng nhẹ, vui vui, bát ngát tình

(Tình khoai sắn)

c Phong trào “Diệt giặc dốt”:

Trường tôi kiểu cách gì đâu

Không ham mái ngói, chẳng cầu tương vôi

Nhà tranh vách đất đủ rồi

Đình quang chiếm chật, được ngồi là hay

Trường tôi vui giữa luống cày

Bến sông, bãi chợ, bóng cây, lưng đồi

Trường tôi vui giữa biển khơi

Chữ reo mặt sóng, chữ ngời ghe câu

Trường tôi vui giữa rừng sâu

Chữ theo đuốc lửa, đêm thâu tiếng người

Lại đây, ơi bạn mình ơi!

Trường tôi vang vọng rồn lới nước non

Ta nghèo, không mực thì son

Bút tre phấn gạch, bà con tạm dùng

Nghiêng đầu trên tấm bảng chung

Phơ phơ tóc bạc, bạn cùng tóc xanh

Này em, này chị, này anh

Chen vai mà học, rách lành sao đâu!

I tờ mớm chữ cho nhau

(Trường tôi)

Ngày đăng: 18/10/2021, 15:53

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Kết quả khảo sát về thái độ của học sinh về việc học tập môn lịch sử - Sáng kiến kinh nghiệm lịch sử 9, đề tài dạy học tích hợp lịch sở và văn học
Bảng 1. Kết quả khảo sát về thái độ của học sinh về việc học tập môn lịch sử (Trang 5)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w