1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Khóa luận tốt nghiệp đại học

79 22 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực Trạng Giáo Dục Hướng Nghiệp Cho Học Sinh Rối Loạn Phổ Tự Kỷ Từ 15-18 Tuổi Trên Địa Bàn Thành Phố Hà Nội
Tác giả Hà Bích Hảo
Người hướng dẫn TS. Mai Xuân Thành
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội
Chuyên ngành Giáo Dục Đặc Biệt
Thể loại khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2018
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 163,35 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hướng nghiệp cho học sinh phổ thông là bước khởi đầu quan trọng của quá trình đào tạo và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao về chuyên môn và tay nghề trong tương lai. Thông qua việc tham gia các buổi học về giáo dục hướng nghiệp trên lớp hay ngày hội hướng nghiệp và việc làm, các em được làm quen với cơ cấu nền kinh tế của đất nước và các nghề cơ bản trong xã hội nhằm xác định cho bản thân trách nhiệm, nghĩa vụ sẵn sàng tham gia vào thị trường lao động sản xuất. Trong thực tế hiện nay vấn đề giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông và các học sinh bước vào độ tuổi lao động còn gặp rất nhiều khó khăn bất cập.Theo Tổng cục dân số Việt Nam đã thống kê đến năm 2009, Việt Nam có khoảng 6,7 triệu người khuyết tật trên tổng số 85,5 triệu dân, chiếm 7,8% dân số cả nước. Trong đó có 3,2% số người khuyết tật đã bước vào độ tuổi lao động và đang ở độ tuổi lao động nhưng chỉ có một số rất ít người khuyết tật là có việc làm, được tao cơ hội việc làm phù hợp và được đào tạo nghề một cách bài bản1. Nghề nghiệp được coi là tiêu chí đầu tiên để xác định mức độ độc lập cá nhân trong một xã hội. Khi có nghề đồng nghĩa với việc người khuyết tật có thể tự nuôi sống bản thân, nâng cao sự công nhận năng lực của người khuyết tật qua đó giúp người khuyết tật tự tin sống hòa nhập, tự khẳng định được vị trí đứng của mình với xã hội. Tuy nhiên để có được một công việc phù hợp với người khuyết tật là vô cùng khó khăn vì những rào cản của bản thân và sự nhìn nhận năng lực của xã hội đối với người khuyết tật, đối với những người mắc hội chứng rối loạn phổ tự kỷ còn gặp khó khăn hơn gấp nhiều lần.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI KHOA GIÁO DỤC ĐẶC BIỆT

HÀ BÍCH HẢO

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

THỰC TRẠNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH RỐI LOẠN PHỔ TỰ KỶ TỪ 15-18 TUỔI TRÊN ĐỊA BÀN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CHUYÊN NGÀNH: GIÁO DỤC ĐẶC BIỆT

Người hướng dẫn khoa học: TS Mai Xuân Thành

Trang 2

Hà Nội, năm 2018

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Mai Xuân Thành đã hết lòng hướng dẫn, tạo điều kiện và luôn động viên, khích lệ để tôi có thể hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp của mình.

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban chủ nhiệm khoa và các thầy, cô giáo khoa Giáo dục Đặc biệt, trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu khóa luận.

Tôi xin bày tỏ sự biết ơn tới tổ chức VAN, các trung tâm đã và đang hoạt động trên địa bàn thành phố Hà Nội đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong việc hoàn thành nghiên cứu của mình.

Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè và những người đã luôn động viên, khích lệ tôi để tôi có thể hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này.

Do thời gian có hạn, nên khóa luận không tránh được sự sai sót, kính mong nhận được sự góp ý của các thầy cô và các bạn!

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 5 năm 2018

Sinh viên

Hà Bích Hảo

Trang 4

MỤC LỤC

Trang 5

DANH MỤC BẢNG, HÌNH ẢNH

Trang 6

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Thị trường lao động hiện nay có tới hơn 100 ngành nghề cơ bản khácnhau, mỗi ngành nghề có một đặc thù riêng, yêu cầu nguồn nhân lực phải đượcđào tạo và có tay nghề vững vàng để phù hợp với từng lĩnh vực chuyên môn,từng ngành nghề của mình Chính vì vậy, ngay từ khi bước vào bậc giáo dụctrung học phổ thông mỗi học sinh đã có ý thức nghề nghiệp cho bản thân, haymột định hướng về nghề sao cho phù hợp nhất với năng lực và thế mạnh cánhân hỏa mãn đam mê của chính mình đồng thời đáp ứng được nhu cầu nhânlực cho mỗi lĩnh vực nghề nghiệp trong xã hội hiện nay Trong xã hội hiện nay

có không ít các bạn sinh viên sau khi ra trường nhưng vẫn không thể tìm chomình một công việc phù hợp với ngành học vì không có đam mê với nghề đã lựachọn Từ thực trạng thừa lao động tri thức, thiếu lao động chuyên môn cho thấyviệc định hướng nghề nghiệp và giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trước độtuổi lao động là những vấn đề cấp thiết và cần thiết của ngành giáo dục đào tạonói riêng và toàn xã hội nói chung Định hướng nghề nghiệp ngay từ đầu giúphọc sinh phổ thông hình thành phát triển nhân cách cũng như nâng cao năng lựcchuyên môn được phù hợp với nghành nghề các em lựa chọn

Hướng nghiệp cho học sinh phổ thông là bước khởi đầu quan trọng củaquá trình đào tạo và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao về chuyên môn vàtay nghề trong tương lai Thông qua việc tham gia các buổi học về giáo dụchướng nghiệp trên lớp hay ngày hội hướng nghiệp và việc làm, các em được làmquen với cơ cấu nền kinh tế của đất nước và các nghề cơ bản trong xã hội nhằmxác định cho bản thân trách nhiệm, nghĩa vụ sẵn sàng tham gia vào thị trườnglao động sản xuất Trong thực tế hiện nay vấn đề giáo dục hướng nghiệp cho họcsinh trung học phổ thông và các học sinh bước vào độ tuổi lao động còn gặp rấtnhiều khó khăn bất cập

Theo Tổng cục dân số Việt Nam đã thống kê đến năm 2009, Việt Nam cókhoảng 6,7 triệu người khuyết tật trên tổng số 85,5 triệu dân, chiếm 7,8% dân số

Trang 7

cả nước Trong đó có 3,2% số người khuyết tật đã bước vào độ tuổi lao động vàđang ở độ tuổi lao động nhưng chỉ có một số rất ít người khuyết tật là có việclàm, được tao cơ hội việc làm phù hợp và được đào tạo nghề một cách bàibản[1] Nghề nghiệp được coi là tiêu chí đầu tiên để xác định mức độ độc lập cánhân trong một xã hội Khi có nghề đồng nghĩa với việc người khuyết tật có thể

tự nuôi sống bản thân, nâng cao sự công nhận năng lực của người khuyết tật qua

đó giúp người khuyết tật tự tin sống hòa nhập, tự khẳng định được vị trí đứngcủa mình với xã hội Tuy nhiên để có được một công việc phù hợp với ngườikhuyết tật là vô cùng khó khăn vì những rào cản của bản thân và sự nhìn nhậnnăng lực của xã hội đối với người khuyết tật, đối với những người mắc hộichứng rối loạn phổ tự kỷ còn gặp khó khăn hơn gấp nhiều lần

Học sinh rối loạn phổ tự kỷ (RLPTK) có nhiều những khó khăn và hạnchế về kĩ năng cơ bản và năng lực nhận thức, nhưng với một số đặc điểm riêngrất điển hình như: máy móc, dập khuôn… học sinh tự kỷ có thể làm được cáccông việc phù hợp với khả năng, điểm mạnh mà học sinh có nếu được hướngdẫn và chỉ dạy Đối với học sinh RLPTK trên thế giới nói chung và học sinhRLPTK ở Việt Nam nói riêng, khi bước vào độ tuổi thanh thiếu niên các em rấtcần được định hướng một nghề nghiệp mà bản thân các em có khả năng làmđược Để có thể tự mình nuôi sống chính mình và đảm bảo những quyền cơ bảnnhất của con người Hiện nay trên thế giới và tại Việt Nam nhu cầu việc làm chocác bạn học sinh RLPTK từ 15-18 tuổi là rất lớn, vì khi được giáo dục hướngnghiệp và đạo tạo việc làm các em sẽ có thể tự lao động và giảm bớt gánh nặngcho gia đình và xã hội

Vì những lý do trên tôi chọn đề tài “Thực trạng giáo dục hướng nghiệp

cho học sinh rối loạn phổ tự kỷ từ 15-18 tuổi trên địa bàn thành phố Hà Nội”

để làm đề tài nghiên cứu

Trang 8

2. Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu về thực trạng giáo dục hướng nghiệp học sinh rối loạn phổ tự

kỷ từ đó rút ra một số bài học kinh nghiệm từ mô hình giáo dục hướng nghiệphọc sinh rối loạn phổ tự kỷ trên địa bàn Hà Nội

3. Đối tượng, khách thể nghiên cứu

Khách thể nghiên cứu: Giáo dục hướng nghiệp cho học sinh rối loạn phổ

tự kỷ từ 15-18 tuổi

Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng giáo dục hướng nghiệp cho học sinh

rối loạn phổ tự kỷ từ 15-18 tuổi

4. Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu thực trạng về giáo dục hướng nghiệp cho học sinh rối loạn

phổ tự kỷ trên địa bàn thành phố Hà Nội

- Tổng kết thành bài học kinh nghiệm từ công tác giáo dục hướng nghiệp

học sinh rối loạn phổ tự kỷ hiện nay từ đó đề xuất các khuyến nghị cho các trungtâm có sử dụng các chương trình hướng nghiệp

5. Giả thiết khoa học

Nếu giáo dục hướng nghiệp cho học sinh rối loạn phổ tự kỷ từ 15-18 tuổiđược thực hiện một cách khoa học dựa trên các yếu tố cá nhân thì sẽ phát huy tốtnhững khả năng của các em.Từ đó giúp các em tìm được một công việc phù hợpvới bản thân, giúp các em sống một cuộc sống độc lập và có ý nghĩa hơn, giảmgánh nặng và nỗi lo đối với gia đình và xã hội

6. Giới hạn phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu về thực trạng giáo dục hướng nghiệp và rút

ra một số bài học kinh nghiệm từ thực trạng giáo dục hướng nghiệp của cáctrung tâm trên địa bàn thành phố Hà Nội

Giới hạn địa bàn nghiên cứu: Các trung tâm đang thực hiện giáo dục

hướng nghiệp trên địa bàn Hà Nội

Giới hạn đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu các công viêc của học sinh

rối loạn phổ tự kỷ đã và đang học giáo dục hướng nghiệp tại các trung tâm

Khách thể khảo sát: 5 trung tâm đang thực hiện chương trình giáo dục

hướng nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội

7. Các phương pháp chính

Trang 9

7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết.

Đọc, phân tích, tổng hợp các tài liệu, các kết quả nghiên cứu về nhữngvấn đề lí luận có liên quan đến đề tài: Giáo dục hướng nghiệp cho học sinh tự

kỷ, thực trạng các trung tâm đang thực hiện chương trình giáo dục hướng nghiệpcho học sinh RLPTK

7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn.

Phương pháp phỏng vấn:

Phỏng vấn giáo viên đã và đang dạy học sinh để thu thập thông tin cầnthiết để điều tra thực trạng

Phương điều tra:

Xây dựng phiếu quan sát và tiến hành quan sát trên từng nhóm học sinhlàm từng công việc có thể làm được

Phương pháp phát phiếu điều tra:

Phát phiếu điều tra để thu thập những thông tin cần thiết từ thực trạnggiáo dục hướng nghiệp cho học sinh RLPTK

Phương pháp xủa lý số liệu:

Sử dụng toán thống kê để xử lý các số liệu thu được bằng các công thứctoán thống kê như giá trị trung bình, xếp thứ bậc

Trang 10

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP CHO

HỌC SINH RỐI LOẠN PHỔ TỰ KỶ 1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề.

Trên thế giới:

Ngay từ giữa thế kỉ XIX ở các nước có nền kinh tế phát triển trên thế giớinhư: Mỹ, Anh, Pháp,… vấn đề giáo dục hướng nghiệp đã bắt đầu được khơinguồn và trở thành vấn đề được quan tâm hàng đầu trong giáo dục và địnhhướng nghề nghiệp cho thanh thiếu niên lúc bấy giờ Nhằm đáp ứng số lượnglao động có chuyên môn và tay nghề cao phục vụ cho nền công nghiệp hóa đấtnước Hướng dẫn chọn nghề là cuốn sách đầu tiên được xuất bản tại Pháp vàocuối thập niên 40 của thế kỉ XIX, đánh dấu sự khởi đầu và quan tâm mạnh mẽcủa đất nước tới một vấn đề mang tính phát triển lâu dài, bền vững của nền kinh

tế đất nước sau này Cuốn sách đã đề cập tới sự đa dạng của nghề nghiệp trongnền kinh tế chung của đất nước do sự phát triển nhanh chóng của ngành côngnghiệp nặng và tầm quan trọng của việc hướng dẫn thanh niên trong quá trìnhlựa chọn nghề nghiệp Năm 1909, Frank Parsons đã bàn đến vấn đề hướngnghiệp cho học sinh cần dựa trên năng khiếu, sở thích, hứng thú, năng lực và thếmạnh của cá nhân[28]

Trong những thập niên đầu tiên của thế kỉ XX, N.K.Krupskaia đã cónhiều bài viết khẳng định hiệu quả lao động phần lớn phụ thuộc vào sự đam mê

và yêu thích của con người đối với từng lĩnh vực nghề nghiệp mà họ lựa chọn từtrước đó Đầu thế kỉ XX, các cơ sở dịch vụ hướng nghiệp phát triển mạnh mẽ tạicác nước như Mỹ, Anh, Pháp, Thụy Điển Khoảng thời gian này ở Nga, công táchướng nghiệp cho những thanh niên chuẩn bị bước vào độ tuổi lao động rấtđược chú trọng, đó là cơ sở để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao nhằmphục vụ nền kinh tế quốc dân và đóng góp quan trọng vào công cuộc côngnghiệp hóa đất nước Nhằm đáp ứng nhu cầu tăng trưởng nền công nghiệp hóa

mà việc tư vấn hướng nghiệp đã được hầu hết các quốc gia trên thế giới quantâm Trong nửa đầu thế kỉ XX, đã có nhiều tác giả viết về hướng nghiệp và đặt

Trang 11

mối quan tâm sâu sắc đến vấn đề giáo dục hướng nghiệp cho thanh niên như:Keller và Viteles 1937; Watts 1966; Super 1974[27] đều đề cập đến tác phẩmParson của nước Mỹ trong những năm 1900, tác phẩm Lựa chọn nhân sự đượcviết năm 1910 tại Pháp của Lahy[30]; ở Ý năm 1912 với cuốn sách Sự nỗ lựccủa Gemelli trong lựa chọn nhân sự[23], năm 1911-1912 ở Bỉ có cuốn sự tậptrung vào hướng nghiệp của Christianen và những tác phẩm tiên phong ở Anhnăm 1914 và 1915 do Reuchlin miêu tả 1964[23], tại Mỹ và Châu Âu đã có rấtnhiều tác phẩm nói về những nỗ lực ban đầu trong thiết lập tư vấn và hướngnghiệp cho người lao động.

Năm 1937, hai tác giả Keller và Viteles cùng nhau nghiên cứu và đưa ratầm nhìn toàn thế giới về tư vấn và hướng nghiệp, qua đó họ đã đưa ra thông tinkhảo sát và so sánh về vấn đề hướng nghiệp tại các quốc gia ở Châu Âu và ChâuÁ[23] Ở một số quốc gia, các thuật ngữ như “hướng dẫn nghề - vocationalguidance” , “tư vấn nghề - vocational counselling”, “thông tin, tư vấn và hướngdẫn - information, advice and guidance” đều chỉ các hoạt động tư vấn và hướngnghiệp[13] Suốt thế kỉ XX và những năm đầu của kỉ thế kỉ XXI, tư vấn vàhướng nghiệp trở thành nhiệm vụ chính và ngày càng phát triển mạnh mẽ tronggiáo dục Ngoài bối cảnh đặc thù về nền kinh tế, văn hóa và trình độ học vấn củamỗi quốc gia, giáo dục hướng nghiệp ở các nước đều có chung một mục tiêu và

có những quan điểm liên quan đến vấn đề lí luận và thực tiễn cần làm rõ nhằmtìm ra phương pháp khả thi và hiệu quả cho hoạt động giáo dục hướng nghiệp

Từ đó góp phần hỗ trợ và đào tạo nguồn lao động có chuyên môn và tay nghềcao nhằm đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế quốc dân của các quốc gia

Một số nước tiên phong trong công tác đào tạo và giáo dục hướng nghiệpcho thanh thiếu niên đang bắt đầu bước vào độ tuổi lao động Ở Anh: mô hình

cơ bản của Tư vấn và hướng nghiệp của tác giả Mc Cash 2006, được xác địnhtheo 4 mục đích: “Học quyết định, nhận thức cơ hội, học chuyển đổi và tự nhậnthức”[16] Chính từ công trình nghiên cứu của mình mà ông rút ra kinh nghiệmcho việc lựa chọn nghề nghiệp của một cá nhân không chỉ phụ thuộc vào yếu tố

Trang 12

khách quan bên ngoài mà còn phụ thuộc vào chính suy nghĩ chủ quan của bảnthân người trong cuộc Lựa chọn nghề nghiệp không chỉ là lựa chọn những gìmình thích, người lao động cần lựa chọn nghề phù hợp với năng lực nhận thức,sức khỏe, yêu cầu nghề nghiệp đặc điểm xã hội.

Các quốc gia Bắc Âu đều có chung mục tiêu hoặc kết quả học tập, tuynhiên nhấn mạnh sự khác biệt cá nhân, theo Plant 2003[13], phần nhận thức cơhội được nhấn mạnh nhất, tiếp đến là năng lực tự nhận thức, học quyết định, họcchuyển đổi và vấn đề ít được quan tâm hơn cả Các yếu tố này có mối quan hệchặt chẽ bổ sung cho nhau nhằm giúp người học có cái nhìn toàn diện hơn vềkhả năng thực sự của cá nhân

Nhìn chung: Các nước Châu Âu có sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế đặcbiệt là nền công nghiệp nặng và ngành công nghiệp điện tử đang phát triển rấtnhanh chóng Để đáp ứng sự phát triển và không đi thụt lùi của ngành côngnghiệp tri thức, các quốc gia châu Âu đã biết quan tâm, chú trọng đến vấn đềgiáo dục nghề và định hướng nghề nghiệp cho thanh thiếu niên bước vào độ tuổilao động, để các em có một tâm lý sẵn sàng tham gia vào nền kinh tế của đấtnước một cách phù hợp với khả năng, năng lực của bản thân

Trên thế giới có không ít những nhà bác học lừng danh, những con ngườithiên tài là người khuyết tật để lại nhiều ảnh hưởng tích cực lan truyền cảm hứngsống và sống độc lập bằng chính năng lực và khả năng của bản thân như:Stephen Hawking, sinh năm 1942 nhà vật lý lý thuyết lẫy lừng của thế kỉ XX,ông bị bệnh xơ cứng teo cơ và gần như bị liệt hoàn toàn Nick Vujicic, một diễngiả nổi tiếng có sức ảnh hưởng lớn tới phong cách sống của học sinh thế kỉ XXIanh cũng là người truyền cảm hứng sống cho những người khuyết tật trên thếgiới, anh sinh ra đã không có chân tay Helen Adams Keller sinh năm 1880, nữvăn sĩ nhà hoạt động xã hội, diễn giả người Mỹ Bà là người khiếm thị, khiếmthính đầu tiên giành học vị Cử nhân Nghệ thuật[31] Ngoài ra còn có nhữngngười tự kỷ trở thành những nhà bác học nổi danh như Albert Einsteinsinh năm 1879; Thomas Jefferson năm 1847; Temple Grandin sinh 1947;…

Trang 13

Điều này đã nói lên rằng người khuyết tật nói chung và người tự kỷ nói riêng ởmột mức độ nào đó họ vẫn có khả năng làm việc và tạo nên thành công nhưngười bình thường khác Học nghề và có một nghề phù hợp với năng lực bảnthân là một yếu tố quan trọng không chỉ với người không khuyết tật mà cònquan trọng đối với người khuyết tật nói chung và người tự kỷ nói riêng.

Ở Việt Nam:

Từ năm 1980 ngành giáo dục ở Việt Nam đã bắt đầu có sự quan tâm đếnvấn đề giáo dục hướng nghiệp cho thanh thiếu niên bước vào độ tuổi lao động,khi nền kinh tế ngày càng phát triển yêu cầu đặt ra đối với ngành giáo dục làmsao phải đào tạo ra nguồn lao động vừa có trình độ chuyên môn vừa phù hợp với

cơ cấu nền kinh tế của đất nước hiện nay Trong những năm gần đây giáo dụchướng nghiệp trở thành một đề tài nóng, một mối quan tâm hàng đầu của nhiều

bộ ngành có liên quan để tránh tình trạng sinh viên ra trường thất nghiệp quánhiều, cung–cầu lao động mất cân bằng Các chương trình giáo dục hướngnghiệp ngày càng phát triển nhằm hỗ trợ hướng nghiệp cho các bạn học sinh đểgiúp các em học sinh chuẩn bị bước vào cấp trung học phổ thông có một địnhhướng nghề nghiệp phù hợp với khả năng của bản thân Theo cuốn sách Hoạtđộng hướng nghiệp trong trường phổ thông của tác giả Phạm Tất Dong, PhạmHuy Thụ, Tô Bá Trọng[22] có đề cập đến tầm quan trọng của giáo dục hướngnghiệp đối với học sinh cấp trung học phổ thông Vì cấp trung học là giai đoạn

mà thế hệ học sinh bắt đầu có những lựa chọn cho mình một con đường để cónhững hành trang và chuẩn bị bước vào cuộc sống lao động thực sự Hướngnghiệp tạo điều kiện cho học sinh lựa chọn một trong nhiều con đường khácnhau phù hợp với năng lực tư duy nhận thức và đáp ứng được yêu cầu nghềnghiệp đưa ra Yêu cầu đó đặt ra một hệ thống giáo dục cần phải được thiết kếthực sự linh hoạt để phù hợp với sự khác biệt cá nhân trong việc tổ chức các môhình học tập, tạo cầu nối cho những người bị gián đoạn học tập có thể trở lại họckhi có nhu cầu Việc lựa chọn con đường riêng biệt của giáo dục nghề hay giáodục phổ thông cần phải dựa trên những đánh giá thận trọng về điểm mạnh và

Trang 14

điểm yếu của học sinh Hướng nghiệp chính là sự đánh giá toàn diện dựa trên

sự kết hợp những tiêu chí về giáo dục và năng lực nhận thức cá nhân cũng như

dự báo về nhân cách tương lai Vì vậy, cần phải có những nhà tư vấn và nhữngchương trình tư vấn, giáo dục hướng nghiệp thật bài bản về chuyên môn nhằmgiúp học sinh có sự lựa chọn nghề thích hợp (có tính đến nhu cầu của thị trườnglao động) Giáo dục hướng nghiệp chính là dự báo những khó khăn trong họctập và giúp giải quyết những vấn đề xã hội khi cần thiết, học sinh bắt đầu bướcvào giai đoạn định hướng nghề nghiệp tương lai của bản thân Ngoài ra tác giảPhạm Tất Dong còn xuất bản cuốn Tư vấn hướng nghiệp[19] nói về tầm quantrọng của công tác giáo dục hướng nghiệp đối với thanh thiếu niên bước vào độtuổi lao động Nếu công tác giáo dục hướng nghiệp được quan tâm và thực hiệnmột cách nghiêm túc sẽ giúp cho thanh thiếu niên có thể định hướng nghề chobản thân một cách phù hợp, từ đó mang lại nguồn lao động sáng tạo, chất lượngcho đất nước Đặng Danh Ánh “Một số vấn đề tâm lí giáo dục hướngnghiệp”[15] - nói về tâm lý của con người trong quá trình lựa chọn nghề nghiệp

và vai trò của việc nắm bắt được tâm lý của học sinh trong quá trình giáo dụchướng nghiệp Để lựa chọn được một ngành nghề thực sự phù hợp với cá nhânngười lao động còn phụ thuộc rất lớn vào đặc điểm tâm sinh lý con người Vìtâm lý con người là một trong những yếu tố tác động mạnh mẽ đến quyết địnhlựa chọn nghề nghiệp “Sinh hoạt hướng nghiệp” của Đoàn Chí[17]; cuốn sách

đề cập đến tác động của những chương trình tư vấn giáo dục, tư vấn hướngnghiệp, ngày hội việc làm trong môi trường trung học phổ thông buổi sinh hoạtnghề trong nhà trường phổ thông Qua những buổi sinh hoạt nghề, ngày hộihướng nghiệp việc làm sẽ giúp các em có lựa chọn sáng suốt, đúng đắn mộtnghề phù hợp với năng lực và khả năng của bản thân Cũng thông qua cácchương trình sinh hoạt giáo dục nghề nghiệp trong môi trường phổ thông các em

có cơ hội tiếp cận thực tế với các ngành nghề, được biết thêm thông tin vềnhững ngành nghề đang thiếu và cần nguồn nhân lực, những ngành nghề cầnđược phát triển trong nền kinh tế quốc dân Ngoài những tác phẩm sách đã được

Trang 15

xuất bản trở thành nguồn tài liệu hướng dẫn tham khảo quan trọng, có giá trịthực tiễn góp phần hỗ trợ chương trình tư vấn giáo dục hướng nghiệp trongtrường học đạt được những kết quả tốt cũng có một số đề tài nghiên cứu vấn đềnày như: đề tài của Phạm Huy Thụ về Cải tiến nội dung hình thức tổ chức laođộng sản xuất ở nhà trường phổ thông - 12/1992[29] đề tài đã đưa ra một số biệnpháp nhằm cải tiến nội dung chương trình giáo dục, định hướng nghề nghiệp vàhình thức tổ chức lao động sản xuất cơ bản của các ngành nghề trong môi trườnggiáo dục phổ thông, các hình thức lao động sản xuất có ảnh hưởng rất lớn đếnnăng suất lao động và chất lượng sản phẩm Mô hình trung tâm kĩ thuật tổnghợp-hướng nghiệp-dạy nghề 11/1992[29] là một trong những mô hình đến nayvẫn được áp dụng cho nhiều trung tâm giáo dục thường xuyên trong cả nước Từ

mô hình này học sinh vừa được học văn hóa vừa được định hướng và đào tạonghề ngay từ khi còn trên ghế nhà trường Điều này giúp các em có cái nhìnkhách quan chân thực vào khả năng và mức độ đạt được trong một ngành nghề

mà các em có ý định lựa chọn trong tương lai Năm 2006 Luật lao động sửa đổi

đã đưa ra cách tiếp cận mới “một bộ đề xuất các cải cách để có thể giúp học sinhphổ thông và đại học, học cách quản lí cuộc sống và có trách nhiệm với lựa chọnnghề nghiệp của họ”[6] Luật lao động đề cập đến vấn lựa chọn nghề nghiệp vàtrách nhiệm cá nhân với công việc mà mình lựa chọn, để người lao động tự nângcao ý thức và bồi dưỡng năng lực nghề nghiệp cho phù hợp với yêu cầu xã hội.Tuy nhiên, trong tất cả các cuốn sách đã được xuất bản và các công trình nghiêncứu trên mới chỉ dừng lại ở lứa tuổi các em học sinh trung học phổ thông khôngkhuyết tật mà chưa dùng để đề cập đến đối tượng là học sinh khuyết tật

Việt Nam là một trong những nước có hệ thống các trung tâm dạy nghềkhá đầy đủ và hoàn thiện trên thế giới, với 164 trường đào tạo nghề, 137 trườngcao đẳng và 216 trường trung cấp kỹ thuật, các trung tâm tham gia vào hoạtđộng giáo dục-đào tạo nghề Nhưng trong đó có rất ít các trung tâm, trường học

có chương trình đào tạo nghề dành riêng cho người khuyết tật hay đào tạo nghềmột cách bài bản, quy mô cho người khuyết tật được có cơ hội học nghề[12]

Trang 16

Qua số liệu thống kê năm 2000 của Bộ thương binh xã hội cho thấy cứ 10người khuyết tật mới có 2 người khuyết tật được tạo cơ hội việc làm, 1 ngườikhuyết tật được theo học lên bậc đại học cao đẳng[2] Từ năm 2000-2003Chương trình hỗ trợ, đào tạo việc làm cho người khuyết tật của Việt Nam thựchiện đã giúp cho một số lượng lớn người khuyết tật có một việc làm phù hợp vớinăng lực bản thân Năm 2006, bộ luật mới về đào tạo nghề Chính phủ Việt Nam

đã ban hành trong đó có một chương đề cập đến vấn đề đào tạo nghề cho ngườikhuyết tật[4] Theo điều 70 Chương VII luật Lao động, việc làm có quy định vềviêc đào tạo nghề dành cho người khuyết tật: Khuyến khích các trung tâm đàotạo nghề tuyển học viên là người khuyết tật, đồng thời thành lập các trung tâmđào tạo riêng cho người khuyết tật Đến năm 2010 theo luật người khuyết tật vàpháp lệnh người khuyết tật có quy định: Người khuyết tật được tạo cơ hội họcnghề và được đào tạo nghề phù hợp với năng lực, mức độ lao động cá nhân.Người khuyết tật tham gia học nghề được học miễn phí tại trung tâm đào tạonghề, được hưởng một số lợi ích từ cơ sở đào tạo nghề và giới thiệu việc làmphù hợp cho người khuyết tật sau khi đào tạo nghề Pháp lệnh người khuyết tậtcòn quy định các công ty nhận người khuyết tật vào làm việc với 5% tổng sốnhân viên thì sẽ được giảm thuế Các cơ sở sản xuất tạo điều kiện nhận ngườikhuyết tật vào làm việc sẽ được hỗ trợ vốn kinh doanh[7] Tất cả những laođộng là người khuyết tật đều được hưởng ưu đãi từ việc đào tạo nghề và giớithiệu việc làm phù hợp với bản thân từ đó giúp họ sống độc lập Theo Pháp lệnhngười khuyết tật thì nhà nước chịu trách nhiệm tư vấn hỗ trợ và đào tạo việc làmmiễn phí cho người khuyết tật theo khả năng, nhu cầu của mỗi cá nhân Nhưngtrên thực tế, rất ít người khuyết tật có thể tiếp cận được với các cơ hội việc làm,người khuyết tật cũng không được nhìn nhận một cách công bằng và có cơ hộiđược nhận vào làm việc trong các công ty là rất ít Hỗ trợ tìm việc làm chongười khuyết tật được thực hiện thông qua mạng lưới trung tâm dịch vụ việc làm

ở tỉnh nhưng hiện nay công tác này vẫn chưa thực sự hiệu quả Từ 2010-2015,

Trang 17

trong vòng 5 năm trở lại đây số lượng người khuyết tật được tạo cơ hội đào tạoviêc làm ngày một tăng cao, vấn đề việc làm của người khuyết tật trở thành mụctiêu chung của toàn xã hội, qua đó giúp người khuyết tật có thể lao động và làmnhững công viêc phù hợp để sống đọc lập hơn[10].

Trong những năm gần đây, khoa giáo dục đặc biệt trường Đại học Sưphạm cũng có một số đề tài nghiên cứu liên quan đến vấn đề giáo dục hướngnghiệp dạy nghề cho người khuyết tật như các khóa luận, luận văn, luận án tiếnsĩ: “Đặng Thùy Dương - Công tác, giáo dục hướng nghiệp cho người khuyếttật”, “Luận văn thạc sỹ của tác giả Đào Thị Phương Liên - Biện pháp giáo dụchướng nghiệp cho học sinh khiếm thị”[25], “Nguyễn Văn Tài - Tìm hiểu côngtác hướng nghiệp cho học sinh khiếm thị tại trường Nguyễn Đình Chiểu thànhphố Hồ Chí Minh” Các công trình nghiên cứu trên đã tìm hiểu về giáo dụchướng nghiệp tại một số trường chuyên biệt cho học sinh khiếm thị và học sinhkhuyết tật ở các thành phố lớn trên cả nước Đó cũng là cơ hội mở ra trong việcthúc đẩy quyền học tập, lao động của học sinh khuyết tật ở một số thành phố lớnnói riêng và người khuyết tật nói chung

Tự kỷ - Một thuật ngữ không còn quá xa lạ với mỗi người, đây là mộtdạng khuyết tật phát triển tồn tại suốt đời Khuyết tật này làm hạn chế năng lựcnhận thức và khả năng lao động của người mắc hội chứng rối loạn phổ tự kỷ.Hiện nay theo thống kê của Bộ lao động thương binh xã hội cho thấy chỉ riêngtại Việt Nam đã có hơn 200 nghìn người mắc hội chứng rối loạn phổ tự kỷ, trong

5 năm tới sẽ có gần 1 nửa số học sinh mắc hội chứng phổ tự kỷ sẽ bước vào độtuổi lao động Nhưng cho đến nay vẫn chưa có một đề tài nghiên cứu nào tìmhiểu về giáo dục hướng nghiệp cho học sinh rối loạn phổ tự kỷ

1.2. Rối loạn phổ tự kỷ.

1.2.1. Khái niệm:

Hiện nay có nhiều khái niệm khác nhau để nhắc về hội chứng rối loạn phổ

tự kỷ, dưới đây là những khái niệm được sử dụng phổ biến nhất:

Trang 18

Theo từ điển bách khoa Columbia (1996): “Tự kỷ là một khuyết tật phát

triển có nguyên nhân từ những rối loạn thần kinh làm ảnh hưởng trực tiếp chức năng cơ bản của não bộ Tự kỷ được xác định bởi sự phát triển không bình thường về kĩ năng giao tiếp, kĩ năng tương tác và suy luận Nam gấp 4 lần nữ, trẻ có thể phát triển bình thường đến 30 tháng tuổi”[14].

Năm 1999, tại Mỹ diễn ra hội nghị toàn quốc về học sinh tự kỷ, cácchuyên gia cho rằng nên xếp học sinh rối loạn phổ tự kỷ vào nhóm rối loạn pháttriển diện rộng và thống nhất đưa ra định nghĩa về tự kỷ: Tự kỷ là một dạngbệnh trong nhóm rối loạn phát triển lan tỏa, ảnh hướng đến nhiều mặt của sựphát triển, trong đó ảnh hưởng nhiều nhất là kĩ năng giao tiếp và quan hệ xã hội

Khái niệm được sử dụng phổ biến hiện nay là khái nệm của tổ chức Liên

Hợp Quốc đưa ra năm 2008: Tự kỷ là dạng khuyết tật phát triển tồn tại suốt đời,

các biểu hiện thường xuất hiện một cách rõ nét trong 3 năm đầu đời Tự kỷ là rối loạn thần kinh gây ảnh hưởng đến chức năng hoạt động của não bộ Tự kỷ sảy ra ở bất cứ cá nhân nào mà không phân biệt điều kiện kinh tế-xã hội, chủng tộc hay giới tính Đặc điểm của tự kỷ là những khiếm khuyết chính về cả 3 mặt như: tương tác xã hội, giao tiếp ngôn ngữ và phi ngôn ngữ, có hành vi sở thích mang tính lặp đi lặp lại.

Có rất nhiều những khái niệm và quan điểm khác nhau nói về tự kỷ hiệnnay, nhưng nhìn chung tất cả các khái niệm đều thống nhất ở một quan điểm: Tự

kỷ là một dạng khuyết tật phát triển tồn tại suốt cuộc đời, đó là một dạng tậtphức tạp,nó ảnh hưởng đến nhiều mặt của sự phát triển nhưng đặc trưng nhất thểhiện ở 3 mặt giao tiếp, tương tác xã hội và có hành vi sở thích mang tính hạn hẹp

và lặp đi lặp lại Rối loạn tự kỷ gồm các rối loạn có chung các đặc điểm trênnhưng lại khác nhau về mức độ nặng, thời điểm khởi phát, phạm vi, và sự tiếntriển theo thời gian

Tóm lại: “Rối loạn phổ tự kỷ là một dạng khuyết tật phát triển tồn tại,

được đặc trưng bởi ba khiếm khuyết cơ bản về lĩnh vực giao tiếp, khiếm khuyết

Trang 19

về tương tác xã hội, có hành vi và sở thích hoạt động mang tính hạn hẹp, lặp đi lặp lại”.

1.2.2. Tiêu chí chẩn đoán rối loạn phổ tự kỷ

Trước năm 2013 RLPTK được các nhà chuyên môn chẩn đoán theo cáctiêu chí của DSM-IV, theo DSM-IV thì rối loạn phổ tự kỷ được cẩn đoán theo 3tiêu chí Kể từ tháng 05 năm 2013, các nhà tâm lý và nhà tâm thần học đã sửdụng những tiêu chí của DSM-5 khi đánh giá các cá nhân để chẩn đoán nhữngrối loạn xảy ra trong thời kỳ phát triển như trên

Theo DSM-5 Tiêu chí chẩn đoán tự kỷ đã có sự thay đổi và chặt chẽ hơn

so với DSM-IV, với một số thay đổi trong quan điểm về tự kỷ nhằm đáp ứng nhucầu nghiên cứu và thực tiễn Điểm nổi bật trong phiên bản này gồm: (1) Thaytên gọi rối loạn phát triển diện rộng (PDDs) bằng tên gọi RLPTK (ASDs); (2)Tên gọi RLPTK cũng được sử dụng chung cho tất cả các rối loạn thuộc phổ tự

kỷ thay vì các tên gọi với từng loại rối loạn như trong phiên bản trước; (3) Gộpnhóm khiếm khuyết về giao tiếp và tương tác xã hội làm một, theo đó sẽ có 2nhóm tiêu chí chẩn đoán thay vì 3 như trong DSM – IV, (4) Các tiêu chí chẩnđoán cũng được các nhà chuyên môn đánh giá là hẹp hơn so với các phiên bảntrước kia[32]

Tiêu chí chẩn đoán:

A Những thiếu hụt dai dẳng trong khả năng giao tiếp xã hội và tương tác

xã hội trong nhiều tình huống/bối cảnh khác nhau, với những biểu hiện như sau,hiện tại đang biểu hiện hay trước đây đã biểu hiện (những ví dụ chỉ mang tínhminh họa, không bao hàm hết tất cả mọi khía cạnh, hãy xem văn bản):

1 Thiếu hụt khả năng trao đổi qua lại về xã giao-cảm xúc, ví dụ trongphạm vi từ cách tiếp cận xã giao bất thường và thất bại trong việc hội thoại qualại bình thường; đến giảm sự chia sẻ hứng thú, tình cảm, hoặc cảm xúc; đến thấtbại trong việc khởi xướng hoặc phản ứng lại với sự tương tác xã hội

2 Thiếu hụt những hành vi giao tiếp không lời được sử dụng trong tươngtác xã hội, ví dụ trong phạm vi từ khả năng phối hợp giao tiếp bằng lời và không

Trang 20

lời nghèo nàn; đến sự bất thường trong giao tiếp mắt và ngôn ngữ cơ thể hoặcthiếu hụt khả năng hiểu và sử dụng cử chỉ; đến sự thiếu vắng hoàn toàn của biểuhiện nét mặt và giao tiếp không lời.

3 Thiếu hụt khả năng xây dựng, duy trì và hiểu được các mối quan hệ, ví

dụ trong phạm vi từ khó khăn trong việc điều chỉnh hành vi cho phù hợp vớinhững ngữ cảnh xã giao khác nhau; đến khó khăn trong việc chơi tưởng tượnghoặc kết bạn với người khác; đến việc không quan tâm đến các bạn đồng tranglứa

Chỉ rõ về mức độ nghiêm trọng hiện tại

Mức độ nghiêm trọng được xác định dựa trên sự suy giảm trong giao tiếp

xã hội và những kiểu mẫu hành vi lặp đi lặp lại hoặc bị hạn chế

B Những kiểu mẫu hành vi, hứng thú hoặc hoạt động lặp đi lặp lại hay bịhạn chế, với ít nhất hai biểu hiện như sau, hiện tại đang biểu hiện hay trước đây

đã biểu hiện:

1 Những động tác vận động, cách sử dụng đồ vật hay lời nói rập khuônhoặc lặp đi lặp lại (Ví dụ: những cử động đơn giản rập khuôn, xếp đồ chơi thànhhàng hoặc vẫy vẫy đồ vật, lặp lại một cách máy móc lời nói của người khác,những cụm từ bất thường)

2 Khăng khăng yêu cầu những thứ giống nhau, thiếu sự linh động và chỉmuốn làm theo thường quy, hoặc những kiểu mẫu hành vi bằng lời hoặc khônglời đã trở thành thói quen (Ví dụ: lo lắng/căng thẳng tột độ với những thay đổinhỏ, gặp khó khăn trong quá trình chuyển đổi, lối suy nghĩ, cách chào hỏi cứngnhắc, cần phải làm cùng một việc, đi cùng một con đường hoặc ăn cùng mộtmón ăn mỗi ngày)

3 Những hứng thú rất hạn chế, gắn bó với một thứ gì đó một cách bấtthường về cường độ hoặc sự tập trung (Ví dụ: có sự gắn kết chặt chẽ hoặc quantâm quá mức đối với một đồ vật khác thường nào đó, bị hạn chế quá mức hoặc

có hứng thú dai dẳng)

Trang 21

4 Tăng phản ứng hoặc giảm phản ứng với các tiếp nhận giác quan hoặc

có hứng thú bất thường với những khía cạnh cảm giác/giác quan trong môitrường (vd: thấy rõ được sự hờ hững với cảm giác đau hoặc với nhiệt độ, phảnứng khó chịu với những âm thanh hoặc kết cấu nhất định nào đó, ngửi hoặc sờchạm đồ vật quá mức, thích mê nhìn theo những ánh đèn hoặc chuyển động)

C Những triệu chứng cần phải xuất hiện trong giai đoạn phát triển sớm(nhưng có thể sẽ không biểu hiện hoàn toàn cho đến khi nhu cầu xã hội vượt quákhả năng có hạn của những cá nhân này, hoặc các em có thể bị che giấu đi bằngcác chiến lược mà những cá nhân này đã học được trong quá trình sống)

D Các triệu chứng gây ra sự suy giảm có ý nghĩa lâm sàng đối với hoạtđộng xã hội, nghề nghiệp hoặc những lĩnh vực hoạt động quan trọng khác tronghiện tại

E Những rối loạn này không được giải thích tốt hơn khi quy các emvào thiểu năng trí tuệ (rối loạn phát triển trí tuệ) hay chậm phát triển tổng thể.Thiểu năng trí tuệ và rối loạn phổ tự kỷ thường xuất hiện chung với nhau; đểchẩn đoán rối loạn phổ tự kỷ và thiểu năng trí tuệ đi chung với nhau, kỹ nănggiao tiếp xã hội thông thường sẽ ở cấp độ thấp hơn cấp độ được kỳ vọng đốivới sự phát triển chung

Những cá nhân được chẩn đoán bằng tiêu chí được thiết lập lâu nămDSM-IV, với chẩn đoán là bị rối loạn tự kỷ, rối loạn Asperger, hoặc rối loạn pháttriển lan tỏa, nếu không được chỉ định bị những vấn đề khác, thì nên được chẩnđoán thành rối loạn phổ tự kỷ Những cá nhân có những thiếu hụt rõ ràng trongkhả năng giao tiếp xã hội, nhưng ngoài yếu tố này ra lại không có những triệuchứng khác phù hợp với tiêu chí chẩn đoán là rối loạn phổ tự kỷ, thì nên đượcđánh giá là bị rối loạn giao tiếp xã hội (ngữ dụng)

1.2.3. Một số đặc điểm của học sinh rối loạn phổ tự kỷ

Cảm giác: Học sinh rối loạn phổ tự kỷ gặp khó khăn trong tất cả các lĩnh

vực và khó khăn trong việc tiếp nhận và xử lý thông tin qua hệ thống giác quan

là một trong những khó khăn cơ bản và làm hạn chế khả năng tiếp nhận và xử lí

Trang 22

các thông tin cảm giác, đặc biệt là khi sử dụng những phản hồi có mục đích và

có tổ chức

Cảm giác về vận động và xúc giác của các em thường bị ảnh hưởng rấtlớn Đặc biệt là vùng tay và chân là hai vùng nhạy cảm đối với rất nhiều em, dovậy các em thường gặp rất nhiều khó khăn trong việc tiếp nhận, hiểu và xử lýnhững kích thích từ môi trường xung quanh cũng như hay có các hành vi bấtthường khi tiếp nhận quá nhanh các kích thích từ môi trường Các em thường có

xu hướng sử dụng giác quan nào đó một cách rất phức tạp, thậm chí là biến giácquan đó thành trung tâm của việc xử lý và đem đến mọi cảm giác từ các kíchthích xung quanh Học sinh rối loạn phổ tự kỷ cũng có xu hướng kén chọn mộtcách thái quá các kích thích cảm giác khác như thị giác, thính giác Mặc dù họcsinh nghe thấy người khác nói nhưng lại không tỏ ra sự quan tâm đến lời nóihoặc học sinh có thể không nghe thấy những điều người khác nói nhưng lại dễ bịphân tán bởi các âm thanh khác xung quanh như tiếng quạt kêu, tiếng nhạc phát

ra từ nhà bên cạnh hay tiếng dép đi trong nhà Việc tiếp nhận các kích thích củahọc sinh thường diễn ra quá nhanh hoặc quá chậm, thường là quá nhanh vớinhững kích thích mà học sinh hứng thú và chậm chạp có khi là không phản ứngvới những kích thích mà học sinh không thích

Tri giác: Học sinh rối loạn phổ tự kỷ gặp hạn chế và nhiều rào cản trong

việc tiếp nhận xử lý thông tin đến từ các giác quan do vậy các thông tin giácquan của học sinh thường gặp rất nhiều khó khăn và nhiều vấn đề gây nhiễu.Trong đó đặc điểm nổi bật nhất của học sinh rối loạn phổ tự kỷ chính là tri giáckiểu bộ phận, khi đưa cho học sinh một đồ vật nào đó như một bức tranh thì họcsinh thường quan tâm đến cái chi tiết nhỏ trong bức tranh đó như bông hoa, cáilá,… chứ không quan tâm đến cái tổng thể của toàn bộ sự vật hiện tượng đó là

gì Khó khăn trong việc tri giác toàn bộ sự vật khiến học sinh tự kỷ gặp nhiềukhó khăn trong việc bao quát và tiếp nhận thông tin tổng thể

Mức độ trí tuệ: Theo thống kê có khoảng 25% tổng số học sinh rối loạn

phổ tự kỷ có khả năng nhận thức trên mức trung bình, trong số đó một tỉ lệ nhỏ

Trang 23

có trí tuệ cao và rất cao Với những học sinh có mức độ nhận thức cao hoặc rấtcao thì học sinh có khả năng ngôn ngữ tốt hơn so với học sinh có mức độ nhậnthức trung bình hoặc kém, đặc biệt là học sinh Asperger Đối với học sinh mắcrối loạn phổ tự kỷ thì khả năng tư duy bằng hình ảnh phát triển ở mức độ cao vàtrở thành tư duy nòng cốt, tuy nhiên không phải mọi học sinh rối loạn phổ tự kỷđều có khả năng tư duy hình ảnh tốt, và cũng không phải tất cả mọi học sinh đềuthể hiện tư duy của mình theo cách này Học sinh tự kỷ có một hệ thống tư duycứng nhắc, và khó thay đổi theo môi trường và cấu trúc xung quanh.

Tư duy:

Mức độ trí tuệ của học sinh RLPTK: Khó khăn về học và Tự kỷ thường đikèm với nhau nhưng không phải bất cứ học sinh RLPTK nào cũng có những khókhăn về học Bởi lẽ, không phải bất cứ học sinh RLPTK nào cũng gặp khó khăn

về tư duy, học sinh RLPTK có thể có trí tuệ từ mức rất thấp đến mức cao Theothống kê có khoảng 25% học sinh RLPTK có trí tuệ trên trung bình, trong số đómột tỉ lệ có trí tuệ ở mức cao và rất cao Ở một khía cạnh khác, RLPTK cũng tạo

ra những đặc điểm tư duy hết sức đặc biệt và có thể xem đó là sự bù trừ củanhiều cá nhân bị tự kỷ

Tư duy hình ảnh phát triển ở mức độ cao và trở thành nòng cốt của tưduy: Đặc điểm này đã được nhiều nhà nghiên cứu công nhận và trở thành cơ sởcủa rất nhiều phương pháp trị liệu và giáo dục cho học sinh RLPTK Cũng dođặc điểm tư duy này, người tự kỷ thường gặp khó khăn trong việc tiếp nhận và

xử lí những thông tin không thể hoặc khó hình ảnh hoá Điều này cũng giải thíchtại sao những từ đầu tiên mà đứa học sinh RLPTK có thể học là danh từ, nhữngthứ có thể dễ dàng liên hệ với một hình ảnh cụ thể nào đó Việc học được cácđộng từ đặc biệt là các tính tự và trạng từ không hề đơn giản Những học sinhRLPTK có trí tuệ thấp có thể chỉ dừng lại ở việc hiểu và sử dụng những danh từchỉ sự vật cụ thể

Tuy nhiên, không phải tất cả những người Tự kỷ đều có khả năng tư duybằng hình ảnh ở mức độ cao, không phải tất cả đều xử lí thông tin theo cách này

Trang 24

Điều này phụ thuộc rất nhiều vào các thao tác tư duy mà họ có cũng như khảnăng nhớ

Tư duy lôgic thường gặp khó khăn: tư duy logic đối với học sinh RLPTK

là một khó khăn khá phổ biến Logic của học sinh thường không gắn với ngônngữ với những thứ được khái quát hoá mà thường hết sức cụ thể, đó là thứ logícđơn giản nhất, là mối tương quan đơn thuần giữa hai đối tượng

Các thao tác tư duy có nhiều hạn chế: mặc dù có tư duy bằng hình ảnh kháphát triển nhưng các thao tác tư duy bao gồm phân tích và so sánh, tổng hợp,trừu tượng hoá và khái quát hoá lại có nhiều điểm hạn chế Những cá nhân tự kỷthường gặp nhiều khó khăn trong việc khái quát hoá, những thông tin mà họ thuthập được thường lẻ tẻ, chi tiết Họ có thể liệt kê các dữ liệu trong khi lại gặp rấtnhiều khó khăn trong việc khái quát hoá Nhiều học sinh RLPTK có thể khônggặp khó khăn nhiều trong việc phân loại màu sắc (đặt những vật có màu giốngnhau vào một chỗ) nhưng điều đó lại hoàn toàn mang tính cảm giác và học sinhthường không thể khái quát gọi tên đó là vật màu gì

Khả năng trừu tượng hoá là một lĩnh vực thách thức với phần lớn họcsinh RLPTK Bằng chứng là học sinh rất khó hiểu và sử dụng những từ trừutượng Học sinh chỉ có thể hiểu những gì cụ thể, trực quan, những hình ảnhthị giác Chính vì không có khả năng trừu tượng hoá nên các học sinh RLPTK

có thể lấy cái chi tiết để gọi tên, mô tả cái khái quát, họ không có khả năngkhái quát

HS RLPTK gặp khó khăn trong việc hiểu ý nghĩa của các khái niệm Các

em có thể hoạt động và trải nghiệm, có thể học những kĩ năng, một số có thể sửdụng ngôn ngữ… nhưng không thể hiểu nhiều về ý nghĩa của những việc các emlàm Các em không tạo ra được sự liên kết giữa ý tưởng và sự kiện Thế giới củacác em là một chuỗi những sự kiện, những hoạt động… trong khi đó các nguyêntắc, nguyên nhân, khái niệm… của các sự kiện đó lại không rõ ràng Khả năngkhái quát kém có thể dẫn đến những khó khăn trong nhận thức khác

Trang 25

HS RLPTK thường có khả năng quan sát tốt các chi tiết, những hình ảnh

cụ thể Các em có thể nhanh chóng phát hiện ra nếu các đồ vật trong môi trườngcủa các em bị di chuyển, các em có thể nhìn thấy và nhặt những vật nhỏ xíu trênsàn nhà… Một số em có thể rất thính với các kích thích cảm giác như tiếng quạt,tiếng máy Với những học sinh có khả năng nhận thức cao cũng thường tập trungvào các nhận thức chi tiết, các em thường thuộc các mã điện thoại của các vùng,tên thủ đô của các nước…Việc quá quan tâm đến chi tiết khiến học sinh có thể

bỏ qua những sự kiện diễn ra xung quanh mình

Một đặc điểm cũng rất quan trọng trong tư duy của học sinh RLPTK là sựcứng nhắc Cụ thể: mọi thứ cần phải được dự tính từ trước, tư duy theo kiểu đen– trắng, thích các quy tắc rõ ràng, hành vi cứng nhắc

Tưởng tượng: Tưởng tượng là một khiếm khuyết nổi bật ở học sinh rối

loạn phổ tự kỷ cho dù học sinh tự kỷ đó có ở mức độ chức năng cao Học sinh tự

kỷ thường gặp khó khăn trong tưởng tượng, học sinh thường khó khăn trongviệc hiểu và thể hiện được những điều mà người khác nói, đặc biệt là khi ngườinào đó sử dụng các câu nói hàm ý, ngụ ngôn để có thể hiểu được những điều màngười khác nói thông qua các câu nói hàm ý cao học sinh buộc phải vận dụnghết khả năng để tưởng tượng xem người đó nói gì Vì vậy đối với học sinh tự kỷcần phải sử dụng cách nói ngắn gọn, tường minh nghĩa để học sinh có thể hiểu

và tưởng tượng được những điều mà người khác muốn truyền đạt

Ngôn ngữ: Mức độ phát triển ngôn ngữ hiểu ở học sinh RLPTK cũng rất

đa dạng, gần một nửa số học sinh rối loạn phổ tự kỷ không có ngôn ngữ, hoặckhông sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp và thể hiện nhu cầu mong muốn một cáchbình thường Giao tiếp là một trong những khiếm khuyết điển hình nhất thườnggặp ở những học sinh rối loạn, kể cả người lớn rối loạn phổ tự kỷ, cả ở học sinh

có ngôn ngữ và học sinh không có ngôn ngữ

Về vấn đề ngôn ngữ tiếp nhận:

Trang 26

Một số cá nhân hiểu ngôn ngữ không lời và gặp khó khăn trong việc hiểungôn ngữ nói Những cá nhân này có thể hiểu hơn khi thực sự làm và nhìn vì họ

sử dụng mắt để tiếp nhận nội dung của tình huống

Phần lớn có thể hiểu những hướng dẫn đơn giản, hiểu được tên gọi củanhững vật đơn giản, gần gũi, như “đưa cho mẹ cái cốc”, “đến đây và uốngnước” Với những vật có nhiều hơn 1 tên gọi học sinh cũng có thể gặp khókhăn trong việc hiểu tên gọi của các em

Quá trình xử lí thông tin thường chậm chạp, thường có một khoảng thờigian bị trì hoãn giữa lúc thông tin được đưa ra và lúc học sinh phản ứng lại

Gặp khó khăn khi ai đó nói quá nhanh, quá chậm hoặc dùng quá nhiều từnhất là dùng những từ lạ, phức tạp

Vốn từ của học sinh thường nghèo nàn, cấu trúc ngữ pháp thường bị sai làmột trong những nguyên nhân dẫn đến việc gặp khó khăn khi hiểu những câunói phức tạp, chứa đựng nhiều thông tin

Học sinh sẽ hiểu hơn nếu những gì được nói có kèm theo hình ảnh minhhoạ hoặc học sinh có thể liên tưởng tới một hình ảnh quen thuộc nào đó

Về vấn đề ngôn ngữ diễn đạt:

Sự khiếm khuyết trong việc sử dụng ngôn ngữ thì rất phổ biến và đượcxem là một đặc điểm nhận dạng học sinh RLPTK Cứ 4 hoặc 5 học sinh thì có 1học sinh không bao giờ nói Một số học sinh chỉ có thể bắt chước tiếng kêu củacon vật, phát ra những âm thanh vô nghĩa

Những học sinh còn lại có thể phát triển ngôn ngữ nhưng thường chậmhơn bình thường Các em thường bắt đầu bằng việc lặp lại những từ người khácnói, đặc biệt là 1 hoặc vài từ cuối của câu Thậm chí, các em bắt chước cả giọngđiệu của người nói

Một số học sinh không bao giờ vượt qua được giai đoạn nhại lời, số khác

có thể có thể chuyển sang giai đoạn tiếp theo, các em bắt đầu nói một số từ vàcụm từ mà các em nghĩ ra

Trang 27

Học sinh có thể gặp khó khăn với những từ mà bản thân nó không tạo ra

nghĩa như các liên từ ‘thì’, ‘là’ các trạng từ: trong, trên, dưới, trước Thông

thường, các em bỏ qua những từ này khi nói Giai đoạn tiếp theo, các em cũng

có thể nói những câu ngắn nhưng thường xuyên bị sai Một lỗi mà các em cũngthường gặp là sử dụng từ ngược nghĩa (học sinh muốn mẹ ‘tắt đèn’ nhưng lạinói ‘bật đèn’) Một động từ có thể được sử dụng trong nhiều tình huống và dovậy có những tình huống mà việc sử dụng động từ không hề phù hợp (học sinhbiết nói từ ‘ăn” và nó có thể dùng từ ‘ăn’ trong cả những tình huống như muốnuống nước, muốn xin một cái gì đó ), đặc biệt là trong những bối cảnh gầnnhau: ‘Bàn chải’ có thể được dùng thay cho ‘lược’ và ‘giầy’ có thể thay cho

‘tất’ Thậm chí, đôi lúc học sinh có thể nhầm lần giữa việc nói ‘bố’ và ‘mẹ’mặc dù rõ ràng là các em có thể phân biệt được điều đó và có hành động phùhợp với tình huống

Một số học sinh có thể duy trì kiểu ngôn ngữ kì quặc này khi đã lớn lên vàtiếp tục nó trong cuộc sống của một người trưởng thành Số khác có thể pháttriển ngôn ngữ hơn nữa thậm chí có thể phát triển tốt ngữ pháp và có một vốn từvựng khá rộng

Một số, thậm chí có thể phát triển ngôn ngữ gần như bình thường, điềunày thường chỉ xuất hiện ở những cá nhân được chẩn đoán là ở dạng Asperger.Tuy nhiên, ngay cả khi có ngôn ngữ gần như bình thường thì những người nàyvẫn có những vấn đề nhất định, ví dụ như rất ít nói, bị động trong việc sử dụngngôn ngữ Một số có thể nói ở mức vừa phải nhưng lại không sử dụng lối diễnđạt thông dụng, có thể sử dụng những lối diễn đạt theo kiểu cổ hoặc quá vănphạm, cầu kì Khi muốn diễn đạt một điều gì đó họ thường sử dụng cách nói dàidòng quá mức (‘rào trước, đón sau’)

Ở một số trường hợp, sự phát triển ngôn ngữ có thể bị thoái lui, ban đầu

có nói nhưng sau đó giảm dần và có thể mất hẳn Một số trường hợp lại khá đặcbiệt, đột nhiên đứa học sinh vốn chưa từng nói gì lại nói một từ, cụm từ thậm chínói một câu hết sức rõ ràng, nhưng sau đó không bao giờ lặp lại nữa

Trang 28

Hành vi: Đối với học sinh rối loạn phổ tự kỷ hạn chế về mặt ngôn ngữ,

giao tiếp và nhận thức có thể không phải vấn đề quan trọng mà học sinh gặpphải Những khó khăn khác đi kèm với những khiếm khuyết đã trở thành rào cảnkhông dễ dàng khắc phục đối với quá trình hòa nhập của học sinh Một trongnhững vấn đề đó là hành vi không phù hợp hay hành vi thách thức ở học sinh, ởhọc sinh tự kỷ các em không hiểu được thế nào là một hành vi dược phép làmhay một hành vi không được phép làm Đối với một học sinh rối loạn phổ tự kỷ,những vấn đề về hành vi có thể liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới mọi người

xung quanh học sinh

Tương tác xã hội: Tương tác xã hội chính là một trong những đặc điểm

thể hiện nhiều đa dạng đối với học sinh tự kỷ Học sinh rối loạn phổ tự kỷthường gặp những hạn chế nhất định trong việc xây dựng và duy trì các mốiquan hệ liên cá nhân Học sinh RLPTK không có nhu cầu tương tác với mọingười xung quanh hoặc tương tác với mọi người xung quanh một cách máy móccứng nhắc và khó hiểu, học sinh cũng không quan tâm đến việc chia sẻ niềmvui, sự yêu ghét, quan tâm đến việc thiết lập các mối quan hệ phù hợp là điều màhọc sinh không có khái niệm Các em ít và không quan tâm đến việc thiết lậpcác mối tương tác với bạn bè cùng chang lứa trong khi chơi

1.2.4. Đặc điểm học sinh RLPTK độ tuổi 15-18

Sự phát triển trí tuệ của học sinh độ tuổi 15-18

Ở tuổi này, ghi nhớ có chủ định giữ vai trò chủ đạo trong hoạt động trítuệ, đồng thời vai trò của ghi nhớ logic trừu tượng, ghi nhớ ý nghĩa ngày mộttăng rõ rệt Các em có khả năng tư duy lý luận, tư duy trừu tượng một cách độclập sáng tạo trong những đối tượng quen thuộc hoặc chưa quen thuộc Tư duycủa các em nhất quán hơn, chặt chẽ hơn và có căn cứ hơn, có thể sử dụng vậtliệu là những khái niệm khoa học, trí thức dưới dạng thuật ngữ, mệnh đề… để tưduy thoát ly với vật chất Sự phát triển mạnh của tư duy lý luận liên quan chặtchẽ đến tư duy sáng tạo

Trang 29

Giao tiếp tương tác xã hội, đời sống tính cảm và sự phát triển tâm lý

Giao tiếp là quá trình tiếp xúc tâm lý giữa con người và con người nhằmmục đích trao đổi tình cảm, vốn sống, kinh nghiệm, kỹ năng, kỹ xảo nghềnghiệp, hoàn thiện năng lực bản thân Giao tiếp là phương thức tồn tại của conngười, là phương tiện cơ bản để hình thành nhân cách trẻ Ở tuổi thanh niên, đờisống giao tiếp, tình cảm của các em phát triển rất phong phú và đóng vai tròquan trọng

Đặc điểm tình cảm của học sinh tuổi 15-18

Đời sống tình cảm của học sinh Trung học phổ thông rất phong phú Đặcbiệt của nó được thể hiện rõ nhất trong tình bạn của các em, vì đây là lứa tuổi

mà những hình thức đối xử có lựa chọn đối với mọi người trở nên sâu sắc Ở lứatuổi 15-18 các em học sinh đều coi tình bạn là những mối quan hệ quan trọngnhất của con người Bên cạnh tính bền vững, tình bạn của các em còn mang tínhxúc cảm cao Ở thanh niên mới lớn, sự khác biệt giữa các cá nhân trong tình bạnrất rõ

Hoạt động lao động, chọn nghề của học sinh tuổi từ 15-18.

Bên cạnh hoạt động học tập ở học sinh từ 15-18 xuất hiện những nhu cầu,nguyện vọng, những đòi hỏi trực tiếp của một hoạt động mới Đó là những hoạtđộng liên quan đến việc chọn nghề Các em đang đứng trước một sự thúc báchđối với việc chọn cho mình một nghề cụ thể, một chuyên ngành nhất định chotương lai gần sau khi tốt nghiệp Trung học phổ thông Việc lựa chọn nghềnghiệp đã trở thành một công việc khẩn thiết của học sinh Trung học phổ thông.Càng cuối cấp thì sự lựa chọn càng nổi bật Các em hiểu rằng cuộc sống tươnglai phụ thuộc vào chỗ mình có biết lựa chọn nghề nghiệp một cách đúng đắn haykhông? Việc lựa chọn không chỉ đề cập đến khía cạnh họ “sẽ là ai?” mà còn đềcập đến khía cạnh “sẽ là người như thế nào?” Việc chọn nghề dựa trên sự cânnhắc giữa sở thích, năng lực của bản thân với yêu cầu của xã hội

Những đặc điểm nhân cách chủ yếu

Do sự phát triển về thể lực, sự hoàn thiện về trí tuệ, cũng như tính xã hộihoá ngày càng cao, nhân cách học sinh lứa tuổi Trung học phổ thông có những

Trang 30

nét phát triển mới, khác về chất so với trước Khả năng tự ý thức phát triển khásớm ở con người và được hoàn thiện từng bước, đến 15-18 tuổi thì phát triểnmạnh, trở thành một đặc điểm nổi bật trong sự phát triển của thanh niên mới lớn,

có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển tâm lý lứa tuổi này Biểu hiện đặc trưng làthanh niên nhận thức được những đặc điểm và phẩm chất của mình trong xã hội,trong cộng đồng, ở mức cao hơn, đó là khả năng tự đánh giá về mình theo nhữngchuẩn mực của xã hội trên bình diện thể chất, tâm lý, đạo đức Tự ý thức có liênquan mật thiết đến sự đánh giá bản thân khi các em học sinh bước vào độ tuổi15-18

Khát vọng thành công của các em học sinh.

Trên cơ sở khát vọng, con người có mục đích để phấn đấu, vươn lên, luônvận động nỗ lực và ý chí để đạt được mục đích Do đó, khát vọng thành công làđiều kiện tất yếu để giúp con người thành công Đối với lứa tuổi học sinh Trunghọc phổ thông, khát vọng thành công của các em không chỉ dừng lại ở việc cốgắng nỗ lực để đạt kết quả cao trong học tập, còn biểu hiện ở định hướng nghềnghiệp, mơ ước về sự thành công trong sự nghiệp tương lai [24]

Đối chiếu theo những đặc điểm trên của học sinh trong độ tuổi từ 15-18tôi thấy ở lứa tuổi 15-18 của đối tượng học sinh RLPTK có nhiều điểm điểm hạnchế về mọi mặt như:

Đặc diểm tư duy

Những nét tư duy trở thành cố hữu định hình và khó có thể thay đổi đốivới các em học sinh RLPTK, các em sử dụng tư duy hình ảnh làm nòng cốt vàkhó khăn trong việc phát triển tư duy của bản thân lên một mức cao hơn

Đặc điểm ngôn ngữ-giao tiếp

Trang 31

HS RLPTK gặp nhiều khó khăn trong vấn đề giao tiếp, các em có hạn chế

về khả năng ngôn ngữ vì thế nên giao tiếp của các em thường cứng nhắc khóhiểu và khó diễn đạt

Đặc điểm hành vi-tâm lý

Các em có hành vi rập khuôn định hình lặp đi lặp lại, khó khăn trong việctiếp nhận hoặc thay đổi một thói quen của bản thân Điều này làm hạn chế rấtnhiều khả năng tiếp cận và học tập những cái mới, từ đó làm cho tâm lý của các

em cũng gặp khó khăn và duy trì một cách thái quá khó hiểu

Từ những đặc điểm trên của học sinh RLPTK cho thấy các em gặp khókhăn trong việc học tập, thay đổi môi trường mà không có sự thông báo từ trước

và tiếp nhận những tri thức mới, hay những hoạt động giáo dục hướng nghiệpcho các em Điều đó cho thấy khi chuẩn bị có một định hướng cho việc tổ chức,giáo dục hay thay đổi để giúp các em tiếp thu những kiến thức mới đặc biệt lànhững kiến thức mang tính thực tiễn gắn liền với cuộc sống và nghề nghiệp củabản thân

1.3 Nghề nghiệp

1.3.1 Khái niệm nghề:

Trong tâm lý học, E.A Klimov cho rằng: “Nghề nghiệp được hiểu là một lĩnh vực sử dụng sức lao động vật chất và tinh thần của con người một cách có giới hạn cần thiết cho xã hội (do sự phân công lao động mà có) nó tạo ra khả năng cho con người sử dụng lao động của mình để thu lấy những phương tiện cần thiết cho việc tồn tại và phát triển”[26].

Nghề là một lĩnh vực hoạt động chuyên nghiệp có tính ổn định, có tính thu nhập, được đào tạo, hướng đến sự phát triển của mỗi cá nhân và sự phát triển của toàn xã hội[13].

Khi bàn về khái niệm “nghề” cần lưu ý một số đặc điểm cơ bản sau:

- Nghề là hoạt động chủ đích của con người được sinh ra từ nhu cầu thực tiễn củacuộc sống

- Tính chuyên nghiệp là một đặc trưng của nghề trong xã hội hiện đại

- Nghề gắn liền với cuộc đời mỗi con người, với sự phát triển và hoàn thiện nhâncách cá nhân

Trang 32

1.3.2 Khái niệm định hướng nghề:

Định hướng nghề là tư vấn hướng dẫn cho các đối tượng chuẩn bị bước vào độ tuổi lao động lựa chọn các nghề sao cho phù hợp với những nhân tố khách quan từ bên ngoài và yếu tố chủ quan của cá nhân trong việc lựa chọn nghề cho tương lai[21].

Định hướng nghề phù hợp là tập hợp những đặc điểm tâm sinh lí đảm bảo cho con người đạt được hiệu quả cao nhất trong lao động nghề nghiệp và

sự vui vẻ hạnh phúc của cá nhân đối với nghề[21].

1.3.3 Vai trò của định hướng nghề:

Xã hội ngày càng phát triển, vấn đề năng suất và hiệu quả lao độngngày càng quan trọng, con người chính là chủ thể hoạt động quyết định năngsuất và chất lượng sản phẩm Vì vậy định hướng nghề có vai trò hướng dẫnngười lao động lựa chọn nghề phù hợp để mang lại năng suất lao động và chấtlượng sản phẩm

Đảm bảo yếu tố khách quan và chủ quan trong quá trình lựa chọn nghềnghiệp phù hợp với sở thích và năng lục cá nhân của con người, từ đó giúp họđạt được thành công và có lòng đam mê với công việc của bản thân

Định hướng nghề giúp giảm sự thuyên chuyển hoặc bỏ nghề giữ chừng, từ

đó giảm chi phí đào tạo và thời gian dào tạo nghề Tránh lãng phí thời gian côngsức tiền bạc và cơ hội tiếp cận với cuộc sống và công việc của cá nhân và cơ sởđào tạo[21]

1.4 Giáo dục hướng nghiệp và vai trò của giáo dục hướng nghiệp cho học sinh.

1.4.1 Khái niệm giáo dục

Giáo dục là một môn khoa học có hệ thống, được truyền từ đời này qua đời khác và có sự kế thừa tiếp thu và phát triển giữa các thế hệ.

Giáo dục là quá trình tác động có mục đích, có tổ chức, có kế hoạch, có nội dung và bằng phương pháp khoa học của nhà giáo dục đến người được giáo dục trong các cơ quan giáo dục nhằm hình thành nhân cách cho người học

1.4.2 Giáo dục hướng nghiệp cho học sinh.

Khái niệm giáo dục hướng nghiệp

Hướng nghiệp là định hướng về nghề nghiệp cho mọi đối tượng, khi đang chuẩn bị bước vào độ tuổi lao động và đã bước vào độ tuổi lao động, mọi giới tính, không phân biệt đó là người khuyết tật hay không khuyết tật Giáo dục

Trang 33

hướng nghiệp dược tổ chức theo từng cấp độ theo từng bậc học, cấp học, từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp[20]

Nhiệm vụ chính của giáo dục hướng nghiệp là định hướng nghề nghiệpmột cách đúng đắn và phù hợp cho từng đối tượng khác nhau Đây là bước đầutiên, rất cần thiết và quan trọng để mỗi cá nhân có thể lựa chọn cho mình mộtcông việc, nghề nghiệp thích hợp nhất

Theo lĩnh vực giáo dục thì giáo dục hướng nghiệp là các hoạt động mang

tính sư phạm, là sự phối hợp chặt chẽ giữa nhiều lực lượng như gia đình nhà trường và xã hội với mục đích nhằm giáo dục định hướng cho học sinh trước khi lựa chọn một nghề nghiệp phù hợp với khả năng và đặc điểm của bản thân Giáo dục hướng nghiệp là một bộ phận của giáo dục học tập trong nhà trường[20].

Theo lĩnh vực xã hội thì hướng nghiệp là: Khái niệm chung của một trong

những lĩnh vực văn hóa xã hội, thực hiện dưới hình thức quan tâm của xã hội và tạo nghề cho thế hệ đang chuẩn bị vào độ tuổi lao động và thực hiện nghĩa vụ lao động, nhằm hỗ trợ và phát triển những thiên hướng và thực hiện đồng bộ các biện pháp chuyên môn tác động đến đối tượng trong việc tự xác định nghề nghiệp và chọn lựa hình thức tối ưu để có việc làm phù hợp với điểm mạnh và khả năng của cá nhân, hoạt động hướng nghiệp có tính đến nhu cầu và năng lực của con người, kết hợp với hoàn cảnh kinh tế - xã hội trong thị trường lao động[18] Do tình hình các nghề và việc làm hiện nay thường xuyên thay đổi

cho nên hoạt động hướng nghiệp không còn giới hạn ở trường phổ thông mà cầnthiết mở rộng và là sự kết hợp giữ nhiều lực lượng khác nhau

Vai trò của giáo dục hướng nghiệp với học sinh

Giáo dục hướng nghiệp có một vai trò quan trọng và có tầm ảnh hưởnglớn đến việc lựa chọn nghề nghiệp sau này của học sinh Hướng nghiệp cho họcsinh phổ thông là bước khởi đầu quan trọng của quá trình phát triển nguồn nhânlực Thông qua dạy học các môn văn hóa mà giới thiệu ý nghĩa ứng dụng cáckiến thức môn học vào hoạt động sản xuất và xã hội cũng như tầm quan trọng

Trang 34

của các kiến thức môn học vào sự hình thành và phát triển trình độ các nghềnghiệp có liên quan Sự hứng thú và thành tích học tập về một hay nhóm bộ mônnào đó ở trường phổ thông có ý nghĩa hướng nghiệp theo tinh thần kỹ thuật tổnghợp cho học sinh

Hoạt động “sinh hoạt hướng nghiệp”, trực tiếp tìm hiểu thế giới nghềnghiệp, thị trường lao động, được tư vấn hướng nghiệp chọn nghề… Các hoạtđộng giáo dục khác như tham quan sản xuất, tìm hiểu nghề và các lĩnh vực kinh

tế qua các phương tiện thông tin đại chúng, qua tủ sách hướng nghiệp, sự hướngdẫn của gia đình và các tổ chức xã hội[17]

Thông qua các hoạt động giáo dục hướng nghiệp, các em được làm quenvới những nghề cơ bản trong xã hội, những nghề có vị trí then chốt trong nềnkinh tế quốc dân, những nghề cần thiết phải phát triển ở ngay địa phương mình.Nhiệm vụ này được thể hiện trong suốt những năm còn ngồi trên ghế nhàtrường Nhiệm vụ đó giúp các em có điều kiện tìm hiểu nghề trong xã hội (đặcbiệt là nghề của địa phương) Từ sự làm quen này, sẽ giúp cho các bạn học sinhtrả lời câu hỏi: Trong giai đoạn hiện nay, những nghề nào đang cần phát triểnnhất, thái độ đối với nghề như thế nào là đúng, v.v… Đồng thời, học sinh cònphải biết những yêu cầu tâm sinh lý mà nghề đặt ra, những điều kiện vào họcnghề v.v…

Giáo dục hướng nghiệp chính là hướng dẫn phát triển hứng thú nghềnghiệp: Trong quá trình tìm hiểu nghề, ở học sinh sẽ xuất hiện và phát triểnhứng thú nghề nghiệp Mỗi học sinh có một đam mê và điểm mạnh riêng như cóhọc sinh thích nông nghiệp, học sinh thích công nghiệp, có học sinh lại chỉ nghệthuật, v.v Người làm hướng nghiệp sẽ hướng dẫn sự phát triển hứng thú, khơigợi đam mê của các em trên cơ sở phân tích những đặc điểm, những điều kiện,những hoàn cảnh riêng của từng em một Chỉ khi nhận thấy được hết tầm quantrọng của một nghề, thì học sinh mới có ý thức trong việc lựa chọn nghề ấy, vàcảm thấy thoải mái hoặc hài lòng với sự lựa chọn của mình, từ đó nảy nở hứngthú với nghề

Trang 35

Giáo dục hướng nghiệp cũng giúp học sinh hình thành năng lực nghềnghiệp tương ứng: Người ta chỉ có thể yên tâm sống lâu dài với nghề nếu họ cónăng lực chuyên môn thực sự, đóng góp được sức lực, trí tuệ một cách hữu hiệuvới nghề của mình Xét đến cùng, ai cũng muốn có năng suất lao động cao, có

uy tín trong lao động nghề nghiệp Mặt khác, nghề nghiệp cũng không chấpnhận những người thiếu năng lực Vì vậy, trong quá trình hướng nghiệp, phải tạođiều kiện sao cho học sinh hình thành năng lực tương ứng với hứng thú nghềnghiệp đã có Đối với thanh thiếu niên trước độ tuổi lao động và học sinh trong

độ tuổi trung học phổ thông, con đường hình thành năng lực nghề nghiệp là tổchức lao động sản xuất kết hợp với giáo dục định hướng nghề nghiệp Qua đóhọc sinh sẽ được thử sức trong các hình thức hoạt động nói trên, từ đó năng lựcnghề nghiệp sẽ phát triển

Giáo dục hướng nghiệp cũng chính là giáo dục cho học sinh thái độ laođộng, ý thức tôn trọng người lao động thuộc các ngành nghề khác nhau, ý thứctiết kiệm và bảo vệ của công… Đây là những phẩm chất nhân cách không thểthiếu được ở người lao động trong xã hội của các em Có thể coi đây là nhiệm

vụ giáo dục đạo đức và lương tâm nghề nghiệp, là nhiệm vụ chủ yếu đối với thế

hệ học sinh Cùng với các nhiệm vụ trên, nhiệm vụ này góp phần vào việc làmcho những phẩm chất nhân cách của người lao động được hài hòa và cân đối

Tầm quan trọng của giáo dục hướng nghiệp với học sinh

Theo luật giáo dục việc làm năm 2006 của nước Việt Nam có nêu rõ như sau:

Điều 4 Mục tiêu của giáo dục nghề nghiệp

Mục tiêu chung của giáo dục nghề nghiệp là nhằm đào tạo nhân lực trựctiếp cho sản xuất, kinh doanh và dịch vụ, có năng lực hành nghề tương ứng vớitrình độ đào tạo; có đạo đức, sức khỏe; có trách nhiệm nghề nghiệp; có khả năngsáng tạo, thích ứng với môi trường làm việc trong bối cảnh hội nhập quốc tế;bảo đảm nâng cao năng suất, chất lượng lao động; tạo điều kiện cho người họcsau khi hoàn thành khóa học có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc họclên trình độ cao hơn[5]

Trang 36

Làm thế nào để chọn được ngành nghề phù hợp, phát huy giá trị tài năng,thỏa mãn đam mê và đáp ứng nhu cầu thị trường lao động là điều mà hầu hếthọc sinh quan tâm, chính vì thế mà giáo dục hướng nghiệp rất quan trọng trongviệc định hướng và lựa chọn nghề nghiệp của học sinh.

Để chọn được ngành nghề phù hợp trước hết phải nhận diện và hiểu đượcbản thân mình có được tài năng, năng lực và khả năng gì, để có được điều nàycác em cần phải thực hiện một số công cụ như: trắc nghiệm Holand, trắc nghiệmMTBI[13], tham chiếu từ ba mẹ, anh chị, thầy cô, bạn bè, chuyên gia tư vấnhướng nghiệp và từ những người đang trực tiếp làm trong lĩnh vực ngành nghề

mà mình muốn chọn Tiếp theo, các em cần xác định đúng niềm đam mê, yêuthích của bản thân đối với ngành nghề sẽ chọn, thái độ, tình cảm, cảm xúc củabản thân sẽ là “động lực” to lớn để đưa bản thân mỗi các em ta vượt qua mọikhó khăn thử thách đi đến thành công Và cuối cùng, các em cần tìm hiểu kỹ vềnhu cầu của thị trường lao động, sự chuyển dịch lao động luôn diễn ra, đặc biệt,

là trong điều kiện hội nhập quốc tế mạnh mẽ như hiện nay, điều đó sẽ có nhữngảnh hưởng nhất định đến kết quả sau khi tốt nghiệp ra trường Việc giáo dụchướng nghiệp sẽ phần nào tránh được sự mất cân đối nguồn nhân lực lao độngcho các ngành khác nhau, và giảm thiểu tình trạng rất nhiều sinh viên ra trườngcầm tấm bằng đại học nhưng thất nghiệp hay không tìm được cho mình mộtcông việc phù hợp và đúng với chuyên ngành mình đã học trong nhà trường

Việc định hướng nghề nghiệp là cần thiết cũng như việc giáo dục nghềnghiệp là vô cùng quan trọng, tuy nhiên điều này lại chưa được coi trọngđúng mức Việc giáo dục hướng nghiệp còn bị phó mặc cho nhà trường và cácgiáo viên chủ nhiệm nhiều hơn, không có sự tham gia và phối kết hợp giữacác lực lượng giáo dục khác nhau nên chất lượng của giáo dục hướng nghiệpcòn hạn chế

Giáo dục hướng nghiệp cho học sinh không khuyết tật còn gặp nhiều hạnchế chính vì thế mà giáo dục hướng nghiệp dành cho học sinh khuyết tật càngkhông được trú trọng và quan tâm nhiều Đa số các em học sinh khuyết tật đều

Trang 37

lựa chọn nghề nghiệp theo khả năng mình có thể mà không nhận được sự hỗ trợ

tư vấn hay đào tạo hướng nghiệp từ một lực lượng giáo dục nào

1.4.3. Giáo dục hướng nghiệp cho học sinh rối loạn phổ tự kỷ.

Đối với học sinh rối loạn phổ tự kỷ những chương trình giáo dục hướngnghiệp chưa được quan tâm và đề cập đến một cách bài bản và có chiều sâu, vìhọc sinh rối loạn phổ tự kỷ gặp rất nhiều khó khăn và những vấn đề về năng lực

cá nhân Học sinh rối loạn phổ tự kỷ có trí tuệ từ mức rất thấp đến mức cao.Theo thống kê có khoảng 25% học sinh rối loạn phổ tự kỷ có mức trí tuệ trêntrung bình, trong đó có một số ít có trí tuệ ở mức cao và rất cao Học sinh rốiloạn phổ tự kỷ có vấn đề về giao tiếp, tương tác xã hội và đa số các học sinh còn

có rối loạn về mặt cảm xúc cá nhân Nhiều học sinh tự kỷ có những hành vikhông phù hợp với chuẩn mực xã hội để có thể học giáo dục hướng nghiệp mộtcách có ý thức và phù hợp với năng lực cá nhân của mình Chính vì khó khăn vàhạn chế về mặt nhận thức trí tuệ, những rối loạn về mặt giao tiếp tương tác xãhội và cảm xúc của học sinh rối loạn phổ tự kỷ nên đã gặp rất nhiều khó khăntrong giáo dục hướng nghiệp và định hướng nghề phù hợp cho các em

Nhưng có những điểm yếu của học sinh tự kỷ như rập khuôn máy móc,lặp đi lặp lại, hành vi hạn hẹp cứng nhắc lại trở thành điểm mạnh phù hợp vớinhững công việc mà đối với các em là sự nguyên tắc, lặp đi lặp lại các quy trìnhtheo một cấu trúc nhất định không thay đổi Đó trở thành điều kiện hướng cácnhà giáo dục đến việc dạy các em những công việc mang tính cấu trúc lặp đi lặplại, có quy trình … Tính định hình, nguyên tắc trở thành điểm mạnh để các nhàgiáo dục có thể hướng nghiệp và dạy cho các em có một công việc phù hợp vớinăng lực hiện tại của học sinh tự kỷ Trước đây học sinh tự kỷ không được chútâm trong việc giáo dục hướng nghiệp, nhưng qua những trường hợp nhưTemple Grandin sinh 1947 là một tiến sĩ được chẩn đoán tự kỷ khi bà 2 tuổingười Mỹ, bà là người sáng chế ra dụng cụ “hộp ôm” có khả năng giúp người tự

kỷ lấy lại bình tĩnh khi tác động không tốt từ môi trường Từ khi nhận thấy học

Trang 38

sinh tự kỷ cũng có khả năng hiện những công việc phù hợp với năng lực bảnthân và xuát phát từ nhu cầu thực tế về nghề nghiệp cho đối tượng là học sinhRLPTK thì hiện nay ở một số trung tâm trên địa bàn thành phố Hà Nội đã bắtđầu quan tâm và đầu tư cho công tác giáo dục hướng nghiệp phù hợp với nănglực cho các em học sinh rối loạn phổ tự kỷ khi các em bắt đầu bước vào độ tuổitiền lao động Khi thực hiện công tác giáo dục hướng nghiệp các em có thể tựlàm được những công việc phù hợp với khả năng và thế mạnh của cá nhân, từ đó

có nhiều cơ hội để sống hòa nhập với cộng đồng xã hội hơn Các mô hình giáodục hướng nghiệp phải phù hợp và đáp ứng đúng yêu cầu đặt ra về mặt tâm lý

và khả năng nhận thức của học sinh RLPTK Điều đó thực sự có lợi cho các emsau khi được học nghề và được đào tạo nghề từ đó có thể áp dụng và thực hiệnmột cách thành thạo ngoài thực tế cuộc sống ngay sau khi tốt nghiệp Để làmđược điều đó bắt buộc phải có sự vào cuộc và quan tâm sâu sắc từ tất cả các bênliên quan với vấn đề thực sự cần thiết đối với học sinh RLPTK

1.4.4. Nhu cầu giáo dục hướng nghiệp của học sinh RLPTK độ tuổi 15-18

Hiện tại thực tế cho thấy các trung tâm giáo dục và hỗ trợ các em học sinhRLPTK đều tiếp nhận và giáo dục các học sinh tự kỷ có độ tuổi từ 2 tuổi rưỡiđến 14 tuổi Trong dộ tuổi này chủ yếu các em được hỗ trợ giáo dục về nhậnthức, kĩ năng tự phục vụ, kĩ năng chơi, tương tác xã hội, và trong độ tuổi này thìcác em còn quá nhỏ để có thể sử dụng chương trình giáo dục hướng nghiệp Rất

nhiều các em học sinh RLPTK khi bắt đầu bước vào độ tuổi 15 các trung tâm sẽ

không nhận nữa vì các em quá lớn so với lứa tuổi học sinh mà trung tâm đanggiao dục hỗ trợ Khi kết thúc chương trình học tại các trung tâm đó các em sẽkhông biết đi đâu về đâu, vì các em không có các kĩ năng làm những công việc

cơ bản nhằm giúp bản thân tự độc lập sau này Đứng trước thực tế đó thì giáodục hướng nghiệp trở thành một vấn đề được các cha mẹ học sinh RLPTK quantâm và cũng là vấn đề xã hội cần suy xét một cách nghiêm túc để các em họcsinh RLPTK không còn trở thành gánh nặng cho xã hội và nỗi lo lắng của gia

Trang 39

đình Với các em học sinh RLPTK bắt đầu bước vào độ tuổi từ 15 trở lên thìviệc giáo dục kiến thức phổ thông hay các kiến thức sách vở như đọc chữ, làmtoán là điều không còn thực sự cần thiết bằng việc giáo dục cho các em kĩ năngsống cơ bản và những công việc cơ bản để tự phục vụ những nhu cầu của chínhbản thân mình Từ việc có đủ khả năng tự phục vụ nhu cầu cá nhân thì các em sẽthấy cuộc sống có ý nghĩa hơn, qua đó giảm gánh nặng và nỗi lo lắng của cha

mẹ các em khi con mình đã bắt đầu trưởng thành, hơn nữa phụ huynh sẽ cảmthấy có niềm tin hơn vào con mình và khuyến khích, cùng hỗ trợ các trung tâmgiáo dục cho học sinh RLPTK để tạo cho các em một tiền đề vững chắc trongtương lai

Ngày đăng: 18/10/2021, 15:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
13. Nguyễn Thị Nhân Ái (2012), Định hướng giá trị nghề cho học sinh trung học phổ thông một số tỉnh Đồng bằng Bắc Bộ, Luận án tiến sĩ, Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định hướng giá trị nghề cho học sinh trunghọc phổ thông một số tỉnh Đồng bằng Bắc Bộ
Tác giả: Nguyễn Thị Nhân Ái
Năm: 2012
15. Đặng Danh Ánh (2001), Một số vấn đề tâm lí giáo dục hướng nghiệp , NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề tâm lí giáo dục hướng nghiệp
Tác giả: Đặng Danh Ánh
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2001
16. Mc.Cash (2010), Học tập và định hướng tương lai, NXB Đại học sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Học tập và định hướng tương lai
Tác giả: Mc.Cash
Nhà XB: NXB Đại học sư phạm
Năm: 2010
17. Đoàn Chí (1998), Sinh hoạt hướng nghiệp, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh hoạt hướng nghiệp
Tác giả: Đoàn Chí
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
18. Vũ Thị Đậu (2010), Nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo đề án 1956 ở TP Hà Nội, Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao độngnông thôn theo đề án 1956 ở TP Hà Nội
Tác giả: Vũ Thị Đậu
Năm: 2010
19. Phạm Tất Dong (1986), Tư vấn hướng nghiệp, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư vấn hướng nghiệp
Tác giả: Phạm Tất Dong
Nhà XB: NXB Đại học Quốc giaHà Nội
Năm: 1986
20. Phạm Tất Dong (1993), Giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung họcphổ thông
Tác giả: Phạm Tất Dong
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1993
21. Phạm Tất Dong và Nguyễn Như Ất (2000), Sự lựa chọn tương lai-Tư vấn hướng nghiệp, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự lựa chọn tương lai-Tư vấnhướng nghiệp
Tác giả: Phạm Tất Dong và Nguyễn Như Ất
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2000
22. Phạm Tất Dong, Phạm Huy Thụ và Tô Bá Trọng (1998), Hoạt động hướng nghiệp trong trường phổ thông, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt độnghướng nghiệp trong trường phổ thông
Tác giả: Phạm Tất Dong, Phạm Huy Thụ và Tô Bá Trọng
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1998
23. Vũ Mạnh Hà (2014), Quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh cấp trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh Bình Dương trong giai đoạn hiện nay, Luận án tiến sĩ, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh cấptrung học phổ thông trên địa bàn tỉnh Bình Dương trong giai đoạn hiệnnay
Tác giả: Vũ Mạnh Hà
Năm: 2014
24. Hoàng Mộc Lan (2007), Tìm hiểu đặc điểm tâm lý lứa tuổi học sinh Trung Học Phổ Thông, Luận án tiến sĩ, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu đặc điểm tâm lý lứa tuổi học sinhTrung Học Phổ Thông
Tác giả: Hoàng Mộc Lan
Năm: 2007
25. Đào Thị Phương Liên (2006), Biện pháp giáo dục hướng nghiệp cho học sinh khiếm thị, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biện pháp giáo dục hướng nghiệp cho họcsinh khiếm thị
Tác giả: Đào Thị Phương Liên
Năm: 2006
26. E.A. K.limov (1971), Nay đi học, mai làm gì, NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nay đi học, mai làm gì
Tác giả: E.A. K.limov
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 1971
27. Trần Văn Năm (2005), Hướng dẫn chọn nghề cho học sinh trung học phổ thông ở một số tỉnh miền núi phía bắc, Luận án tiến sĩ, Đại học khoa học xã hội và nhân văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn chọn nghề cho học sinh trung học phổthông ở một số tỉnh miền núi phía bắc
Tác giả: Trần Văn Năm
Năm: 2005
28. Frank Parsons (2000), Lựa chọn nghề nghiệp, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lựa chọn nghề nghiệp
Tác giả: Frank Parsons
Nhà XB: NXB Đại học Quốc giaHà Nội
Năm: 2000
29. Phạm Huy Thụ (1992), Cải tiến nội dung hình thức tổ chức lao động sản xuất ở nhà trường phổ thông, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải tiến nội dung hình thức tổ chức lao động sảnxuất ở nhà trường phổ thông
Tác giả: Phạm Huy Thụ
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1992
30. Nguyễn Văn Tòng (2015), Động cơ lựa chọn nghề nghiệp của học sinh lớp 12 trên địa bàn huyện Việt Yên, Luận văn thạc sĩ, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Động cơ lựa chọn nghề nghiệp của học sinhlớp 12 trên địa bàn huyện Việt Yên
Tác giả: Nguyễn Văn Tòng
Năm: 2015
31. "“The life of Helen Keller”. Royal National Institute of Blind People century XX-2000&#34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “The life of Helen Keller
1. Bộ lao động Thương binh và Xã hội (2009), Thống kê lao động và việc làm đối với đối tượng khuyết tật Khác
2. Bộ lao động Thương binh và Xã hội (2000), Vấn đề việc làm dành cho đối tượng người Khuyết tật- Bộ Lao động Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

- Khả năng làm việc độc lập của học sinh RLPTK - Khóa luận tốt nghiệp đại học
h ả năng làm việc độc lập của học sinh RLPTK (Trang 58)
Bảng 2. Khả năng làm việc độc lập hoặc cần có sự giám sát của giáo viên - Khóa luận tốt nghiệp đại học
Bảng 2. Khả năng làm việc độc lập hoặc cần có sự giám sát của giáo viên (Trang 58)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w