1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Marketing theo hành vi khách hàng và vấn đề về bảo mật thông tin khách hàng

12 92 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 294,06 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết này nhằm cung cấp bức tranh tổng thể về các hoạt động marketing theo hành vi xung quanh các vấn đề đạo đức để giúp các doanh nghiệp và các nhà marketing hiểu và thận trọng hơn trong các hoạt động khai thác thông tin của khách hàng tiềm năng. Để hiểu rõ hơn mời các bạn cùng tham khảo nội dung chi tiết của bài viết này.

Trang 1

116

MARKETING THEO HÀNH VI KHÁCH HÀNG VÀ VẤN ĐỀ VỀ BẢO MẬT THÔNG TIN KHÁCH HÀNG

ThS Ninh Đức Cúc Nhật

Khoa Marketing, trường ĐH Tài Chính-Marketing

Tóm tắt:

Marketing theo hành vi khách hàng là hình thức marketing sử dụng các phân tích về hành vi lướt web và các thói quen sử dụng các ứng dụng trực tuyến để phục vụ cho các quyết định phân phối quảng cáo của doanh nghiệp Hoạt động marketing theo hành vi khách hàng phát triển khá mạnh trong thời gian gần đây do tính chính xác và tính hiệu quả mà nó mang lại cho các nhà marketing Tuy nhiên, việc thu thập và sử dụng các thông tin của khách hàng một cách thiếu kiểm soát khiến hoạt động marketing này vướng phải các nghi ngại về các vấn đề đạo đức trong marketing như tính riêng tư, tính bảo mật và các quyền lợi chính đáng khác của người dùng mạng trực tuyến Bài viết này nhằm cung cấp bức tranh tổng thể về các hoạt động marketing theo hành vi xung quanh các vấn đề đạo đức để giúp các doanh nghiệp và các nhà marketing hiểu và thận trọng hơn trong các hoạt động khai thác thông tin của khách hàng tiềm năng

I Marketing theo hành vi khách hàng

Không giống như marketing trực tiếp, khi các nhà marketing chỉ có thể gửi một thông điệp đến cho tất cả các khách hàng tiềm năng của mình, marketing theo hành vi khách hàng (Behavioral Marketing) sử dụng các phân tích từ hành vi lướt web, sử dụng các ứng dụng trực tuyến, tìm kiếm thông tin trên các công cụ như Google hay Cốc Cốc, các dữ liệu lưu trữ trong cookies, và các nhận dạng từ địa chỉ IP của người dùng, và sử dụng chúng để phục vụ cho quá trình ra quyết định phân phối quảng cáo (Massey & Anton, 2011) Marketing theo hành vi khách hàng cho phép các nhà marketing nhận dạng được các thông tin của từng khách hàng tiềm năng, và gửi các

Trang 2

117

thông điệp marketing phù hợp nhất đến cho từng khách hàng của mình Có 4 dạng thông tin cơ bản từ các tương tác trong quá khứ của người dùng:

- User Behavior (Hành vi người dùng): gồm các nhấp chuột, tìm kiếm, xem

trang và xem những sản phẩm trong quá khứ

- Social Events (Sự kiện trên mạng xã hội): gồm những hành động như Like,

Share, đề cập hay gợi ý trên cộng đồng mạng xã hội

- Item Details (Chi tiết sản phẩm): gồm tên, danh mục, giá, mô tả và một số

thông tin khác liên quan đến các sản phẩm được khuyến mãi

- Contextual Information (Thông tin ngữ cảnh): như thời gian trong ngày,

thời tiết, thiết bị, vị trí hiện tại, liên kết được đề nghị, hay những truy vấn tìm kiếm gốc liên quan đến các khuyến mãi

Với sự hỗ trợ từ các dữ liệu thu thập ở trên, quá trình nhắm mục tiêu quảng cáo dựa trên hành vi cơ bản sẽ được tiến hành theo một trong hai phương pháp bên dưới:

- Content-Based Filtering (lọc dựa trên nội dung): khai thác những thuộc tính

của nội dung/thông tin sản phẩm người dùng từng mua, sử dụng hoặc truy cập trong quá khứ để tạo nên các đề nghị/quảng cáo Cách thức này có hiệu quả tốt với dạng thông tin được biểu diễn bằng các đặc trưng nội dung (ví dụ như dạng văn bản) nhưng lại gặp khó khăn trên các dạng thông tin đa phương tiện như hình ảnh, âm thanh, tương tác hoạt họa,

- Collaborative Filtering (lọc cộng tác): khai thác những thói quen sử dụng sản

phẩm của cộng đồng người dùng có cùng sở thích để tạo nên danh sách các sản phẩm đề nghị

Vì có tính ưu việt trong việc tiếp cận khách hàng, thu thập được thông tin về khách hàng một cách chính xác, để đưa ra dự báo về hành vi và nhu cầu của họ, marketing theo hành vi khách hàng ngày nay được sử dụng rộng rãi và đang dần trở thành xu hướng không thể thiếu trong các chiến lược marketing hiện đại Theo một nghiên cứu của tạp chí eMarketer, các doanh nghiệp tại thị trường Mỹ đã chi khoảng 4.4 tỷ USD cho các hoạt động marketing theo hành vi Các video trực tuyến xuất hiện theo các phân tích từ hoạt động marketing theo hành vi chiếm đến 25% tổng các video

Trang 3

118

trực tuyến Và các con số này đang tiếp tục tăng nhanh và đều qua các năm Ở Việt Nam, chưa có số liệu thống kê cụ thể về các hoạt động marketing theo hành vi, nhưng chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy hoạt động này đang diễn ra khá nhộn nhịp tại thị trường Việt Nam

II Marketing theo hành vi khách hàng và các vấn đề liên quan đến tính bảo mật thông tin cá nhân

Cùng với sự phát triển của các hoạt động marketing theo hành vi khách hàng, một số lo ngại về các vấn đề đạo đức xoay quanh hoạt động này cũng được cảnh báo Trong một nghiên cứu gần đây (Psychology Today, 2011), chỉ có 11% người được hỏi trả lời rằng họ cảm thấy thoải mái với việc các thông tin và thói quen lướt web của mình có thể được lưu lại để phục vụ cho các mục đích thương mại Số người còn lại tỏ

ra hoài nghi về sự an toàn của hoạt động này

Một số vấn đề đặt ra ở đây là:

 Các trang web được quyền lưu lại các thông tin nào, và không được quyền lưu lại các thông tin nào

 Người sử dụng có được cảnh báo đầy đủ về việc các thông tin của mình có thể bị lưu lại hay không

 Việc lưu trữ các thông tin về người dùng có thể làm ảnh hưởng đến các quyền lợi căn bản của con người: quyền được bảo mật thông tin, quyền được

tự do phát ngôn, tự do đi lại, làm việc, …

 Các doanh nghiệp đã có các hoạt động gì để bảo vệ thông tin của khách hàng

Hiện tại, ở Việt Nam chưa có quy định nào liên quan đến việc giới hạn các thông tin người dùng Vì vậy, chỉ cần được người sử dụng đồng ý, các doanh nghiệp

sẽ lưu lại tất cả các thông tin mà họ cho là hữu dụng, cho dù các thông tin đó khá nhạy cảm và mang tính riêng tư khá cao như hình ảnh cá nhân, thông tin thẻ, … Khi các doanh nghiệp đã có thông tin của khách hàng, cũng chưa có quy định nào cụ thể về việc các doanh nghiệp sẽ làm gì với các loại thông tin đó Họ có thể lưu lại để dùng, hoặc có thể bán lại thông tin cho các đơn vị khác

Trang 4

119

Để lách các quy định pháp luật, các công ty trước khi lưu lại thông tin của khách hàng đều hỏi ý kiến của khách hàng.Tuy nhiên, có ba vấn đề phát sinh trong việc làm này.Thứ nhất, Khi khách hàng khi đăng nhập vào website hoặc tải các ứng dụng, các công ty công nghệ này gửi một bản cam kết yêu cầu khách hàng xác nhận việc lấy và sử dụng thông tin của họ Đa số khách hàng không đọc bản cam kết đó vì nhiều lý do Ví dụ: quá dài, quá phức tạp, sử dụng ngôn ngữ nước ngoài, .Vì vậy, khách hàng tuy có xác nhận việc chia sẻ thông tin, nhưng chưa chắc họ đã biết và hiểu những gì mình xác nhận trong bản cam kết.Thứ hai, đôi khi các ứng dụng không cho khách hàng sử dụng nếu khách hàng không xác nhận vào bản cam kết.Như vậy, khách hàng cho dù có xác nhận thì vẫn không hoàn toàn tự nguyện.Thứ ba, rất nhiều khách hàng không ý thức được hậu quả của việc làm này, nghĩa là họ đã ký vào một bản cam kết mà họ không rõ hậu quả của nó

Khi đã có dữ liệu của khách hàng, việc lưu trữ, sử dụng và bảo vệ dữ liệu đó cũng là một vấn đề đáng bàn cãi.Vì nhà nước chưa có luật cụ thể, nên các doanh nghiệp sau khi có được dữ liệu của khách hàng, khá thoải mái trong việc sử dụng đữ liệu đó cho mục đích thương mại như dùng để quảng bá sản phẩm, tiếp cận khách hàng, chia sẻ hoặc bán lại dữ liệu Các doanh nghiệp cũng không bị ràng buộc bất cứ nghĩa vụ nào trong việc đảm bảo an toàn cho các thông tin đó Trong trường hợp các

dữ liệu này bị rò rỉ, họ không phải chịu bất cứ trách nhiệm nào, phần thua thiệt luôn thuộc về khách hàng,

III Các giải pháp tăng cường tính bảo mật thông tin cá nhân của người dùng Internet

Tuy còn nhiều bất cập, nhưng chúng ta không thể phủ nhận rằng, marketing theo hành vi khách hàng mở ra những giá trị và cơ hội mới cho cả các nhà marketing

và khách hàng Các nhà marketing có thể có một kênh quảng bá và tiếp thị với chi phí

rẻ, tiện lợi, lại có thể nhắm đến đúng khách hàng tiềm năng của mình Khách hàng cũng được hưởng lợi nhờ tiếp cận đúng thông tin mình mong muốn một cách nhanh chóng và dễ dàng Vì vậy, marketing theo hành vi là một xu hướng không thể phủ nhận Cả doanh nghiệp, nhà nước và khách hàng không thể cưỡng lại xu hướng đó, vì vậy, chúng ta cần tìm ra các giải pháp nhằm hạn chế các tác động xấu của hình thức

Trang 5

120

này để bảo vệ nguyên tắc về tự do cá nhận và bảo mật thông tin nhưng vẫn mang lại lợi ích tốt nhất cho doanh nghiệp và người tiêu dùng

Nhà nước cần bảo vệ quyền bảo mật thông tin cá nhân và quyền này là tuyệt đối (với quy định “là bất khả xâm phạm”) Do việc quản lý, điều tra các vụ việc vi phạm trên mạng là rất khó khăn và quy định đưa ra chưa thật sự chặt chẽ nên thời gian gần đây, các cơ quan pháp luật còn lúng túng khi xử lý vi phạm và các doanh nghiệp tìm mọi cách lách các quy định nhà nước Do đó, nhà nước cần đưa ra các quy định chặt chẽ hơn trong việc sử dụng thông tin của khách hàng Nhà nước cũng phải đảm bảo hệ thống quản lý, xử lý vi phạm và chế tài nghiêm minh và chặt chẽ để hạn chế các vấn đề tiêu cực Ví dụ, cần quy định cụ thể các doanh nghiệp được thu thập các loại thông tin gì, được sử dụng làm gì, sử dụng trong bao lâu, có được quyền bán cho bên khác hay không Nhà nước cũng cần quy định các doanh nghiệp khi yêu cầu khách hàng xác nhận vào bản cam kết phải để ngôn ngữ là tiếng Việt, phải đảm bảo khách hàng có đọc và có hiểu các bản cam kết này, Thêm vào đó, các doanh nghiệp không được từ chối cung cấp dịch vụ nếu khách hàng không xác nhận vào bản cam kết

Về phía doanh nghiệp, cần nâng cao nhận thức các chuẩn mực về đạo đức kinh doanh và marketing để đảm bảo các nguyên tắc ứng xử phù hợp khi nắm giữ các dữ liệu cá nhân của người dùng cho mục đích thương mại

Người tiêu dùng cũng cần nhận thức được hậu quả, các rủi ro và sự phiền toái

có thể đối mặt khi chấp nhận chia sẻ các thông tin cá nhân của mình Người dùng cầnthận trọng trọng khi lướt web, tải ứng dụng, mua sắm trên mạng, đọc kỹ các hướng dẫn, thông báo và bản cam kết trước khi xác nhận để tránh đánh mất thông tin cá nhân quan trọng của mình

Tài liệu tham khảo

Massey, A & Anton, A (2011), “Behavioral Advertising Ethics”, IGI Global, USA Hallerman, D (2008), “Behavioral targeting poised for growth”, eMarketer, USA Rutledge, P (2011), “Behaviral Targeting: to track or not to track, that is the question”, Psychology Today, USA

Trang 6

121

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG

VÀ HOẠT ĐỘNG MARKETING PHI ĐẠO ĐỨC

ThS Trần Thị Thảo Khoa QTKD, Trường ĐH Tài chính-Marketing

Tóm tắt: Marketing là hoạt động hướng dòng lưu chuyển hàng hoá và dịch vụ

chảy từ người sản xuất đến người tiêu dùng Triết lý của marketing là thoả mãn tối đa nhu cầu của khách hàng nhờ đó tối đa hóa lợi nhuận của doanh nghiệp, tối đa hóa lợi ích cho toàn xã hội Nguyên tắc chỉ đạo của marketing là tất cả các hoạt động marketing đều phải định hướng vào người tiêu dùng vì họ là người phán xét cuối cùng

về việc công ty sẽ thất bại hay thành công Nhưng trên thực tế vẫn tồn tại sự bất bình đẳng giữa người sản xuất và người tiêu dùng Bảo vệ người tiêu dùng cần được xem như trách nhiệm và nghĩa vụ không phải chỉ của cơ quan chức năng mà chính doanh nghiệp cần có các cách thức để bảo vệ khách hàng của mình

1 Vấn đề bảo vệ người tiêu dùng

Phong trào bảo vệ người tiêu dùng - bắt đầu vào những năm 60 của thế kỷ XX, xuất phát từ Mỹ Đây là phong trào có tổ chức của người dân và cơ quan nhà nước về

mở rộng quyền hạn và ảnh hưởng của người mua đối với người bán Ở Mỹ hiện nay

có cơ quan nhà nước bảo vệ người tiêu dùng, có tổ chức BBB (The Better Bussiness Bureau) với hàng trăm văn phòng trong nước và thế giới Ở Úc và NewZealand có Bộ Người Tiêu dùng Ở Việt Nam có VINASTAS (Hội tiêu chuẩn và Bảo vệ Người tiêu dùng Việt Nam), được thành lập 4/5/1988, là thành viên của tổ chức quốc tế người tiêu dùng (IC) Trong những năm qua, VINASTAS đã tham gia tích cực vào việc đấu tranh chống hàng giả, chống hiện tượng mất an toàn về vệ sinh thực phẩm Cung cấp những thông tin, phổ biến kiến thức hướng dẫn người tiêu dùng, hợp tác với các cơ quan Nhà nước, các đoàn thể và tổ chức xã hội để đẩy mạnh các hoạt động bảo vệ người tiêu dùng Trong Bộ luật hình sự mới của Việt Nam đưa thêm vào các điều 167,

170, 177 về Bảo vệ người tiêu dùng

Trang 7

122

Dưới đây là tám quyền của người tiêu dùng đã được cộng đồng quốc tế công

nhận và được thể hiện qua “Bản hướng dẫn về bảo vệ người tiêu dùng” của Liên Hiệp

Quốc (LHQ) gửi các chính phủ thành viên Đó là những quyền :

1 Quyền được thoả mãn những nhu cầu cơ bản: Là quyền được có những hàng

hoá và dịch vụ cơ bản, thiết yếu bao gồm ăn, mặc, ở, chăm sóc sức khoẻ, giáo dục và vệ sinh

Bản hướng dẫn của LHQ kêu gọi các chính phủ :

 Phát triển kinh tế xã hội một cách lành mạnh, công bằng và bền vững

 Ưu tiên các lợi ích thiết yếu của người tiêu dùng như lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, nước

 Có các biện pháp bảo đảm an toàn thực phẩm, có các cơ chế điều hành, kiểm tra và đánh giá thích hợp

 Nâng cao chất lượng và sử dụng có hiệu quả thuốc chữa bệnh bằng các chính sách quốc gia về thuốc chữa bệnh

2 Quyền được an toàn: Là quyền được bảo vệ để chống các sản phẩm, dịch vụ,

các qui trình có hại cho sức khoẻ và cuộc sống

Bản hướng dẫn của LHQ kêu gọi :

 Có các tiêu chuẩn về an toàn và chất lượng cho các sản phẩm và dịch vụ

và có những biện pháp để các tiêu chuẩn đó được thực hiện

 Có những phương tiện để thí nghiệm và chứng nhận về an toàn, chất lượng cho các sản phẩm và dịch vụ thiết yếu

 Có các chính sách để các nhà sản xuất kinh doanh phải thu hồi, thay thế, sửa đổi, hoặc bồi thường trong trường hợp họ đưa ra thị trường các sản phẩm và dịch vụ có hại hoặc hư hỏng

3 Quyền được thông tin:Là quyền được cung cấp những thông tin cần thiết để có

sự lựa chọn và được bảo vệ trước những quảng cáo hoặc ghi nhãn không trung thực

Bản hướng dẫn của LHQ kêu gọi :

 Cung cấp thông tin cho người tiêu dùng về cách dùng và những nguy cơ

do các sản phẩm tiêu dùng có thể gây ra

Trang 8

123

 Đảm bảo những thông tin đúng đắn và những sản phẩm tiêu dùng được truyền bá tự do thuận lơi

 Xây dựng các chương trình thông tin cho người tiêu dùng

4 Quyền được lựa chọn:Là quyền được lựa chọn trong số các sản phẩm, dịch vụ

được cung cấp với giá cả phải chăng và chất lượng đúng yêu cầu

Bản hướng dẫn của LHQ kêu gọi :

 Kiểm soát những thủ đoạn lạm dụng và hạn chế cạnh tranh

 Các sản phẩm phải đủ bền, tin cậy và phù hợp với mục đích sử dụng

 Có những dịch vụ sau bán hàng và mạng lưới cung cấp phụ tùng thoả đáng

5 Quyền được lắng nghe (hay được đại diện):Là quyền được đề đạt những mối

quan tâm của người tiêu dùng đến việc hoạch định hoặc thực hiện các chủ trương chính sách của chính phủ cũng như việc phát triển các sản phẩm và dịch

vụ

Bản hướng dẫn của LHQ kêu gọi :

 Cần tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của tổ chức người tiêu dùng

 Tạo điều kiện cho các tổ chức người tiêu dùng có cơ hội bày tỏ ý kiến trong quá trình hoạch định và quyết định

6 Quyền được bồi thường:Là quyền được giải quyết thoả đáng những khiếu nại

đúng, bao gồm quyền được bồi thường trong trường hợp sản phẩm không đúng như là giới thiệu, trường hợp hàng giả mạo hoặc dịch vụ không thoả mãn yêu cầu

Bản hướng dẫn của LHQ kêu gọi :

 Thiết lập các cơ chế bồi thường nhanh chóng, trung thực, thuận tiện

 Các nhà sản xuất kinh doanh giải quyết các tranh chấp một cách trung thực, nhanh chóng và đơn giản

 Các nhà sản xuất kinh doanh cần thiết lập các cơ chế tự nguyện như các dịch vụ tư vấn, các qui trình giải quyết một cách đơn giản cho người tiêu dùng

Trang 9

124

7 Quyền được giáo dục về tiêu dùng:Là quyền được tiếp thu những kiến thức và

kỹ năng cần thiết để có thể lựa chọn sản phẩm dịch vụ một cách thoả đáng, được hiểu biết về các quyền cơ bản và trách nhiệm của người tiêu dùng, được biết làm cách nào để thực hiện được các quyền và trách nhiệm của mình

Bản hướng dẫn của LHQ kêu gọi :

 Đưa việc giáo dục tiêu dùng vào trường học,

 Thiết lập các chương trình giáo dục, có chú ý đến lợi ích của những người tiêu dùng có thu nhập thấp,

 Có những chương trình tập huấn cho giáo dục viên, cho nghiệp vụ thông tin đại chúng và cho những người tư vấn cho người tiêu dùng

 Các doanh nghiệp chịu trách nhiệm hoặc góp phần thực hiện các chương trình giáo dục cho người tiêu dùng

8 Quyền được có một môi trường lành mạnh và bền vững:Là quyền được sống

trong một môi trường không hại đến sức khoẻ hiện tại và tương lai

Bản hướng dẫn của LHQ kêu gọi :

 Có những biện pháp an toàn về sử dụng, sản xuất và lưu trữ các loại thuốc trừ dịch hại và các hoá chất

 Trên các nhãn của thuốc trừ dịch hại và hoá chất phải có đầy đủ thông tin liên quan đến sức khoẻ và môi trường

2 Một số hoạt động marketing phi đạo đức mà doanh nghiệp cần tránh

Các quyền của người tiêu dùng quy định nghĩa vụ của nhà sản xuất, nhà sản xuất có trách nhiệm cung cấp những thông tin tương ứng mà người tiêu dùng không thể tự mình thu thập được Những thông tin ghi trên bao bì và nhãn hiệu (về khối lượng, thời gian, thời gian được chế tạo, hạn sử dụng, công dụng, cách dùng ) Cung cấp cho người tiêu dùng những chỉ dẫn cụ thể để tránh tiêu dùng sai mục đích Những thông tin về giá cả cho phép người tiêu dùng so sánh các sản phẩm khác nhau, phát hiện những người bán lẻ không bán đúng giá Ngay cả những chi phí ẩn như chi phí đóng gói, kế toán, bảo hành thêm nếu được thông báo sẽ giúp người tiêu dùng so sánh 2 loại sản phẩm tốt hơn

Bất kỳ biện pháp marketing nào cung cấp những thông tin mà dẫn đến quyết

Trang 10

125

định sai lầm của người tiêu dùng thì đều bị coi là không hợp lý, không hợp lệ về mặt đạo đức

- Các hoạt động marketing phi đạo đức

Các vấn đề về đạo đức liên quan đến marketing - bán hàng có thể sẽ nảy sinh

trong mối quan hệ với sự an toàn của sản phẩm, quảng cáo và bán sản phẩm, định giá hay các kênh phân phối điều khiển dòng sản phẩm từ nơi sản xuất tới tay khách hàng

+ Quảng cáo phi đạo đức:

Lạm dụng quảng cáo có thể xếp từ nói phóng đại về sản phẩm và che dấu sự

thật tới lừa gạt hoàn toàn.Quảng cáo bị coi là vô đạo đức khi:

Lôi kéo, nài ép dụ dỗ người tiêu dùng ràng buộc với sản phẩm của nhà sản xuất

bằng những thủ thuật quảng cáo rất tinh vi (quảng cáo vô thức và định vị sản phẩm), không cho người tiêu dùng cơ hội để chuẩn bị, để chống đỡ, không cho người tiêu dùng cơ hội lựa chọn hay tư duy bằng lý trí Ví dụ như quảng cáo những sản phẩm có tên tuổi xen vào giữa các buổi trình diễn hay chiếu phim ở rạp

Quảng cáo tạo ra hay khai thác, lợi dụng một niềm tin sai lầm về sản phẩm,

gây trở ngại cho người tiêu dùng trong việc ra quyết định lựa chọn tiêu dùng tối ưu, dẫn dắt người tiêu dùng đến những quyết định lựa chọn lẽ ra họ không thực hiện nếu không có quảng cáo Ví dụ như quảng cáo nồi cơm điện có phủ lớp chống dính teflon của một công ty làm cho người tiêu dùng tin rằng chỉ có nồi cơm điện của công ty đó

có phủ lớp chống dính nhưng trên thực tế bất kỳ nồi cơm điện của công ty nào cũng bắt buộc phải có lớp chống dính đó

Quảng cáo phóng đại, thổi phồng sản phẩm vượt quá mức hợp lý, có thể tạo

nên trào lưu hay cả chủ nghĩa tiêu dùng sản phẩm đó, không đưa ra được những lý do

chính đáng đối với việc mua sản phẩm, ưu thế của nó với sản phẩm khác

Quảng cáo và bán hàng trực tiếp cũng có thể lừa dối khách hàngbằng cách che dấu sự thật trong một thông điệp Ví dụ như một người bán hàng mong muốn bán

những sản phẩm bảo hiểm y tế có thể sẽ liệt kê ra một danh sách dài các bệnh mà sản phẩm trên có thể chữa trị, nhưng lại không đề cập đến vấn đề sản phẩm này thậm chí không chữa nổi những bệnh thông thường nhất

Một dạng lạm dụng quảng cáo khác là đưa ra những lời giới thiệu mơ hồ với

những từ ngữ không rõ ràng khiến khách hàng phải tự hiểu những thông điệp ấy

Ngày đăng: 18/10/2021, 14:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w