Luận văn Một số giải pháp nâng cao chất lượng chương trình du lịch ở Công ty TNHH một thành viên lữ hành VitoursNgày nay, trên thế giới du lịch đã trở thành một xu hướng không thể thiếu đối với những quốc gia...
Trang 2có chiều hướng gia tăng
Doanh nghiệp lữ hành với tư cách là chiếc cầu nối giữa cung và cầu trong du lịch, là loại hình doanh nghiệp đặc biệt trở thành yếu tố quan trọng không thể thiếu trong sự phát triển du lịch hiện đại Kinh doanh chủ yếu trong lĩnh vực tổ chức, xây dựng, bán và thực hiện các chương trình du lịch trọn gói cho khách du lịch Ngoài
ra các công ty lữ hành còn có thể tiến hành các hoạt động trung gian bán sản phẩm của các nhà cung cấp du lịch hoặc thực hiện các hoạt động kinh doanh tổng hợp khác
Hiện nay, có rất nhiều doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực du lịch, do đó
sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp diễn ra gay gắt.Trong bối cảnh đó để nâng cao hiệu quả kinh doanh và tăng cường khả năng trong quá trình hội nhập vào hệ thống kinh doanh khu vực và quốc tế, các công ty du lịch Việt Nam nói chung và công ty TNHH MTV lữ hành Vitours nói riêng không có sự lựa chọn nào khác là phải nâng cao chất lượng chương trình du lịch của mình Bởi trong xu thế phát triển chung của ngành du lịch hiện nay thì chất lượng sản phẩm là nhân tố quyết định đến sự tồn tại
và phát triển của công ty Do những nhu cầu bức thiết ấy em đã quyết định lựa chọn
đề tài: “Một số giải pháp nâng cao chất lượng chương trình du lịch ở Công ty
TNHH một thành viên lữ hành Vitours” làm đề tài khoá luận tốt nghiệp của
mình
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Mục đích của đề tài: Đánh giá chất lượng của các chương trình du lịch cũng như hiệu quả sản xuất kinh doanh tại công ty Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện hơn chất lượng các chương trình du lịch tại Công ty TNHH một thành viên lữ hành Vitours
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trang 3Luận văn tập trung nghiên cứu các vấn đề xung quanh việc xây dựng, bán và thực hiện các chương trình du lịch trọn gói tại công ty Qua đó đề suất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng của các chương trình du lịch
4 Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu đề tài, luận văn sử dụng các phương pháp: tổng hợp, thu thập,
xử lý tài liệu, so sánh, phân tích và đánh giá
5 Kết cấu của luận văn
Khoá luận được chia thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về doanh nghiệp lữ hành, chương trình du lịch và chất
Trang 4CHƯƠNG I CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ DOANH NGHIỆP LỮ HÀNH, CHƯƠNG TRÌNH DU LỊCH VÀ CHẤT LƯỢNG CHƯƠNG TRÌNH DU LỊCH
1 Một số vấn đề về doanh nghiệp lữ hành và kinh doanh lữ hành
1.1 Doanh nghiệp lữ hành
1.1.1 Khái niệm
Doanh nghiệp lữ hành là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở
ổn định, được đăng kí kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích lợi nhuận thông qua việc tổ chức xây dựng, bán và thực hiện các chương trình du lịch cho khách du lịch Ngoài ra doanh nghiệp lữ hành còn có thể tiến hành các hoạt động trung gian bán sản phẩm của các nhà cung cấp du lịch hoặc thực hiện các hoạt động hoặc thực hiện các hoạt động kinh doanh tổng hợp khác đảm bảo phục vụ các nhu cầu du lịch của khách từ khâu đầu tiên đến khâu cuối cùng
1.1.2 Chức năng của doanh nghiệp lữ hành
Trong lĩnh vực hoạt động của mình doanh nghiệp lữ hành thực hiện chức năng môi giới các dịch vụ trung gian, tổ chức sản xuất các chương trình du lịch và khai thác các chương trình du lịch khác Với chức năng này doanh nghiệp lữ hành là cầu nối giữa cung và cầu du lịch, giữa khách du lịch và các nhà cung ứng cơ bản của hoạt động lữ hành được qui định bởi đặc trưng của sản phẩm du lịch và kinh doanh du lịch Còn với chức năng sản xuất, doanh nghiệp lữ hành thực hiện xây dựng các chương trình du lịch trọn gói phục vụ nhu cầu của khách Ngoài hai chức năng trên, doanh nghiệp lữ hành còn khai thác các dịch vụ đáp ứng nhu cầu của khách như các dịch vụ lưu trú, ăn uống, vận chuyển
1.2 Kinh doanh lữ hành
1.2.1 Khái niệm
Kinh doanh lữ hành là việc thực hiện các hoạt động nghiên cứu thị trường, thiết lập các chương trình du lịch trọn gói hay từng phần, quảng cáo và bán các chương trình này trực tiếp hay gián tiếp qua các trung gian hay văn phòng đại diện,
tổ chức thực hiện chương trình và hướng dẫn du lịch Các doanh nghiệp lữ hành
đương nhiên được phép tổ chức mạng lưới đại lý lữ hành
1.2.2 Vai trò
Trang 5- Tổ chức các hoạt động trung gian, bán và tiêu thụ sản phấm của các nhà cung cấp dịch vụ, rút ngắn hoặc xoá bỏ khoảng cách giữa khách du lịch với các cơ
sở kinh doanh du lịch
- Tổ chức các chương trình du lịch trọn gói, các chương trình này nhằm liên kết sản phẩm du lịch như vận chuyển, lưu trú, tham quan, vui chơi, giải trí,…thành một sản phẩm thống nhất, hoàn hảo, đáp ứng nhu cầu của khách
- Các công ty lữ hành lớn, với hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật phong phú từ các công ty hàng không tới các chuỗi khách sạn, hệ thống ngân hàng đảm bảo phục
vụ tất cả các nhu cầu du lịch của khách từ khâu đầu tiên đến khâu cuối cùng
2 Chương trình du lịch
2.1 Định nghĩa chương trình du lịch
Chương trình du lịch là sản phẩm đặc trưng của doanh nghiệp lữ hành Tuy nhiên, xuất phát từ các quan điểm khác nhau mà có cách nhìn nhận khác nhau về chương trình du lịch Sau đây là một số định nghĩa tiêu biểu:
Theo hiệp hội lữ hành vương quốc Anh và theo liên minh châu Âu: Chương trình du lịch là sự kết hợp được sắp xếp từ trước của ít nhất hai trong số các dịch vụ
ăn ở, các dịch vụ sinh ra từ dịch vụ giao thông và nó phải được bán với mức gia gộp
và thời gian của chương trình nhiều hơn 24 giờ
Theo tác giả David Wright trong cuốn “Tư vấn kinh doanh lữ hành”: Chương trình du lịch là các dịch vụ được thể hiện trong các lộ trình du lịch thông thường bao gồm các dịch vụ giao thông, vùng lãnh thổ hay quốc gia Các dịch vụ này phải được đăng ký đầy đủ hoặc hợp đồng trước khi các dịch vụ được thực hiện
Theo tác giả Gaynon và Ociepka trong cuốn “Phát triển nghề nghiệp lữ hành”: Chương trình du lịch là một sản phẩm lữ hành được xác định mức giá trước, khách có thể mua riêng lẻ hoặc mua theo nhóm và có thể tiêu dùng riêng lẻ hoặc tiêu dùng chung với nhau Một chương trình du lịch có thể bao gồm theo các mức
độ khác nhau của bất kỳ hoặc một số hoặc tất cả các dịch vụ vận chuyển hàng không, đường bộ, đường sắt, đường thuỷ, lưu trú, ăn uống, tham quan và vui chơi giải trí
Theo Tổng cục du lịch Việt Nam trong “quy chế quản lý lữ hành”:
- Chuyến du lịch (Tour) là chuyến đi được chuẩn bị trước bao gồm tham quan một hay nhiều điểm du lịch và quay trở về nơi khởi hành Chuyến du lịch thông thường có các dịch vụ về vận chuyển, ăn uống, lưu trú, thăm quan và các dịch
vụ khác Tất cả các chuyến du lịch do doanh nghiệp lữ hành tổ chức đều phải có chương trình cụ thể
Trang 6- Chương trình du lịch(Tour programme) là lịch trình của chuyến du lịch bao gồm lịch trình từng buổi, từng ngày, khách sạn lưu trú, loại phương tiện vận chuyển, giá bán của chuyến và các dịch vụ miễn phí
Trên cơ sở kế thừa các định nghĩa về chương trình du lịch TS.Nguyễn Văn Mạnh và TS Phạm Hồng Chương đã định nghĩa về chương trình du lịch trong cuốn Giáo trình Quản trị kinh doanh lữ hành như sau:
Chương trình du lịch là một tập hợp các dịch vụ, hàng hóa được sắp đặt trước, liên kết với nhau, để thỏa mãn ít nhất hai nhu cầu khác nhau trong quá trình tiêu dùng du lịch của khách với mức giá gộp xác định trước và bán trước khi tiêu dùng của khách
Từ định nghĩa này rút ra những đặc trưng của chương trình du lịch như sau:
- Chương trình du lịch là một sự hướng dẫn việc thực hiện các dịch vụ đã được sắp đặt trước, làm thỏa mãn nhu cầu khi đi du lịch của con người
- Trong chương trình du lịch phải có ít nhất hai dịch vụ và việc tiêu dùng được sắp đặt theo 1 trình tự thời gian và không gian nhất định
- Giá cả của chương trình là giá gộp của các dịch vụ có trong chương trình
- Chương trình du lịch phải được bán trước khi khách tiêu dùng
2.2 Phân loại chương trình du lịch
2.2.1 Căn cứ vào nguồn gốc phát sinh
- Chương trình du lịch chủ động: Công ty lữ hành chủ động nghiên cứu thị trường, xây dựng các chương trình du lịch, ấn định các ngày thực hiện, sau đó mới
tổ chức bán và thực hiện chương trình, chỉ có các công ty lữ hành lớn, có thị trường
ổn định mới tổ chức các chương trình du lịch chủ động có tính mạo hiểm của chúng
- Chương trình du lịch bị động: Khách tự tìm đến với công ty lữ hành, đề ra các yêu cầu và nguyện vọng của họ Trên cơ sở đó công ty lữ hành xây dựng chương trình Hai bên tiến hành thoả thuận và thực hiện sau khi đã đạt được sự nhất trí Các chương trình du lịch theo loại này thường ít tính mạo hiểm song số lượng khách rất nhỏ, công ty bị động trong tổ chức
- Chương trình du lịch kết hợp: Là sự hoà nhập của cả hai loại trên đây Các công ty lữ hành chủ động nghiên cứu thị trường, xây dựng các chương trình du lịch nhưng không ấn định ngày thực hiện Thông qua các hoạt động tuyên truyền, quảng cáo, khách du lịch (hoặc các công ty gửi khách) sẽ tìm đến với công ty Trên cơ sở các chương trình du lịch sẵn có, hai bên tiến hành thoả thuận và sau đó thực hiện
chương trình
Trang 72.2.2 Căn cứ vào số lượng các yếu tố dịch vụ cấu thành chuyến đi và hình thức
tổ chức
Chương trình du lịch du lịch trọn gói: là chương trình du lịch có sự liên kết
và làm gia tăng tất cả giá trị các dịch vụ chính của nhà cung cấp khác nhau với mức giá đã định trước, nó được bán trước khi chuyến du lịch được thực hiện
Các thành phần cấu thành chương trình du lịch trọn gói bao gồm:
+ Dịch vụ vận chuyển: tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể mà nó sử dụng các phương tiện vận chuyển đơn và có thể kết hợp giữa hai loại máy bay-ô tô, ô tô-tàu thuỷ Đặc điểm của phương tiện vận chuyển là chủng loại, thứ hạng, nhà ga, bến cảng, sân bay và uy tín của hãng vận chuyển Dịch vụ vận chuyển được xác định là thành phần chính quan trọng của dịch vụ trọn gói
+ Nơi ở được sắp xếp là thành phần quan trọng thứ hai tuỳ thuộc vào từng điều kiện cụ thể mà cơ sở lưu trú và các chủng loại buồng giường khác nhau
+ Lộ trình được sắp xếp vào thành phần quan trọng thứ ba nó bao gồm số điểm dừng, thời gian vào mỗi điểm dừng và thời gian và khoảng cách vào mỗi điểm
đó, các hoạt động cụ thể vào từng buồng, từng ngày với thời gian và không gian được ấn định trước
+ Bữa ăn được sắp xếp vào thành phần quan trọng thứ tư của du lịch trọn gói bao gồm bữa ăn, nơi ăn, thực đơn có thể chọn món ăn không hoặc có thể nước uống không cần
+ Tham quan giải trí: Đây không chỉ là thành phần quan trọng mà còn là nhu cầu đặc trưng để thoả mãn nhu cầu cảm thụ cái đẹp của khách tuỳ vào điều kiện cụ thể, mục đích chuyến đi để lựa chọn đối tượng tham quan và vui chơi giải trí
+ Thành phần quản lý: Đây là thành phần được coi là làm gia tăng giá trị của các giá trị đơn lẻ, làm thoả mãn mong đợi của khách Nó bao gồm hoạt động tổ chức, thông tin và kiểm tra
+ Các loại phí sân bay, phí phục vụ, phụ giá chính vụ, có thể các chi phí phát sinh khác, các loại thuế: Các thành phần này được thông tin rõ ràng cho khách trong tập gấp hoặc cuốn sách mỏng
Nếu sản phẩm chương trình du lịch này được tổ chức ra ngoài nước thì người
ta gọi là chương trình du lịch ra ngoài nước có hướng dẫn hoặc có người tháp tùng gọi là trưởng đoàn
Nếu được tổ chức trong phạm vi quốc gia thì người ta gọi là chương trình du lịch nội địa có hướng dẫn Trong trường hợp nếu chương trình du lịch có thời gian
Trang 8bay từ nơi xuất phát đến điểm cuối cùng ít hơn 5 giờ gọi là chương trình du lịch trọn gói ngắn Ngược lại, nếu chương trình du lịch có thời gian bay từ nơi xuất phát đến nơi cuối cùng nhiều hơn 5 giờ gọi là chương trình du lịch trọn gói dài
Chương trình du lịch không trọn gói: là chương trình du lịch nhưng không đủ các thành phần chính như chương trình du lịch, giá của các dịch vụ đơn lẻ gộp lại đắt hơn giá cả của những dịch vụ cùng loại gộp lại trong chương trình du lịch trọn gói vì tỷ lệ chiết khấu của các nhà cung cấp dịch vụ dành cho doanh nghiệp lữ hành thấp hơn Loại này ít được tổ chức theo nhóm và không có hướng dẫn Khách thực hiện một cách độc lập và tự do định liệu chuyến đi của mình
2.2.3 Căn cứ vào mục đích của chuyến du lịch và loại hình du lịch
Chương trình du lịch nghỉ ngơi, giải trí và chữa bệnh
Chương trình du lịch theo chuyên đề : văn hóa, lịch sử, phong tục tập quán
Chương trình du lịch công vụ MICE (hội họp, khuyến thưởng, hội nghị, triển lãm)
Chương trình du lịch tàu thủy
Chương trình du lịch tôn giáo, tín ngưỡng
Chương trình du lịch sinh thái
Chương trình du lịch thể thao, khám phá và mạo hiểm: leo núi, lặn biển, đến các bản dân tộc
Chương trình du lịch đặc biệt, ví dụ như tham quan chiến trường xưa cho các cựu chiến binh
Các chương trình du lịch tổng hợp là sự tổng hợp của các loại trên đây
2.2.4 Căn cứ vào một số tiêu thức khác
Chương trình du lịch cá nhân và chương trình du lịch theo đoàn
Chương trình du lịch dài ngày và chương trình du lịch ngắn ngày
Chương trình du lịch theo phương tiện giao thông
2.3 Đặc điểm của chương trình du lịch
Chương trình du lịch là dịch vụ nên nó mang tính chất của sản phẩm dịch vụ bao gồm:
+ Tính vô hình: Tính không thể sờ nắn nếm thử, cân đo đong đếm, không thể kiểm tra trước khi mua giống như mua một sản phẩm hàng hoá cụ thể Đối với một hàng hoá nào đó chúng ta có thể đo lường được khi tiêu dùng hàng hoá đó Còn đối với dịch vụ, chất lượng của nó rất khó đo lường vì nó phụ thuộc vào sự cảm nhận của từng khách hàng bởi vì khách hàng không giống nhau nên cách cảm nhận khác nhau
Trang 9+ Tính không đồng nhất: Sản phẩm hàng hoá được sản xuất trước khi bán, còn sản phẩm dịch vụ được tạo ra khi có sự tham gia của khách hàng Khi có khách các chương trình du lịch mới được thực hiện và không phải lần nào công ty lữ hành cung ứng được dịch vụ với cấp độ đồng đều nhau
+ Tính không lưu kho hay làm lại: Do sản phẩm dịch vụ được tạo ra và tiêu dùng đồng thời nên các dịch vụ trong chương trình đều không thể cất giữ hay làm lại, làm thử, sai sót trong quá trình tạo ra sản phẩm dịch vụ có thể dẫn tới hậu quả nghiêm trọng là làm cho khách mất lòng tin vào hệ thống dịch vụ của chương trình Việc thiết kế sản phẩm phải tuân theo yêu cầu của khách, đáp ứng yêu cầu đó một cách tốt nhất
+Tính thời vụ cao luôn luôn bị biến động: Du lịch phụ thuộc điều kiện tự nhiên, tài nguyên mà có mùa du lịch riêng ví như du lịch biển chỉ đa số vào mùa hè Vì vậy việc thiết kế chương trình du lịch phải phụ thuộc vào yếu tố thời vụ đó
+Tính khó bán: Là kết quả của đặc tính trên Ngoài ra do mỗi khách hàng có sở thích, thói quen không giống nhau do sự khác nhau về mặt địa lý, ảnh hưởng của nền văn hoá khác nhau tới lối sống, sự khác nhau về tâm sinh lý, kinh nghiệm trải qua việc sử dụng nhiều lần…Nên họ có yêu cầu, đánh giá chất lượng khác nhau Vì vậy người làm dịch vụ phải đưa ra cách phục vụ thích hợp với từng đối tượng khách nhằm đáp ứng một cách cao nhất nhu cầu của khách hàng
2.4 Quy trình xây dựng và thực hiện chương trình du lịch
2.4.1 Nghiên cứu thị trường
Thông qua các nguồn sơ cấp từ tổ chức nghiên cứu thảo ra phiếu điều tra và nguồn thông tin thứ cấp qua thu nhập từ phỏng vấn, qua thư từ, qua văn bản pháp quy, báo cáo tổng kết cuối kỳ, cuối năm, các báo cáo của cơ quan quản lý, văn phòng du lịch, văn phòng thương mại, các cơ quan quảng cáo các bài báo,…Từ đó các nhà kinh doanh du lịch muốn thành công phải trả lời các câu hỏi:
- Ai là khách du lịch hiện tại và tiềm tàng của doanh nghiệp?
- Thị trường hiện tại và tiềm năng rộng lớn đến đâu?
- Khách du lịch họ sống ở đâu?
- Khách du lịch mua những sản phẩm nào?
- Tại sao họ lại mua những sản phẩm đó (chất lượng, giá cả)?
- Sản phẩm có đáp ứng được những điều mà khách du lịch mong muốn hay không?
- Giá cả dịch vụ sản phẩm có tương xứng với chất lượng và đồng tiền họ bỏ ra hay không?
Trang 102.4.2 Nghiên cứu khả năng đáp ứng
Đối với doanh nghiệp lữ hành đang hoạt động, quyết định thiết kế, xây dựng và phát triển một chương trình du lịch mới là một tiến trình nhiều bước liên quan đến
quyết định lựa chọn của nhà quản trị doanh nghiệp Tiến trình bao gồm:
+ Bắt đầu bằng việc nghiên cứu sơ bộ ban đầu hoặc từ những đề xuất mang tính chuyên môn về lữ hành Quyết định này được xác lập trên 3 yếu tố:
- Thứ nhất là phải có đủ số khách để thành lập đoàn nhằm bù đắp được các chi phí xây dựng và tổ chức chương trình Theo kinh nghiệm của các công ty lữ hành có nghành du lịch phát triển, do chi phí cho công tác nghiên cứu ban đầu rất tốn kém nên các công ty này thường mong muốn phải tổ chức ít nhất 10 chuyến để thu hồi được khoản chi phí nghiên cứu này
- Thứ hai liên quan đến chi phí và giá thành chương trình Chi phí và giá thành cần được dự kiến sơ bộ rất nhanh Tuy nhiên mức dự kiến sơ bộ cần cố gắng sát thực (chỉ có thể tăng giảm trong khoảng từ 10 -15% giá thành cuối cùng của chương trình sau này)
- Thứ ba là khả năng tổ chức chương trình du lịch dự kiến
+ Khảo sát thực tế: Các doanh nghiệp lữ hành có thể tổ chức chuyến đi khảo sát thực tế theo nhiều cách khác nhau Có hai trường phái về vấn đề này:
Trường phái thứ nhất cho rằng người đi khảo sát nên đi tất cả các tuyến, điểm
đã dự kiến, nhưng không liên hệ hoặc thông báo với đối tác (nhà cung cấp) để nắm bắt xem họ cung ứng dịch vụ cho một khách du lịch bình thường như thế nào? Với cách này sẽ cho phép người thiết kế có cơ hội đánh giá các đối tác và dịch
vụ họ cung cấp một cách trực tiếp nhưng cũng có hạn chế là tốn nhiều thời gian và chi phí
Cách tiếp cận thứ hai phổ biến hơn đối với doanh nghiệp lữ hành khi tiến hành chuyến khảo sát thực địa là liên hệ trước với tất cả các đối tác cung cấp dịch vụ tiềm năng nhờ sự giúp đỡ và sắp xếp kế hoạch của cơ quan quản lý hoặc văn phòng du lịch địa phương Với cách này, người đi khảo sát được các đối tác đón tiếp và cung cấp các dịch vụ tốt nhất nên làm cho sự nhìn nhận của người thiết kế bị thiên lệch
về tất cả các khía cạnh của chương trình Tuy nhiên, cách này sẽ giúp cho người thiết kế có thể tìm hiểu được các đối tác nhiều hơn và đạt được các thoả thuận hoặc hợp đồng trực tiếp
Hiện nay, nhiều doanh nghiệp lữ hành có xu hướng áp dụng cả hai cách tổ chức chuyến đi khảo sát nói trên
Trang 11+ Quyết định đưa vào kinh doanh: Sau khi quyết định đưa chương trình du lịch vào kinh doanh, các doanh nghiệp lữ hành sẽ đưa chương trình vào danh mục sản phẩm của mình và tiến hành tổ chức một số chuyến đi cho khách trong năm kinh doanh đầu tiên Chương trình du lịch sẽ được xem xét lại trước khi quyết định mở rộng số lượng chuyến đi trong những năm tiếp theo
2.4.3 Xác định giá thành và giá bán
2.4.3.1 Xác định giá thành (Z)
Giá thành của chương trình bao gồm toàn bộ những chi phí thực sự mà công ty
lữ hành phải chi trả để tiến hành thực hiện các chương trình du lịch
Người ta chia toàn bộ chi phí thành hai loại cơ bản:
- Chi phí cố định: Là những chi phí không thay đổi theo số lượng khách tham gia vào chương trình du lịch Những chi phi này bao gồm: Quảng cáo, hướng dẫn, quản lý, vận chuyển…
- Chi phí biến đổi của chương trình du lịch là chi phí mà đơn giá chỉ tính riêng cho từng khách Nó bao gồm tất cả các dịch vụ hàng hoá mang tính chất tiêu dùng riêng biệt
Phương pháp tính giá
- Phương pháp 1: xác định giá thành theo khoản mục chi phí Phương pháp này xác định giá thành bằng cách nhóm toàn bộ các chi phí phát sinh vào một số khoản mục chủ yếu:
Z/khách = Vc + Fc/Q Z/đoàn = Vc.Q + Fc Trong đó:
Z : là giá thành
Vc : là chi phí biến đổi cho một khách hàng
Q : là số lượng khách tham gia tối ưu
Fc : Chi phí cố định
- Phương pháp 2: Xác định giá thành theo lịch trình Về cơ bản phương pháp này không có gì khác biệt so với phương pháp thứ nhất Tuy nhiên các chi phí ở đây được liệt kê cụ thể và chi tiết lần lượt theo từng ngày của lịch trình Phương pháp này tính khá dài và phần nào kém linh hoạt so với phương pháp thứ nhất nhưng nó lại khắc phục được nhược điểm của phương pháp thứ nhất là các khoản chi phí dễ bị
bỏ sót, khi tính gộp vào khoản mục
2.4.3.2 Xác định giá bán
Công thức chung: G = Z + Cb + Ck + T + P
Trong đó:
Trang 12Z : Giá thành Cb: Chi phí bán bao gồm hoa hồng các đại lý Ck: Chi phí khác như chi phí quản lý, trả lương, khấu hao…
T : Các khoản thuế
P : Lợi nhuận
2.4.4 Quảng cáo và tổ chức bán
*Quảng cáo
Chương trình du lịch là những sản phẩm không hiện hữu, khách hàng không có
cơ hội thử trước khi quyết định mua, do đó quảng cáo có một vai trò rất quan trọng
và cần thiết nhằm khơi dậy nhu cầu, thuyết phục, giúp khách hàng lựa chọn và thúc đẩy quyết định mua
Để tiến hành quảng cáo, nhà quản trị cần xác định rõ phân đoạn thị trường thích ứng với từng loại chương trình du lịch của mình để lựa chọn phương tiện quảng cáo cho phù hợp Các phương tiện quảng cáo chương trình du lịch gồm:
- Quảng cáo bằng các sản phẩm tập gấp, tập sách mỏng, áp phích…
- Quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng: báo chí, ti vi, đài…
- Các hoạt động khuyếch trương như tổ chức các buổi tối quảng cáo, tham gia các hội chợ…
- Quảng cáo trực tiếp: gửi các sản phẩm quảng cáo đến tận nơi ở của khách du lịch
- Các hình thức khác: băng vi deo, phim quảng cáo…
* Doanh nghiệp lữ hành tổ chức bán các chương trình du lịch của mình thông qua hai hình thức là trực tiếp và gián tiếp:
Bán
lẻ Bán
buôn
Văn phòng đại diện
(2)
(3) (4)
(6)
(5)
(7)
Trang 13Hình 1 Các kênh phân phối của doanh nghiệp
Kênh (1) và (2) gọi là kênh phân phối trực tiếp Sử dụng kênh (1) và (2) tận dụng nguồn lực của doanh nghiệp để chào hàng và bán hàng trực tiếp cho khách du lịch Việc chào và bán hàng trực tiếp cho khách du lịch có thể qua văn phòng đại diện Bán hàng có thể qua thông tin mạng, bán hàng trực tiếp qua điện thoại, fax…đặt văn phòng đại diện ở những nơi có nguồn khách lớn, trực tiếp sử dụng văn phòng của doanh nghiệp lữ hành để bán sản phẩm
Kênh (3) và (7) là kênh gián tiếp: Quá trình mua bán sản phẩm của doanh nghiệp lữ hành được uỷ nhiệm thông qua các hợp đồng và công ty lữ hành phải chịu trách nhiệm toàn bộ sản phẩm của mình uỷ thác, chất lượng, nội dung của chương trình, giá cả, tổ chức thực hiện Đối với kênh tiêu thụ gián tiếp thì các trung gian hoạt động như là người mua cho khách hàng của họ Các trung gian là các doanh nghiệp kinh doanh độc lập, họ có quyền hạn và chiến lược kinh doanh riêng Trong nhiều trường hợp, quan điểm của họ không giống quan điểm của công ty lữ hành sản xuất chương trình du lịch Do đó tổ chức tiêu thụ được nhiều sản phẩm của doanh nghiệp lữ hành sản xuất chương trình du lịch thì chúng ta cần phải dành nhiều ưu đãi tạo lập mối quan hệ ràng buộc dựa trên cơ sở lợi ích kinh tế
2.4.5 Tổ chức thực hiện chương trình du lịch
2.4.5.1 Giai đoạn 1: Thoả thuận với khách du lịch
Giai đoạn này bắt đầu từ khi công ty tổ chức bán đến khi chương trình du lịch được thoả thuận về mọi việc giữa các bên tham gia Trong trường hợp công ty lữ hành nhận khách từ các công ty gửi khách hoặc đại lý bán thì những công việc bao gồm:
Nhận thông báo khách hoặc yêu cầu từ các công ty gửi khách hoặc đại lý bán Thông báo khách thường được gửi tới phòng Mar và phải bao gồm các thông tin: + Số lượng khách
+ Quốc tịch của đoàn khách
+ Thời gian, địa điểm nhập, xuất cảnh
+ Chương trình tham quan du lịch
+ Một số yêu cầu về hướng dẫn, xe, khách sạn
+ Hình thức thanh toán
+ Danh sách đoàn khách
Thoả thuận với khách hoặc công ty gửi khách để có được sự thống nhất về chương trình du lịch và giá cả Trong thực tế có rất nhiều tình hình xảy ra, ví dụ như:
Trang 14+ Khách chấp nhận hoàn toàn chương trình và mức giá do công ty lữ hành xây dựng
+ Khách yêu cầu thay đổi một số điểm trong chương trình như thời gian, điểm tham quan, mức giá…
Trong bất kỳ tình huống nào, công ty lữ hành cũng phải thông báo cho khách hoặc công ty gửi khách khả năng đáp ứng của mình
Thông thường tại các công ty lữ hành, bộ phận Mar trực tiếp tiếp xúc và có quyền quyết định các thoả thuận với khách và công ty gửi khách
2.4.1.2 Giai đoạn hai: Chuẩn bị thực hiện
Bao gồm các công việc:
- Xây dựng chương trình chi tiết: Trên cơ sở thông báo cho khách của bộ phận Marketing, bộ phận điều hành chương trình du lịch chi tiết với đầy đủ các nội dung hoạt động cũng như các địa điểm tiến hành
- Chuẩn bị các dịch vụ gồm có đặt phòng và báo ăn cho khách tại các khách sạn Khi tiến hành thông báo cho khách sạn cần làm rõ yêu cầu về số lượng phòng, chủng loại phòng, số lượng khách, thời gian lưu trú tại khách sạn, các bữa ăn….Các khách sạn phải có trả lời chấp thuận yêu cầu của công ty lữ hành Ngoài ra phòng điều hành cần tiến hành những chuẩn bị sau:
+ Đặt mua vé máy bay cho khách (nếu có): Có thể thực hiện đặt chỗ và mua vé thông qua các đại lý bán vé của hàng không hoặc trên cơ sở hợp đồng với hãng hàng không Đặt chỗ mua vé thường phải thực hiện trước một thời gian nhất định để đảm bảo có chỗ
+ Mua vé tàu (đường sắt) cho khách
+ Điều động hoặc thuê xe ôtô
+ Mua vé tham quan
+ Đặt thuê bao các chương trình biểu diễn văn nghệ
+ Điều động và giao nhiệm vụ cho hướng dẫn viên Cùng với bộ phận hướng dẫn điều động hướng dẫn viên đúng theo yêu cầu của từng chương trình
2.4.1.3 Giai đoạn 3: Thực hiện các chương trình du lịch
Trong giai đoạn này công việc chủ yếu là của hướng dẫn viên du lịch và các nhà cung cấp dịch vụ trong chương trình Nhiệm vụ chủ yếu của bộ phận điều hành bao gồm:
+ Tổ chức các hoạt động đón tiếp trọng thể
Đối với những đoàn khách quan trọng thì hoạt động gần như tất yếu Tuy nhiên cần thoả mãn hai yêu cầu: Lịch sự, sang trọng nhưng tiết kiệm Thông thường giám đốc hoặc lãnh đạo công ty chúc mừng khách, tặng quà,…
Trang 15+ Theo dõi, kiểm tra đảm bảo các dịch vụ được cung cấp đầy đủ đúng chủng loại, chất lượng kịp thời, không để xảy ra tình trạng cắt xén hoặc thay đổi các dịch
vụ trong chương trình du lịch
+Xử lý kịp thời những tình huống bất thường có thể xảy ra như chậm máy bay,
có sự thay đổi trong đoàn khách, mất hành lý,…
Trong mọi trường hợp cần quan tâm đến quyền lợi chính đáng của du khách, đảm bảo các hợp đồng hoặc thông lệ quốc tế phải được thực hiện
+ Có thể thường xuyên yêu cầu hướng dẫn viên báo cáo về tình hình thực hiện chương trình
2.4.1.4 Giai đoạn 4: Những hoạt động sau khi kết thúc chương trình du lịch
+ Tổ chức buổi liên hoan đưa tiễn khách
+ Trưng cầu ý kiến của khách du lịch
+ Các báo cáo của hướng dẫn viên
+ Xử lý các công việc còn tồn đọng, cần giải quyết sau chương trình
+ Thanh toán với công ty gửi khách và nhà cung cấp trong chương trình
+ Hạch toán chuyến đi
2.5 Các hoạt động của hướng dẫn viên
Hoạt động của các công ty lữ hành du lịch được thực hiện thông qua hướng dẫn viên bao gồm tổ chức đón tiếp, phục vụ, hướng dẫn và giúp đỡ khách du lịch giải quyết toàn bộ các vấn đề phát sinh trong quá trình du lịch Tất cả các hoạt động này nhằm thoả mãn những nhu cầu mong muốn và nguyện vọng của họ trên cơ sở những hợp đồng hoặc cương trình du lịch đã được hoặc sẽ hoạch định, thoả thuận
và ký kết trong toàn bộ thời gian thực hiện các chương trình du lịch, hướng dẫn viên gần như là đại diện duy nhất của công ty lữ hành tiếp xúc với khách du lịch, trực tiếp đi cùng với đoàn khách Hơn nữa hướng dẫn viên còn phải cung cấp rất nhiều dịch vụ như thông tin hướng dẫn, tổ chức, ….chính vì vậy, hướng dẫn viên có vai trò quan trọng (ở một chừng mực nào đó là quyết định) đối với chất lượng sản phẩm của công ty lữ hành Để có được đội ngũ hướng dẫn viên giỏi bao giơ cũng là vấn đề quan tâm hàng đầu của các công ty lữ hành Hoạt động của hướng dẫn rất đa dạng, phong phú phụ thuộc vào nhiều yếu tố như nội dung, tính chất của chương trình, đối tượng khách, điều kiện thực hiện cũng như phẩm chất và khả năng của các hướng dẫn viên Một cách khái quát, quy trình hoạt động của hướng dẫn viên khi thực hiện các chương trình du lịch bao gồm những công việc sau đây:
- Chuẩn bị cho chương trình du lịch
- Đón tiếp khách
- Hướng dẫn, phụ vụ khách tại khách tại khách sạn
Trang 16- Hướng dẫn trên đường đi, tại điểm tham quan
- Xử lý các trường hợp bất thường
- Tiễn khách
- Những công việc của hướng dẫn viên sau khi tiễn khách
Trong kinh doanh lữ hành hiện đại, đối với các đoàn khách lớn đi du lịch ra nước ngoài các công ty lữ hành thường sử dụng một nhân viên (hoặc một cộng tác viên, thậm chí một khách du lịch có quan hệ lâu dài) giữ vai trò trưởng đoàn Trưởng đoàn có nhiệm vụ chủ yếu là theo dõi, quản lý khách du lịch, giám sát việc thực hiện các chương trình du lịch Về nghiệp vụ tổ chức thì trưởng đoàn gần giống với hướng dẫn viên Điểm khác biệt chủ yếu là hướng dẫn viên chịu trách nhiệm hướng dẫn tham quan, cung cấp các thông tin để khách du lịch cảm thụ được các giá trị văn hóa, tinh thần, mô hình phổ biến là công ty lữ hành gửi khách cử trưởng đoàn và công ty lữ hành nhận khách chịu trách nhiệm về hướng dẫn viên Để tiết kiệm chi phí, trong nhiều trường hợp, các đoàn khách chỉ có một hướng dẫn viên, thực hiện cả trách nhiệm của trưởng đoàn
3 Chất lượng chương trình du lịch
3.1 Khái niệm chất lượng dịch vụ
Chương trình du lịch là loại dịch vụ tổng hợp được cấu thành từ các dịch vụ đơn lẻ thoả mãn đồng thời nhiều nhu cầu khi đi du lịch của con người Để hiểu rõ khái niệm chất lượng chương trình du lịch chúng ta cần nhắc lại các đặc điểm dịch
vụ mà nói chung nó rất khác biệt với sản phẩm mang tính hữu hình Đó là các đặc điểm: vô hình, không đồng đều, hay hỏng, sản xuất và tiêu dùng không tách rời nhau
Chất lượng dịch vụ là một phạm trù hết sức phức tạp và có nhiều cách hiểu khác nhau
Theo Philip B.Crosby trong cuốn “Chất lượng là thứ cho không” đã khái niệm : “Chất lượng là sự phù hợp với yêu cầu”
Theo TCVN và ISO - 9000, thì chất lượng dịch vụ là mức phù hợp của sản phẩm dịch vụ thỏa mãn các yêu cầu đề ra hoặc định trước của người mua cung ứng phải định kỳ xem xét lại các yêu cầu chất lượng
Chất lượng dịch vụ là một khái niệm trừu tượng, khó nắm bắt bởi các đặc tính riêng của dịch vụ, sự tiếp cận chất lượng được tạo ra trong quá trình cung cấp dịch vụ, thường xảy ra trong sự gặp gỡ giữa khách hàng và nhân viên giao tiếp
Chất lượng dịch vụ chính là sự thỏa mãn khách hàng được xác định bởi sự so sánh giữa dịch vụ cảm nhận và dịch vụ trông đợi
Trang 17Một quan điểm khác cho rằng chất lượng dịch vụ được xác định trên cơ sở giá cả và chi phí Theo đó, một dịch vụ có chất lượng là dịch vụ được cung cấp phù hợp với giá cả
Mô hình này do ba tác giả A Parasuraman, V.A.Zeithaml và L.Bery đưa ra vào năm 1985 cho thấy có ba mức cảm nhận cơ bản về chất lượng dịch vụ:
- Chất lượng dịch vụ tốt: dịch vụ được cảm nhận vượt mức trông đợi của khách hàng
- Chất lượng dịch vụ thỏa mãn: dịch vụ cảm nhận phù hợp với mức trông đợi của khách hàng
- Chất lượng dịch vụ tồi: dịch vụ cảm nhận dưới mức trông đợi của khách hàng
Như vậy, từ các khái niệm trên chúng ta có thể khái niệm chất lượng dịch vụ
du lịch như sau: “Chất lượng dịch vụ du lịch chính là mức phù hợp của dịch vụ của các nhà cung ứng du lịch thỏa mãn các yêu cầu của khách du lịch thuộc thị trường mục tiêu”
Ở đây cần nhấn mạnh rằng chất lượng dịch vụ của mỗi nhà cung ứng du lịch cần thỏa mãn yêu cầu của du khách thuộc thị trường mục tiêu của mình chứ không phải mọi thị trường
3.2 Khái niệm chất lượng chương trình du lịch (Tour)
Sản phẩm chương trình du lịch là một loại dịch vụ tổng hợp Trên cơ sở đặc điểm của dịch vụ để xác định nội hàm của khái niệm chất lượng chương trình du lịch Sau đây, ta sẽ xem xét khái niệm này trên hai góc độ
- Trên quan điểm của nhà sản xuất (công ty lữ hành): Chất lượng chương trình du lịch chính là mức độ phù hợp của những đặc điểm thiết kế so với chức năng
và phương thức sử dụng chương trình; đồng thời cũng là mức độ mà chương trình thực sự đạt được so với thiết kế ban đầu của nó
Ta có thể biểu diễn như sau:
Chất lượng Tour = Chất lượng thiết kế phù hợp với chất lượng thực hiện
- Trên quan điểm của người tiêu dùng (khách du lịch): chất lượng chương trình du lịch là mức phù hợp của nó đối với yêu cầu của người tiêu dùng du lịch hoặc chất lượng chương trình du lịch là mức thoả mãn của chương trình du lịch nhất định đối với một động cơ đi du lịch cụ thể, là sự thể hiện mức độ hài lòng của khách khi tham gia vào chuyến đi của một chương trình du lịch nào đó
Như vậy, đứng trên quan điểm mới dành nhiều sự quan tâm hơn cho khách hàng thì chất lượng của một chương trình du lịch là khả năng đáp ứng (và vượt) sự
Trang 18mong đợi của du khách Khả năng này càng cao thì chất lượng của chương trình càng cao và ngược lại Ta có:
Chất lượng chương trình = Mức độ hài lòng của khách du lịch
Nếu cố gắng cụ thể hoá nó thì ta dựa vào phương trình sau:
S = P – E Trong đó:
E( Expectation): mức độ mong đợi của khách; được hình thành trước khi khách thực hiện chương trình
P(Perception): mức độ cảm nhận, đánh giá, cảm tưởng của khách sau khi kết thúc chuyến đi
S (Satisfaction): mức độ hài lòng của khách
- Khi S > 0: Khách cảm nhận thấy rất hài lòng vì dịch vụ được thực hiện vượt ra ngoài mong đợi của họ Trong trường hợp này: chương trình được đánh giá đạt chất lượng “thú vị”
- Khi S = 0: Chất lượng thoả mãn
- Khi S < 0: Chất lượng chương trình kém, không chấp nhận được
Vì vậy, trong kinh doanh lữ hành:
Khi khách hàng nhận được hơn điều mà họ mong đợi một chút từ những người
có hứng thú làm việc đó thì ta có “chương trình đạt chất lượng tuyệt hảo”
Kết hợp cả hai quan điểm trên có thể định nghĩa chất lượng chương trình du lịch như sau: Chất lượng chương trình du lịch là tổng hợp những yếu tố đặc trưng của chương trình thể hiện mức độ thoả mãn các nhu cầu của khách du lịch trong những điều kiện tiêu dùng được xác định
3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng chương trình du lịch
3.3.1 Nhóm các yếu tố bên trong
Nhóm các yếu tố này phụ thuộc vào năng lực và trình độ kinh doanh lữ hành của doanh nghiệp Nhóm này bao gồm các yếu tố: đội ngũ nhân viên thực hiện, các nhà quản lý và điều hành, phương thức quản lý, quy trình công nghệ, trang thiết bị phục vụ kinh doanh, đó chính là những yếu tố vốn có của bản thân doanh nghiệp Các yếu tố này tác động theo chiều thuận lên chất lượng chương trình du lịch Sau đây ta xét đến từng yếu tố để thấy được ảnh hưởng của chúng tới chất lượng chương trình du lịch:
3.3.1.1 Đội ngũ nhân viên thực hiện
Đội ngũ này bao gồm: nhân viên Marketing, nhân viên điều hành, hướng dẫn viên du lịch,… Họ đóng một vai trò quan trọng quyết định đến chất lượng chương trình du lịch Có thể nói họ chính là những người trực tiếp tạo sản phẩm và chất
Trang 19lượng chương trình du lịch vì như ta biết chất lượng chương trình du lịch chỉ được đánh giá trong quá trình thực hiện Điều đó đòi hỏi những nhân viên này phải có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao, linh hoạt đặc biệt phải có lòng yêu nghề, và một thái độ tích cực trong khi thực hiện, một khả năng giao tiếp đối nhân xử thế tốt Chẳng hạn chương trình du lịch được thực hiện bởi một hướng dẫn viên có tính cách nóng nảy, nói năng cộc cằn thì sự thoả mãn mong đợi của khách đối với chương trình du lịch đó là không thể có được cho dù chương trình du lịch đó được
tổ chức hoàn hảo như thế nào đi chăng nữa Lúc đó ta không thể nói chất lượng chương trình đó tốt được Như vậy để chất lượng chương trình du lịch tốt thì đòi hỏi doanh nghiệp phải có một đội ngũ nhân viên thực hiện tốt
ra một môi trường làm việc thoải mái, thúc đẩy, phát huy được năng lực của nhân viên thực hiện Hay nói một cách khác họ phải tạo ra một thứ “Văn hoá doanh nghiệp” Chỉ với một văn hoá một môi trường doanh nghiệp tốt, đầy thân thiện mới giúp doanh nghiệp có những chương trình du lịch hay với chất lượng cao Sự ảnh hưởng của đội ngũ quản lý đến chất lượng chương trình chính là điểm mấu chốt mà bất cứ nhà lãnh đạo nào cũng phải quan tâm nếu muốn nâng cao chất lượng chương trình
3.3.1.3 Cơ sở vật chất kỹ thuật
Đây là nền tảng cơ bản để tạo ra những chương trình du lịch Cơ sở vật chất
kỹ thuật là một phần của sản phẩm du lịch của doanh nghiệp lữ hành Vì vậy một doanh nghiệp lữ hành có cơ sở vật chất kỹ thuật sẽ giúp ích rất nhièu cho việc nâng cao chất lượng chương trình du lịch Trong thời đại hiện nay cơ sở vật chất kỹ thuật
đã có sự ảnh hưởng lớn đến chất lượng chương trình du lịch
3.3.1.4 Quy trình công nghệ
Việc tạo lập một chương trình du lịch phụ thuộc nhiều vào quá trình công nghệ tạo lập ra nó Chỉ có một quy trình công nghệ thực hiện tốt đầy đủ mới có thể tạo ra một chương trình du lịch hay có chất lượng, mới có thể tạo ra những “dị biệt hoá” của sản phẩm tạo khả năng cạnh tranh về chất lượng đối với sản phẩm du lịch của doanh nghiệp khác Quy trình công nghệ chính là những tác nghiệp kỹ thuật về
Trang 20nghiệp vụ mà qua nó người thiết kế chương trình du lịch mới có thể tính toán sắp xếp để tạo một chương trình du lịch hoàn hảo Nếu không có nó thì tất cả chỉ là một
mớ hỗn độn, chắp vá và như thế thì không thể có một chương trình du lịch tốt được
3.3.2 Nhóm các yếu tố bên ngoài
3.3.2.1 Khách du lịch
Trong các chương trình du lịch, khách du lịch không chỉ là người mua mà họ còn tham gia vào quá trình tạo ra sản phẩm Vì vậy chất lượng sản phẩm phụ thuộc vào cảm nhận chủ quan của họ Điều căn bản là chương trình du lịch phải được thiết
kế phù hợp với sự mong đợi của đại đa số khách du lịch Họ chính là những người trực tiếp kiểm tra giám sát và đánh giá chất lượng chương trình du lịch chứ không phải là người thiết kế chương trình Mặt khác sự đánh giá của họ hoàn toàn phụ thuộc vào những đặc điểm cá nhân của chính mình: giới tính, nhu cầu, thu nhập, độ tuổi, phong tục tập quán,…Nhân tố này có ảnh hưởng lớn đến chất lượng chương trình, nó là nhân tố thực sự quyết định xem chương trình du lịch có chất lượng tốt hay không
3.3.2.2 Nhà cung cấp dịch vụ
Chương trình du lịch là một sản phẩm được cấu thành bởi rất nhiều yếu tố trong đó nhà cung cấp dịch vụ đóng vai trò quan trọng Để có được một thiết kế phù hợp với nhu cầu và mong muốn của du khách thì nhà thiết kế sẽ phải phù thuộc rất nhiều vào nhà cung cấp dịch vụ Chương trình du lịch có chất lượng cao khi ta có một lực lượng lớn các nhà cung cấp vừa đa dạng, vừa phong phú Nếu số lượng nhà cung cấp ít và thiếu sự đa dạng thì chương trình du lịch sẽ trở nên nghèo nàn và nhàm chán dẫn đến chất lượng chương trình sẽ không thể thoả mãn được nhu cầu của khách và không thể tốt được Một điều cần phải đề cập đến nữa là mỗi quan hệ giữa các công ty lữ hành và nhà cung cấp dịch vụ Mối quan hệ này càng tốt thì khả năng cung ứng càng cao và các nhà cung cấp sẽ tạo mọi điều kiện thuận lợi để chương trình du lịch được thực hiện một cách tốt đẹp
3.3.2.3 Đại lý lữ hành
Đóng vai trò cơ bản đối với chất lượng sản phẩm lữ hành Sự cảm nhận của
du khách về sản phẩm thông thường được diễn ra đầu tiên tại các đại lý lữ hành Mà
“ấn tượng ban đầu” là rất quan trọng trong suốt quá trình đánh giá chất lượng Với vai trò trung gian của mình các đại lý lữ hành thường là người tiếp nhận và cung cấp khách cho các công ty du lịch Nếu họ có một nhận thức tốt và có sự nhiệt tình trong hoạt động của mình, có thể họ sẽ tạo ra một hình ảnh tốt đẹp về chương trình
du lịch của công ty lữ hành
Trang 213.3.2.4 Cơ sở hạ tầng về kinh tế, xã hội, môi trường
Như ta đã biết sản phẩm du lịch là tổng hoà các tất cả những nhân tố nhằm thoả mãn nhu cầu của khách Và cơ sở hạ tầng về kinh tế, xã hội, môi trường cũng
sẽ trở thành những yếu tố ảnh hưởng lớn đến chất lượng chương trình du lịch Một chương trình du lịch đến một điểm du lịch nào đó, mà ở đó cơ sở vật chất kỹ thuật còn lạc hậu thiếu thốn, giao thông thấp kém, an ninh chính trị không ổn định, môi trường thì ô nhiễm cảnh quan bị phá huỷ, thì đó không thể là một chương trình du lịch hấp dẫn, có chất lượng cao được
3.4 Quản lý chất lượng chương trình du lịch
Quản lý chất lượng chương trình du lịch là một hệ thống các biện pháp và quy định (về hành chính, kinh tế, kỹ thuật,…) nhằm sử dụng đạt hiệu quả nhất mọi tiềm năng của doanh nghiệp, đảm bảo và nâng cao dần chất lượng sản phẩm (chất lượng thiết kế và thực hiện) nhằm thoả mãn tối ưu nhu cầu của khách du lịch với chi phí thất nhất, đem lại lợi nhuận tối đa cho doanh nghiệp
Qua định nghĩa trên ta có thể thấy được hai đặc điểm cơ bản sau:
- Thứ nhất: Quản lý chất lượng là cả một quá trình liên tục, được thực hiện
trong suốt chu kỳ sống của sản phẩm từ khâu thiết kế xây dựng đến sử dụng chương trình Trách nhiệm công ty lữ hành không chỉ dừng lại ở khâu bán sản phẩm mà còn tiếp theo sau đó cho đến khi hoàn toàn kết thúc chuyến đi
- Thứ hai: Quản lý chất lượng là hệ thống đồng bộ các biện pháp phòng ngừa
mà hệ thống được thực hiện bởi yếu tố con người Quản lý chất lượng là nhiệm vụ của tất cả nhân viên từ quản lý điều hành đến thực hiện chương trình cũng như của các chương trình cung cấp dịch vụ
3.5 Hệ thống tiêu chí đánh giá chất lượng chương trình du lịch
Hệ thống tiêu chí chất lượng chương trình du lịch là tập hợp những tính chất quan trọng của các thành phần chính tham gia vào việc tạo ra và thực hiện chương trình du lịch trong mối liên hệ tương thích và tổng thể với mong đợi của khách du lịch trên thị trường mục tiêu Do vậy để đánh giá chất lượng chương trình du lịch ta căn cứ vào các tiêu thức sau:
3.5.1 Tiêu chuẩn tiện lợi
Tiêu chuẩn này phản ánh sự dễ dàng, tiết kiệm thời gian, trí lực và tiền bạc
kể từ khi hình thành nhu cầu mua chương trình du lịch cho đến khi thực hiện chuyến đi theo chương trình du lịch và trở về nhà Tiêu chuẩn này thể hiện ở các nội dung:
- Thủ tục hành chính, các giấy tờ có liên quan
- Thông tin được cung cấp đầy đủ, rõ ràng, thường xuyên, kịp thời
Trang 22- Tính linh hoạt cao của tour
- Dễ dàng và chi phí thấp khi có tình huống xảy ra
- Hình thức thanh toán, khả năng tín dụng
3.5.2 Tiêu chuẩn tiện nghi
Tiêu chuẩn này phản ánh sự thoải mái về thể chất và tinh thần trong quá trình tiêu dùng các dịch vụ, hàng hóa cấu thành chương trình du lịch
Tiêu chuẩn này thể hiện ở các nội dung:
- Tính hiện đại của phương tiện, cơ sở vật chất kĩ thuật tạo ra dịch vụ thông qua các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật của chính bản thân nó
- Tính thẩm mỹ của phương tiện và cơ sở vật chất kỹ thuật
- Tính đầy đủ, phong phú và đa dạng về số lượng và chất lượng của dịch vụ
- Tính được phục vụ kịp thời và chính xác theo yêu cầu của khách
3.5.3 Tiêu chuẩn vệ sinh
Tiêu chuẩn này phản ánh sự đòi hỏi sạch sẽ, trong lành của môi trường nói chung và sự sạch sẽ của từng dịch vụ nói riêng trong quá trình tiêu dùng tour của khách
Tiêu chuẩn này được thể hiện ở các nội dung:
- Môi trường chung nơi đến du lịch: xanh, sạch, đẹp, trật tự, không khí trong lành, ánh sáng, âm thanh, nguốn nước, lương thực, thực phẩm, xử lý các nguồn rác thải, phòng ngừa và ngăn chặn các bệnh lây lan truyền nhiễm
- Môi trường riêng đối với từng dịch vụ: Vệ sinh cá nhân người lao động, vệ sinh trong và ngoài cơ sở cung cấp dịch vụ, vệ sinh trang thiết bị, vệ sinh nguồn nguyên liệu tạo ra dịch vụ và hàng hóa, vệ sinh trong quá trình chế biến, tạo ra dịch vụ và quá trình đưa dịch vụ và hàng hóa đến người tiêu dùng cuối cùng
3.5.4 Tiêu chuẩn lịch sự, chu đáo
Tiêu chuẩn này một mặt phản ánh sự đòi hỏi của khách du lịch về lòng mến khách trong quá trình mua, tiêu dùng và sau khi tiêu dùng tour, mặt khác phản ánh đặc trưng riêng biệt của sản xuất và tiêu dùng du lịch
Tiêu chuẩn này biểu hiện ở các nội dung:
- Truyền thống mến khách của nơi đến du lịch
- Quan tâm chăm sóc khách hàng từ khi họ mua chương trình du lịch cho đến sau khi họ tiêu dùng chương trình du lịch
- Các phương án, biện pháp sẵn sàng để phục vụ các sai sót nếu có
- Đón tiếp khách
- Chia tay, tiễn khách
Trang 233.5.5 Tiêu chuẩn an toàn
Tiêu chuẩn này phản ánh sự bảo đảm tốt nhất về thân thể, sức khỏe, hành lý, tài sản, bí mật riêng tư của khách trong quá trình tiêu dùng chương trình du lịch Tiêu chuẩn này được thể hiện ở các nội dung:
- Sự ổn định chính trị, kinh tế, xã hội
- Trật tự an ninh, kỷ cương, chuẩn mực, quy tắc hành vi ứng xử trong quá trình tiêu dùng sản phẩm du lịch
- Các đạo luật bảo vệ người tiêu dùng du lịch
Hệ thống các tiêu chuẩn trên đây, được thể hiện đồng thời, đồng bộ ở từng dịch vụ cấu thành chương trình du lịch Vì vậy, khi đánh giá chất lượng của chương trình du lịch phải đánh giá lần lượt chất lượng dịch vụ của từng chủ thể Hệ thống tiêu chí đánh giá chất lượng này được xem xét đồng thời ở cả ba thành phần: tài nguyên du lịch, cơ sở vật chất kĩ thuật và con người
3.6 Ý nghĩa của việc nâng cao chất lượng chương trình du lịch
Trên đây là những lý luận chung về chất lượng chương trình du lịch Đó là
cơ sở để xem xét đánh giá từ đó đưa ra giải pháp nhằm nâng cao chất lượng chương trình du lịch tại công ty TNHH MTV lữ hành Vitours Ý nghĩa của việc nâng cao chất lượng chương trình du lịch, là vì mục tiêu thoả mãn tối đa nhu cầu của khách
du lịch để từ đó thu được lợi nhuận tối đa Đó là ý nghĩa quan trọng nhất của việc nâng cao chất lượng chương trình du lịch
Bên cạnh đó việc nâng cao chất lượng chương trình du lịch cũng có ý nghĩa trong việc tạo lập hình ảnh về một “Việt Nam giàu đẹp” Nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của nghành du lịch Việt Nam đối với khu vực và thế giới
Nghiên cứu về việc nâng cao chất lượng chương trình du lịch còn giúp cho người kinh doanh du lịch có được một nhận thức đúng đắn về nghành nghề mà mình đang theo đuổi Giúp nhìn ra phương hướng, giải pháp để hoàn thành những mục tiêu mà mình đặt ra
Nâng cao chất lượng chương trình du lịch đồng nghĩa là giúp môi trường du lịch được nâng lên, được bảo vệ và phát triển một cách bền vững Nó còn có ý nghĩa quyết định sống còn đến sự tồn tại và phát triển của công ty Hơn bao giờ hết chất lượng sản phẩm luôn là mục tiêu của các nhà kinh doanh du lịch và khách du lịch
Trên đây là những lý luận chung về chất lượng chương trình du lịch Nó là
cơ sở, nền tảng giúp chúng ta định hướng được mục tiêu cần đạt được Là “kim chỉ nam” giúp ta tìm được những biện pháp nhằm nâng cao chất lượng chương trình du lịch Tuy nhiên để có thể có những biện pháp hữu hiệu nhằm giải quyết vấn đề chất lượng chương trình du lịch thì chỉ lý luận thôi thì chưa đủ Điều quan trọng ở đây là
Trang 24phải tìm hiểu thực tiễn Bởi như Mác đã nói “thực tiễn tạo ra chân lý” Chỉ có nghiên cứu phân tích thực tiễn hoạt động thì chúng ta mới có thể đưa ra những giải pháp toàn diện nhất, sát với mục tiêu đề ra Và đó chính là nội dung của chương 2
Trang 25CHƯƠNG II THỰC TRẠNG VỀ CHẤT LƯỢNG CHƯƠNG TRÌNH DU LỊCH Ở CÔNG TY TNHH MỘT
THÀNH VIÊN LỮ HÀNH VITOURS
1 Tổng quan về công ty
1.1 Lịch sử hình thành
Công ty Du lịch Việt Nam tại Đà Nẵng trực thuộc Tổng cục Du lịch, là đơn
vị chuyên kinh doanh về các dịch vụ du lịch: lưu trú, vận chuyển, lữ hành, tổ chức phục vụ cho khách trong nước và quốc tế Sự ra đời của Công ty Du lịch Việt Nam tại Đà Nẵng là do Tổng cục Du lịch quyết định sát nhập hai công ty trên cùng một địa bàn nhằm kết hợp các nguồn lực sẵn có và tạo thêm sức mạnh mới trong lĩnh vực kinh doanh du lịch, đó là:
Công ty Du lịch Quảng Nam - Đà Nẵng được thành lập từ ngày 30/05/1975 với chức năng chính là phục vụ công tác đối ngoại của Đảng và Nhà nước, tổ chức các dịch vụ phục vụ khách quốc tế
Công ty Du lịch Việt Nam tại Đà Nẵng (cũ) thành lập từ ngày 26/03/1991 mà tiền thân là chi nhánh Tổng công ty du lịch Việt Nam tại Đà Nẵng
Như vậy, có thể xem hoạt động kinh doanh của Công ty thực hiện trong những năm đầu tiên là tổ chức phục vụ các dịch vụ cho các đối tượng khách theo yêu cầu của cấp trên Đến năm 1990 - 1991, hoạt động kinh doanh du lịch của Công
ty Du lịch Quảng Nam - Đà Nẵng cũng như Công ty Du lịch Việt Nam tại Đà Nẵng (cũ) bắt đầu mở rộng sang khai thác và phục vụ dịch vụ du lịch cho thị trường khách là người Việt Nam đi du lịch trong nước, gọi chung là khách nội địa
Vào ngày 04/09/1999, hai công ty sát nhập với nhau lấy tên là Công ty Du lịch Việt Nam tại Đà Nẵng (Vitours Đà Nẵng)
Từ ngày 01/01/2008 Công ty Du lịch Việt Nam tại Đà Nẵng bắt đầu cổ phần hóa, chuyển đổi hình thức sỡ hữu và hiện tại đã cổ phần được 49% Từ ngày 13/01/2008 chính thức lấy tên gọi là Công ty Cổ phần Du lịch Việt Nam Vitours Đồng thời thực hiện việc tách bộ phận lữ hành thành một công ty riêng với tên gọi: Công ty TNHH MTV Lữ Hành Vitours
Như vậy, Công ty TNHH MTV Lữ Hành Vitours đã chính thức thành lập ngày 13/01/2008
Tên giao dịch: Công ty TNHH MTV Lữ Hành Vitours
Tên tiếng Anh: VITOURS LIMITED COMPANY
Tên giao dịch quốc tế : VIETNAMTOURISM - VITOURS
Tên viết tắt : VITOURS
Trang 26Giám đốc Công ty: Cao Trí Dũng
Trụ sở chính: 83 Nguyễn Thị Minh Khai, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng Tel: (0511) 3823660, 3812631
1.2.1 Chức năng của công ty
- Tổ chức sản xuất các chương trình du lịch trọn gói: là sự kết hợp các sản phẩm riêng lẻ của nhiều nhà cung cấp dịch vụ du lịch
- Môi giới: tổ chức tiêu thụ sản phẩm của các nhà cung cấp, các đối tác đáng tin cậy
- Tổ chức phục vụ khách du lịch
- Khai thác quảng cáo: cung cấp thông tin cho khách du lịch
- Cung cấp các dịch vụ trung gian khác như: Visa, vé máy bay, cho thuê xe,…
1.2.2 Nhiệm vụ của công ty
- Tiến hành khảo sát, nghiên cứu thị trường để xây dựng và thực hiện bán các sản phẩm du lịch
- Kinh doanh các chương trình du lịch dành cho khách quốc tế, nội địa Đặc biệt là tổ chức cho người nước ngoài đang cư trú tại Việt Nam, Việt kiều về thăm quê đi tham quan du lịch, tổ chức cho người Việt Nam đi du lịch nước ngoài
- Tổ chức các hoạt động đưa đón, hướng dẫn khách du lịch theo đúng quy định
- Tổ chức hoạch toán và hoạt động kinh doanh, công bố tài chính của doanh nghiệp theo quy định của nhà nước
- Tổ chức quản lý và sử dụng có hiệu quả lực lượng lao động, tài sản, tiền vốn theo đúng nguyên tắc, chế độ quản lý kinh tế, tài chính của nhà nước, theo sự phân công quản lý của Tổng cục du lịch, có kế hoạch bồi dưỡng, sử dụng đội ngũ cán bộ công nhân viên
1.2.3 Quyền hạn của công ty
- Xây dựng và quyết định bộ máy tổ chức nhân sự, ban hành các tiêu chuẩn chức năng nghiệp vụ, quy chế lao động và đào tạo bỗi dưỡng nguồn nhân lực
- Trực tiếp ký kế giao dịch với các tổ chức du lịch nước ngoài để đón khách
du lịch quốc tế vào Việt Nam và tổ chức cho người Việt Nam đi du lịch nước ngoài
Trang 27- Được phép huy động vốn trong và ngoài nước để phát triển cơ sở vật chất
kỹ thuật, mở rộng các dịch vụ bổ sung để đáp ứng nhu cầu của mọi đối tượng khách
du lịch
1.2.4 Các lĩnh vực kinh doanh của công ty
- Hoạt động kinh doanh lữ hành:
+ Kinh doanh lữ hành quốc tế nhận khách: Công ty nhận những đoàn khách hay khách riêng lẻ là những người nước ngoài hay người Việt Nam định cư ở nước ngoài đi du lịch vào Việt Nam
+ Kinh doanh lữ hành quốc tế gửi khách: Công ty sẽ tổ chức đưa du khách từ Việt Nam đi du lịch sang các nước khác Những khách này có thể là người Việt Nam hoặc người nước ngoài sống và làm việc tại Việt Nam
+ Kinh doanh lữ hành nội địa: Công ty tổ chức các chương trình du lịch cho người Việt Nam tham quan những điểm du lịch trên mọi miền đất nước
+ Cung cấp dịch vụ riêng lẻ cho các khách công vụ: Đặt chỗ trong khách sạn, mua vé máy bay, các dịch vụ vẩn chuyển, hướng dẫn du lịch
- Hoạt động kinh doanh vận chuyển:
Đây là hoạt động kinh doanh đem lại lợi nhuận tương đối cao cho công ty Công ty có một xí nghiệp vận chuyển du lịch tại số 17 Nguyễn Thiện Thuật với đội
xe gồm 45 chiếc đủ loại từ 4 đến 45 chỗ ngồi, trong đó có 19 chiếc của công ty, 26 chiếc còn lại là của các tư nhân ngoài gửi kinh doanh
- Đại lý vé máy bay:
Về thương hiệu và uy tín sẵn có của Tổng Công ty trên thị trường cũng như trong lĩnh vực kinh doanh lữ hành nên các hãng hàng không như Việt Nam Airlines
và Pacific Airlines đã chọn công ty làm đại lý chính thức Điều này rất thuận lợi trong việc bán vé cho khách khi đi tham quan, du lịch nước ngoài
- Các hoạt động kinh doanh khác
Bên cạnh các hoạt động kinh doanh chính đã nêu ở trên Các hoạt động kinh doanh, các dịch vụ bổ trợ khác của Vitours cũng rất phong phú và đa dạng về mọi lĩnh vực như: dịch vụ đổi ngoại tệ, làm giấy tờ xuất nhập cảnh, visa, những hoạt động này ngoài việc mang tính chất hỗ trợ còn mang lại cho công ty một nguồn thu lớn, đáp ứng nhu cầu của khách du lịch
Trang 281.3 Tổ chức bộ máy quản lý của công ty
1.3.1 Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý của công ty
Ghi chú:
: Quan hệ chức năng
Hình 2: Cơ cấu tổc chức của công ty
1.3.2 Chức năng và nhiệm vụ của từng bộ phận
1.3.2.1 Ban giám đốc
- Quản lý điều hành hoạt động chung của một công ty Có quyền quyết định
và chịu trách nhiệm về mọi hoạt động của công ty trước pháp luật
- Quyết định các vấn đề liên quan đến hoạt động hằng ngày của công ty, tổ chức thực hiện các kế hoạch kinh doanh, các dự án đầu tư
- Đôn đốc chỉ đạo cho các phòng ban thực hiện các kế hoạch đã đề ra
BAN GIÁM ĐỐC
PHÒNG
KẾ TOÁN
PHÒNG VÉ MÁY BAY
Du lịch nội địa
P.vận chuyển
Cơ cấu tổ chức của Công ty TNHH MTV Lữ Hành Vitours
PHÒNG HÀNH CHÍNH - IT
CÁC PHÒNG THỊ TRƯỜNG
CHI NHÁNH
HÀ NỘI
CHI NHÁNH
HỒ CHÍ MINH
Trang 291.3.2.2 Phòng Inbound Âu - Mỹ
- Tổ chức và tiến hành các hoạt động nghiên cứu thị trường du lịch, tiến hành các hoạt động tuyên truyền, quảng cáo, thu hút các nguồn khách du lịch Châu Âu - Châu Mỹ đến với công ty
- Tiến hành xây dựng các chương trình du lịch từ nội dung đến mức giá phù hợp với nhu cầu của khách hàng, chủ động trong việc đưa ra những ý đồ mới về sản phẩm của công ty lữ hành
- Tổ chức điều động, bố trí hướng dẫn viên cho các chương trình du lịch, xây dựng và phát triển mối quan hệ đội ngũ các hướng dẫn, tổ chức bồi dưỡng để đội ngũ hướng dẫn có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao, phẩm chất nghề nghiệp tốt, đáp ứng các nhu cầu về hướng dẫn của công ty
1.3.2.5 Phòng du lịch chuyên đề và liên kết
Chuyên thực hiện việc khảo sát, xây dựng, chào bán và thực hiện các chương trình du lịch trọn gói theo các chủ đề khác nhau như: tuần trăng mật, weekend Đồng thời, thiết lập mối quan hệ với các công ty lữ hành khác và nhận lại việc tổ chức thực hiện các chương trình du lịch cho các công ty đó
1.3.2.6 Phòng du lịch nội địa
- Tổ chức và tiến hành các hoạt động nghiên cứu thị trường du lịch, tiến hành các các hoạt động tuyên truyền quảng cáo, thu hút các nguồn khách du lịch trong nước đến với công ty
- Duy trì các mối quan hệ của công ty với các nguồn khách hàng
- Tiến hành xây dựng các chương trình du lịch từ nội dung đến mức giá phù hợp với nhu cầu của khách hàng, chủ động trong việc đưa ra những ý đồ mới về sản phẩm của công ty lữ hành
1.3.2.7 Phòng vận chuyển
Kinh doanh dịch vụ vận chuyển, chịu trách nhiệm về phương tiện vận chuyển của khách trong chương trình du lịch
Trang 301.3.2.8 Chi nhánh Hà Nội và TP Hồ Chí Minh
Là đầu mối thu hút khách và là đầu mối triển khai các hoạt động nhằm thực
hiện các yêu cầu (các chương trình du lịch) của công ty tại Hà Nội và TP Hồ Chí
Nhận xét: Thông qua bảng cân đối kế toán ta thấy:
Tổng nguồn vốn của công ty biến động tăng giảm qua các năm Năm 2006
đạt 49.571 triệu đồng giảm xuống còn 49.093 triệu đồng năm 2007 (do công ty tiến
hành cổ phần hóa) và cuối năm 2008 tăng lên lại 49.230 triệu đồng, đặc biệt nhu cầu
tiền mặt dành cho các hoạt động kinh doanh tại công ty tăng nhanh từ 1.046 triệu
năm 2006 tăng lên 1490 triệu năm 2007 và năm 2008 tăng lên 1.898 triệu đồng
Ngoài ra, các khoản phải thu của công ty tăng dần qua các năm từ 4.965 triệu đồng
năm 2006 tăng lên 5.307 triệu đồng năm 2007 và cuối năm 2008 tăng lên 5.500
triệu đồng, qua đó ta thấy rằng công tác thu nợ của công ty chưa hiệu quả, phần lớn
Trang 31các khoản nợ này thuộc các công ty lữ hành gởi khách ở hai đầu thị trường và được công ty xếp vào loại nợ khó đòi của công ty trong hoạt động kinh doanh
Bên cạnh đó, tài sản cố định và đầu tư dài hạn lại giảm từ 37.487 triệu đồng năm 2006 giảm xuống còn 37.243 triệu đồng năm 2008 Trong năm 2006, tài sản cố định của công ty tăng 0.08% chủ yếu là do công ty trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật cho hoạt động kinh doanh lữ hành và tân trang cho một số đầu xe cho xí nghiệp vận chuyển
Trong cơ cấu tổng nguồn vốn của công ty ta thấy: Khoản phải trả ngắn hạn của công ty giảm dần qua các năm, qua đó ta thấy công ty có một khoản tiền dự trữ tiền mặt trong kinh doanh khá cao Các khoản phải trả có xu hướng tăng nhanh, đặc biệt năm 2007 tăng lên tới 1.942 triệu đồng so với con số 1.234 triệu đồng năm
2006, có lẽ năm 2007 công ty cần nhiều vốn để đầu tư, quảng bá cho các lễ hội của thành phố như: bắn pháo hoa, Festival Huế
Bảng 2: Các chỉ tiêu tài chính
Chỉ tiêu ĐVT Năm
2006 2007 2008
1 Khả năng thanh toán
Khả năng thanh toán hiện thời
- Thông qua hệ số nợ trên tài sản chúng ta biết được phần tài sản của công ty được tài trợ từ nguồn vốn vay như thế nào Trong những năm qua hệ số này khá ổn, giảm xuống nhưng ít, qua tỷ lệ trên ta thấy trong cơ cấu tài sản của công ty có gần
Trang 3270% là vốn vay, phần còn lại vốn chủ sỡ hữu Đối với công ty con số này khá an toàn nhưng để tạo được niềm tin hơn cho các chủ đầu tư công ty cần giảm tỷ lệ vốn vay trong cơ cấu tài sản của mình
- Vòng quay tài sản của công ty thể hiện mức độ chuyển hóa tài sản tạo ra doanh thu của công ty, chỉ số này này của công ty tăng đều qua các năm kinh doanh
từ 1.35 vòng năm 2006 tăng lên 1.66 vòng năm 2007 và cuối năm 2008 là 2.41 vòng Qua đó ta có thể thấy công ty đang sử dụng hiệu quả tài sản để tạo ra doanh thu cho mình
2.2 Tình hình sử dụng nguồn nhân lực
Đối với doanh nghiệp hoạt động kinh doanh lữ hành như Vitours thì đội ngũ cán bộ công nhân viên đóng một vai trò quan trọng và là nhân tố quyết định sự thành công của cả công ty Do đó, công ty luôn đặt vấn đề nguồn nhân lực lên hàng đầu, luôn quan tâm, chú trọng đến Đặc biệt là các công tác như: tuyển dụng, đào
tạo, huấn luyện, và các chính sách đãi ngộ cán bộ công nhân viên
Trang 33
Chi nhánh 6 8.7 1 5 6 10.00 - - -
Tổng 69 100 36 33 60 100 7 100 2 100
(Nguồn: Công ty THNN MTV lữ hành Vitours)
Nhận xét: Qua bảng số liệu trên, ta thấy rằng tuy là công ty thành lập chưa lâu
nhưng đội ngũ công nhân viên khá dồi dào và tỷ lệ nam nữ chiếm ngang bằng nhau,
đa số là công nhân viên trẻ (độ tuổi chủ yếu ở công ty là độ tuổi dưới 35 tuổi) chiếm 58.57% tổng số nhân viên, tạo điều kiện thuận lợi cho công ty khi triển khai hay áp dụng một thành tựu khoa học nào vào kinh doanh Bên cạnh đó trình độ công nhân viên đại học và sau đại học tại công ty chiếm tỷ trọng rất cao trong tổng số nhân viên hiện có của công ty chiếm 86.95%
Trang 342.3.Tình hình khách của công ty khai thác
2.3.1 Cơ cấu nguồn khách tại công ty theo phạm vi chuyến đi
Bảng 4: Cơ cấu khách Inbound - Outbound - Nội địa
khách " 25512 100 30774 100 38775 100 120.63 126.00
Khách
Inbound " 12374 48.5 15930 51.76 18504 47.72 128.74 116.16 Khách
Outbound " 2492 9.77 3121 10.14 3525 9.09 125.24 112.93 Khách
30774
15930
3121 11723
38775
18504
3525 14068
0 5000 10000
Biểu đồ thể hiện cơ cấu khách theo phạm vi chuyến đi
Nhận xét: Nhìn vào bảng cơ cấu khách trên ta nhận thấy rằng: tốc độ phát triển
khách du lịch của công ty tăng đều qua các năm thể hiện qua các chỉ tiêu sau:
Tổng lượng khách đến với công ty tăng đều qua các năm từ 25512 lượt khách năm 2006 tăng lên 30774 lượt khách năm 2007, và cuối năm 2008 tăng lên 38775 lượt khách Trong đó, lượng khách quốc tế chiếm một tỷ trọng cao trong cơ cấu
Trang 35khách của công ty so với khách nội địa, đặc biệt là khách Inbound Tuy nhiên, lượng khách này luôn biến động qua các năm, đặc biệt lượng khách này đang có xu hướng giảm vào cuối năm 2008 và đầu năm 2009 do hậu quả cuộc khủng hoảng kinh tế trong năm 2008, chiếm 48.5% tổng khách năm 2006, năm 2007 tăng lên 51.76% trong tổng khách của công ty, nhưng cuối năm 2008 chỉ còn 47.72%, tốc độ phát triển năm 2008/2007 giảm còn 116.16% so với năm 2007/2006 128.74% Tuy nhiên công ty vẫn đầu tư khai thác vào đối tượng này vì họ là những du khách có khả năng thanh toán cao góp phần tăng lợi nhuận cho công ty Qua đó cho thấy tầm quan trọng của thị trường Inbound đối với Vitours
Cũng chịu ảnh hưởng của xu hướng khủng hoảng kinh tế hiện nay, thì lượng khách Outbound của công ty cũng đang giảm nhưng không cao 9.77% trong tổng khách năm 2006, đến năm 2007 tăng lên 10.14% nhưng cuối năm 2008 con số này chỉ còn lại 9.09% tổng khách Đây là một đối tượng khách hứa hẹn mang lại cho công ty nguồn thu khá cao, do đó cùng với những chính sách kích cầu du lịch của chính phủ như giảm giá vé máy bay, xóa bỏ Visa giữa các nước Đông Á, Công ty cần phải có những chính sách kinh doanh đúng đắn và phù hợp để kích thích nhu cầu du lịch ở đối tượng này
Một thị trường khác cũng mang lại doanh thu cho công ty Lượng khách nội địa của công ty tăng đều qua các năm kinh doanh nhưng tỷ trọng so với tổng số khách đang có xu hướng giảm mạnh từ 10646 lượt khách chiếm 41.73% tổng khách năm 2006 đến năm 2007 chỉ còn chiếm 38.09% tổng khách mặc dù số lượt khách tăng lên 11723 lượt, và cuối năm 2008 tiếp tục giảm xuống còn lại 36.28% mặc dù tổng lượng khách không giảm Vì thế trong các năm tới công ty cần có những chính sách, chương trình du lịch gắn liền với đời sống người Việt Nam như tour du lịch tìm hiểu di sản hay tìm về cội nguồn để thúc đẩy nhu cầu du lịch của các du khách nội
Trang 362.3.2 Cơ cấu nguồn khách của công ty theo phương tiện vận chuyển
Bảng 5 Cơ cấu nguồn khách của công ty theo phương tiện vận chuyển
Inbound 11056 100 12374 100 15930 100 111.92 128.74
Hàng không 6398 57.87 7427 60.02 7879 49.46 116.08 106.09 Đường bộ 3029 27.4 3140 25.38 6210 38.98 103.66 197.78 Đường biển 1629 14.43 1807 14.6 1931 11.56 110.93 106.87
(Nguồn: Công công ty TNHH MTV lữ hành Vitours)
11056
6398
3029 1629
12374
7424
3140 1807
15390
7879 6210
1931 0
2000 4000 6000 8000 10000 12000 14000 16000
2006 2007 2008
Tổng khách Hàng không Đường bộ Đường biển
Biểu đồ thể hiện cơ cấu khách theo phương tiện vận chuyển
Trong cơ cấu nguồn khách của công ty theo phương tiện vận chuyển thì
khách du lịch đi bằng hàng không luôn chiếm tỷ trọng cao nhất, luôn chiếm 50%, mặc dù cuối năm 2008 tỷ trọng này có giảm từ 60.02% năm 2007 xuống 49.46% năm 2008, có thể là do lạm phát, khủng hoảng kinh tế cộng thêm việc bãi bỏ Visa đi lại giữa Việt Nam và một số nước như: Lào, Cũng có thể vì lý do đó mà tỷ trọng
Trang 37du khách đi du lịch đường bộ tăng nhanh qua các năm (tăng gần 14% từ 25.38% năm 2007 đến 38.98% năm 2008) Ngoài ra, hình thức đi du lịch đường bộ ngày càng thu hút du khách không phải bởi là phương tiện rẻ nhất mà còn bởi sự linh hoạt của lọai phương tiện này, du khách có thể dùng chân lại một danh lam nào họ muốn mà không có trong lịch trình, cộng thêm thuận lợi là du khách có thể ngắm nhìn tất cả các thắng cảnh xuyên suốt chuyến đi Hình thức du lịch đường biển cũng giảm trong thời kỳ này từ 14.6% năm 2006 xuống 11.56% năm 2008 Với tình hình giá cả leo thang hiện nay thì công ty nên có những chương trình du lịch đường bộ xuyên Việt, liên quốc gia để khai thác tối đa lượng khách đi du lịch bằng đường bộ
2.3.3 Cơ cấu khách theo khả năng khai thác
Bảng 6 Cơ cấu nguồn khách theo khả năng khai thác
Chỉ tiêu
2006 2007 2008 Tốc độ phát triển (%)
SL % SL % SL %
2007/2006 (%)
2008/2007 (%) Tổng lượt khách 25512 100 30774 100 38775 100 120.63 125.999
Cty tự khai thác 18573 72.8 22834 74.2 32456 83.70 122.94 142.139
Khách quốc tế 13224 71.2 16508 72.2 19975 51.52 124.83 121.002 Khách nội địa 5349 28.8 6326 27.8 11567 29.83 118.2 182.849
Cty nhận lại 6939 27.2 7940 25.8 6319 16.30 110.1 79.584
Khách quốc tế 1642 23.66 2543 32.6 3830 9.88 154.87 150.61 Khách nội địa 5297 76.34 5397 67.4 2489 6.42 101.9 46.118 (Nguồn: Công ty TNHH MTV lữ hành Vitours)
Biểu đồ thể hiện cơ cấu khách theo khả năng khai thác
Trang 38Nhận xét: Thông qua bảng cơ cấu khách theo khả năng khai thác của công ty
qua các năm 2006-2008 ta thấy rằng: Vitours là một công ty có khả năng khai thác khách rất mạnh, đặc biệt là khách quốc tế, lượng khách này cũng tăng đều qua các năm từ 13224 lượt khách năm 2006 tăng lên 16508 lượt khách năm 2007 và cuối năm con số này tăng lên 19975 lượt khách nhưng tỷ trọng khách quốc tế năm 2008 lại giảm so với các năm trước chiếm 72.2% tổng khách tự khai thác năm 2007 giảm xuống còn 52.52% năm 2008, nguyên nhân cũng do hậu quả của khủng hoảng kinh
tế năm 2008 làm cho nhu cầu đi du lịch của người dân giảm và làm tăng tính cạnh tranh giữa các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành trên thị trường Bên cạnh đó, bằng những chính sách kích cầu du lịch của người dân Việt một cách đúng đắn nên lượng
du khách nội địa theo khả năng tự khai thác của công ty không có xu hướng giảm trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế toàn cầu như hiện nay Lượng khách nội địa tự khai thác của công ty tăng từ 5349 lượt khách năm 2006 lên 6326 lượt khách năm
2007 và năm 2008 tăng lên 11567 lượt khách trong tổng số khách tự khai thác của công ty Qua đó, ta thấy được thị trường kinh doanh lữ hành nội địa là một thị trường chứa đựng nhiều cơ hội giúp công ty phát triển khả năng khai thác của mình
Tiếp đến là lượng khách mà công ty nhận lại từ các công ty, đại lý lữ hành trong và ngoài nước, lượng khách này của công ty đang có xu hướng giảm dần, đặc biệt là lượng khách nội địa từ 5397 lượt khách năm 2007 giảm xuống còn 2489 lượt khách năm 2008 Khách quốc tế mà công ty nhận lại cũng tăng giảm qua các năm từ
6939 lượt khách năm 2006 tăng lên 7940 lượt khách năm 2007 và cuối năm 2008 giảm xuống còn 6319 lượt khách Đây có lẽ do nguyên nhân Việt Nam gia nhập tổ chức kinh tế thế giới WTO, bởi vì sau khi gia nhập kinh tế thế giới thì các trung gian lữ hành nước ngoài sẽ gởi khách trực tiếp vào nước ta mà không cần qua bất cứ trung gian lữ hành nào, do vậy đây trở thành một thách thức lớn với Vitours trong thời gian tới Do đó trong thời gian tới đòi hỏi công ty cần nâng cao khả năng cạnh tranh của mình trên thị trường lữ hành trong và ngoài nước, nâng cao và định vị thương hiệu, hình ảnh của mình trong tâm trí khách hàng hiện tại và tiềm năng
Trang 392.3.4 Cơ cấu khách theo quốc tịch
Bảng 7: Cơ cấu khách theo quốc tịch
Chỉ tiêu
2006 2007 2008
SL % SL % SL % Tổng khách 12374 100 16135 100 23807 100
Châu Âu 3282 26.52 4156 26.09 6200 26.04
Châu Á 7309 59.07 9552 59.96 13166 55.30
Châu Mỹ 938 7.58 1222 7.67 2705 11.36
Châu Đại Dương 841 6.8 1205 7.56 1736 7.29
(Nguồn: Công ty TNHH MTV lữ hành Vitours)
12374
3282 7309
938 841
16135
4156 9552
1222 1205
23807
6200 13166
2705 1736
Biểu đồ thể hiện cơ cấu khách theo quốc tịch
Nhận xét: Nhìn vào bảng cơ cấu khách theo quốc tịch ta thấy lượng khách
tăng đều qua các năm 2006 - 2008, tuy tỷ trọng của từng Châu có giảm nhẹ; trong
đó khách đến từ Châu Á chiếm tỷ trọng cao nhất Đối với các du khách mang quốc tịch nước ngoài, Việt Nam là một điểm đến an toàn, hòa bình và thân thiện cộng với công ty có lợi thế về địa lý, nằm trên trục đường chính Những điều này giúp công
ty khai thác khách nước ngoài một cách dễ dàng và nhanh chóng
Trang 402.4 Kết quả hoạt động kinh doanh
Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty trong thời gian qua thực chất là kết quả hoạt động kinh doanh của khối lữ hành tại công ty du lịch Việt Nam tại Đà
Nẵng (cũ) Hoạt động kinh doanh của công ty này trước đây được chia thành hai
khối chính là khối dịch vụ và khối lữ hành, trong đó doanh thu và lợi nhuận của
khối lữ hành luôn chiếm một tỷ trọng rất cao so với khối dịch vụ chiếm hơn 50%,
đóng góp một phần đáng kể vào doanh thu và lợi nhuận của tổng công ty hiện nay
Điều này được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 8 Kết quả hoạt động kinh doanh
thu Triệu 66.34 100 81.25 100 118.88 100 122.48 146.31385 Chi phí Triệu 43.348 65.3422 51.683 63.6098 73.1588 61.54 119.23 141.55284