Đề Tài : NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ GIA TĂNG VIỆC SỐNG THỬ CỦA GIỚI TRẺ VIỆT NAM TRƯỜNG HỢP NGHIÊN CỨU GIỚI NHÂN VIÊN VĂN PHÒNG TẠI TP.HCM GVHD : Ths. Chu Nguyễn Mộng Ngọc LỚP : 18C1DAT60800401 TP.HCM, Tháng 022019 MỤC LỤC 1. GIỚI THIỆU 1 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1 2.1. Sống thử 1 2.2. Các lý do dẫn đến quyết định sống thử 2 3. KHUNG PHÂN TÍCH VÀ CÁC GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU 4 4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 5 4.1. Xây dựng thang đo các khái niệm 5 4.2. Mẫu 5 5. KẾT QUẢ 6 5.1. Mô tả mẫu 6 5.2. Đánh giá chất lượng đo lường các khái niệm nghiên cứu 6 6. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 15 7. PHỤ LỤC BẢNG CÂU HỎI 16 8. TÀI LIỆU THAM KHẢO 17 1. GIỚI THIỆU Xã hội ngày nay ngày càng phát triển, văn hóa ở nhiều nước dần du nhập vào nước ta một cách nhanh chóng hơn, đặc biệt là nền văn hóa phương Tây. Phong cách và lối sống của con người Việt Nam cũng ngày càng thay đổi theo hướng hiện đại hơn. Đặc biệt là những quan niệm trong tình yêu theo lối sống của người châu Âu, giới trẻ thích tìm hiểu sống thử hơn là đi vào cuộc sống hôn nhân. Theo phúc trình của Bộ Y tế Việt Nam ngày 27 Tháng 03 năm 2013, khoảng 44% thanh niên và vị thành niên ở Việt Nam chấp nhận quan hệ tình dục trước hôn nhân. “Vấn đề gia đình hiện nay ở Việt Nam chúng ta đang có xu hướng biến đổi, đa chiều. Hiện có rất nhiều cuộc hôn nhân của giới trẻ hướng đến sự tự do, đặc biệt là giới trẻ thành phố không cần đến sự thừa nhận của gia đình, thậm chí không cần đến sự thừa nhận của luật pháp” (TS. Phạm Ngọc Trung, 2017). Có thể thấy mỗi cá nhân trong xã hội chúng ta do dự hơn trong việc kết hôn và thích thử mối quan hệ của họ thông qua sống thử hơn trước khi đi đến quyết định cam kết lâu dài. Mặc dù có khá nhiều dữ liệu về tác động bất lợi của việc sống thử trước khi kết hôn, nhưng tỷ lệ giới trẻ sống thử trước hôn nhân vẫn tiếp tục gia tăng. Nhận thấy điều mâu thuẫn trên, nghiên cứu này chỉ ra tại sao tình trạng sống thử tiếp tục gia tăng. Những lý do chủ yếu tác động đến việc gia tăng tình trạng sống thử là: Thời gian ở bên nhau của các cặp đôi, họ muốn kiểm tra rằng trước khi kết hôn họ muốn chắc chắn cuộc sống hôn nhân sẽ hòa hợp, và những lợi ích tài chính sẽ tác động đến quyết định sống thử. 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1. Sống thử Ngày nay, Sống thử hay sống thử trước hôn nhân là một cụm từ thường được báo chí Việt Nam dùng để chỉ một hiện tượng xã hội, theo đó các cặp nam nữ về sống chung với nhau như vợ chồng, nhưng không tổ chức hôn lễ cũng như đăng ký kết hôn. Các nguồn hàn lâm hơn (như nghiên cứu khoa học, luật pháp...) thì sử dụng cụm từ có khái niệm tương tự là Chung sống như vợ chồng phi hôn nhân. Tiến sĩ triết học Nguyễn Linh Khiếu, là một chuyên gia nghiên cứu gia đình trẻ và trẻ em cho rằng không nên dùng từ sống thử, mà phải là Chung sống phi hôn nhân thì mới thật chính xác. Các cặp đôi gặp, sống với nhau một thời gian rồi chia tay và sống với người khác. Đấy không phải là sống thử mà là sống thật, sống hết sức nghiêm túc chứ không phải chuyện đùa. Tất cả từ tình cảm, tình dục, chi tiêu là đều thật. Có điều sự chung sống này thiên về thỏa mãn dục vọng, tình cảm tức thời, chán thì chia tay chứ không đi liền với các nghĩa vụ và trách nhiệm. Theo quy định tại điểm c khoản 3 Nghị quyết 352000QH10 Về việc thi hành Luật hôn nhân và gia đình, so với những cặp vợ chồng thực thụ, chung sống phi hôn nhân không được pháp luật cũng như xã hội thừa nhận, do đó các cặp đôi tham gia không chịu bất kỳ sự ràng buộc nào với nhau về nghĩa vụ gia đình cũng như trách nhiệm trước các quy định của luật Hôn nhân. 2.2. Các lý do dẫn đến quyết định sống thử Cũng theo Tiến sĩ Triết học Nguyễn Linh Khiếu, có 3 lý do chính dẫn đến hành động Sống thử của giới trẻ Việt Nam, đó là: nguyên nhân từ gia đình, nguyên nhân từ xã hội, nguyên nhân từ bản thân người sống thử. Theo như Tiến sĩ, bác sĩ Nguyễn Thị Hoài Đức, Giám đốc Trung tâm sức khỏe phụ nữ và gia đình, khái quát: Không phải bạn trẻ nào cũng thích sống thử, nhưng nhìn chung tâm lý của giới trẻ bao giờ cũng thích thử. Câu nói Yêu chỉ để thay đổi không khí hay giải quyết sinh lý đã trở thành câu cửa miệng của không ít thanh niên Việt Nam hiện nay. Tuy nhiên, Vấn đề Sống thử cũng bị ảnh hưởng bởi văn hóa nước ngoài du nhập vào Việt Nam trong thời kì mở cửa, đặc biệt là văn hóa phương Tây, vì vậy bài nghiên cứu này được xây dựng dựa trên một công trình nghiên cứu đã có sẵn tại Mỹ và được chỉnh sửa từ ngữ để phù hợp với văn hóa người Việt Nam. Theo đó, có 3 lý do chính tác động trực tiếp đến quyết định Sống thử của mỗi cá nhân như sau: Thứ nhất là yếu tố Thời gian Khi sống thử họ có thể dành thời gian bên nhau nhiều hơn, Thứ hai là yếu tố Kiểm tra Thử nghiệm – Các cặp đôi trẻ muốn chắc chắn cuộc sống hôn nhân sẽ hòa hợp vì vậy họ muốn thử nghiệm trước khi đi đến một cam kết lâu dài là việc Kết hôn một cách hợp pháp, và Thứ ba là những lợi ích tài chính sẽ tác động trực tiếp đến quyết định sống thử của không ít cặp đôi trẻ hiện nay. Nhiều người trẻ tin rằng sống thử là một cách tốt để kiểm tra các mối quan hệ của họ trước khi kết hôn (Axinn Thornton, 1992 ) và những niềm tin như vậy về việc sống thử có thể ảnh hưởng đến sự lựa chọn của họ đối với việc sống thử. Tuy nhiên, ít nghiên cứu đã xem xét lý do riêng của các cá nhân để sống thử và làm thế nào những lý do đó có thể liên quan đến cách họ mô tả bản thân và các mối quan hệ của họ. Theo Bumpass, 1991 và Johnson, 2002, thử nghiệm mối quan hệ trước khi kết hôn cũng là lý do cho việc sống thử và phản ánh một số mong muốn cho một tương lai cùng nhau, nhưng cũng có một số điều không chắc chắn. Lý do sống thử này dường như đặc biệt quan trọng để đánh giá, vì nhiều người tin rằng sống thử cung cấp một trải nghiệm rất tốt cho thời gian sống chung như vợ chồng và cải thiện cơ hội của một người trong hôn nhân Nghiên cứu định tính cho thấy nhiều cá nhân sống thử đưa ra các lý do liên quan đến tài chính và thuận tiện để di chuyển cùng nhau (Sassler, 2004), nhưng một nghiên cứu định lượng từ năm 1987 của Khảo sát gia đình và hộ gia đình (NSFH) cho thấy chỉ một phần tư các cá nhân sống thử nghĩ rằng chia sẻ chi phí sinh hoạt là một lý do quan trọng để sống cùng nhau ngoài hôn nhân (Bumpass, 1991). 3. KHUNG PHÂN TÍCH VÀ CÁC GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU Các lý do cho quyết định sống thử được phát triển cho nghiên cứu này: Tôi muốn dành nhiều thời gian hơn cho nhau, tôi muốn kiểm tra mối quan hệ của chúng tôi trước khi kết hôn, Chúng tôi sống chung vì có nhiều lợi ích ý nghĩa về mặt tài chính. Các câu hỏi được đưa ra để đo lường ba loại lý do chính, trong đó có 9 biến dùng để do lường yếu tố Thời gian, 6 biến để đo lường yếu tố tố Thử nghiệm – Kiểm tra, và 3 biến để đo mức độ lợi ích kinh tế mà một cá nhân quyết định sống thử. Các giả thuyết nghiên cứu được đưa ra như sau: H1: Thời gian bên nhau tác động thuận chiều đến quyết định sống thử H2: Kiểm tra mối quan hệ trước khi tiến đến hôn nhân tác động thuận chiều đến quyết định sống thử. H3: Lợi ích về mặt tài chính làm tăng quyết định sống thử. Khung phân tích: 4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4.1. Xây dựng thang đo các khái niệm. Thang đo các khái niệm được phát triển từ công trình nghiên cứu đã có tại Mỹ và hoàn chỉnh nhờ kết quả phỏng vấn từ việc thu thập dữ liệu sơ cấp tại Thành phố Hồ Chí Minh. Các chuyên gia đã xây dựng các hiểu biết chuyên môn và có những đóng góp quan trọng cho chủ đề nghiên cứu (Bumpass Lu, 2000). Quan điểm của họ cho chúng em cơ sở nền tảng để dựa vào đó, điều chỉnh các ngôn từ cho phù hợp với văn hóa người Việt Nam và sửa đổi từ ngữ từ ngữ để đảm bảo là các phát biểu không bị người được phỏng vấn hiểu nhầm nghĩa. Sau khi nghiên cứu sơ bộ với mẫu gồm 275 nhân viên văn phòng, chúng em đánh giá thang đo bằng 2 phương pháp EFA và Cronbach’s alpha, thang đo các khái niệm đạt yêu cầu về độ tin cậy và tính giá trị. Các câu phát biểu được đo lường trên thang đo kiểu Likert 5 mức độ từ 1 là Hoàn toàn phản đối đến 5 là Hoàn toàn đồng ý. 4.2. Mẫu Mẫu chính thức được lấy tại thành phố Hồ Chí Minh, là thành phố đông dân nhất với khoảng 10 triệu người và với tốc độ tăng dân số hàng năm ở mức trên 2% vào năm 2015. Đối tượng được khảo sát là những người đã trưởng thành, có việc làm và thu nhập ổn định, đặc biệt là giới nhân viên văn phòng, hoàn toàn chủ động trong các quyết định của bản thân. Với số lượng 275 bảng câu hỏi được thu về, sau khi kiểm tra và loại bỏ những bảng câu hỏi thiếu sót và không đạt yêu cầu, kết quả còn lại 240 bảng câu hỏi hoàn chỉnh. 5. KẾT QUẢ 5.1. Mô tả mẫu Mẫu gồm 45% nam, 55% nữ (108 nam 132 nữ); độ tuổi dao động từ 21 đến 43 tuổi, trong đó chiếm đa số là độ tuổi 23 đến 26. Trong đó 60,8% người đang trong tình trạng hẹn hò, 32,9% người đã kết hôn, và 6,3% người đang trong tình trạng độc thân. Ngoài ra, trong số 240 mẫu quan sát, có 93,3% số người chưa từng sống thử, và 6,7% số người đã và đang sống thử. 5.2. Đánh giá chất lượng đo lường các khái niệm nghiên cứu Đầu tiên, chúng tôi dùng phương pháp phân tích nhân tố khám phá EFA (phép quay Varimax) để tăng cường khả năng giải thích các nhân tố, đồng thời loại bỏ các mục hỏi không đạt yêu cầu. Kết quả EFA (Bảng 1) cho thấy tất cả các mục hỏi đã tải xuống 3 nhân tố lần lượt là Thời gian, Kiểm tra và Lợi ích. Theo Gerbing và Anderson (1988) tiêu chuẩn chấp nhận về độ hội tụ của thang đo là tổng phương sai trích ≥ 50%, kết quả đạt 69,232%. Nghiên cứu này có 240 quan sát, chúng tôi chọn tiêu chuẩn FL ≥ 0,49. Sau đó, kiểm định Cronbach Alpha để kiểm định độ tin cậy của các thang đo để đánh giá chặt chẽ hơn về chất lượng đo lường các khái niệm. Bên cạnh đó, chúng tôi kiểm định sự khác nhau giữa lý do ảnh hưởng và giới tính. 5.2.1. Phân tích nhân tố EFA KMO and Bartletts Test
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ
MINH VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
TĂNG VIỆC SỐNG THỬ CỦA GIỚI TRẺ VIỆT
NAM TRƯỜNG HỢP NGHIÊN CỨU GIỚI NHÂN VIÊN VĂN PHÒNG TẠI TP.HCM
TP.HCM, Tháng 02/2019
Trang 2MỤC LỤC
1 GIỚI THIỆU 1
2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1
2.1 Sống thử 1
2.2 Các lý do dẫn đến quyết định sống thử 2
3 KHUNG PHÂN TÍCH VÀ CÁC GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU 4
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 5
4.1 Xây dựng thang đo các khái niệm 5
4.2 Mẫu 5
5 KẾT QUẢ 6
5.1 Mô tả mẫu 6
5.2 Đánh giá chất lượng đo lường các khái niệm nghiên cứu 6
6 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 15
7 PHỤ LỤC BẢNG CÂU HỎI 16
8 TÀI LIỆU THAM KHẢO 17
Trang 31. GIỚI THIỆU
Xã hội ngày nay ngày càng phát triển, văn hóa ở nhiều nước dần dunhập vào nước ta một cách nhanh chóng hơn, đặc biệt là nền văn hóa phươngTây Phong cách và lối sống của con người Việt Nam cũng ngày càng thayđổi theo hướng hiện đại hơn Đặc biệt là những quan niệm trong tình yêu theolối sống của người châu Âu, giới trẻ thích tìm hiểu sống thử hơn là đi vàocuộc sống hôn nhân Theo phúc trình của Bộ Y tế Việt Nam ngày 27 Tháng
03 năm 2013, khoảng 44% thanh niên và vị thành niên ở Việt Nam chấp nhậnquan hệ tình dục trước hôn nhân “Vấn đề gia đình hiện nay ở Việt Namchúng ta đang có xu hướng biến đổi, đa chiều Hiện có rất nhiều cuộc hônnhân của giới trẻ hướng đến sự tự do, đặc biệt là giới trẻ thành phố không cầnđến sự thừa nhận của gia đình, thậm chí không cần đến sự thừa nhận của luậtpháp” (TS Phạm Ngọc Trung, 2017) Có thể thấy mỗi cá nhân trong xã hộichúng ta do dự hơn trong việc kết hôn và thích thử mối quan hệ của họ thôngqua sống thử hơn trước khi đi đến quyết định cam kết lâu dài Mặc dù có khánhiều dữ liệu về tác động bất lợi của việc sống thử trước khi kết hôn, nhưng
tỷ lệ giới trẻ sống thử trước hôn nhân vẫn tiếp tục gia tăng Nhận thấy điềumâu thuẫn trên, nghiên cứu này chỉ ra tại sao tình trạng sống thử tiếp tục giatăng Những lý do chủ yếu tác động đến việc gia tăng tình trạng sống thử là:Thời gian ở bên nhau của các cặp đôi, họ muốn kiểm tra rằng trước khi kếthôn - họ muốn chắc chắn cuộc sống hôn nhân sẽ hòa hợp, và những lợi ích tàichính sẽ tác động đến quyết định sống thử
2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT
2.1 Sống thử
Ngày nay, Sống thử hay sống thử trước hôn nhân là một cụm từ thườngđược báo chí Việt Nam dùng để chỉ một hiện tượng xã hội, theo đó các cặp
Trang 4nam nữ về sống chung với nhau như vợ chồng, nhưng không tổ chức hôn lễcũng như đăng ký kết hôn Các nguồn hàn lâm hơn (như nghiên cứu khoahọc, luật pháp ) thì sử dụng cụm từ có khái niệm tương tự là Chung sốngnhư vợ chồng phi hôn nhân.
Tiến sĩ triết học Nguyễn Linh Khiếu, là một chuyên gia nghiên cứu giađình trẻ và trẻ em cho rằng không nên dùng từ sống thử, mà phải là "Chungsống phi hôn nhân" thì mới thật chính xác Các cặp đôi gặp, sống với nhaumột thời gian rồi chia tay và sống với người khác "Đấy không phải là sốngthử mà là sống thật, sống hết sức nghiêm túc chứ không phải chuyện đùa Tất
cả từ tình cảm, tình dục, chi tiêu là đều thật" Có điều sự chung sống này thiên
về thỏa mãn dục vọng, tình cảm tức thời, "chán thì chia tay" chứ không đi liềnvới các nghĩa vụ và trách nhiệm Theo quy định tại điểm c khoản 3 Nghịquyết 35/2000/QH10 Về việc thi hành Luật hôn nhân và gia đình, so vớinhững cặp vợ chồng thực thụ, chung sống phi hôn nhân không được pháp luậtcũng như xã hội thừa nhận, do đó các cặp đôi tham gia không chịu bất kỳ sựràng buộc nào với nhau về nghĩa vụ gia đình cũng như trách nhiệm trước cácquy định của luật Hôn nhân
2.2 Các lý do dẫn đến quyết định sống thử
Cũng theo Tiến sĩ Triết học Nguyễn Linh Khiếu, có 3 lý do chính dẫnđến hành động Sống thử của giới trẻ Việt Nam, đó là: nguyên nhân từ giađình, nguyên nhân từ xã hội, nguyên nhân từ bản thân người sống thử Theonhư Tiến sĩ, bác sĩ Nguyễn Thị Hoài Đức, Giám đốc Trung tâm sức khỏe phụ
nữ và gia đình, khái quát: "Không phải bạn trẻ nào cũng thích sống thử,nhưng nhìn chung tâm lý của giới trẻ bao giờ cũng thích thử" Câu nói "Yêuchỉ để thay đổi không khí" hay "giải quyết sinh lý" đã trở thành câu cửamiệng của không ít thanh niên Việt Nam hiện nay
Trang 5Tuy nhiên, Vấn đề Sống thử cũng bị ảnh hưởng bởi văn hóa nước ngoài
du nhập vào Việt Nam trong thời kì mở cửa, đặc biệt là văn hóa phương Tây,
vì vậy bài nghiên cứu này được xây dựng dựa trên một công trình nghiên cứu
đã có sẵn tại Mỹ và được chỉnh sửa từ ngữ để phù hợp với văn hóa người ViệtNam Theo đó, có 3 lý do chính tác động trực tiếp đến quyết định Sống thửcủa mỗi cá nhân như sau: Thứ nhất là yếu tố Thời gian - Khi sống thử họ cóthể dành thời gian bên nhau nhiều hơn, Thứ hai là yếu tố Kiểm tra - Thửnghiệm – Các cặp đôi trẻ muốn chắc chắn cuộc sống hôn nhân sẽ hòa hợp vìvậy họ muốn thử nghiệm trước khi đi đến một cam kết lâu dài là việc Kết hônmột cách hợp pháp, và Thứ ba là những lợi ích tài chính sẽ tác động trực tiếpđến quyết định sống thử của không ít cặp đôi trẻ hiện nay
Nhiều người trẻ tin rằng sống thử là một cách tốt để kiểm tra các mốiquan hệ của họ trước khi kết hôn (Axinn & Thornton, 1992 ) và những niềmtin như vậy về việc sống thử có thể ảnh hưởng đến sự lựa chọn của họ đối vớiviệc sống thử Tuy nhiên, ít nghiên cứu đã xem xét lý do riêng của các cánhân để sống thử và làm thế nào những lý do đó có thể liên quan đến cách họ
mô tả bản thân và các mối quan hệ của họ Theo Bumpass, 1991 và Johnson,
2002, thử nghiệm mối quan hệ trước khi kết hôn cũng là lý do cho việc sốngthử và phản ánh một số mong muốn cho một tương lai cùng nhau, nhưngcũng có một số điều không chắc chắn Lý do sống thử này dường như đặc biệtquan trọng để đánh giá, vì nhiều người tin rằng sống thử cung cấp một trảinghiệm rất tốt cho thời gian sống chung như vợ chồng và cải thiện cơ hội củamột người trong hôn nhân
Nghiên cứu định tính cho thấy nhiều cá nhân sống thử đưa ra các lý doliên quan đến tài chính và thuận tiện để di chuyển cùng nhau (Sassler, 2004),nhưng một nghiên cứu định lượng từ năm 1987 của Khảo sát gia đình và hộgia đình (NSFH) cho thấy chỉ một phần tư các cá nhân sống thử nghĩ rằng
Trang 63 KHUNG PHÂN TÍCH VÀ CÁC GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU
Các lý do cho quyết định sống thử được phát triển cho nghiên cứu này:Tôi muốn dành nhiều thời gian hơn cho nhau, tôi muốn kiểm tra mối quan hệcủa chúng tôi trước khi kết hôn, Chúng tôi sống chung vì có nhiều lợi ích ýnghĩa về mặt tài chính Các câu hỏi được đưa ra để đo lường ba loại lý dochính, trong đó có 9 biến dùng để do lường yếu tố Thời gian, 6 biến để đolường yếu tố tố Thử nghiệm – Kiểm tra, và 3 biến để đo mức độ lợi ích kinh
tế mà một cá nhân quyết định sống thử Các giả thuyết nghiên cứu được đưa
ra như sau:
H1: Thời gian bên nhau tác động thuận chiều đến quyết định sống thử
H2: Kiểm tra mối quan hệ trước khi tiến đến hôn nhân tác động thuận
chiều đến quyết định sống thử.
H3: Lợi ích về mặt tài chính làm tăng quyết định sống thử.
Khung phân tích:
Trang 74 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4.1 Xây dựng thang đo các khái niệm.
Thang đo các khái niệm được phát triển từ công trình nghiên cứu đã cótại Mỹ và hoàn chỉnh nhờ kết quả phỏng vấn từ việc thu thập dữ liệu sơ cấptại Thành phố Hồ Chí Minh Các chuyên gia đã xây dựng các hiểu biếtchuyên môn và có những đóng góp quan trọng cho chủ đề nghiên cứu(Bumpass & Lu, 2000) Quan điểm của họ cho chúng em cơ sở nền tảng đểdựa vào đó, điều chỉnh các ngôn từ cho phù hợp với văn hóa người Việt Nam
và sửa đổi từ ngữ từ ngữ để đảm bảo là các phát biểu không bị người đượcphỏng vấn hiểu nhầm nghĩa
Sau khi nghiên cứu sơ bộ với mẫu gồm 275 nhân viên văn phòng,chúng em đánh giá thang đo bằng 2 phương pháp EFA và Cronbach’s alpha,thang đo các khái niệm đạt yêu cầu về độ tin cậy và tính giá trị Các câu phátbiểu được đo lường trên thang đo kiểu Likert 5 mức độ từ 1 là Hoàn toànphản đối đến 5 là Hoàn toàn đồng ý
275 bảng câu hỏi được thu về, sau khi kiểm tra và loại bỏ những bảng câu hỏithiếu sót và không đạt yêu cầu, kết quả còn lại 240 bảng câu hỏi hoàn chỉnh
Trang 85 KẾT QUẢ
5.1 Mô tả mẫu
Mẫu gồm 45% nam, 55% nữ (108 nam - 132 nữ); độ tuổi dao động từ
21 đến 43 tuổi, trong đó chiếm đa số là độ tuổi 23 đến 26 Trong đó 60,8%người đang trong tình trạng hẹn hò, 32,9% người đã kết hôn, và 6,3% ngườiđang trong tình trạng độc thân Ngoài ra, trong số 240 mẫu quan sát, có 93,3%
số người chưa từng sống thử, và 6,7% số người đã và đang sống thử
5.2 Đánh giá chất lượng đo lường các khái niệm nghiên cứu
Đầu tiên, chúng tôi dùng phương pháp phân tích nhân tố khám pháEFA (phép quay Varimax) để tăng cường khả năng giải thích các nhân tố,đồng thời loại bỏ các mục hỏi không đạt yêu cầu Kết quả EFA (Bảng 1) chothấy tất cả các mục hỏi đã tải xuống 3 nhân tố lần lượt là Thời gian, Kiểm tra
và Lợi ích Theo Gerbing và Anderson (1988) tiêu chuẩn chấp nhận về độ hội
tụ của thang đo là tổng phương sai trích ≥ 50%, kết quả đạt 69,232% Nghiêncứu này có 240 quan sát, chúng tôi chọn tiêu chuẩn FL ≥ 0,49
Sau đó, kiểm định Cronbach Alpha để kiểm định độ tin cậy của cácthang đo để đánh giá chặt chẽ hơn về chất lượng đo lường các khái niệm Bêncạnh đó, chúng tôi kiểm định sự khác nhau giữa lý do ảnh hưởng và giới tính
5.2.1 Phân tích nhân tố EFA
KMO and Bartlett's Test
Kaiser-Meyer-Olkin Measure of Sampling Adequacy .832
Approx Chi-Square 3368.987 Bartlett's Test of Sphericity df 153
Kết quả tính hệ số đo lường mức độ phù hợp của mô hình phân tích
nhân tố (KMO) và kiểm định mức ý nghĩa của mô hình phân tích nhân tố
(Bartlett's Test) cho thấy:
Trang 9và đáng tin cậy.
Sig (Bartlett’s Test) = 0.000 (sig < 0.05) chứng tỏ các biến quan sát
có tương quan với nhau trong tổng thể
Total Variance Explained
Component Initial Eigenvalues Extraction Sums of Squared Loadings Rotation Sums of Squared Loadings
Total % of Variance Cumulative % Total % of Variance Cumulative % Total % of Variance Cumulative %
Extraction Method: Principal Component Analysis.
Bảng kiểm định mức ý nghĩa của các nhân tố rút trích ra (Total VarianceExplained):
Eigenvalues = 1.887 > 1 đại diện cho phần biến thiên được giải thíchbởi mỗi nhân tố, thì nhân tố rút ra có ý nghĩa tóm tắt thông tin tốt nhất
(Cumulative %) = 69.232 % > 50 % Điều này chứng tỏ 69.232 %biến thiên của dữ liệu được giải thích bởi 3 nhân tố
Trang 10Bảng ma trận xoay nhân tố (Rotated Component Matrixa) cho thấy:
18 biến quan sát được gom thành 3 nhân tố, tất cả các biến số có hệ số Factor Loading > 0.49 cho nên không có biến nào bị loại.
Số nhân tố tạo ra 3 nhóm nhân tố chính Bảng phân nhóm và đặt tên cho các nhân tố trích
Trang 11STT Nhân tố Biế n Chỉ tiêu nhóm Tên
tg1 TG – Bởi vì chúng tôi muốn có nhiều thời gian riêng tư hơn
Thời gian
tg2 TG – Bởi vì sống xa nhau chúng tôi không có đủ thời gian bên nhau tg3 TG – Bởi vì tôi thích dành thời gian cho anh ấy/ cô ấy.
tg4 TG – Bởi vì chúng tôi muốn có tương lai với nhau tg5 TG – Để chúng tôi có sự thân mật hàng ngày hơn tg6 TG – Bởi vì tôi muốn dành thời gian nhiều hơn cho anh ấy/ cô ấytg7 TG – Bởi vì tôi muốn dành phần còn lại của cuộc đời choanh ấy/ cô ấy
tg8 TG – Bởi vì tôi nghĩ sống thử mang chúng tôi lại gần nhauhơn tg9 TG – Bởi vì tôi nghĩ sống thử chúng tôi khó xa nhau hơn
kt1 KT – Bởi vì tôi muốn biết cô ấy/ anh ấy xử lý những công việc gia đình như thế nào trước khi kết hôn
Kiểm tra
kt2 KT – Bởi vì chúng tôi muốn biết chắc chắn chúng tôi sẽ hợp nhau trước khi tiến tới hôn nhân
kt3 KT – Bởi vì tôi lo lắng anh ấy/ cô ấy không thể trở thành người vợ tốt kt4 KT – Để hiểu rõ anh ấy/ cô ấy trước khi kết hôn
kt5 KT – Bởi vì đó là cách để chúng tôi biết có thể sống hòa hợp với nhau hay không kt6 KT – Bởi vì tôi lo lằng cho mối quan hệ lâu dài
li1 LI – Không phải đối diện với áp lực tài chính
Lợi ích
li2 LI – Dễ chia sẻ nhiều chi phí gia đình li3 LI – Tiết kiệm chi phí di chuyển/ Tiện lợi di chuyển hơn
5.2.2 Đánh giá độ tin cậy
Chúng tôi xem xét tiếp độ tin cậy nội bộ bằng hệ số Cronbach Alpha.Hair và cộng sự (1998) quy ước một tập hợp các mục hỏi dùng để đo lườngmột khái niệm phải đạt Cronbach Alpha ≥ 0,7 Số liệu về Cronbach Alphađược trình bày như sau:
Trang 12Scale Variance if Item Deleted
Corrected Item- Total Correlation
Cronbach's Alpha
if Item Deleted boi vi chung toi muon co nhieu
thoi gian rieng tu hon
boi vi song xa nhau chung toi
khong du thoi gian ben nhau
boi vi toi thich danh thoi gian
cho co ay/anh ay
boi vi chung toi muon co tuong
lai voi nhau
de chung toi co su than mat
hang ngay hon
boi vi toi muon danh nhieu thoi
gian cho anh ay/ co ay
boi vi toi muon danh phan con
lai cua cuo doi cho anh ay/ co
ay
boi vi song thu mang chung toi
lai gan nhau hon
boi vi toi nghi song thu chung
toi kho xa nhau hon
Bảng kết quả kiểm định Cronbach's Alpha cho thấy: hệ số Cronbach's
Alpha cho 9 biến quan sát trong thang đo “Thời gian” có Cronbach's Alpha
= 0.942 > 0.7 và hệ số tương quan biến tổng của 9 biến quan sát có giá trịCorrected item- total correlation > 0.3 Nên thang đo này đạt tiêu chuẩn độtin cậy khi kiểm định Cronbach's Alpha
Trang 13Scale Variance if Item Deleted
Corrected Item- Total Correlation
Cronbach's Alpha
if Item Deleted boi vi toi muon biet anh ay/ co
ay xu ly nhung cong viec gia
dinh nhu the nao truoc khi ket
hon
boi vi chung toi muon biet chac
chan chung toi se hop nhau
truoc khi ket hon
boi vi toi lo lang anh ay/ co ay
khong the tro thanh nguoi
chong/ vo tot
de hieu ro anh ay/ co ay truoc
khi ket hon
boi vi do la cach de chung toi
biet co the song hoa hop voi
nhau hay khong
boi vi chung toi lo lang ve moi
quan he lau dai
Reliability Statistics
Cronbach's Alpha N of Items
Trang 14.711 3
Item-Total Statistics
Scale Mean if Item Deleted
Scale Variance if Item Deleted
Corrected Item- Total Correlation
Cronbach's Alpha
if Item Deleted khong phai doi dien voi ap luc
de chia se nhieu chi phi gia dinh 7.75 2.337 580 557 tiet kiem chi phi di chuyen/ tien
Kết quả chạy Cronbach's Alpha thang đo “Lợi ích” cho thấy, hệ sốCronbach's Alpha của 3 biến quan sát của thang đo có giá trị Cronbach'sAlpha = 0.711 > 0.7 và hệ số tương quan biến tổng của 3 biến quan sát cógiá trị Corrected item- total correlation > 0.3 Nên thang đo này đạt tiêuchuẩn độ tin cậy khi kiểm định Cronbach's Alpha Tuy nhiên, Bảng kết quảcũng chỉ ra rằng, khi loại bỏ biến li1, hệ số Cronbach's Alpha trong thang
đo “Lợi ích” tăng lên 0.746, làm tăng thêm mức độ tin cậy Tuy vậy, ta vẫn
có thể giữ lại biến li1 do giá trị Cronbach's Alpha và hệ số tương quan biếntổng của 3 biến quan sát vẫn đủ điều kiện đạt tiêu chuẩn kiểm định độ tincậy
5.2.3 Kiểm định sự khác nhau giữa Nam và Nữ đối với các lý do dẫn đến quyết định sống thử.
Trang 15Đặt giả thiết H0: yếu tố Thời gian so với nhân viên nam và nữ làkhông có sự khác nhau.
Kiểm đinh có sig = 0.785 > 0.05 nên chấp nhận giả thiết phươngsai của các nhóm bằng nhau Do đó, sử dụng kết quả kiểm định T ở dòngphương sai bằng nhau Kết quả kiểm định t-test cho thấy sig = 0.073 > 0.05nên chấp nhận giả thiết H0 kết luận Yếu tồ thời gian ảnh hưởng đến nhânviên nam và nữ là không có sự khác nhau
Trang 16Đặt giả thiết H0: yếu tố Kiểm tra so với nhân viên nam và nữ là không
có sự khác nhau khi đi đến quyết định sống thử
Kiểm định có sig = 0.487 > 0.05 nên chấp nhận giả thiết phương saicủa các nhóm bằng nhau Do đó, sử dụng kết quả kiểm định T ở dòngphương sai bằng nhau Kết quả kiểm định t-test cho thấy sig = 0.057 > 0.05nên chấp nhận giả thiết H0 kết luận Yếu tố thời gian ảnh hưởng đến nhânviên nam và nữ là không có sự khác nhau
Yếu tố lợi ích:
Đặt giả thiết H0: yếu tố Lợi ích so với nhân viên nam và nữ là không