1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Day hoc phat trien nang luc giao tiep cong nghe lop 11

113 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Dạy Học Phát Triển Năng Lực Giao Tiếp Công Nghệ Cho Học Sinh Trung Học Phổ Thông Phần Động Cơ Đốt Trong Môn Công Nghệ 11
Tác giả Đỗ Thị Thuyên
Người hướng dẫn TS. Vương Huy Thọ
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội
Chuyên ngành Kỹ thuật công nghiệp
Thể loại luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 780,21 KB
File đính kèm Day hoc Phat trien NL Giao tiep Cong nghe 11.rar (716 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Môn Công nghệ với việc coi trọng phát tiển tư duy thiết kế và có ưu thế trong việc hình thành và phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo. Chính vì vậy trong dạy học phổ môn công nghệ cần làm cho học sinh có ý thức, hứng thú học tập để có thể ứng dụng những kiến thức học được vào giải quyết những vấn đề trong cuộc sống Trong chương trình giáo dục phổ thông môn Công nghệ năm 2018 đã nói đến năng lực đặc thù của môn học bao gồm các thành phần như nhận thức công nghệ, giao tiếp công nghệ, sử dụng công nghệ, đánh giá công nghệ và thiết kế kỹ thuật. Trong đó năng lực giao tiếp công nghệ cần được chú trọng vì năng lực giao tiếp công nghệ là năng lực giúp người học đọc, trao đổi tài liệu về các sản phẩm, hay diễn tả hiểu biết về công nghệ cũng như dùng để đánh giá kĩ thuật và công nghệ.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

  

-ĐỖ THỊ THUYÊN

DẠY HỌC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIAO TIẾP CÔNG NGHỆ

CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG PHẦN ĐỘNG CƠ ĐỐT TRONG MÔN CÔNG NGHỆ 11

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

HÀ NỘI 2021

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

  

-ĐỖ THỊ THUYÊN

DẠY HỌC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIAO TIẾP CÔNG NGHỆ

CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG PHẦN ĐỘNG CƠ ĐỐT TRONG MÔN CÔNG NGHỆ 11

Chuyên ngành: LL và PPDH bộ môn Kỹ thuật công nghiệp

Mã số: 8140111

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS VƯƠNG HUY THỌ

HÀ NỘI 2021

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, với sựhướng dẫn khoa học của TS Vương Huy Thọ Các dẫn chứng trong luận văn

là trung thực, khoa học Kết quả nghiên cứu này không trùng với bất cứ côngtrình nào đã được công bố trước đó

Tôi chịu trách nhiệm với lời cam đoan của mình

Hà nội, tháng 6 năm 2021

Tác giả

Đỗ Thị Thuyên

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo, TS Vương Huy Thọ, người

đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Sau đại học, Trungtâm Thông tin - Thư viện, các Thầy, Cô ở khoa Sư phạm kĩ thuật - Trường Đạihọc Sư phạm Hà Nội và các nhà khoa học đã quan tâm, tạo điều kiện, giúp đỡtác giả trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn của mình

Tôi xin cảm ơn các Thầy, Cô và các em học sinh ở các trường phổthông đã hỗ trợ trong quá trình khảo sát, kiểm nghiệm và thực nghiệm sưphạm

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới những người thân trong giađình, những người bạn đã động viên, khích lệ và tạo điều kiện thuận lợi giúp

đỡ tôi học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này

Hà nội, tháng 6 năm 2021

Tác giả

Đỗ Thị Thuyên

Trang 5

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU VIẾT TẮT

Trang 6

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Trang 7

DANH MỤC CÁC HÌNH

Trang 8

cơ bản của sự đổi mới trong giáo dục là chuyển từ dạy học cung cấp nội dungsang dạy học định hướng phát triển phẩm chất, năng lực người học Đây cũng

là một trong những điểm mới và cũng là xu thế chung của chương trình giáodục phổ thông nhiều nước trên thế giới kể từ đầu thế kỉ XXI đến nay Với ViệtNam, đây là yêu cầu mang tính đột phá của công cuộc đổi mới căn bản toàndiện theo nghị quyết số 29-NQ/TW Hội nghị trung ương VIII – Khóa XI củaĐảng về đổi mới giáo dục đã nêu rõ: “ đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy

và học theo hướng hiện đại phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vậndụng kiến thức, kỹ năng của người học khắc phục lối truyền thụ áp đặt mộtchiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tựhọc Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng,chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học Đẩy mạnh ứngdụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học” [15]

Trong bối cảnh thực tế của nền giáo dục của nước ta hiện nay, hầu hếtgiáo viên đều có ý thức đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức dạy họcnhằm phát huy được tính chủ động, sáng tạo, tích cực, tự học của học sinh Từ

đó phát triển được phẩm chất, năng lực cho người học Tuy nhiên, chú trọng

Trang 9

mục tiêu phát triển năng lực cho học sinh nhưng không vì thế mà xem nhẹkiến thức vì không có kiến thức thì không có năng lực Theo định hướng pháttriển năng lực thì sau mỗi tiết học, học sinh sẽ mở mang được tri thức, có thểứng dụng được những tri thức đó vào thực tiễn và làm hành trang trong tươnglai Muốn làm được như vậy thì phải đổi mới phương pháp dạy học và cáchhọc tạo hứng thú học tập cho học sinh, học sinh chủ động tham gia tích cựcvào giờ học, tự tìm kiếm, phát hiện và giải quyết vấn đề, vận dụng kiến thứcvào cuộc sống và hình thành phương pháp tự học để có thể học suốt đời.

Nhiều năng lực cần được hình thành và phát triển cho người học như:năng lực tự học, năng lực sáng tạo, năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề,năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực công nghệ thông tin và truyền thông trong đó môn Công nghệ ở phổ thông góp phần tích cực vào phát triển cácnăng lực chung cốt lõi như năng lực tự chủ và tự học, giao tiếp và hợp tác,giải quyết vấn đề và sáng tạo Những năng lực này khi đã hình thành có thểphát triển ra những năng lực khác

Môn Công nghệ với việc coi trọng phát tiển tư duy thiết kế và có ưu thếtrong việc hình thành và phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo.Chính vì vậy trong dạy học phổ môn công nghệ cần làm cho học sinh có ýthức, hứng thú học tập để có thể ứng dụng những kiến thức học được vào giảiquyết những vấn đề trong cuộc sống

Trong chương trình giáo dục phổ thông môn Công nghệ năm 2018 đãnói đến năng lực đặc thù của môn học bao gồm các thành phần như nhận thứccông nghệ, giao tiếp công nghệ, sử dụng công nghệ, đánh giá công nghệ vàthiết kế kỹ thuật Trong đó năng lực giao tiếp công nghệ cần được chú trọng

vì năng lực giao tiếp công nghệ là năng lực giúp người học đọc, trao đổi tàiliệu về các sản phẩm, hay diễn tả hiểu biết về công nghệ cũng như dùng đểđánh giá kĩ thuật và công nghệ

Xuất phát từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài: “Dạy học phát triển năng lực giao tiếp công nghệ cho học sinh trung học phổ thông phần Động

Trang 10

cơ đốt trong môn Công nghệ 11” làm hướng nghiên cứu của mình.

- Dạy học phát triển năng lực công nghệ cho học sinh phổ thông

- Học sinh khối 11 ở trường phổ thông

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Quá trình dạy học phát triển năng lực giao tiếp công nghệ cho học sinhtrung học phổ thông, phần Động cơ đốt trong môn Công nghệ 11

3.3 Phạm vi nghiên cứu

Dạy học phát triển năng lực giao tiếp công nghệ trong dạy học phầnĐộng cơ đốt trong, môn Công nghệ 11 ở một số trường trung học phổ thôngtrên địa bàn thành phố Hà Nội

4 Giả thuyết khoa học

Nêu đề xuất và vận dụng được các biện pháp dạy học nhằm phát triểnnăng lực giao tiếp công nghệ cho học sinh THPT phần Động cơ đốt trong,môn Công nghệ 11 sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học bộ môn

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu, đề tài đặt ra một số nhiệm vụ nghiêncứu cụ thể như sau:

- Nghiên cứu cơ sở lí luận về dạy học phát triển năng lực, năng lực côngnghệ, năng lực giao tiếp công nghệ cho học sinh phổ thông

- Khảo sát và đánh giá thực trạng quá trình dạy học phát năng lực giaotiếp công nghệ của học sinh tại một số trường trên địa bàn Hà Nội

- Đề xuất và vận dụng một số biện pháp dạy học nhằm phát triển năng

Trang 11

lực giao tiếp công nghệ cho học sinh THPT phần Động cơ đốt trong mônCông nghệ 11.

- Kiểm nghiệm biện pháp đã đề xuất, đánh giá tính khả thi của đề tài

6 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài, người nghiêncứu đã sử dụng các nhóm phương pháp nghiên cứu sau đây:

- Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận:

Phân tích, tổng hợp, khái quát hóa các tài liệu có liên quan đến đề tài đểxây dựng cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứu

- Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

Thực nghiệm sư phạm, quan sát, trao đổi, đàm thoại, khảo sát, để minhchứng cho giả thuyết khoa học được đề ra và tính khả thi của việc dạy họcphát triển năng lực giao tiếp công nghệ trong dạy học môn Công nghệ 11

Sử dụng phương pháp khảo sát bằng phiếu hỏi, phương pháp thống kêtoán học để xử lý các số liệu khảo sát và thực nghiệm

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, cấu trúc nộidung chính của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn về dạy học phát triển năng lực giaotiếp công nghệ

Chương 2 Dạy học phát triển năng lực giao tiếp công nghệ cho học sinhphần Động cơ đốt trong môn Công nghệ 11

Chương 3 Kiểm nghiệm và đánh giá

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DẠY HỌC PHÁT TRIỂN

NĂNG LỰC GIAO TIẾP CÔNG NGHỆ

Trang 12

1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Từ những năm 90 của thế kỷ 20 chương trình giáo dục định hướng pháttriển năng lực đã được bàn đến và ngày nay nó càng phát triển mạnh mẽ hơn

và đã trở thành xu hướng của giáo dục quốc tế Với mục tiêu là phát triểnnăng lực của người học Cùng với sự phát triển không ngừng của khoa học kỹthuật, với thời đại công nghệ 4.0 đòi hỏi ở con người sự toàn tài hơn Chính vìvậy giáo dục là cái nôi giúp con người có thể thay đổi và chuyển mình phùhợp với thời đại Nhiều nước đã chú trọng thay đổi, cải cách chương trình, cảicách giáo dục Trong đó mô hình dạy học phát triển năng lực cho học sinh đãtrở thành xu thế chung của chương trình giáo dục phổ thông nhiều nước trênthế giới

Dạy học theo định hướng hình thành và phát triển năng lực của ngườihọc đã và đang là vấn đề thời sự của nhiều quốc gia trên thế giới Nghiên cứucủa Boyatzis (1995) và các cộng sự về thực trạng giáo dục và đào tạo trên thếgiới đã chỉ ra những tồn tại: (1) quá nặng về phân tích, không định hướng vềthực tiễn và hành động; (2) thiếu và yếu trong phát triển kỹ năng quan hệ qualại giữa các cá nhân; (3) thiện cận và hạn hẹp, không tiếp cận toàn diện tổngthể những giá trị và tư duy của nó; (4) không giúp người học làm việc tốttrong các nhóm làm việc [33]

Tư tưởng dạy học chú trọng việc bồi dưỡng và hình thành năng lực chongười học đã có từ lâu Ngay từ thời cổ đại, Khổng Tử (551 – 497 trước côngnguyên) đã rất chú ý giảng dạy theo năng lực của đối tượng và chú ý kíchthích sự suy nghĩ để phát triển năng lực tư duy của người học Cách dạy củaông là gợi mở để học trò tự tìm ra chân lý, thầy chỉ là người định hướng, cònmọi vấn đề khác trò phải từ đó mà tìm ra, thầy không được làm thay học trò.Ông nói: “Vật có 4 góc, bảo cho biết một góc mà không suy ra 3 góc kia thìkhông dạy nữa” [22; tr.60]

Trang 13

Dạy học phát triển năng lực cho HS ở một số nước trên thế giới thực

chất là chương trình dựa trên kết quả của đầu ra Tại New Zealand “chương trình hướng vào kết quả đầu ra là chương trình nhằm xác định những gì chúng ta muốn học sinh biết và có thể làm được” và để giải thích cho việc dạy học phát triển năng lực, ngành giáo dục Newzealand cho rằng “Dân số của chúng ta ngày càng trở nên đa dạng, khoa học công nghệ ngày càng trở nên tinh vi, đòi hỏi của thị trường lao động ngày càng phức tạp hệ thống giáo dục của chúng ta cần phải đáp ứng được những đòi hỏi này và những thách thức khác của thế kỉ XXI Đó chính là lí do của việc xem xét và thiết kế chương trình năng lực được tiến hành vào các năm 2000 – 2002” [18; tr 13].

Chương trình Québec của Canada cũng cho rằng: “Sự thành công của giáo dục được thể hiện ở chỗ giúp cho học sinh sử dụng được các tri thức mà chúng ta giành được vào việc hiểu thế giới quanh mình và hướng dẫn các hoạt động của chúng Điều đó lí giải vì sao chương trình Québec lại được thiết kế dựa trên cơ sở năng lực” [18; tr 13,14].

Ngày nay dạy học phát triển năng lực đã trở thành từ ngữ được nhắcđến rất nhiều trên các diễn đàn và không còn xa lạ đối với nền giáo dục củanhiều nước trên thế giới như: Mỹ, New Zealand, Hàn Quốc, Úc, Singapo…Chương trình giáo dục của Việt Nam cũng đang từng bước đổi mới theohướng dạy học phát triển năng lực cho HS

Đã có nhiều công trình nghiên cứu cả trong và ngoài nước về dạy họcphát triển năng lực nói chung và phát triển năng lực giao tiếp nói riêng Trongnhững năm 1970, khái niệm “năng lực giao tiếp” lần đầu xuất hiện khi nhàngôn ngữ học Hymes, phân biệt hai loại năng lực: “năng lực ngữ pháp vànăng lực sử dụng” Theo Hymes, “năng lực sử dụng” là khả năng vận dụngcác năng lực ngữ pháp nhằm đảm bảo các phát ngôn phù hợp với các tìnhhuống cụ thể Từ đó khái niệm “năng lực giao tiếp” được hình thành để chỉ

Trang 14

việc sử dụng hiệu quả ngôn ngữ trong một tình huống xã hội cụ thể

Trong công cuộc đổi mới hiện nay nền giáo dục Việt Nam đã triển khainhiều hoạt động chuyển đổi nhằm nâng cao chất lượng về giáo dục Trong đó

có rất nhiều dự án, đề án, mô hình ở quy mô cấp quốc gia chú trọng đến việcchuyển từ dạy học truyền thụ nội dung kiến thức sang phát triển năng lực Môhình trường học mới “tự học, tự quản, tự đánh giá” - VNEN là một điển hình

và được triển khai từ năm 2012 – 2013

Với mục tiêu là phát triển năng lực người học, giáo dục định hướngnăng lực nhằm đảm bảo chất lượng đầu ra của việc dạy học, thực hiện mụctiêu phát triển toàn diện phẩm chất nhân cách, chú trọng vận dụng tri thứctrong những tình huống thực tiễn nhằm chuẩn bị cho con người năng lực giải

quyết các tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp Dạy học định hướng

năng lực đòi hỏi việc thay đổi mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy học(PPDH) và đánh giá, trong đó việc thay đổi quan niệm và cách thức xây dựngnhiệm vụ, bài tập có vai trò quan trọng Năng lực không thể hình thành chỉqua việc dạy mà hình thành qua việc học

Chương trình GDPT 2018 đã xác định chiến lược phát triển chươngtrình giáo dục là đổi mới đồng bộ dạy học theo định hướng tiếp cận năng lực

Đã được xây dựng theo mô hình phát triển năng lực, thông qua những kiếnthức cơ bản, thiết thực, hiện đại và các phương pháp tích cực hóa hoạt độngcủa người học, giúp HS hình thành và phát triển những phẩm chất và năng lực

mà nhà trường và xã hội kỳ vọng

Nghị quyết 88/2014 của Quốc hội khóa XIII cũng đã yêu cầu và nêu rõ:

“Đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông nhằm tạo chuyểnbiến căn bản, toàn diện về chất lượng và hiệu quả giáo dục phổ thông; kết hợpdạy chữ, dạy người và định hướng nghề nghiệp; góp phần chuyển nền giáodục nặng về truyền thụ tri thức sang nền giáo dục phát triển toàn diện cả vềphẩm chất và năng lực, hài hòa đức, trí, mĩ và phát huy tốt nhất tiềm năng của

Trang 15

mỗi học sinh” [31; tr 6]

Mục tiêu đổi mới của chương trình GDPT là góp phần chuyển nền giáodục nặng về truyền thụ tri thức sang nền giáo dục phát triển toàn diện phẩmchất và năng lực của người học Ở trong nước đã có rất nhiều công trìnhnghiên cứu về lý luận dạy học và kiểm tra đánh giá theo hướng phát triểnnăng lực người học như:

Tác giả Lê Phương nga trong công trình nghiên cứu về “Giáo dục nănglực giao tiếp và tinh thần hợp tác cho HS tiểu học khi dạy kiến thức TiếngViệt” đã đánh giá tầm quan trọng của năng lực giao tiếp và hợp tác trongchương trình mới và thử nghiệm giáo dục văn hóa giao tiếp và hợp tác cho HSlớp 5

Nguyễn Văn Cường - Bernd Meier (2019) cho rằng: Giáo dục địnhhướng năng lực là nhằm đảm bảo chất lượng đầu ra của việc dạy học, thựchiện mục tiêu phát triển toàn diện các phẩm chất nhân cách, chú trọng nănglực vận dụng tri thức trong những tình huống thực tiễn nhằm chuẩn bị cho conngười năng lực giải quyết các tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp Giáodục định hướng năng lực nhấn mạnh vai trò của người học với tư cách chủ thểcủa quá trình nhận thức Khác với chương trình định hướng nội dung, chươngtrình dạy học định hướng năng lực tập trung vào việc mô tả năng lực đầu ra,

có thể coi là “sản phẩm cuối cùng” của quá trình dạy học Việc quản lí chấtlượng dạy học chuyển từ việc “điều khiển đầu vào” sang “điều khiển đầu ra”,tức là kết quả học tập của học sinh [3; tr 65]

Theo tác giả Nguyễn Trọng Khanh: “Năng lực gắn liền với nhữngphẩm chất về trí nhớ, tính nhạy cảm, trí tuệ, tính cách của cá nhân Năng lực

có thể phát triển trên cơ sở năng khiếu (đặc điểm sinh lí của con người, trướchết là của hệ thần kinh trung ương), song không phải bẩm sinh, mà là kết quảphát triển của xã hội và của con người (đời sống xã hội, sự giáo dục và rèn

Trang 16

luyện, hoạt động của cá nhân” [21].

Tác giả Vũ Thị Lý cho rằng: kiểm tra đánh giá kết quả học tập của họcsinh theo hướng phát triển năng lực cần chú trọng đến khả năng vận dụngsáng tạo tri thức trong những tình huống ứng dụng khác nhau [27; tr 19]

Tác giả Lê Minh Hoa chỉ ra rằng “Giáo dục không chỉ đề đến các yêucầu về kiến thức, kĩ năng thái độ mà còn hướng đến năng lực hành động,trong đó đặc biệt chú ý đến năng lực hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề ởtừng cá nhân, trên cơ sở phát huy tối đa tiềm năng của con người Giáo dụccần giúp học sinh có năng lực hợp tác, khả năng giao tiếp, năng lực chuyểnđổi nghề nghiệp theo yêu cầu của thị trường lao động, …Cùng với hoạt độnghọc tập, hoạt động giao tiếp cũng phát triển rất mạnh mối quan hệ mở rộng”[17]

Có thể nói, dạy học phát triển năng lực HS đang là vấn đề được rấtnhiều người quan tâm, đã có nhiều những công trình nghiên cứu của các nhàkhoa học về dạy học phát triển phẩm chất năng lực cho HS Tuy nhiên, việcnghiên cứu về dạy học phát triển năng lực trong dạy học môn Công nghệ ởphổ thông còn chưa nhiều, đặc biệt là các năng lực đặc thù như năng lực thiết

kế công nghệ, năng lực giao tiếp công nghệ Đây cũng là điều kiện để việcnghiên cứu đề tài được coi là cần thiết, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trongviệc đổi mới PPDH môn công nghệ, nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục màchương trình GDPT mới đa đề ra

1.2 Một số khái niệm cơ bản

Trang 17

sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó Hai là Năng lực là phẩm chất tâm

lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào

đó với chất lượng cao [28; tr 851]

Theo các tác giả Bernd Meier và Nguyễn Văn Cường cho rằng: “Nănglực là khả năng thực hiện thành công và có trách nhiệm các nhiệm vụ, giải quyếtcác vấn đề trong các tình huống xác định cũng như các tình huống thay đổi trên

cơ sở huy động tổng hợp các kiến thức, kỹ năng và các thuộc tính tâm lí khácnhư động cơ, ý chí, quan niệm, giá trị…, suy nghĩ thấu đáo và sự sẵn sàng hànhđộng” [2]

Nhà giáo dục học Bùi Văn Huệ đã khẳng định: “Năng lực là tổ hợpnhững thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu đặc trưng củamột hoạt động nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt kết quả tốt” [19]

Nhóm tác tác giả Lê Huy Hoàng, Đồng Huy Giới, Nhữ Thị ViệtHoa… cho rằng: “Năng lực có thể định nghĩa như một khả năng hành độnghiệu quả bằng sự cố gắng dựa trên nhiều nguồn lực Những khả năng nàyđược sử dụng một cách phù hợp, bao gồm tất cả những gì học được từ nhàtrường cũng như kinh nghiệm của học sinh; những kỹ năng thái độ và sự hứngthú; ngoài ra còn có những nguồn bên ngoài chẳng hạn như bạn cùng lớp,thầy cô giáo, các chuyên gia hoặc các nguồn thông tin khác” [18; tr 8]

Và cũng theo nhóm tác giả trên, “Năng lực là một thuộc tính nhâncách phức hợp, nó bao gồm kỹ năng, kỹ xảo cần thiết, được định hình trên cơ

sở kiến thức, được gắn bó đa dạng với động cơ và thói quen tương ứng, làmcho con người có thể đáp ứng được những yêu cầu đặt ra trong công việc”[18; tr 16]

Theo tác giả Nguyễn Quang Uẩn: “Năng lực là tổ hợp các thuộc tínhđộc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu của một hoạt động nhất định,đảm bảo cho hoạt động đó có kết quả tốt Năng lực vừa là tiền đề, vừa là kết

Trang 18

quả hoạt động Năng lực là điều kiện cho hoạt động đạt kết quả nhưng đồngthời năng lực cũng phát triển ngay trong chính hoạt động đấy (kinh nghiệm,trải nghiệm)” [32; tr 213].

Từ những quan điểm trên có thể hiểu: Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kỹ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,… thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện

cụ thể.

Như vậy, có thể hiểu quá trình hình thành năng lực phải gắn với luyệntập, thực hành và trải nghiệm các công việc và bảo đảm thực hiện có hiệu quả.Chất lượng và hiệu quả của hoạt động phản ánh trình độ năng lực Năng lựctồn tại ở cả hai dạng khả năng và hiện thực Ở dạng hiện thực đó là năng lựchiện thời có thể quan sát, đánh giá xác nhận Còn năng lực tiềm năng biểu thịkhả năng của cá nhân Tiềm năng chín muồi trở thành năng lực hiện thời,năng lực hiện thời là nền tảng cho tiềm năng mới Nên khi đánh giá năng lựccủa một cá nhân là đánh giá cả năng lực hiện thời và năng lực niềm năng

1.2.2 Năng lực chung

Là những năng lực cơ bản, thiết yếu hoặc cốt lõi, làm nền tảng cho mọihoạt động của con người trong cuộc sống và lao động nghề nghiệp như: Nănglực nhận thức, năng lực trí tuệ, năng lực về ngông ngữ và tính toán, năng lựcgiao tiếp, năng lực vận động… các năng lực này được hình thành và phát triểndựa trên bản năng di truyền của con người, quá trình giáo dục và trải nghiệmtrong cuộc sống, đáp ứng yêu cầu của nhiều loại hình hoạt động khác nhau.Theo quan điểm của EU, mỗi năng lực chung cần: Góp phần tạo nên kết quả

có giá trị cho xã hội và cộng đồng; Giúp cho các cá nhân đáp ứng được nhữngđòi hỏi của một số bối cảnh rộng lớn và phức tạp; chúng có thể không quan

Trang 19

trọng với các chuyên gia, nhưng rất quan trọng với tất cả mọi người.

1.2.3 Năng lực chuyên môn

Năng lực chuyên môn là năng lực được hình thành, phát triển chủ yếuthông qua một số môn học và hoạt động giáo dục nhất định như: Năng lựcngôn ngữ, năng lực tính toán, năng lực tìm hiểu tự nhiên xã hội, năng lựccông nghệ, năng lực tin học, năng lực thẩm mĩ, năng lực thể chất

Năng lực chuyên môn (Professional competency): là khả năng thựchiện các nhiệm vụ chuyên môn cũng như đánh giá kết quả một cách độc lập,

có phương pháp và chính xác về mặt chuyên môn Năng lực chuyên môn cònbao gồm cả khả năng tư duy logic, phân tích, tổng hợp, trừu tượng hóa vàkhái quát hóa, khả năng nhận biết các mối quan hệ, hệ thống và quá trình

1.2.4 Năng lực công nghệ

Năng lực công nghệ và các mạch nội dung của môn công nghệ là haitrục tư tưởng chủ đạo của môn học, có tác dụng hỗ trợ qua lại Năng lực côngnghệ sẽ góp phần định hướng lựa chọn mạch nội dung và ngược lại, mạch nộidung cũng là chất liệu và môi trường góp phần hình thành phát triển năng lực,đồng thời cũng sẽ định hướng hoàn thiện mô hình năng lực công nghệ Nănglực công nghệ được hình thành và phát triển thông qua hoạt động dạy họctrong mỗi mạch nội dung, mỗi chủ đề cụ thể Trong mỗi bài học cụ thể cầntham chiếu đầy đủ tới mô hình công nghệ để xác định bài học đó sẽ địnhhướng phát triển các yêu cầu cần đạt trong mô hình năng lực

Vậy năng lực công nghệ là khả năng và sự sẵn sàng giải quyết thànhcông các tình huống liên quan đến công nghệ, trên cơ sở vận dụng tri thức, kỹnăng chuyên môn, suy nghĩ thấu đáo và hành động có trách nhiệm

Theo nhóm tác giả Lê Huy Hoàng: Năng lực công nghệ bao gồm nănglực thành phần có mối quan hệ, tương hỗ lẫn nhau là: Năng lực hiểu biết côngnghệ, năng lực giao tiếp công nghệ, năng lực sử dụng công nghệ, năng lực

Trang 20

đánh giá công nghệ và năng lực thiết kế công nghệ [18; tr 16].

1.2.5 Năng lực giao tiếp

Theo từ điển tiếng Việt thì giao tiếp là sự “trao đổi, tiếp xúc với nhau”.Trong đó “Ngôn ngữ là công cụ giao tiếp” [28; tr 511]

Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp có ý nghĩa đặc biệt quan trọng giữangười với người, chính vì vậy năng lực giao tiếp là một trong những kỹ năng

vô cùng quan trọng của mỗi con người, nó không chỉ là cầu nối gắn kết mốiquan hệ giữa mọi người, mà còn là chìa khóa dẫn lối tới thành công

Trong tài liệu tập huấn của Vụ giáo dục trung học (2014), Bộ Giáo dục

và Đào tạo cho rằng: Năng lực giao tiếp do đó được hiểu là khả năng sử dụngcác quy tắc của hệ thống ngôn ngữ để chuyển tải, trao đổi thông tin về cácphương diện của đời sống xã hội, trong từng bối cảnh/ ngữ cảnh cụ thể, nhằmđạt đến mục đích nhất định trong việc thiết lập mối quan hệ giữa những conngười với nhau trong xã hội [6]

Từ đó có thể hiểu năng lực giao tiếp chính là khả năng sử dụng phươngtiện ngôn ngữ nói hoặc ngôn ngữ cơ thể để diễn đạt suy nghĩ, ý kiến, cảmnhận một cách rõ rãng và thuyết phục và đồng thời thúc đẩy được giao tiếphai chiều

1.2.6 Năng lực giao tiếp công nghệ

Theo chương trình GDPT 2018 môn Công nghệ thì năng lực công nghệbao gồm năm năng lực thành phần có mối quan hệ, tương hỗ lẫn nhau trong

đó năng lực giao tiếp công nghệ là sử dụng được các bản vẽ kỹ thuật đơn giảntrong giao tiếp về sản phẩm, dịch vụ kỹ thuật, công nghệ Sử dụng được một sốphần mềm đồ họa để biểu diễn, nâng cao tính trực quan cho các ý tưởng thiếtkế

Tác giả Lê Huy Hoàng cho rằng: Năng lực giao tiếp công nghệ là nănglực độc lập, đọc, trao đổi tài liệu về các sản phẩm, quá trình, dịch vụ côngnghệ, để diễn tả hiểu biết công nghệ, được dùng trong thiết kế, sử dụng, đánhgiá kĩ thuật, công nghệ [18]

Trang 21

Theo tác giả Nguyễn Văn Cường thì năng lực giao tiếp công nghệ làkhả năng tạo lập, trao đổi thông tin và biểu đạt về kĩ thuật và công nghệ đúng

về chuyên môn, phù hợp với đối tượng giao tiếp [3; tr 93]

Năng lực giao tiếp công nghệ đòi hỏi khả năng tạo lập, hiểu, phân tíchchuẩn bị và trình bày thông tin, biểu đạt theo ngôn ngữ chuyên môn, đồ họa

và đa phương tiện về nội dung kỹ thuật và công nghệ Năng lực giao tiếp đòihỏi sự sẵn sàng và khả năng sử dụng sự hiểu biết, ý tưởng và hình dung của cánhân trong việc thảo luận, đối diện với đối tác thảo luận với sự khoan dung.Năng lực giao tiếp cũng đòi hỏi khả năng tiếp thu các lập luận hợp lí của đốitác giao tiếp, khả năng phản biện cũng như khả năng điều chỉnh quan điểm cánhân dựa trên tri thức chuyên môn Ngày nay những hình thức giao tiếp côngnghệ được chuẩn hóa quốc tế trong một nền văn hóa công nghệ kết nối toàncầu ngày càng có ý nghĩa quan trọng

Trong luận văn này, tác giả sử dụng khái niệm của tác giả Nguyễn VănCường làm hướng tiếp cận cho nghiên cứu của mình

1.3 Một số vấn đề cơ bản về dạy học phát triển năng lực giao tiếp công nghệ

1.3.1 Các thành phần, đặc điểm, biểu hiện của năng lực giao tiếp công nghệ

* Các thành phần của năng lực giao tiếp công nghệ:

Theo tác giả Nguyễn Văn Cường [3] năng lực giao tiếp công nghệ gồmcác thành phần sau:

- Tạo lập thông tin: Tạo lập được các thông tin, biểu đạt liên quan đến

kỹ thuật và công nghệ bằng ngôn ngữ kĩ thuật, sử dụng các hình thức trìnhbày chuẩn hóa

- Trình bày thông tin: Trình bày được các thông tin, ý tưởng và hìnhdung của cá nhân trong việc thảo luận với người khác về nội dung kỹ thuật vàcông nghệ, lập luận được ý kiến của mình, sử dụng được công cụ trình bàythông tin

Trang 22

Tạo lập thông tin

Tiếp thu thông tin

Phản biện

Trình bày thông tin

- Tiếp thu thông tin: Hiểu được thông tin, tiếp nhận các lập luận phùhợp với chuyên môn từ người thảo luận về những nội dung kỹ thuật và côngnghệ

- Phản biện: Có khả năng phản biện, đánh giá các lập luận quan điểmcủa đối tác cũng như khả năng điều chỉnh quan điểm cá nhân một cách kháchquan trên cơ sở những hiểu biết kỹ thuật và công nghệ [3]

Có thể mô tả mối quan hệ giữa 4 thành phần của năng lực giao tiếp trênhình 1.1

Hình 1.1 Các thành phần của năng lực giao tiếp công nghệ.

Năng lực giao tiếp công nghệ là kết hợp của các thành phần tạo lập

Trang 23

thông tin, trình bày thông tin, tiếp thu thông tin và phản biện thông tin Nhữngthành phần này không tách rời mà có quan hệ hỗ trợ mật thiết, thúc đẩy lẫnnhau Thành phần này này hỗ trợ cho thành phần kia

Để hình thành và phát triển năng lực giao tiếp công nghệ, đòi hỏi khảnăng tạo lập, hiểu, phân tích chuẩn bị và trình bày thông tin, biểu đạt theongôn ngữ chuyên môn, đồ họa và đa phương tiện về nội dung kỹ thuật vàcông nghệ Năng lực giao tiếp đòi hỏi sự sẵn sàng và khả năng sử dụng sựhiểu biết, ý tưởng và hình dung của cá nhân trong việc thảo luận, đối diện vớiđối tác thảo luận với sự khoan dung Năng lực giao tiếp cũng đòi hỏi khả năngtiếp thu các lập luận hợp lí của đối tác giao tiếp, khả năng phản biện cũng nhưkhả năng điều chỉnh quan điểm cá nhân dựa trên tri thức chuyên môn

* Đặc điểm của năng lực giao tiếp công nghệ:

Đặc điểm quan trọng nhất của năng lực giao tiếp công nghệ là thôngqua việc trao đổi về sử dụng, đánh giá các sản phẩm công nghệ, thông quaphác họa, trao đổi ý tưởng… trong các dự án thiết kế

Đặc điểm về mục tiêu: Biết cách sử dụng các bản vẽ kĩ thuật đơn giảntrong giao tiếp về sản phẩm, dịch vụ kĩ thuật và công nghệ

Đặc điểm của nội dung:

- Đọc và lập các bản vẽ kỹ thuật về cơ khí, xây dựng

- Vẽ và đọc được sơ đồ mạch điện, điện tử

- Sử dụng được ngôn ngữ kĩ thuật trong giao tiếp về sản phẩm, dịch vụ

Trang 24

Đẩy mạnh tổ chức dưới dạng học nhóm, dạy học dự án để người họcchủ động tham gia các hoạt động nhằm tìm tòi, khám phá phát triển năng lựcgiao tiếp và tiếp nhận tri thức mới.

Thiết kế giáo án phù hợp với năng lực người học hướng đến mục tiêuphát triển năng lực giao tiếp công nghệ

Người học có nhiều cơ hội tham gia thuyết trình, bày tỏ quan điểm,tham gia phản biện

Đặc điểm về không gian dạy học: Không gian học phù hợp với nội dunghọc, tạo không khí cởi mở, thân thiện Nhằm dễ dàng tổ chức các hoạt độngnhóm

Đặc điểm về đánh giá: Dựa vào kết quả đầu ra, quan tâm đến sự tiến

bộ của người học Chú trọng đến việc vận dụng kiến thức vào thực tế, Đánhgiá quá trình đề cao năng lực thuyết trình, phản biện một năng lực rất quantrọng trong thời kì hiện đại

*Một số biểu hiện của năng lực giao tiếp công nghệ:

- Sử dụng được ngôn ngữ kỹ thuật trong giao tiếp về sản phẩm, dịch

- Thái độ khi giao tiếp: Khiêm tốn, lắng nghe tích cực trong giao tiếp

- Lựa chon nội dung, phương thức khi giao tiếp: Diễn đạt ý tưởng mộtcách tự tin, biểu cảm phù hợp với đối tượng, hoàn cảnh giao tiếp

- Sử dụng ngôn ngữ diễn đạt tốt: Sử dụng linh hoạt các kiểu câu, rõ

Trang 25

ràng, mạch lạc khi trình bày một vấn đề nào đó trong môn học

1.3.2 Phát triển năng lực giao tiếp công nghệ cho học sinh phổ thông

Trong bối cảnh ngành giáo dục đang tích cực thay đổi PPDH sao chophù hợp với thời đại Với tất cả các môn học giáo viên (GV) đều tích cựchưởng ứng tham gia, tìm tòi, học hỏi để tìm ra phương pháp phù hợp để năngcao được chất lượng học tập Việc thay đổi cách tiếp cận nội dung trong dạyhọc, từ chỗ lấy GV làm trung tâm, chuyển sang lấy HS làm trung tâm GV chỉ

là người hướng dẫn, đặt vấn đề và HS là người chủ động tìm giải pháp và giảiquyết vấn đề Có như vậy mới phát triển được năng lực vốn có của mỗi HS

Từ đó phát triển nên năng lực giao tiếp công nghệ một dạng năng lực khôngthể thiếu được trong môn công nghệ Giúp HS sử dụng được ngôn ngữ kỹ thậttrong giao tiếp về sản phẩm, dịch vụ kỹ thuật, công nghệ, lập được bản vẽ kỹthuật đơn giản

Môn Công nghệ phổ thông bao gồm kiến thức, thiết bị, phương pháp

và các hệ thống dùng trong việc tạo ra hàng hóa và cung cấp dịch vụ Vậy khidạy học môn Công nghệ cần phát triển được năng lực giao tiếp công nghệ đểmôn học trở thành cốt yếu, và cần thiết trong lĩnh vực giải quyết các vấn đềđặt ra trong thực tiễn, cải tạo thế giới và định hình môi trường sống của conngười

Phát triển năng lực giao tiếp công nghệ có thể thông qua các hình thứcnhư: Hướng dẫn HS đọc bản vẽ, sơ đồ, thông số kỹ thuật, đọc nội dung bàihọc Lựa chọn nội dung thích hợp để dạy học, kết hợp PPDH trực quan, thảoluận trong nhóm nhỏ, dạy học dựa trên dự án: Có thể xây dựng bài trình bày,tạo tờ rơi, tạo bài viết, trình bày và báo cáo trước lớp, hoặc HS có thể trao đổi,dạy lại cho nhau

1.3.3 Mức độ phát triển năng lực giao tiếp công nghệ

Theo các tác giả Bernd Meier, Nguyễn Văn Cường thì mức độ phát triển

Trang 26

năng lực giao tiếp công nghệ gồm có 3 mức độ (Bảng 1.1):

Bảng 1.1 Mức độ phát triển năng lực giao tiếp công nghệ

Mức 1 Khả năng lập, hiểu phân tích, chuẩn bị trình bày thông tin,

biểu đạt ngôn ngữ liên quan đến kỹ thuật và công nghệ bằngngôn ngữ chuyên môn, có thể sử dụng các hình thức trìnhbày dưới dạng đồ họa

Mức 2 Sẵn sàng sử dụng những hiểu biết, ý tưởng và hình dung của

cá nhân để thảo luận đối diện với đối tác thảo luận với thái

độ khoan dungMức 3 Khả năng tiếp thu các lập luận hợp lý của đối tác giao tiếp,

khả năng phản biện cũng như khả năng điều chỉnh quanđiểm cá nhân dựa trên tri thức chuyên môn

- Mức 1 (mức cao): Mô tả, nhận biết tốt được mối quan hệ giữa các phần tử trong các hình vẽ, sơ đồ Đọc đước tất cả các ký hiệu, thông số kỹ thuật trên các hình vẽ, sơ đồ Vẽ và giải thích được sơ đồ

- Mức 2 (mức trung bình): Mô tả, nhận biết được mối quan hệ giữa các phần tử trong các hình vẽ, Đọc đước tất cả các ký hiệu, thông số kỹ thuật trên các hình vẽ, sơ đồ Vẽ và giải thích được sơ đồ ở mức trung bình giữa hai mức

- Mức 3 (mức thấp): Mô tả, nhận biết chưa được rõ ràng về các phần tử trong các hình vẽ, sơ đồ Chưa đọc được nhiều ký hiệu, thông số kỹ thuật trên các hình vẽ và sơ đồ Khả năng vẽ và giải thích được sơ đồ còn chậm

Ví dụ: Khi dạy về HTLM trong phần ĐCĐT môn công nghệ 11, có thể nhận thấy các mức độ biểu hiện như sau:

- Ở mức 1: HS có thể nhận biết tốt các kí hiệu, hiểu được cấu tạo của HTLM, vẽ và giải thích được sơ đồ H 26.1, H 26.2 (SGK) công nghệ 11

Trang 27

- Ở mức 2: Dựa vào sơ đồ HS có thể nhân biết được các kí hiệu, hiểu được cấu tạo của HTLM, vẽ và giải thích được các sơ đồ trong bài học nhưng

ở mức trung bình

- Ở mức 3: Dựa vào sơ đồ nhưng HS chưa nhận biết tốt, chính xác đượccác kí hiệu, và chưa hiểu được cấu tạo của HTLM, còn gặp khó khăn trong quá trình vẽ và giải thích được sơ đồ trong bài học

1.3.4 Một số biện pháp dạy học phát triển năng lực giao tiếp công nghệ cho học sinh môn Công nghệ

Để phát triển năng lực giao tiếp công nghệ cho HS, cần sử dụng tốt cácphương pháp như dạy học trực quan, dạy học nhóm, dạy học theo dự án, dạy họcgiải quyết vấn đề…sẽ giúp HS phát triển được năng lực giao tiếp công nghệ Vìqua các PPDH này, GV có thể dùng hình thức giao nhiệm vụ, làm bài tập, dùngphiếu học tập, làm dự án… Để HS có thể trình bày, đọc hiểu các bản vẽ, sơ đồ, kýhiệu, thông số kỹ thuật, đọc nội dung bài học …Từ đó giúp HS hình thành, pháttriển cả về năng lực tự học, tự chủ và năng lực giao tiếp công nghệ

Với vai trò và ý nghĩa nêu trên, tác giả đề xuất một số biện pháp dạy họcnhằm góp phần phát triển năng lực giao tiếp công nghệ cho HS gồm:

1.3.4.1 Dạy học nhóm (dạy học hợp tác)

Dạy học nhóm còn được gọi là dạy học hợp tác Trong PPDH này, GV

là người tổ chức cho HS các hoạt động học theo nhóm nhỏ, HS cùng thựchiện một nhiệm vụ nhất định trong một thời gian nhất định Trong nhóm, dưới

sự hướng dẫn của GV và chỉ đạo của nhóm trưởng, HS kết hợp giữa làm việc

cá nhân với làm việc nhóm để hoàn thành nhiệm vụ được giao

Đối với mục tiêu phát triển năng lực giao tiếp công nghệ cho HS lớp

11 môn Công nghệ, phần ĐCĐT thì dạy học theo nhóm là PPDH chủ đạo, bởiphương pháp này tạo ra các bối cảnh rất thuận lợi trong giao tiếp, giúp chomỗi HS tham gia chủ động và sáng tạo vào quá trình học tập, tạo cơ hội cho

Trang 28

HS có thể trao đổi, chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm, tôn trọng lẫn nhau, có tinhthần tập thể trong quá trình giải quyết các nhiệm vụ học tập một cách tích cực

và hiệu quả Hơn nữa còn tạo cho các em được giao lưu, học hỏi lẫn nhau

Chúng ta đang sống trong thời kỳ khoa học kỹ thuật rất phát triển vàthời đại công nghệ 4.0 chính vì vậy yêu cầu làm việc nhóm là rất cần thiết Vìrất nhiều lý do nhưng có lẽ lý do không ai là hoàn hảo là lý do mà nên tiếnhành phương pháp học nhóm Làm việc theo nhóm có thể tập trung nhữngmặt mạnh của từng người và có thể bổ sung cho nhau những điểm yếu

Dạy học theo nhóm là một PPDH mà “Học sinh được phân chia thànhtừng nhóm nhỏ riêng biệt, chịu trách nhiệm về một mục tiêu duy nhất, được thựchiện thông qua nhiệm vụ riêng biệt của từng người Các hoạt động cá nhân riêngbiệt được tổ chức, liên kết hữu cơ với nhau nhằm thực hiện mục tiêu chung”

PPDH theo nhóm được sử dụng nhằm khai thác vốn kiến thức mà các

em đã tích lũy được trong đời sống thực tế từ đó có thể vận dụng được nhữngkiến thức phục vụ cho lao động sản xuất

Phương pháp dạy học theo nhóm được sử dụng nhằm khai thác vốnkiến thức mà các em đã tích lũy được trong đời sống thực tế từ đó có thể vậndụng được những kiến thực phục vụ cho lao động sản xuất

Phương pháp dạy học theo nhóm sẽ đạt được hiệu quả cao khi có cácđiều kiện sau:

Phòng học có đủ không gian, bàn ghế dễ di chuyển bởi khi sử dụngphương pháp này thường gây ra sự xáo trộn về cơ học trong lớp học khi HSkhông còn ngồi nghe giảng theo cách truyền thống, mà phải ngồi đối mặt vớinhau để tạo sự tương tác trong quá trình học tập

Nhiệm vụ học tập phù hợp: GV cần chọn chủ đề thảo luận có nhiềutình huống, cần tới sự chia sẻ, hợp tác, huy động trí tuệ, kinh nghiệm củanhiều HS để tìm ra cách giải quyết tốt nhất, không nên giao nhiệm vụ quá đơn

Trang 29

giản đối với HS, có thể sẽ gây nhàm chán cho HS.

Giáo viên cần hiểu rõ dạy học theo nhóm, tránh hình thức, hời hợt, cầnđưa ra các quy định hoạt động nhóm hiệu quả, cần quy định rõ về thời gianthảo luận, đủ cho HS suy nghĩ, thảo luận

1.3.4.2 Dạy học theo dự án

Dạy học theo dự án là PPDH mà trong đó người học thực hiện mộtnhiệm vụ học tập phức tạp, có sự kết hợp giữa lý thuyết và thực hành nhằmtạo ra một sản phẩm cụ thể Nhiệm vụ học tập được người học thực hiện vớitính tự lực cao trong quá trình học tập, từ việc xác định mục đích, lập kếhoạch đến việc thực hiện dự án, kiểm tra, điều chỉnh, đánh giá quá trình và kếtquả thực hiện [16]

Như vậy, dạy học theo dự án có thể nói là một mô hình học tập hiệnđại mà HS được làm trung tâm của buổi học GV sẽ là người hỗ trợ và hướngdẫn HS thực hiện nhiệm vụ của mình nhằm phát triển kiến thức, kỹ năng cho

HS Dạy học dựa trên dự án sẽ khuyến khích sự tìm tòi, sáng tạo của HS vậndụng kiến thức đã học để tạo ra sản phẩm của chính mình

Trong quá trình thực hiện dự án, HS là người chủ động thực hiện các

kế hoạch đề ra, đồng thời tự lực tham gia vào các giai đoạn của quá trình dạyhọc: Đề xuất hoặc đóng góp ý kiến cho sáng kiến dự án, xây dựng kế hoạchthực hiện dự án và trình bày kết quả Mỗi dự án đều có các tiểu chủ đề liênquan, thích hợp với việc phân chia tìm hiểu cho các nhóm HS khác nhau Vìvậy dạy học theo dự án có ý nghĩa quan trong nhằm phát triển năng lực giaotiếp công nghệ cho HS, bởi nó đòi hỏi sự chủ động, tích cực, tinh thần hợp tác

và sáng tạo của người học

Khi triển khai dạy học dự án, GV cần dành thời gian để hướng dẫntrước cho HS lập kế hoạch dự án, cách thu thập thông tin như thế nào, ở đâu,cách xử lí thông tin, cách tổng hợp và trình bày báo cáo Trong quá trình HS

Trang 30

thực hiện dự án, GV luôn theo sát để hướng dẫn, hỗ trợ HS khi cần thiết.Không áp đặt cách trình bày của HS làm HS hạn chế khả năng sáng tạo củaHS.

Dành thời gian hợp lí cho việc trình bày sản phẩm và báo cáo kết quảcủa HS Lần lượt từng nhóm trình bày kết quả của nhóm mình dưới nhiềuhình thức khác nhau như triển lãm, thuyết trình Powerpoint và tự đánh giá.Các nhóm khác nhận xét, đánh giá kết quả của nhóm bạn, GV đưa ra nhận xétcủa mình và cùng nhìn lại quá trình làm làm việc để rút kinh nghiệm cho các

dự án sau

Ví dụ: Trong dạy học phần động cơ đốt trong để phát triển nănglực giao tiếp công nghệ cho học sinh ngoài những phương phát dạy họctích cực nhằm giúp học sinh phát triển được năng lực giao tiếp công nghệthì dạy học dự án là đạt hiệu quả nhất Thứ nhất dạy học dự án không bóbuộc thời gian trong một tiết học, có thể cho học sinh thực hiện các tiểu

dự án trên lớp theo nhóm nhỏ, hoặc có thể thực hiện dự án theo thời gianquy định Chính vì HS có nhiều thời gian tìm hiểu, nghiên cứu để hoànthành dự án vậy nên khi thực hiện dự án kiến thức bài học sẽ thu đượckhi hoàn thành dự án, kết quả thu được thường chất lượng và hiệu quả đápứng được mục tiêu đề ra Hơn nữa học sinh có thể trao đổi, thảo luận,trình bày kết quả, nhận xét, phản biện kết quả của nhóm bạn… Từ đónăng lực giao tiếp công nghệ sẽ được hình thành và phát triển

1.3.4.3 Dạy học trực quan

Dạy học trực quan là PPDH trong đó sử dụng phương tiện trực quan,nhằm giúp HS trực tiếp cảm giác, tri giác mới Trên cơ sở đó nắm vững đượcbản chất của đối tượng kỹ thuật

Với phương pháp dạy học trực quan sẽ giúp học sinh huy động sự thamgia của nhiều giác quan kết hợp với lời nói sẽ tạo điều kiện dễ hiểu, dễ nhớ và

Trang 31

nhớ lâu, làm phát triển năng lực chú ý, năng lực quan sát, óc tò mòkhoa học của họ, Với cách dạy học trực quan, các đồ dùng phục vụ cho việchọc được đặc biệt quan tâm, nhờ đồ dùng mà các học sinh có thể nhớ nhanh,nhớ lâu và nhớ rất kỹ bài giảng Bằng hình ảnh trực quan sống động cùngnhững kiến thức lịch sử sống động cho các em như đang được sống ở thời kỳlịch sử đó

Khi dạy học hình ảnh tuy không cần sử dụng tới chữ viết cũng được lưugiữ lại vững chắc trong trí nhớ, nó chính là hình ảnh thu được từ trực quan.Chính bởi vậy, học theo phương pháp trực quan góp phần tạo nên biểu tượng

về lịch sử Bên cạnh đó, đồ dùng trong các tiết học trực quan còn giúp pháttriển khả năng quan sát cũng như tư duy và trí tưởng tượng cùng khả năngngôn ngữ của học sinh

Chính vì vậy phương pháp dạy học trực quan rất phù hợp để sử dụngtrong dạy học môn công nghệ, đặc thù của môn học là sử dụng rất nhiều hìnhhọa, sơ đồ trong nội dung bài học

Ví dụ Khi dạy học phần ĐCĐT có rất nhiều sơ đồ, vậy khi GV hướng dẫn

HS quan sát sơ đồ, mô hình…HS dễ dàng đọc, vẽ, giải thích cấu tạo, nguyên lýdựa vào trực quan mà không cần hỗ trợ của kênh chữ Chính vì vậy phương phápdạy học trực quan có thể giúp HS nâng cao được năng lực giao tiếp công nghệ

1.3.4.4 Dạy học giải quyết vấn đề

Dạy học giải quyết vấn đề là phương pháp dạy học mà trong đó HSđược đặt trong tình huống có vấn đề, thông qua việc giải quyết vấn đề sẽ giúp

HS phát triển năng lực tư duy, năng lực giải quyết vấn đề, lĩnh hội tri thức, kỹnăng, phương pháp

Dạy học giải quyết vấn đề dựa trên cơ sở lý thuyết nhận thức Theoquan điểm của tâm lý học nhận thức, giải quyết vấn đề có vai trò đặc biệtquan trọng trong việc phát triển tư duy và nhận thức của con người “ Tư duy

Trang 32

chỉ chỉ bắt đầu khi xuất hiện tình huống có vấn đề”(Rubinstein)

Giải quyết vấn đề giúp HS có cái nhìn toàn diện trước các hiện tượng,

sự việc, tình huống nảy sinh trong hoạt động, trong thực tiễn Mặt khác, pháthuy được tính tự giác, tích cực, chủ động, hứng thú học tập của HS

Việc vận dụng phương pháp dạy học giải quyết vấn đề chính là giáoviên tạo ra các tình huống có vấn đề nhằm điều khiển các học sính giúp các

em phát hiện vấn đề cũng như tự giác, chủ động, sáng tạo để giải quyết vấn đề

đó một cách nhanh nhất, chính xác nhất Qua đó giúp các em lĩnh hội tri thức

và tự mình rèn luyện các kỹ năng cơ bản để đạt được các mục tiêu học tập tốtnhất Dạy học theo phương pháp giải quyết vấn đề chính là việc giải quyếtvấn đề được nêu ra, các tình huống, tư duy chỉ bắt đầu khi có vấn đề phát sinh

mà thôi

Trong phương pháp này bắt buộc có các vấn đề, tình huống vấn đề, nóchính là một tình huống mà giáo viên đưa tới cho học sinh Trong đó sẽ cónhững khó khăn mà các em học sinh không dễ dàng vượt qua, các em phải cóquá trình tìm hiểu, phân tích, suy luận mới giải đáp được

Chính vì vậy phương pháp này cũng rất phù hợp để áp dụng trong dạyhọc nhằm phát triển năng lực giao tiếp công nghệ Vấn đề cần giải quyết làhiểu, nhận biết đọc vẽ được sơ đồ, khi HS giải quyết được vấn đề tức là lúc đó

HS đã giao tiếp được công nghệ

1.3.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình dạy học phát triển năng lực giao tiếp công nghệ

- Yếu tố chủ quan:

+ Giáo viên:

Với suy nghĩ môn Công nghệ là môn không thi trung học phổ thôngquốc gia nên GV cũng không đầu tư nhiều về chuyên môn, chỉ dạy bảo đảm

Trang 33

kiến thức như sách giáo khoa và khi dạy cũng không vận dụng nhiều nhữngphương pháp dạy học mới, tích cực như dạy học trực quan, dạy học nhóm,dạy học theo dự án…để bài học trở nên phong phú đa dạng.

Chưa chú trọng cho HS đọc, hiểu, trình bày, vẽ các sơ đồ trong phầnĐCĐT

Chính vì vậy nên hạn chế phát triển năng lực công nghệ nói chung vànăng lực giao tiếp công nghệ nói riêng

+ Học sinh: Môn công nghệ không phải là môn thi tốt nghiệp trunghọc phổ thông quốc gia nên tâm lý HS vẫn còn coi nhẹ, chưa quan tâm, tìmhiểu nhiều đến môn học Đa số chưa đọc hiểu được các sơ đồ, bản vẽ, thông

số kỹ thuật Nên đã gây hạn chế rất nhiều trong việc đẩy mạnh phát triển nănglực giao tiếp công nghệ cho các em HS chưa quan tâm đến cách học, hiểu nộidung dưa trên sơ đồ, ký hiệu, hình họa

+ Mục tiêu, nội dung, phân bố chương trình môn công nghệ: Nhiều nộidung cũ, lạc hậu, không bắt kịp tiến bộ của thời đại, không thu hút được học sinh

Môn Công nghệ phần Kỹ thuật công nghiệp được dạy ở lớp 11, 12;thời lương phân phối chương trình lớp 12 là 1 tiết/ tuần, lớp 11 là 1,5 tiết/tuần Hẳn là chưa đủ để HS hiểu và tiếp thu được trọn vẹn được kiến thứctrong mỗi bài học Thời lương chương trình ít, đó cũng là lý do khiến có HSkhông mặn mà với môn học, GV muốn triển khai các PPDH như dạy họcnhóm, dạy học theo dự án gặp khó khăn

- Yếu tố khách quan:

+ Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ dạy học: Về cơ sở vật chất cònthiếu thốn, chưa có phòng thực hành riêng cho môn học

+ Trang thiết bị phục vụ dạy học bộ môn còn ít, chưa phong phú, nhất

là mô hình, vật thật phục vụ cho các tiết trực quan, thực hành

Trang 34

+ Sự quan tâm của nhà trường, phụ huynh và xã hội: Môn học khôngnằm trong chương trình thi trung học phổ thông quốc gia nên phần lớn phụhuynh và HS chưa thực sự yêu thích và hứng thú với môn học Điều đó ảnhhưởng rất nhiều đến môn học nói chung và phát triển năng lực công nghệ nóiriêng, trong đó có năng lực giao tiếp công nghệ.

1.4 Thực trạng về phát triển năng lực giao tiếp công nghệ cho học sinh trong dạy học môn công nghệ

1.4.1 Mục đích, nội dung, đối tượng, phương pháp và tổ chức khảo sát

* Mục đích khảo sát:

Thực hiện khảo sát và đánh giá thực trạng dạy và học môn Công nghệlớp 11 ở một số trường THPT trên địa bàn Hà Nội Từ đó rút ra được nhữngphương pháp và kết quả đạt được đối với quá trình dạy học phát triển nănglực giao tiếp công nghệ của HS phổ thông

* Nội dung khảo sát:

Trên cơ sở tiến hành khảo sát thực tế quá trình dạy và học môn côngnghệ tại một số trường THPT trên địa bàn Hà Nội với các nội dung sau:

- Cảm nhận của GV về tầm quan trọng của dạy học phát triển năng lựcgiao tiếp công nghệ cho HS

- Cảm nhận của HS về phát triển năng lực giao tiếp công nghệ cho bản thân

- Thực trạng dạy học phát triển năng lực giao tiếp công nghệ cho HS ởtrường phổ thông hiện nay trong dạy học phần ĐCĐT môn Công nghệ 11

* Đối tượng khảo sát:

Trang 35

Tháng 12 năm 2020, tác giả đã tiến hành khảo sát thực trạng dạy và họcmôn Công nghệ 11 nhằm phát triển năng lực giao tiếp công nghệ tại cáctrường phổ thông trên địa bàn Hà Nội gồm: Trường THPT Chương Mỹ A,Trường THPT Chương mỹ B, trường THPT Mỹ Đức B, Trường THPT SơnTây.

Đối tượng khảo sát là các thầy cô giáo dạy bộ môn Công nghệ lớp 11

và các em HS lớp 11 tại các trường phổ thông nói trên

Tác giả đã xây dựng phiếu khảo sát dành cho giáo viên và học sinh

Sử dụng phương pháp khảo sát bằng phiếu hỏi, phương pháp thống kêtoán học để xử lý các số liệu khảo sát và thực nghiệm

Phương pháp dự giờ, thăm lớp: Tiến hành dự giờ thăm lớp một số tiếtdạy môn công nghệ tại các trường THPT nói trên để thu thập một số thông tincần thiết cho đề tài nghiên cứu

* Tiến hành khảo sát:

Xây dựng bảng câu hỏi xin ý kiến trực tiếp của GV đang giảng dạymôn Công nghệ lớp 11

Trang 36

Xây dựng phiếu hỏi để thu thập thông tin của HS về phương pháp, kếtquả học tập hiện tại.

Trò chuyện, trao đổi trực tiếp với GV môn Công nghệ để nắm bắt thôngtin về PPDH, thực trạng học tập của HS

Trò chuyện, tiếp cận HS để tìm hiểu nắm bắt thông tin về nhu cầu họctập của học đối với môn công nghệ

Tổng hợp mọi thông tin qua phiếu khảo sát

- Học sinh:

HS tại các trường tác giả khảo sát khá tự tin, sôi nổi, tương tác tốttrong giờ học Tuy nhiên vẫn còn một số HS học đối phó vì không có sựchuẩn bị bài trước, và hợp tác học nhóm chưa cao Vẫn còn ngại ngùng khi

Trang 37

được gọi lên phát biểu Giờ lý thuyết HS rất sôi nôi, tích cực tham gia cáchoạt động do GV chuẩn bị trước nhưng vẫn thụ động với kiến thức mới.Trong giờ học thực hành đa số HS đều chăm chú theo dõi thao tác làm mẫucủa GV, nhưng một số HS vẫn còn ngại tự thực hiện các thao tác và tham giavào quá trình hoàn thành dự án trong quá trình thực hành Từ đó chưa pháttriển được năng lực giao tiếp và năng lực giao tiếp công nghệ

1.4.2.2 Kết quả định lượng

Tác giả đã tiến hành khảo sát thực trạng dạy và học môn công nghệ 11nhằm phát triển năng lực giao tiếp công nghệ tại các trường phổ thông trênđịa bàn Hà Nội gồm: Trường THPT chương Mỹ A, trường THPT Chương Mỹ

B, trường THPT Mỹ Đức B, trường THPT Sơn Tây

Đối tượng khảo sát là các thầy, cô giáo dạy bộ môn công nghệ lớp 11

và các HS lớp 11 tại các trường phổ thông nói trên

Tác giả đã xây dựng phiếu khảo sát dành cho GV và HS

Số lượng mẫu khảo sát như sau:

+ Số lượng GV tham gia khảo sát như sau (Bảng 1.2):

Bảng 1.2 Số lượng giáo viên tham gia khảo sát.

STT Tên trường Số lượng giáo viên tham gia khảo sát

Trang 38

+ Số lượng HS tham gia khảo sát như sau (Bảng 1.3):

Bảng 1.3 Số lượng học sinh tham gia khảo sát.

Sử dụng phương pháp khảo sát bằng phiếu hỏi, phương pháp thống kêtoán học để xử lý các số liệu khảo sát và thực nghiệm

Phương pháp dự giờ, thăm lớp: Tiến hành dự giờ thăm lớp một số tiếtdạy môn công nghệ tại các trường THPT nói trên để thu thập một số thông tin

Trang 39

cần thiết cho đề tài nghiên cứu.

Qua quá trình khảo sát tác giả đã thu được kết quả như sau:

Kết quả khảo sát đối với giáo viên:

Bảng 1.4 Nhận thức của giáo viên về năng lực giao tiếp công nghệ

1.Thầy (cô) có nhận xét gì về vai trò

của năng lực giao tiếp công nghệ đối

với môn học?

Rất quan trọng 50.5%

Quan trọng 25.5%

Trang 40

Bình thường 15.5%

Ít quan trọng 8.5%Không quan trọng 0%

2.Trong giờ dạy thầy (cô) có chú

trong đến phát triển năng lực giao tiếp

công nghệ cho học sinh hay không?

Rất chú trọng 12.5%Chú trọng 45.3%

Ít chú trọng 25.5%Bình thường 16.7%Không chú trọng 0%

3.Thầy (cô) có nhận thức như thế nào

về năng lực giao tiếp công nghệ trong

bối cảnh môn học công nghệ hiện

nay?

Rất cần thiết 30.5%Cần thiết 32,5%

Ít cần thiết 25%Bình thường 12%Không cần thiết 0%

Ngày đăng: 18/10/2021, 10:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đặng Tự Ân (2013), Mô hình trường học mới tại Việt Nam, Hỏi – Đáp, NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô hình trường học mới tại Việt Nam, Hỏi – Đáp
Tác giả: Đặng Tự Ân
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2013
10. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2018), Chương trình giáo dục phổ thông - Chương trình tổng thể, Ban hành kèm theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT, ngày 26 tháng 12 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình giáo dục phổ thông - Chươngtrình tổng thể
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2018
11. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2018), Chương trình giáo dục phổ thông – Chương trình môn Công nghệ, Ban hành kèm theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT, ngày 26 tháng 12 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: hương trình giáo dục phổ thông –Chương trình môn Công nghệ
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2018
18. Lê Huy Hoàng (chủ biên), Đồng Huy Giới, Nhữ Thị Việt Hoa, Nguyễn Thị Thanh Huyền, Nguyễn Trọng Khanh, Nguyễn Văn Khôi, Nguyễn Thị Mai Lan, Đặng Văn Nghĩa, Vũ Thị Thúy (2018), Dạy học phát triển năng lực môn công nghệ Trung học phổ thông, NXB Đại học sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học pháttriển năng lực môn công nghệ Trung học phổ thông
Tác giả: Lê Huy Hoàng (chủ biên), Đồng Huy Giới, Nhữ Thị Việt Hoa, Nguyễn Thị Thanh Huyền, Nguyễn Trọng Khanh, Nguyễn Văn Khôi, Nguyễn Thị Mai Lan, Đặng Văn Nghĩa, Vũ Thị Thúy
Nhà XB: NXB Đại học sưphạm
Năm: 2018
19. Bùi Văn Huệ (1998), Về bản chất và năng lực trí tuệ, Tạp chí Nghiên cứu giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về bản chất và năng lực trí tuệ
Tác giả: Bùi Văn Huệ
Năm: 1998
32. Nguyễn Quang Uẩn (2005), Giáo trình Tâm lí học đại cương, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội.B. Tài liệu tiếng anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Tâm lí học đại cương
Tác giả: Nguyễn Quang Uẩn
Nhà XB: NXB Đạihọc Sư phạm
Năm: 2005
34. Bransford, J., & Stein, B. S. (1984), “The IDEAL problem solver: A guide for improving thinking, learning, and creativity”, New York, NY:W. H . Freeman Sách, tạp chí
Tiêu đề: The IDEAL problem solver: Aguide for improving thinking, learning, and creativity
Tác giả: Bransford, J., & Stein, B. S
Năm: 1984
35. Jeffrey, B., & Craft, A. (2004), “Teaching creatively and teaching for creativity: Distinctions and relationships”, Educational Studies, 30, 77- 87. Doi: 10.1080/03055569032000159750 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Teaching creatively and teaching forcreativity: Distinctions and relationships
Tác giả: Jeffrey, B., & Craft, A
Năm: 2004
36. Kangas, M. (2010), “Creative and playful learning: Learning through game co - creation and game in a playful learning environment”, Thinking Skill and Creativity, 5, 1 – 15. Doi: 10.1016/j.tsc.2009.11.001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Creative and playful learning: Learning throughgame co - creation and game in a playful learning environment
Tác giả: Kangas, M
Năm: 2010
37. Wiggins.G.P (1998), “Educative assessment: designing assessment to inform and improve student performance”, Jossey – Bass, USA Sách, tạp chí
Tiêu đề: Educative assessment: designing assessment toinform and improve student performance
Tác giả: Wiggins.G.P
Năm: 1998
33. Boyatzs, R.E, Cowen, S.S, Kolb, D.A. et al. (1995). Innovation in Professional Education: Steps on a Journey from Teaching to Learning, Jossey – Bass, San Francisco, CA Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w