Kinh tế môi trường là công cụ kinh tế được sử dụng để nghiên cứu môi trường và điều đó cũng có nghĩa là trong tính toán kinh tế phải xét đến các vấn đề môi trường. Các vấn đề này nằm giữa kinh tế và các hệ tư nhiên nên rất phức tạp, do đó có thể coi kinh tế môi trường là một ngành phụ trung gian giữa các ngành khoa học tự nhiên và khoa học xã hội.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA MÔI TRƯỜNG & TÀI NGUYÊN
MÔN HỌC KINH TẾ MÔI TRƯỜNG
ĐỀ CƯƠNG CHỦ ĐỀ:
LỢI ÍCH CỦA ĐÔ THỊ SINH THÁI
GVHD: TS PHAN THỊ GIÁC TÂM
NGUYỄN HOÀNG DUY LỚP: CAO HỌC QLTN & MT 2017
Trang 2MỤC LỤC
TRANG CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN
1.1 Khái niệm đô thị sinh thái 4
1.2 Đặc điểm đô thị sinh thái 5
1.3 Mô hình đô thị sinh thái Thế giới và Việt Nam 6
1.4 Phương pháp định giá đô thị sinh thái 10
Trang 3DANH SÁCH CÁC HÌNH
Hình 1.1 Số lượng đô thị sinh thái phát triển ở Châu Á và Châu Úc 8 Hình 1.2 Số lượng đô thị sinh thái phát triển ở Châu Âu 9 Hình 1.3 Số lượng đô thị sinh thái phát triển ở Châu Phi và Trung Đông 9 Hình 1.4 Số lượng đô thị sinh thái phát triển ở Châu Mỹ 9
Trang 4CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1.1 Khái niệm đô thị sinh thái
Theo định nghĩa của Tổ chức Sinh thái đô thị của Úc thì “Một thành phố sinh thái là thành phố đảm bảo sự cân bằng với thiên nhiên”, hay cụ thể hơn là sự định cư cho phép các cư dân sinh sống trong điều kiện chất lượng cuộc sống nhưng sử dụng tối thiểu các nguồn tài nguyên thiên nhiên Các thành phố sinh thái bền vững là các đô thị mật độ thấp, dàn trải, được chuyển đổi thành mạng lưới các khu dân cư đô thị mật độ cao hoặc trung bình có quy mô giới hạn được phân cách bởi các không gian xanh Hầu hết mọi người sinh sống và làm việc trong phạm vi khoảng cách đi bộ và đi xe đạp
Theo Đỗ Tú Lan, 2012 thì đến nay cũng chưa có một qui định chính xác hay một định nghĩa chính xác như thế nào là một đô thị sinh thái, nhưng thông qua nhiều lý luận, nghiên cứu ở phần trên và phân tích trong thực
tế, những đô thị đã được nhiều người gọi là đô thị sinh thái thường là những đô thị có cấu trúc vừa, đô thị được phát triển hài hoà với thiên nhiên, đan xen với thiên nhiên, có môi trường sống sạch đẹp, có sức hút nhiều người muốn đến để hưởng những môi trường sống thiên nhiên, các công năng
đô thị cũng được thiết kế dựa vào cấu trúc của thiên nhiên hay nói cách khác là được thiên nhiên chấp nhận như một thành phần cấu trúc hợp lý
Một thành phố bền vững hoặc thành phố sinh thái là một thành phố được thiết kế xem xét tác động môi trường, nơi sinh sống của những người tận tâm để giảm thiểu các yếu tố đầu vào cần thiết của nước, năng lượng và thực phẩm, và đầu ra chất thải nhiệt, ô nhiễm không khí CO2, methane và nước ô nhiễm
Theo S Joss, D Tomozeiu và R Cowley, 2011 thì trong những năm thế kỷ
19 và 20 đã có những nỗ lực để làm cho thành phố bền vững hơn về mặt môi trường và xã hội nhằmkhắc phục những ảnh hưởng tiêu cực của quá trình đô thị
Trang 5hóa quy mô lớn, như suy thoái môi trường, bất bình đẳng xã hội và sự phát triển
đô thị
Theo D.Hoornweg và M.Freire, 2013 thì có 2 định nghĩa về phát triển bền vững, một là xem xét dòng vật chất và ảnh hưởng mà con người tiêu thụ và sản xuất có trên môi trường địa phương và toàn cầu, hai là tính bền vững bao hàm các vấn đề về xã hội, công bằng, năng lực thể chế và sự tham gia, tính bền vững của tài nguyên thường được miêu tả thông qua ba trụ cột phụ thuộc lẫn nhau: kinh tế, môi trường và xã hội
Theo S Lehmann, 2010 thì đô thị sinh thái là một mô hình khái niệm cho việc phát triển đô thị hóa không phát thải và không thải chất thải, thúc đẩy phát triển đô thị sử dụng hiệu quả năng lượng, thúc đẩy sự phát triển bền vững về mặt
xã hội và môi trường
Theo Sh Hao, 2014 thì các thành phố sinh thái là mô hình đô thị hóa kiểu mới Đô thị hóa là một hệ thống phức tạp bao gồm nhiều yếu tố như: năng lượng, xây dựng, vận tải, cơ sở hạ tầng, xã hội và văn hóa, sinh thái học
Theo T.C Wong và B Yuen, 2011 thì các thành phố sinh thái là nơi thể hiện các cách tiếp cận sinh thái đối với đô thị, quản lý và hướng tới một lối sống mới Thực hiện các chính sách để thành phố hoạt động hài hóa với môi trường tự nhiên
1.2 Đặc điểm đô thị sinh thái
Theo Sh Hao, 2014 thì tại Trung Quốc việc phát triển thành phố theo hướng phát thải carbon thấp là sự lựa chọn cần thiết để nâng cao mức sống và đạt được các thành phố sinh thái
Theo S Lehmann, 2010 thì đặc điểm đô thị sinh thái: có chất lượng nước cao, tích hợp cảnh quan để tối đa hóa đa dạng sinh học đô thị và giảm nhẹ tác động của đảo nhiệt đô thị, chia sẻ công bằng các nguồn tài nguyên, áp dụng công nghệ mới, cung cấp hệ thống giao thông công cộng hiệu quả và tác động thấp, sử
Trang 6dụng các vật liệu tại chỗ và đúc sẵn, định hướng nhà phù hợp với vị trí xây dựng, phát triển nông nghiệp đô thị, sử dụng phương pháp tiếp cận đa ngành
Theo M Qiang, 2009 thì điều quan trọng nhất cần quan tâm của đô thị sinh thái là sử dụng các kỹ thuật sinh thái như xử lý nước, tái chế chất thải và năng lượng xanh
Theo James, 2015 thì đặc điểm đô thị sinh thái là sự phát triển đô thị đáp ứng nhu cầu hiện tại nhưng không làm ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng nhưng nhu cầu trong tương lai
Theo M Lindfield và F Steinberg, 2012 thì đặc điểm đô thị sinh thái là giảm tiêu thụ năng lượng của các tòa nhà, cả trong quá trình xây dựng, vận hành
và bảo dưỡng; khuyến khích sử dụng các hình thức vận chuyển carbon thấp; áp dụng các phương tiện sản xuất năng lượng thấp
Theo Tiêu chuẩn quốc tế về đô thị sinh thái (International Ecocity Standard – IES) thì các nhóm tiêu chí về đặc điểm của đô thị sinh thái như sau:
- Giao thông đô thị với thứ tự ưu tiên: giao thông đi bộ, xe đạp, thang vận (elevators, escalators), giao thông công cộng bằng xe điện hoặc tàu điện ngầm, giao thông công cộng bằng xe bus, rồi mới đến xe ô tô con;
- Năng lượng: sử dụng năng lượng có thể tái tạo như gió, mặt trời…, hạn chế sử dụng tài nguyên không tái tạo được, dùng các giải pháp bảo tồn năng lượng;
- Xã hội: đáp ứng tốt nhất các yêu cầu về kiến trúc và thiết kế chỗ ở và sinh hoạt cho người dân, đảm bảo về giáo dục và việc làm…;
- Nông nghiệp;
- Quy hoạch các khu vực đặc thù và các công cụ quản lý;
1.3 Mô hình đô thị sinh thái Thế giới và Việt Nam
Theo Đỗ Tú Lan, 2012 thì thực tế hiện nay trên toàn cầu đã và đang hướng tới mục tiêu phát triển đô thị bền vững với rất nhiều tiếp cận như: ‘eco- city’
Trang 7thành phố sinh thái, ‘zero/low-carbon city’- thành phố phát thải khí Cac bon thấp,
‘solar city’- Thành phố điện mặt trời, ‘smart city’- thành phố thông minh và
‘sustainable city’ – thành phố bền vững Tại Việt Nam thì tiếp cận theo hai hướng chính, một là thành phố xanh, có nhiều không gian mở, diện tích cây xanh lớn, mật độ xây dựung và cong người thấp nhất, hai là tiết kiệm năng lượng, bảo tồn thiên nhiên, tái sử dụng nước thải và rác thải, tiết kiệm nước, quản lý nguồn phát thải cacbon thấp, sử dụng các năng lượng tự nhiên như gió, mặt trời, sóng biển,
Theo M Lindfield và F Steinberg, 2012 thì mô hình đô thị sinh thái cần phải được đầu tư thông qua các yếu tố sau: hệ thống vận chuyển ít phát thải carbon, khu vực công nghiệp xanh, các tòa nhà tiết kiệm năng lượng, làm xanh thành phố, cơ sở hạ tầng xanh và hệ thống thông minh
Theo D.Hoornweg và M.Freire, 2013 thì các thành phố thông minh dựa trên các nền tảng kỹ thuật và thông tin để quản lý, sử dụng tài nguyên, cải thiện quản lý, tốt hơn trong việc sử dụng tài nguyên, cải thiện quản lý, giám sát phát triển các mô hình kinh doanh mới và giúp đỡ người dân đưa ra các quyết định sáng suốt trong việc sử dụng tài nguyên
Theo T Yigitcanlar và Md Kamruzzaman, 2015 thì sự phát triển khoa học
và công nghệ đã dẫn tới sứ phát triển của một thành phố mới mang tên thành phố thông minh "smart city" tượng trưng cho một công nghệ mới có thể phát triển đô thị bền vững và phần lớn các nghiên cứu khoa học tập trung vào khía cạnh lập kế hoạch và phát triển của các thành phố bền vững trong khi đó ít chú ý vào khía cạnh quản lý
Theo Theo S Joss, D Tomozeiu và R Cowley, 2011 thì một số tên gọi khác liên quan đến đô thị sinh thái như: Sustainable city, Sustainable community, Smart city, Slim city, Compact city, Zero energy city / zero net energy city, Low carbon city, Carbon neutral city / net zero city, Zero carbon
Trang 8city, Solar city, Oekostadt / Ökostadt, Transition town, Eco-municipality Hiện nay thành phố sinh thái đã trở thành hiện tượng mang tính toàn cầu, dựa trên nền tảng nhận thức ngày càng tăng của quy mô và mức độ nghiêm trọng của biến đổi khí hâu Trung quốc và Ấn độ là hai quốc gia đang dẫn đầu trong việc phát triển thành phố sinh thái ở Châu Á
Hình 1.1 Số lượng đô thị sinh thái phát triển ở Châu Á và Châu Úc (Nguồn:
Eco-Cities A Global Survey 2011)
15
17 37
Phát triển mới
Mở rộng đô thị Chỉnh trang đô thị
2
17
Mở rộng đô thị Chỉnh trang đô thị
Trang 9Hình 1.2 Số lượng đô thị sinh thái phát triển ở Châu Âu
(Nguồn: Eco-Cities A Global Survey 2011)
Hình 1.3 Số lượng đô thị sinh thái phát triển ở Châu Phi và Trung Đông
(Nguồn: Eco-Cities A Global Survey 2011)
Hình 1.4 Số lượng đô thị sinh thái phát triển ở Châu Mỹ
(Nguồn: Eco-Cities A Global Survey 2011)
4
17
2
Phát triển mới
Mở rộng đô thị Chỉnh trang đô thị
6
17 13
Phát triển mới
Mở rộng đô thị Chỉnh trang đô thị
Trang 10Qua số liệu ở các Hình 1.2, 1.3, 1.4, 1.5 chúng ta có thể nhận thấy rằng số lượng đô thị sinh thái phát triển mới thấp nhất, chủ yếu phát triển đô thị sinh thái theo hai hướng là mở rộng đô thị và chỉnh trang đô thị
1.4 Phương pháp định giá đô thị sinh thái
Theo D.Hoornweg và M.Freire, 2013 thì các chuyên gia đã cố gắng định lượng sự đóng góp của các dịch vụ sinh thái đối với địah hương hay nên kinh tế quốc dân qua đó cho phép các nhà hoạch định chính sách đề xuất các chính sách liên quan đến tự nhiên môi trường VD: Chicago, Mỹ cây cối đô thị được ước tính cung cấp dịch vụ không khí giá trị là 9,2 triệu đô-la tương đương gấp hai lần chi phí đầu tư
Theo R.Johnes và cộng sự, 2015 thì khái niệm về giá trị tổng kinh tế đã được áp dụng cho hàng hóa và dịch vụ môi trường trong những năm 70 và 80 các loại giá trị:
- Economic value: giá trị của hàng hóa hoặc dịch vụ, hoặc là thước đô lợi ích được cung cấp bởi hàng hóa hay dịch vụ đó Giá trị kinh tế không chỉ là tiền
tệ
- Maket value : Giá trị trao đổi hoặc giá của một hàng hóa hoặc dịch vụ trên thị trường mở
- Use value: Giá trị tương đương của hàng hóa, dịch vụ không được thanh toán hoặc thanh toán một phần, chuyển thành giá trị thị trường
- Instrinsic value: giá trị gắn liền với môi trường và dạng sống mà không liên hệ đến con người
- Existence value: giá trị gắn liền với kiến thức rằng các loài, môi trường tự nhiên và các dịch vụ hệ sinh thái khác tồn tại, ngay cả khi không được sử dụng thường xuyên
- Bequest/vicarious value: giá trị khi sẵn sàng chi trả để bảo vệ môi trường
vì lợi ích của người khác, thế hệ sau
Trang 11- Present value: giá trị hiện tại của tài sản trong tương lai, được chiết khấu cho giá trị hiện tại
- Option value: giá trị sẵn sàng trả một số tiền nhất định cho việc sử dụng tài sản trong tương lai
- Quasi-option value: giá trị của các phương án bảo tồn để sử dụng trong tương lai
- Anthropocentric value : giá trị nội tại trong con người và giá trị của mọi thứ khác
- Non-anthropocemtric value: giá trị nội tại trong con người và không phải của con người, hệ thống tự nhiên
- Tangible value: Giá trị tiền tệ hoặc thị trường của một hàng hóa dịch vụ hoặc tài sản
- Intangible value: Giá trị phi tài chính của hàng hóa, dịch vụ, tài sản và giá trị nội tại
- Community value: Giá trị được chia sẻ bở hoặc mang lại lợi ích cho một nhóm người tạo thành cộng đồn thông qua địa điểm, hoạt động hoặc chia sẻ
nguyện vọng và mục tiêu
- Institutional value: Giá trị được tổ chức bởi các chính sách
Theo D.Hoornweg và M.Freire, 2013 thì hàng hóa và dịch vụ hệ sinh thái
có thể được chia thành các nhóm: xã hội, kinh tế và môi trường như sau:
- Lợi ích xã hội: thường đa dạng, khó đo lường, nhiều VD: lợi ích trực tiếp như sức khỏe, không khí sạch, nước những nơi đi bộ tập thể dục, lợi ích gián tiếp như: bản sắc, tiện nghi, công bằng xã hội
- Lợi ích về kinh tế: trực tiếp: giá trị hàng hóa và dịch vụ, gián tiếp khó định lượng, ngoài ra còn có các dịch vụ miễn phí hỗ trợ các dịch vụ kinh tế khác như giải trí, thể thao, du lịch
Trang 12- Lợi ích về môi trường: Đóng góp trực tiếp vào việc bảo vệ môi trường hoặc cải thiện sức khỏe môi trường, đóng góp trực tiếp vào lợi ích xã hội hoặc kinh tế
Theo Lê Huy Bá và cộng sự, 2016 thì có 2 phương pháp định giá trị kinh tế môi trường là:
- Định giá không sử dụng đường cầu: phương pháp chi phí cơ hội, phương pháp chi phí thay thế, phương pháp dự án ẩn, phương pháp chi trả của chính phủ, phương pháp nhân - quản
- Định giá sử dụng đường cầu: phương pháp định giá ngẫu nhiên, phương pháp chi phí lưu thông, phương pháp định giá hưởng thụ
Trang 13TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 B Yuen, 2013 Eco-city Planning: Pure Hype or Achievable Concept 49th
ISOCARP Congress, Brisbane, Australia, 1-4 October 2013
2 D.Hoornweg and M.Freire, 2013 Building sustainability in an urbanizing
world World Bank
3 D.Rudlin, N.Dodd, K.Yates and Dr N.Falk, 1998 Tomorrow: A peaceful path
to urban refor Manchester, United Kingdom
4 Đỗ Tú Lan, 2012 Những tiêu chí, chỉ số đánh giá đô thị sinh thái quốc tế,
định hướng phát triển đô thị sinh thái ứng phó với biến đổi khí hậu ở Việt Nam Conference Vietnam Cities Tomorrow - Action Today, October 30th
2012
5 J Niemela, 1999 Ecology and urban planning Biodiversity and
Conservation 8: 119 131
6 J.R Kenworthy, 2006 The eco-city Ten key transport and planning
dimensions for sustainable city development Enviroment &
Urbanization Vol 18, No 1 April 2006
7 Lê Huy Bá, Thái Vũ Bình và Võ Đình Long., 2016, Chương II Một số
phương pháp đánh giá kinh tế môi trường Quản lý môi trường Nhà xuất
bản đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Hồ Chí
Minh, pp 59-61
8 M Lindfield and F Steinberg, 2012 Green cities Asian Development
Bank,Philippines
9 M Qiang, 2009 Eco-city and Eco-Planning in China-Taking An Example
International Forum on Urbanism 2009 Amsterdam/Delft
10 M Roseland, 1997 Dimensions of the eco-city Cities, Vol 14, No 4,
Trang 14pp 197-202
11 M.Miller, 2010 English garden cities English Heritage, Kemble Drive,
Swindon
12 Morland City Council, 2014 Zero Carbon Evolution Australia
13 P James, 2015 Urban Sustainability in Theory and Pract Published by
Routledge 711 Third Avenue, New York
14 R Jones, J Symons, C Young., 2015 Climate Change Working Paper No
24: Assessing the Economic Value of Green Infrastructure: Green Paper
Nhà xuất bản Victoria Institute of Strategic Economic Studies, Victoria University, Melbourne pp.12 - 16
15 S Joss, D Tomozeiu and R Cowley, 2011 Eco-cities - A Global Survey
2011 Published by University of Westminster International Eco Cities
Initiative
16 S Lehmann, 2010 Green Urbanism: Formulating a Series of Holistic
Principles Surveys and Perspectives Integrating Environment and
Society Vol.3 / n°2
17 Sh Hao, 2014 China's Path to the construction of low-carbon cities in the
context of new-style urbanization China Finance and Economic
Review 2014, 2 : 3
18 T Yigitcanlar and Md Kamruzzaman, 2015 Planning, Development and
Management of Sustainnable Cities Sustainability 2015, 7,
14677-14688
19 T.C Wong and B Yuen, 2011 Eco-city-Planning: Policies, Practice and
Design Springer Dordrecht Heidelberg London New York