Các nhà sáng lập Chủ nghĩa Mác- Lênin đã xây dựng nên học thuyết lý luận cách mạng không ngừng, với nội dung cơ bản: Giai cấp công nhân, sau khi đã trưởng thành về trình độ giác ngộ, trì
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
BÁO CÁO
ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP GIỮA KỲ NHÓM 1
MÔN HỌC: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
GIẢNG VIÊN: ĐINH THỊ ĐIỀU
TP HỒ CHÍ MINH, 07 - 2021
Trang 2DANH SÁCH NHÓM 1 THAM GIA BÁO CÁO
3/2/1930 là tất yếu khách quan? Quan điểm của anh (chị) như thế nào về ý kiến cho rằng ở VN cần thực hiện chế độ đa đảng lãnh đạo? Vì sao?
1 Phạm Thị Thùy Linh K194111610 100%
2 Nguyễn Anh Thư K195032198 100%
3 Phạm Thị Ngọc Ánh K204030937 100%
4 Nguyễn Hoàng Khánh Linh K204070363 100%
5 Nguyễn Ngọc Tường Vy K205042281 100%
Ghi chú:
• Tỉ lệ 100%
• Trưởng nhóm: Phạm Thị Thùy Linh
• Thông tin liên hệ: linhptt19411c@st.uel.edu.vn / (+84).822.393.545
Nhận xét của giảng viên:
Trang 3
Mục lục
I Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam 3
1 Tình hình thế giới và trong nước cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX 3
1.1 Tình hình thế giới (tính khách quan) 3
1.2 Hoàn cảnh trong nước (tính chủ quan) 4
II Các nhân tố tác động đến sự ra đời Đảng Cộng sản Việt Nam 8
1 Chủ nghĩa Mác – Lênin 8
2 Chủ nghĩa phong trào công nhân 9
3 Phong trào yêu nước 10
3.1 Phong trào yêu nước theo khuynh hướng phong kiến 10
3.2 Phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản 11
3.3 Phong trào yêu nước theo khuynh hướng vô sản 11
4 Sự ra đời của các tổ chức Cộng sản ở Việt Nam 13
III Vai trò của Nguyễn Ái Quốc chuẩn bị các điều kiện để thành lập Đảng 14
1 Sự lựa chọn con đường cứu nước, cứu dân 14
2 Quá trình Nguyễn Ái Quốc tích cực chuẩn bị về tư tưởng, chính trị và tổ chức 16
IV Quan điểm của anh/chị về ý kiến cho rằng ở Việt nam cần thực hiện chế độ đa đảng lãnh đạo? Vì sao? 18
Tài liệu tham khảo 23
Trang 4I Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam
1 Tình hình thế giới và trong nước cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX
1.1 Tình hình thế giới (tính khách quan)
1.1.1 Chuyển biến của chủ nghĩa tư bản và hậu quả
Từ nửa sau thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản phương Tây chuyển từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang giai đoạn độc quyền (giai đoạn đế quốc chủ nghĩa), dẫn tới chiến tranh xâm lược các quốc gia phong kiến phương Đông, biến các quốc gia này thành thị trường tiêu thụ sản phẩm và mua bán nguyên vật liệu, khai thác sức lao động và xuất khẩu tư bản của các nước đế quốc Sự áp bức và thôn tính dân tộc của chủ nghĩa đế quốc càng tăng thì mâu thuẫn giữa dân tộc thuộc địa thực dân càng gay gắt, sự phản ứng dân tộc của nhân dân các thuộc địa càng quyết liệt
Chính bản thân chủ nghĩa đế quốc xâm lược đã tạo cho các dân tộc nước thuộc địa những phương tiện và phương pháp để tự giải phóng Sự thức tỉnh về ý thức dân tộc
để tự giải phóng khỏi ách thực dân, lập lại các quốc gia độc lập trên thế giới chịu tác động sâu sắc của chính sách xâm lược và thống trị của chủ nghĩa đế quốc thực dân
1.1.2 Sự ra đời của chủ nghĩa Mác-lênin
Phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân ngày càng lan rộng, phát triển tự phát tới tự giác, từ đấu tranh kinh tế tới đấu tranh chính trị, cần có lý luận khoa học và cách mạng dẫn dắt, soi đường Trên thế giới lúc đó cũng đã xuất hiện những tiền đề về kinh tế - xã hội khoa học và lý luận, v.v… dẫn tới sự ra đời của chủ nghĩa Mác Lê nin
Các nhà sáng lập Chủ nghĩa Mác- Lênin đã xây dựng nên học thuyết lý luận cách mạng không ngừng, với nội dung cơ bản: Giai cấp công nhân, sau khi đã trưởng thành
về trình độ giác ngộ, trình độ tổ chức, có đủ khả năng và điều kiện lãnh đạo cuộc cách mạng dân chủ tư sản trên cơ sở liên minh với giai cấp nông dân đấu tranh chống lại chế
độ chuyên chế phong kiến
Dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân, sự liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân trở thành lực lượng chủ yếu đánh đổ chế độ chuyên chế phong kiến, thành lập nhà nước chuyên chính cách mạng của giai cấp công nhân và giai cấp nông dân
Trang 5Chủ nghĩa Mác ra đời là thành tựu trí tuệ của loài người, phản ánh thực tiễn xã hội, nhất là cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân, đáp ứng yêu cầu phát triển của cách mạng thế giới, là một tất yếu khách quan trong tiến trình phát triển lịch sử của tư tưởng nhân loại.
1.1.3 Cách mạng tháng mười Nga và quốc tế cộng sản
Đầu thế kỷ XX, trên phạm vi quốc tế, sự thức tỉnh của các dân tộc Châu Á cùng với phong trào dân chủ tư sản ở Đông Âu bắt đầu từ Cách mạng 1905 Nga Năm 1917, Cách mạng Tháng Mười Nga thành công Đối với nước Nga, đó là cuộc cách mạng vô sản, nhưng đối với các dân tộc thuộc địa trong đế quốc Nga thì đó còn là một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, bởi vì trước cách mạng "nước Nga là nhà tù của các dân tộc"
Cách mạng Tháng Mười đã làm cho phong trào cách mạng vô sản ở các nước tư bản chủ nghĩa phương Tây và phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa phương Đông có quan hệ mật thiết với nhau trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung
là chủ nghĩa đế quốc Tháng 3-1919, Quốc tế Cộng sản được thành lập Tại Đại hội II của Quốc tế Cộng sản (1920), Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc
và vấn đề thuộc địa của V.I Lênin được công bố Luận cương nổi tiếng này đã chỉ ra phương hướng đấu tranh giải phóng các dân tộc bị áp bức Với thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga và sự ra đời của Quốc tế Cộng sản, nhiều đảng cộng sản trên thế giới
đã được thành lập Tình hình thế giới đầy biến động đó đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến Việt Nam
1.2 Hoàn cảnh trong nước (tính chủ quan)
1.2.1 Xã hội Việt Nam dưới sự thống trị của thực dân Pháp
Sau khi đánh chiếm được nước ta, thực dân Pháp thiết lập bộ máy thống trị thực dân và tiến hành những cuộc khai thác nhằm cướp đoạt tài nguyên, bóc lột nhân công
rẻ mạt và mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hóa
Do sự du nhập của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, tình hình kinh tế Việt Nam có sự biến đổi: quan hệ kinh tế nông thôn bị phá vỡ, hình thành nên những đô thị mới, những trung tâm kinh tế và tụ điểm cư dân mới Thực dân Pháp không du nhập một cách hoàn chỉnh phương thức tư bản chủ nghĩa vào nước ta, mà vẫn duy trì hai phương thức bóc lột tư bản và phong kiến để thu lợi nhuận siêu ngạch Vì vậy, nước
Trang 6Việt Nam không thể phát triển lên chủ nghĩa tư bản một cách bình thường, bị kìm hãm trong vòng lạc hậu và phụ thuộc nặng nề vào Pháp
Về chính trị, chúng tiếp tục thi hành chính sách đàn áp nặng nề Mọi quyền hành đều thâu tóm trong tay các viên quan cai trị người Pháp, biến vua quan Nam triều thành
bù nhìn, tay sai Chúng thẳng tay đàn áp các cuộc đấu tranh của dân ta, thi hành chính sách chia để trị rất thâm độc và lập ra liên bang Đông Dương thuộc Pháp nhằm xóa tên nước ta trên bản đồ thế giới Chúng gây chia rẽ và thù hận giữa Bắc, Trung, Nam, giữa các tôn giáo, các dân tộc, giữa dân tộc Việt Nam với các dân tộc trên bán đảo Đông Dương
Về văn hóa, chúng thi hành triệt để chính sách văn hóa nô dịch, gây tâm lý tự ti, vong bản, khuyến khích các hoạt động mê tín dị đoan, đồi phong bại tục Mọi hoạt động yêu nước của nhân dân ta đều bị cấm đoán Chúng ngăn chặn ảnh hưởng của nền văn hóa tiến bộ trên thế giới vào Việt Nam và thi hành chính sách ngu dân để dễ bề thống trị
Các cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp ảnh hưởng mạnh mẽ đến tình hình xã hội Việt Nam Sự phân hoá giai cấp diễn ra ngày càng sâu sắc hơn Do chính sách kinh tế và chính trị phản động của thực dân Pháp, giai cấp địa chủ càng bị phân hóa thành ba bộ phận khá rõ rệt: tiểu, trung và đại địa chủ Một số địa chủ bị phá sản có mâu thuẫn với đế quốc về quyền lợi dân tộc nên đã tham gia đấu tranh chống thực dân
và bọn phản động tay sai
Giai cấp nông dân bị đế quốc, phong kiến địa chủ và tư sản áp bức, bóc lột rất nặng nề Ruộng đất bị chiếm đoạt Chính sách độc quyền kinh tế, mua rẻ bán đắt, tô cao, thuế nặng, chế độ cho vay nặng lãi của đế quốc và phong kiến đã đẩy nông dân vào con đường bần cùng hóa không lối thoát Một số ít bán sức lao động, làm thuê trong các nhà máy, hầm mỏ, đồn điền hoặc bị bắt đi làm phu tại các thuộc địa khác của đế quốc Pháp
➢ Người lao động gánh chịu sự bóc lột vô cùng nặng nề ngay trên mảnh đất mà trước đây là sở hữu của chính họ Sự khai thác và bóc lột thuộc địa của thực dân Pháp
đã làm gay gắt thêm các mâu thuẫn cơ bản trong lòng xã hội Việt Nam
Trang 71.2.2 Sự chuyển biến trong xã hội Việt Nam
Vì bị mất nước và mất ruộng đất nên nông dân có mâu thuẫn với đế quốc và phong kiến Họ vừa có yêu cầu độc lập dân tộc, lại vừa có yêu cầu ruộng đất, song yêu cầu về độc lập dân tộc là bức thiết nhất
Giai cấp nông dân có truyền thống đấu tranh kiên cường bất khuất là lực lượng
to lớn nhất, một động lực cách mạng mạnh mẽ Giai cấp nông dân khi được tổ chức lại
và có sự lãnh đạo của một đội tiên phong cách mạng, sẽ phát huy vai trò cực kỳ quan trọng của mình trong sự nghiệp đấu tranh vì độc lập tự do của dân tộc Việt Nam
Giai cấp tư sản hình thành trong quá trình khai thác thuộc địa của thực dân Pháp Trước Chiến tranh thế giới thứ nhất, tư sản Việt Nam mới chỉ là một tầng lớp nhỏ bé Sau chiến tranh, tư sản Việt Nam đã hình thành giai cấp rõ rệt Ra đời trong điều kiện
bị tư bản Pháp chèn ép, cạnh tranh rất gay gắt, nên số lượng tư sản Việt Nam không nhiều, thế lực kinh tế nhỏ bé, thế lực chính trị yếu đuối
1.2.3 Sự biến đổi giai cấp
Trong quá trình phát triển, giai cấp tư sản Việt Nam phân thành hai bộ phận:
- Tư sản mại bản là những tư sản lớn, hợp tác kinh doanh với đế quốc, bao thầu những công trình xây dựng của chúng ở nước ta Nhiều tư sản mại bản có đồn điền lớn hoặc có nhiều ruộng đất cho phát canh, thu tô Vì có quyền lợi kinh tế và chính trị gắn liền với đế quốc thực dân, nên tư sản mại bản là tầng lớp đối lập với dân tộc
- Tư sản dân tộc là bộ phận đông nhất trong giai cấp tư sản, bao gồm những tư sản loại vừa và nhỏ, thường hoạt động trong các ngành thương nghiệp, công nghiệp và cả tiểu thủ công nghiệp Họ muốn phát triển chủ nghĩa tư bản của dân tộc Việt Nam, nhưng
do chính sách độc quyền và chèn ép của tư bản Pháp nên không thể phát triển được Xét
về mặt quan hệ với đế quốc Pháp, tư sản dân tộc phải chịu số phận mất nước, có mâu thuẫn về quyền lợi với bọn đế quốc thực dân và phong kiến, nên họ có tinh thần chống
đế quốc và phong kiến Giai cấp tư sản dân tộc là một lực lượng cách mạng không thể thiếu trong phong trào cách mạng giải phóng dân tộc Giai cấp tiểu tư sản bao gồm nhiều bộ phận khác nhau: tiểu thương, tiểu chủ, thợ thủ công, viên chức, trí thức, học sinh, sinh viên và những người làm nghề tự do Giữa những bộ phận đó có sự khác nhau
về kinh tế và cách sinh hoạt, nhưng nhìn chung, địa vị kinh tế của họ rất bấp bênh, luôn luôn bị đe dọa phá sản, thất nghiệp
Trang 8Họ có tinh thần yêu nước nồng nàn, lại bị đế quốc và phong kiến áp bức, bóc lột
và khinh rẻ nên rất hăng hái cách mạng Đặc biệt là tầng lớp trí thức là tầng lớp rất nhạy cảm với thời cuộc, dễ tiếp xúc với những tư tưởng tiến bộ và canh tân đất nước, tha thiết bảo vệ những giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Khi phong trào quần chúng công nông đã thức tỉnh, họ bước vào trận chiến đấu giải phóng dân tộc ngày một đông đảo và đóng một vai trò quan trọng trong phong trào đấu tranh của quần chúng, nhất là
ở đô thị
Giai cấp tiểu tư sản là một lực lượng cách mạng quan trọng trong cuộc đấu tranh
vì độc lập tự do của dân tộc Giai cấp công nhân là sản phẩm trực tiếp của chính sách khai thác thuộc địa của Pháp và nằm trong những mạch máu kinh tế quan trọng do chúng nắm giữ Lớp công nhân đầu tiên xuất hiện vào cuối thế kỷ XIX, khi thực dân Pháp xây dựng một số cơ sở công nghiệp và thành phố phục vụ cho việc xâm lược và bình định của chúng ở nước ta Trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của đế quốc Pháp, giai cấp công nhân đã hình thành Đến cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai, giai cấp công nhân đã phát triển nhanh chóng về số lượng, từ 10 vạn (năm 1914) tăng lên hơn 22 vạn (năm 1929), trong đó có hơn 53.000 công nhân mỏ (60% là công nhân mỏ than), và 81.200 công nhân đồn điền Giai cấp công nhân Việt Nam tuy còn non trẻ, số lượng chỉ chiếm khoảng 1% số dân, trình độ học vấn, kỹ thuật thấp, nhưng sống khá tập trung tại các thành phố, các trung tâm công nghiệp và các đồn điền.Giai cấp công nhân Việt Nam có những đặc điểm chung của giai cấp công nhân quốc tế, đồng thời còn có những điểm riêng của mình như: phải chịu ba tầng lớp áp bức bóc lột (đế quốc, phong kiến và tư sản bản xứ); phần lớn vừa mới từ nông dân bị bần cùng hóa mà ra, nên có mối quan hệ gần gũi nhiều mặt với nông dân Giai cấp công nhân Việt Nam ra đời trước giai cấp tư sản dân tộc, nên nội bộ thuần nhất, không bị phân tán về lực lượng và sức mạnh
Sinh ra và lớn lên ở một đất nước có nhiều truyền thống văn hóa tốt đẹp, nhất là truyền thống yêu nước chống ngoại xâm, sớm tiếp thu được tinh hoa văn hóa tiên tiến trong trào lưu tư tưởng của thời đại cách mạng vô sản để bồi dưỡng bản chất cách mạng của mình Giai cấp công nhân Việt Nam là một lực lượng xã hội tiên tiến, đại diện cho phương thức sản xuất mới, tiến bộ, có ý thức tổ chức kỷ luật cao, có tinh thần cách mạng triệt để, lại mang bản chất quốc tế Họ là một động lực cách mạng mạnh mẽ và khi liên
Trang 9minh được với giai cấp nông dân và tiểu tư sản sẽ trở thành cơ sở vững chắc cho khối đại đoàn kết dân tộc trong cuộc đấu tranh vì độc lập tự do Khi được tổ chức lại và hình thành được một đảng tiên phong cách mạng được vũ trang bằng một học thuyết cách mạng triệt để là chủ nghĩa Mác - Lênin thì giai cấp công nhân trở thành người lãnh đạo cuộc đấu tranh vì độc lập tự do của dân tộc.
1 Chủ nghĩa Mác – Lênin
Vào giữa thế kỉ XIX, phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân phát triển mạnh, đặt ra yêu cầu bức thiết phải có hệ thống lý luận khoa học với tư cách là vũ khí tư tưởng của giai cấp công nhân trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản Trong hoàn cảnh
đó, chủ nghĩa Mác ra đời, về sau được Lênin phát triển trở thành chủ nghĩa Mác – Lê nin
Chủ nghĩa Mác – Lê nin chỉ rõ, muốn giành được thắng lợi trong cuộc đấu tranh thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình, giai cấp công nhân phải lập ra đảng cộng sản Sự
ra đời đảng cộng sản là yêu cầu khách quan đáp ứng cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân chống áp bức, bóc lột
Tuyên ngôn của Đảng cộng sản (1848) xác định: những người cộng sản luôn luôn đại biểu cho lợi ích của toàn bộ phong trào Những nhiệm vụ chủ yếu có tính quy luật
mà chính đảng của giai cấp công nhân để thực hiện mục đích giành lấy chính quyền và xây dựng xã hội mới Đảng phải luôn đứng trên lập trường lợi ích của giai cấp công nhân và đại biểu cho quyền lợi của toàn thể nhân dân lao động
➢ Chủ nghĩa Mác – Lênin đã lôi cuốn quần chúng nhân dân và cả những phần tử
ưu tú, tích cực ở các nước thuộc địa vào phong trào cộng sản.
Kể từ khi chủ nghĩa Mác -Lênin được truyền bá vào Việt Nam, phong trào yêu nước và phong trào công nhân phát triển theo hướng cách mạng vô sản, dẫn tới sự ra đời của các tổ chức cộng sản ở Việt Nam Nguyễn Ái Quốc đã vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác -Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, sáng lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam
Trang 10➢ Nguyễn Ái Quốc thực hiện công cuộc truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam, chuẩn bị về chính trị , tư tưởng và tổ chức cho việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam
2 Chủ nghĩa phong trào công nhân
- Năm 1917, cách mạng tháng Mười Nga giành được thắng lợi Nhà nước Xô Viết dựa trên nền tảng liên minh công – nông dưới sự lãnh đạo của Đảng Bônsêvich Nga ra đời Với thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười, chủ nghĩa Mác – Lênin từ lý luận đã
trở thành hiện thực và mở đầu một thời đại mới “thời đại cách mạng chống đế quốc, thời đại giải phóng dân tộc” Cuộc cách mạng này cổ vũ mạnh mẽ phong trào đấu
tranh của giai cấp công nhân, nhân dân các nước và là một trong những động lực thúc đẩy sự ra đời nhiều đảng cộng sản: Đảng Cộng sản Đức, Đảng cộng sản Hungary (năm 1918), Đảng Cộng sản Pháp (năm 1919)…
- Đối với các dân tộc thuộc địa, Cách mạng Tháng Mười là tấm gương trong giải phóng các dân tộc bị áp bức Về ý nghĩa của Cách mạng Tháng Mười, Nguyễn Ái Quốc khẳng định: Cách mạng Tháng Mười như tiếng sét đã đánh thức nhân dân châu Á tỉnh
giấc mê hàng thế kỉ nay Và “Cách mệnh Nga dạy cho chúng ta rằng muốn cách mệnh thành công thì phải dân chúng làm gốc, phải có đảng vững bền, phải bền gan, phải hy sinh, phải thống nhất Nói tóm lại là phải theo chủ nghĩa Mã Khắc Tư
và Lênin”
- Sau chiến tranh đế quốc (1914 - 1918) và Cách mạng tháng Mười
Nga thắng lợi, những điều kiện thành lập Quốc tế cộng sản đã chín muồi Tháng 3/1919, Quốc tế Cộng sản được thành lập Ý nghĩa về sự ra đời này thúc đẩy sự phát triển mạnh
mẽ phong trào cộng sản và công nhân quốc tế Sơ thảo lần thứ nhất những Luận cương
về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin được công bố tại Đại hội II Quốc tế cộng sản vào năm 1920 đã chỉ ra phương hướng đấu tranh giải phóng các dân tộc thuộc địa, mở ra con đường giải phóng các dân tộc bị áp bức trên lập trường cách mạng vô sản, cũng như chỉ ra sự phối hợp hành động giữa phong trào công nhân quốc tế vàcuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Đó là bước ngoặt to lớn trong nghệ thuật lãnh đạo chính trị của những người cộng sản, làm cho Quốc tế Cộng sản trở thành người lãnh đạo, lãnh tụ của giai cấp vô sản và các dân tộc bị áp bức toàn thế giới
Trang 11- Đối với Việt Nam, Quốc tế Cộng sản có vai trò quan trọng trong việc truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin và thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc không những đánh giá cao sự kiện ra đời Quốc tế Cộng sản đối với phong trào cách mạng thế
giới, mà còn nhấn mạnh vai trò của tổ chức này đối với cách mạng Việt Nam “An Nam muốn cách mệnh thành công, thì tất phải nhờ Đệ tam quốc tế”
3 Phong trào yêu nước
Mặc dù triều đình nhà Nguyễn đã kí hiệp ước đầu hàng vô điều kiện với thực dân Pháp và công nhận sự thống trị của chúng trên đất nước ta Tuy nhiên, các phong trào đấu tranh vẫn diễn ra trên đất nước ta với sự lãnh đạo của các vua quan phong kiến nhưng trước những ảnh hưởng của các luồng văn hoá tư sản tiến bộ trên thế giới du nhập vào nước ta một số nhà nho yêu nước đã chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của các luồng văn hoá này do đó đã hình thành nên con đường đấu tranh theo khuynh hướng dân chủ
tư sản
3.1 Phong trào yêu nước theo khuynh hướng phong kiến
- Mục đích:
+ Giành lại độc lập tự do cho dân tộc
+ Khôi phục chế độ phong kiến, quân chủ chuyên chế
- Phong trào chống Pháp ở Nam Kì
- Phong trào Cần Vương (1885-1896):
+ Lãnh đạo: vua Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết
Trang 12- Cuộc khởi nghĩa nông dân Yên Thế - Bắc Giang (1885-1913): do Hoàng Hoa Thám và Lương Văn Nắm lãnh đạo
➢ Thất bại của phong trào Cần Vương chứng tỏ sự bất lực của hệ tư tưởng phong kiến trong việc giải quyết nhiệm vụ giành độc lập dân tộc do lịch sử đặt ra Do đó các nhà yêu nước tiến bộ chủ trương một khuynh hướng đấu tranh mới đó là khuynh hướng dân chủ tư sản
3.2 Phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản
Cuối thế kỉ XX các nhà yêu nước của ta được tiếp nhận với luồng văn hoá dân chủ tư sản Ngoài ra còn chịu ảnh hưởng tư tưởng của Khang Hữu Vi và Lương Khải Siêu và cách mạng Minh Trị Khuynh hướng yêu nước dân chủ tư sản được chia làm hai giai đoạn:
+ Trước chiến tranh thế giới thứ nhất: phong trào Đông Du của Phan Bội Châu
và phong trào Duy Tân của Phan Chu Trinh
+ Sau chiến tranh thế giới thứ nhất: Nhiều phong trào đấu tranh của tư sản và địa chủ diễn ra Phong trào yêu nước dân chủ công khai (1925-1926) của tiểu tư sản thành thị và tư sản lớp dưới Họ lập ra nhiều tổ chức chính trị Việt Nam nghĩa đoàn, Phục Việt, Hưng Nam… thành lập nhiều tờ báo như Cường học thư xã, Quan hải tùng thư, Người nhà quê, Chuông rạn… với nhiều phong trào đấu tranh chính trị gây tiếng vang khá lớn như Phong trào cách mạng quốc gia tư sản (1927-1930)
Các phong trào theo khuynh hướng tư sản diễn ra rất sôi nổi, anh dũng nhưng kết quả cuối cùng đều thất bại
➢ Thất bại do khuynh hướng không phù hợp với thời đại mới; diễn ra lẻ tẻ nên
dễ bị thực dân Pháp đàn áp; quá phụ thuộc vào người lãnh đạo; chỉ hô hào mà không kêu gọi quần chúng, không xây dựng lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang
3.3 Phong trào yêu nước theo khuynh hướng vô sản
- Các cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân có sự thay đổi qua từng giai đoạn + Giai đoạn tự phát (trước năm 1925)
Phong trào yêu nước theo khuynh hướng vô sản cuối thế kỉ 19 đầu thế kỉ 20 thường có quy mô nhỏ hẹp trong các nhà máy, xí nghiệp, đồn điền do sự yếu thế của giai cấp công nhân và chưa có chủ trương cách mạng đúng đắn Mục đích chủ yếu tập trung vào nội dung kinh tế và hầu hết các phong trào đều diễn ra tự phát, chỉ có duy