1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tác động của cách mạng công nghiệp 4 0 đến vấn đề xây dựng gia đình, trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở việt nam

43 78 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 43
Dung lượng 370,34 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Như vậy, gia đình là một hình thức cộng đồng xã hội đặc biệt, được hình thành, duy trì và cùng cổ chủ yếu dựa trên cơ sở hôn nhân, quan hệ huyết thống và quan hệ nuôi dưỡng,cùng với nhữn

Trang 1

BỘ XÂY DỰNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIẾN TRÚC TPHCM

Giảng Viên Hướng Dẫn: Ngô Quang Huy

Họ và tên sinh viên:

- Phan Anh Huy

- MSSV: 20521000981

- Lớp: KD20/A1

- Môn: Chủ nghĩa xã hội khoa học

ĐỀ TÀI : Tác động của cách mạng công nghiệp 4.0 đến vấn đề xây dựng gia đình, trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam ?

***********

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Trường Đại học Kiến Trúc TP.HCM Độc lập - Tự do - Hạnh

phúc

BÀI TIỂU LUẬN MÔN: Chủ nghĩa xã hội khoa học

Họ và tên sinh viên: Phan Anh Huy

Mã số sinh viên: 20521000981

Mã lớp học phần: 0000130

ĐIỂM CỦA BÀI TIỂU

Họ tên và chữ ký của cán bộ chấm thi thứ 2

Trang 3

Trong xu thế phát triển của toàn thế giới kể cả ở những nước phát triển thì chuẩn mực

về đời sống xã hội là vấn đề hết sức quan trọng ví dụ như về giáo dục, thiện nguyện, và giađình là một khía cạnh không bao giờ bị lãng quên Bởi vì khi nhìn lại lịch sử quá trình hình

thành nên ý thức, tổ chức xã hội của loài người thì yếu tố “ gia đình ” đóng vai trò hết sức

quan trọng và to lớn Ngay cả trong những lĩnh vực khác như văn chương ( ca dao tục ngữ,truyện cổ tích, ); nghệ thuật ( âm nhạc, phim, kịch, ) giá trị của gia đình càng được “đánh bóng, tô đậm ” nhiều hơn Song song với những đòi hỏi về đời sống xã hội thì khoa học

- công nghệ là vấn đề then chốt không thể thiếu trong tiến trình để Việt Nam nắm bắt và thụhưởng những thành quả hữu ích từ cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 Kết hợp cả hai vấn đềlại và đứng ở góc nhìn chủ nghĩa khoa học xã hội chúng ta sẽ khai thông được rất nhiều vấn

đề như: Gia đình sẽ giữ vai trò như thế nào? Đặc biệt là trong xu thế cách mạng côngnghiệp 4.0 hiện nay gia đình có tác động to lớn như thế nào ngược lại? Và tôi lựa chọn chủ

đề: “ Tác động của cách mạng công nghiệp 4.0 đến vấn đề xây dựng gia đình, trong thời

kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam ” Thật sự có rất nhiều vấn đề cần câu trả lời

đặc biệt là trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội hiện nay Đề tài này sẽ khai thác rấtnhiều khía cạnh có ý nghĩa với đời sống xã hội cũng như phản ánh sự tiến bộ của nền khoahọc nước nhà

Trang 4

Gia đình là một cộng đồng người đặc biệt, có vai trò quyết định den sự tồn tại và pháttriển của xã hội C.Mác và Ph.Ăngghen, khi đề cập đến gia đình đã cho rằng:

" Quan hệ thứ ba tham dự ngay từ đầu vào quá trình phát triển lịch sử hàng ngày tái tạo

ra đời sống của bản thân minh, con người bắt đầu tạo ra những người khác, sinh sôi, này nở

-đó là quan hệ giữa chồng và vợ, cha mẹ và con cái, -đó là gia đình "

Cơ sở hình thành gia đình là hai mối quan hệ cơ bản, quan hệ hôn nhân ( vợ và chồng )

và quan hệ huyết thống ( cha me và con cái ) Những moi quan hệ này tổn tại trong sự gắn

bó, liên kết, ràng buộc và phụ thuộc lẫn nhau, bởi nghĩa vụ, quyền lợi và trách nhiệm củamỗi người, được quy định bằng pháp lý hoặc đạo lý

Quan hệ hôn nhân là cơ sở, nền tảng hình thành nên các mối quan hệ khác trong giađinh, là cơ sở pháp lý cho sự tồn tại của mỗi gia đình Quan hệ huyết thống là quan hệ giữanhững người cùng một dòng máu, này sinh từ quan hệ hôn nhân Đây là mối quan hệ tựnhiên, là yếu tố mạnh mẽ nhất gắn kết các thành viên trong gia đình với nhau

Trong gia đình, ngoài hai mối quan hệ cơ bản là quan hệ giữa vợ và chồng, quan hệ giữacha mç với con cái, còn có các môi quan hệ khác, quan hệ giữa ông bà với cháu chắt, giữaanh chị em với nhau, giữa cô, di, chú bác với cháu v.v Ngày nay, ở Việt Nam cũng như trênthế giới còn thừa nhận quan hệ cha mẹ nuôi ( người đỡ đầu ) với con nuôi ( được công nhậnbằng thủ tục pháp lý ) trong quan hệ gia đình Dù hình thành từ hình thức nào, trong gia đìnhtất yếu nảy sinh quan hệ nuôi dưỡng, đó là sự quan tâm chăm sóc nuôi dưỡng giữa các thànhviên trong gia đình cả về vật chất và tinh thần Nó vừa là trách nhiệm, nghĩa vụ, vừa là mộtquyền lợi thiêng liêng giữa các thành viên trong gia đình Trong xã hội hiện đại, hoạt độngnuôi dưỡng, chăm sóc của gia đình được xã hội quan tâm chia sẻ, xong không thể thay thếhoàn toàn sự chăm sóc, nuôi dưỡng của gia đình Các quan hệ này có mối liên hệ chặt chẽvới nhau và biến đổi, phát triển phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế và thể chế chính trị -

xã hội

Như vậy, gia đình là một hình thức cộng đồng xã hội đặc biệt, được hình thành, duy trì

và cùng cổ chủ yếu dựa trên cơ sở hôn nhân, quan hệ huyết thống và quan hệ nuôi dưỡng,cùng với những quy định về quyền và nghĩa vụ của các thành viên trong gia đình

b) Vị trí của gia đình trong xã hội:

 Gia đình là tế bào của xã hội:

Gia đình có vai trò quyết định đối với sự tồn tại, vận động và phát triển của xã hội

Ph.Ăngghen đã chỉ rõ: “ Theo quan điểm duy vật thì nhân tố quyết định trong lịch sử, quy

cho đến cùng, là sản xuất và tái sản xuất ra đời sống trực tiếp Nhưng bản thân sự sản xuất đó lại có hai loại Một mặt là sản xuất ra tư liệu sinh hoạt: thực phẩm, quần áo, nhà

ở và những công cụ cần thiết để sản xuất ra những thứ đó; mặt khác là sự sản xuất ra bản thân con người, là sự truyền nòi giống Những trật tự xã hội, trong đó những con người của một thời đại lịch sử nhất định và của một nước nhất định đang sống, là do hai

Trang 5

loại sản xuất quyết định: một mặt là do trình độ phát triển của lao động và mặt khác là do trình độ phát triển của gia đình ".

Với việc sản xuất ra tư liệu tiêu dùng, tư liệu sản xuất, tái sản xuất ra con người, giađình như một tế bào tự nhiên, là một đơn vị cơ sở để tạo nên cơ thể - xã hội Không có giađình để tái tạo ra con người thì xã hội không thể tồn tại và phát triển được Vì vậy, muốn cómột xã hội phát triển lành mạnh thì phải quan tâm xây dựng tế bào gia đình tốt như chủ tịch

Hồ Chí Minh đã nói: “ nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội, xã hội tốt thì gia đình

càng tốt, gia đình tốt thì xã hội mới tốt Hạt nhân của xã hội chính là gia đình.”

Tuy nhiên, mức độ tác động của gia đình đối với xã hội lại phụ thuộc vào bản chấtcủa từng chế độ xã hội, vào đường lối, chính sách của giai cấp cầm quyền, và phụ thuộc vàochính bản thân mô hình, kết cấu, đặc điểm của mỗi hình thức gia đình trong lịch sử Vì vậy,trong mỗi giai đoạn của lịch sử, tác động của gia đình đối với xã hội không hoàn toàn giốngnhau Trong các xã hội dựa trên cơ sở của chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, sự bất bình đẳngtrong quan hệ xã hội và quan hệ gia đình đã hạn chế rất lớn đến sự tác động của gia đình đốivới xã hội Chỉ khi con người được yên ấm, hòa thuận trong gia đình, thì mới có thể yên tâmlao động, sáng tạo và đóng góp sức mình cho xã hội và ngược lại Chính vì vậy, quan tâmxây dựng quan hệ xã hội, quan hệ gia đình bình đẳng, hạnh phúc là vấn đề hết sức quan trọngtrong cách mạng xã hội chủ nghĩa

 Gia đình là tổ ấm, mang lại các giá trị hạnh phúc, sự hài hòa trong đời sống cá nhân

của mỗi thành viên

Từ khi còn nằm trong bụng mẹ, đến lúc lọt lòng và suốt cả cuộc đời, mỗi cá nhân đềugắn bó chặt chẽ với gia đình Gia đình là môi trường tốt nhất để mỗi cá nhân được yêuthương, nuôi dưỡng, chăm sóc, trưởng thành, phát triển Sự yên ổn, hạnh phúc của mỗi giađình là tiền đề, điều kiện quan trọng cho sự hình thành, phát triển nhân cách, thể lực, trí lực

để trở thành công dân tốt cho xã hội Chỉ trong môi trường yên ấm củagia đình, cá nhân mớicảm thấy bình yên, hạnh phúc, có động lực để phấn đấu trở thành con người xã hội tốt

 Gia đình là cầu nối giữa cá nhân với xã hội

Gia đình là cộng đồng xã hội đầu tiên mà mỗi cá nhân sinh sống, có ảnh hưởng rất lớnđến sự hình thành và phát triển nhân cách của từng người Chỉ trong gia đình, mới thể hiệnđược quan hệ tỉnh cảm thiêng liêng, sâu đậm giữa vợ và chồng, cha mẹ và con cái, anh chị

em với nhau mà không cộng đồng nào có được và có thể thay thế

Tuy nhiên, mỗi cá nhân lại không thể chỉ sống trong quan hệ tình cảm gia đình, màcòn có nhu cầu quan hệ xã hội, quan hệ với những người khác, ngoài các thành viên tronggia đình Mỗi cá nhân không chỉ là thành viên của gia đình mà còn là thành viên của xã hội.Quan hệ giữa các thành viên trong gia đình đồng thời cũng là quan hệ giữa các thành viêncủa xã hội Không có cá nhân bên ngoài gia đình, cũng không thể có cá nhân bên ngoài xãhội Gia đình là cộng đồng xã hội đầu tiên đáp ứng nhu cầu quan hệ xã hội của mỗi cá nhân.Gia đình cũng chính là môi trường đầu tiên mà mỗi cá nhân học được và thực hiện quan hệ

xã hội

Ngược lại, gia đình cũng là một trong những cộng đồng để xã hội tác động đến cánhân Nhiều thông tin, hiện tượng của xã hội thông qua lãng kính gia đình mà tác động tíchcực hoặc tiêu cực đến sự phát triển của mỗi cá nhân về tư tưởng, đạo đức, lối sống, nhâncách v.v Xã hội nhận thức đầy đủ và toàn diện hơn về mỗi cá nhân khi xem xét họ trong cácquan hệ xã hội và quan hệ với gia đình Có những vấn đề quản lý xã hội phải thông qua hoạtđộng của gia đình để tác động đến cá nhân Nghĩa vụ và quyền lợi của mỗi cá nhân đượcthực hiện với sự hợp tác của các thành viên trong gia đình Chính vì vậy, ở bất cứ xã hội nào,giai cấp cầm quyền muốn quân lý xã hội theoyêu cầu của mình, cũng đều coi trọng việc xây

Trang 6

dựng và củng cố gia đình Vậy nên, đặc điểm của gia đình ở mỗi chế độ xã hội có khác nhau.Trong xã hội phong kiến, để củng cố, duy trì chế độ bóc lột, với quan hệ gia trưởng, độcđoán, chuyên quyền đã có những quy định rất khắt khe đối với phụ nữ, đòi hỏi người phụ nữphải tuyệt đối trung thành với người chồng, người cha - những người đàn ông trong gia đình.

Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, để xây dựng một xã hội thật sự bình đẳng,con người được giải phóng, giai cấp công nhân chủ trương bảo vệ chế độ hôn nhân một vợmột chồng, thực hiện sự bình đẳng trong gia đình, giải phóng phụ nữ Chủ tịch Hồ Chí Minh

khẳng định: “ Nếu không giải phóng phụ nữ là xây dựng chủ nghĩa xã hội chỉ một nửa”.

Vì vậy, quan hệ gia đình trong chủ nghĩa xã hội có đặc điểm khác về chất so với các chế độ

xã hội trước đó

II Chức năng của gia đình

 Chức năng tái sản xuất ra con người

Đây là chức năng đặc thù của gia đình, không một cộng đồng nào có thể thay thế.Chức năng này không chỉ đáp ứng nhu cầu tâm, sinh lý tự nhiên của con người, đáp ứng nhucầu duy trì nòi giống của gia đình, dòng họ mà còn đáp ứng nhu cầu về sức lao động và duytrì sự trường tồn của xã hội

Việc thực hiện chức năng tái sản xuất ra con người diễn ra trong từng gia đình, nhưngkhông chỉ là việc riêng của gia đình mà là vấn đề xã hội Bởi vì, thực hiện chức năng nàyquyết định đến mật độ dân cư và nguồn lực lao động của một quốc gia và quốc tế, một yếu tốcấu thành của tồn tại xã hội Thực hiện chức năng này liên quan chặt chẽ đến sự phát triểnmọi mặt của đời sống xã hội

Ví dụ: Ở Việt Nam, thực hiện kế hoạch hóa gia đình, mỗi gia đình chỉ có từ 1 đến 2

con vừa đảm bảo được sức khỏe cho mẹ lại đảm bảo được chất lượng về cuộc sống cho giađình và có điều kiện chăm sóc, dạy bảo các con

Ở Trung Quốc hiện nay tỉ lệ nam giới đang có sự chênh lệch lớn so với nữ giới, vì thếnên nhà nước đang thực hiện chính sách khuyến khích sinh con một bề là con gái Đến năm

2010, tại Trung Quốc, SRB đạt 118 bé trai/100 bé gái, giảm so với 121 ( năm 2008 ), 119( năm 2005 ), 121 ( năm 2004 ) Tỷ số giới tính sẽ vẫn tiếp tục chênh lệch ở mức báo động

119 bé trai trên 100 bé gái vào những năm 2030

=> Vì vậy, tùy theo từng nơi, phụ thuộc vào nhu cầu của xã hội, chức năng này được thực

hiện theo xu hướng hạn chế hay khuyến khích Trình độ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hộiảnh hưởng đến chấtlượng nguồn lực lao động mà gia đình cung cấp

 Chức năng nuôi dưỡng, giáo dục

Bên cạnh chức năng tái sản xuất ra con người, gia đình còn có trách nhiệm nuôidưỡng, dạy dỗ con cái trở thành người có ích cho gia đình, cộng đồng và xã hội Chức năngnày thể hiện tình cảm thiêng liêng, trách nhiệm của cha mẹ với con cái, đồng thời thể hiệntrách nhiệm của gia đình với xã hội Thực hiện chức năng này, gia đình có ý nghĩa rất quantrọng đối với sự hình thành nhân cách, đạo đức, lối sống của mỗi người

Bởi vì, ngay khi sinh ra, trước tiên mỗi người đều chịu sự giáo dục trực tiếp của cha

mẹ và người thân trong gia đình Những hiểu biết đầu tiên, mà gia đinh đem lại thường để lạidấu ấn sâu đậm và bền vững trong cuộc đời mỗi người

=> Vì vậy, gia đình là một môi trường văn hóa, giáo dục, trong môi trưởng này, mỗi

thành viên đều là những chủ thể sáng tạo những giá trị văn hóa, chủ thể giáo dục đồng thời

Trang 7

cũng là những người thụ hưởng giá trị văn hóa, và là khách thể chịu sự giáo dục của cácthành viên khác trong gia đình.

Chức năng nuôi dưỡng, giáo dục có ảnh hưởng lâu dài và toàn diện đến cuộc đời củamỗi thành viên, từ lúc lọt lòng cho đến khi trưởng thành và tuổi già Mỗi thành viên trong giađình đều có vị trí, vai trò nhất định, vừa là chủ thể vừa là khách thể trong việc nuôi dưỡng,giáo dục của gia đình Đây là chức năng hết sức quan trọng, mặc dù, trong xã hội có nhiềucộng đồng khác (nhà trường, các đoàn thể, chính quyền v.v ) cũng thực hiện chức năng này,nhưng không thể thay thế chức năng giáo dục của gia đình Với chức năng này, gia đình gópphần to lớn vào việc đào tạo thế hệ trẻ, thế hệ tương lai của xã hội, cung cấp và nâng caochất lượng nguồn lao động để duy trì sự trường tồn của xã hội, đồng thời mỗi cá nhân từngbước được xã hội hóa Vì vậy, giáo dục của gia đình gắn liền với giáo dục của xã hội Nếugiáo dục của gia đình không gắn với giáo dục của xã hội, mỗi cá nhân sẽ khó khăn khi hòanhập với xã hội, và ngược lại, giáo dục của xã hội sẽ không đạt được hiệu quả cao khi khôngkết hợp với giáo dục của gia đình, không lấy giáo dục của gia đình là nền tảng Do vậy, cầntránh khuynh hướng coi trọng giáo dục gia đình mà hạ thấp giáo dục của xã hội hoặc ngượclại Bởi cả hai khuynh hướng hướng ấy, mỗi cá nhân đều không phát triển toàn diện Thựchiện tốt chức năng nuôi dưỡng, giáo dục, đòi hỏi mỗi người làm cha, làm mẹ phải có kiếnthức cơ bản, tươmg đối toàn diện về mọi mặt, văn hóa, học vấn, đặc biệt là phương phápgiáo dục

Việt Nam là một quốc gia mang đậm nét đẹp truyền thống về đạo đức và lối sốngthuần phong mĩ tục, vì thế nội dung giáo dục của gia đình cũng phải chú ý đến việc giáo dụctoàn diện cả về phẩm chất đạo đức, kinh nghiệm, lối sống, ý thức, cung cách cư xử trongcuộc sống và giáo dục cả về tri thức…

Chức năng giáo dục của gia đình chịu tác động trực tiếp của các yếu tố khách quan vàchủ quan Sự thay đổi lớn trong các chính sách kinh tế xã hội, những biến đổi trong lĩnh vựcvăn hóa, thông tin, lối sống, sự thiếu hụt kinh nghiệm, ý thức dạy con trong những gia đìnhtrẻ… đó là những yếu tố ảnh hưởng đến chức năng giáo dục của gia đình

Để chức năng này được thực hiện một cách có hiệu quả thì gia đình phải có phươngpháp giáo dục, răn đe một cách đúng đắn Ai sai thì nhận sai và sửa chữa chứ đừng vì cái tôi,cái sĩ diện và tính bảo thủ của mình mà cố chấp không thay đổi Có nhiều gia đình dạy dỗcon cái bằng những trận đòn roi, những cái bạt tai đến tối mặt mũi Liệu đó có phải là biệnpháp hiệu quả? Những biện pháp ấy chẳng những không đem lại tác dụng gì mà càng khiếncon cái trở nên chai lì, tâm lí tiêu cực và mất đi tình cảm thân thiết, niềm tin vào nhữngngười trong cùng một mái nhà

Thay bằng những trận đòn roi đến nhừ người thì những bậc cha mẹ nên dạy dỗ, chỉbảo con cái mình nhẹ nhàng, phân tích rõ đúng sai để con trẻ hiểu Hơn nữa những bậc cha

mẹ, ông bà nên là một tâm gương để thế hệ trẻ noi theo Các thành viên trong gia đình sốngthuận hòa, vui vẻ, cùng nhau chia sẻ những khó khăn trong cuộc sống

Lại có nhiều những gia đình cha mẹ mãi lo kiếm tiền mà không biết hài hòa giữa vậtchất và tinh thần nên không có thời gian quan tâm sát sao đến con cái khiến chúng trở nênsống buông thả, bị cám dỗ vào những tệ nạn xã hội, có những hành vi đi ngược lại với thuầnphong mĩ tục và truyền thống đạo đức của dân tộc…

Tuy việc giáo dục ở gia đình chỉ là một khía cạnh nhưng đó vẫn là cái gốc, con người

sẽ trở nên hoàn thiện hơn khi có sự kết hợp giáo dục cả ở gia đình, nhà trường, xã hội và hơnnữa là ý thức tự giác tu dưỡng rèn luyện từ phía mỗi người…

 Chức năng kinh tế và tổ chức tiêu dùng

Trang 8

Cũng như các đơn vị kinh tế khác, gia đình tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất

và tái sản sản xuất ra tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng Tuy nhiên, đặc thù của gia đình màcác đơn vị kinh tế khác không có được, là ở chỗ, gia đình là đơn vị duy nhất tham gia vàoquá trình sản xuất và tái sản xuất ra sức lao động cho xã hội

Gia đình không chỉ tham gia trực tiếp vào sản xuất và tái sản xuất ra của cải vật chất

và sức lao động, mà còn là một đơn vị tiêu dùng trong xã hội Gia đình thực hiện chức năng

tổ chức tiêu dùng hàng hóa để duy trì đời sống của gia đình về lao động sản xuất cũng nhưcác sinh hoạt trong gia đình Đó là việc sử dụng hợp lý các khoản thu nhập của các thànhviên trong gia đình vào việc đảm bảo đời sống vật chất và tinh thần của mỗi thành viên cùngvới việc sử dụng quỹ thời gian nhàn rỗi để tạo ra một môi trường văn hóa lành mạnh tronggia đình, nhằm nâng cao sức khỏe, đồng thời để duy trì sở thích, sắc thái riêng của mỗingười

Cùng với sự phát triển của xã hội, ở các hình thức gia đình khác nhau và ngay cả ởmột hình thức gia đình, nhưng tùy theo từng giai đoạn phát triển của xã hội, chức năng kinh

tế của gia đình có sự khác nhau, về quy mô sản xuất, sở hữu tư liệu sản xuất và cách thức tổchức sân xuất và phân phối Vị trí, vai trò của kinh tế gia đình và mối quan hệ của kinh tế giađình với các đơn vị kinh tế khác trong xã hội cũng không hoàn toàn giống nhau

Thực hiện chức năng này, gia đình đảm bảo nguồn sinh sống, đáp ứng nhu cầu vậtchất, tinh thần của các thành viên trong gia đình Hiệu quả hoạt động kinh tế của gia đìnhquyết định hiệu quả đời sống vật chất và tỉnh thần của mỗi thành viên gia đình Đồng thời,gia đình đóng góp vào quá trình sản xuất và tái sản xuất ra của cải, sự giàu có của xã hội Giađình có thể phát huy một cách có hiệu quả mọi tiềm năng của mình về vốn, về sức lao động,tay nghề của người lao động, tăng nguồn của cải vật chất cho gia đình và xã hội Thực hiệntốt chức năng này, không những tạo cho gia đình có cơ sở để tổ chức tốt đời sống, nuôi dạycon cái, mà còn đóng góp to lớn đối với sự phát triển của xã hội

Để có kinh tế của mỗi gia đình ngày càng được cải thiện và nâng cao, ngoài nhữngthành viên đang còn ở độ tuổi trẻ em thì những thành viên đang ở độ tuổi lao động cần cómột công việc, một mức thu nhập ổn định Ngoài ra còn cần có nguồn thu nhập thêm để cóthêm nguồn thu chi trả cho những chi phí lặt vặt hàng ngày

Ví dụ: Giáo viên có thể nhận dạy lớp học thêm, công nhân có thể nhận thêm sản phẩm

làm ngoài giờ, những người nông dân thì có thể tăng gia chăn nuôi, tranh thủ buổi tối bệnchổi rơm, đan giậu,… Mỗi gia đình cần luôn có ý thức phấn đấu làm giàu và làm giàu mộtcách chính đáng, đồng thời biết cách hài hòa giữa đời sống vật chất và tinh thần Bên cạnh

đó xã hội cũng cần phải có trách nhiệm chăm lo chung cho mọi gia đình bằng cách phát triểnkinh tế, văn hóa có như vậy thì chức năng kinh tế của gia đình mới có thể hoàn thiện được

 Chức năng thỏa mãn nhu cầu tâm sinh lý, duy trì tình cảm gia đình

Đây là chức năng thường xuyên của gia đình, bao gồm việc thỏa mãn nhu cầu tìnhcảm, văn hóa, tỉnh thần cho các thành viên, đảm bảo sự cân bằng tâm lý, bảo vệ chăm sócsức khỏe người ốm, người già, trẻ em Sự quan tâm, chăm sóc lẫn nhau giữa các thành viêntrong gia đình vừa là nhu cầu tinh cảm vừa là trách nhiệm, đạo lý, lương tâm của mỗi người

Do vậy, gia đình là chỗ dựa tình cảm cho mỗi cá nhân, là nơi nương tựa về mặt tinh thần chứkhông chỉ là nơi nương tựa về vật chất của con người.Với việc duy trì tình cảm giữa cácthành viên, gia đình có ý nghĩa quyết định đến sự ổn định và phát triển của xã hội Khi quan

hệ tình cảm gia đình rạn nứt, quan hệ tình cảm trong xã hội cũng có nguy cơ bị phá vỡ

Ngoài những chức năng trên, gia đình còn có chức năng văn hóa, chức năng chính trị Với chức năng văn hóa, gia đình là nơi lưu giữ truyền thống văn hóa của dân tộc cũng như

Trang 9

tộc người Những phong tục, tập quán, sinh hoạt văn hóa của cộng đồng được thực hiệntrong gia đình Gia đình không chỉ là nơi lưu giữ mà còn là nơi sáng tạo và thụ hưởng nhữnggiá trị văn hóa của xã hội Với chức năng chính trị, gia đình là một tổ chức chính trị của xãhội, là nơi tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật của nhà nước và quy chế (hương ước) củalàng xã và hưởng lợi từ hệ thống pháp luật, chính sách và quy chế đó Gia đình là cầu nối củamối quan hệ giữa nhà nước với công dân.

III Cơ sở xây dựng gia đình trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội

1 Cơ sở kinh tế - xã hội

Cơ sở kinh tế - xã hội để xây dựng gia đình trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội

là sự phát triển của lực lượng sản xuất và tương ứng trình độ của lực lượng sản xuất là quan

hệ sản xuất mới, xã hội chủ nghĩa Cốt lõi của quan hệ sản xuất mới ấy là chế độ sở hữu xãhội chủ nghĩa đối với tư liệu sản xuất từng bước hình thành và củng cố thay thế chế độ sởhữu tư nhân về tư liệu sản xuất Nguồn gốc của sự áp bức bóc lột và bất bình đẳng trong xãhội và gia đình dần dần bị xóa bỏ, tạo cơ sở kinh tế cho việc xây dựng quan hệ bình đẳngtrong gia đình và giải phóng phụ nữ trong trong xã hội

V.I.Lênnin đã viết: “ Bước thứ hai và là bước chủ yếu là thủ tiêu chế độ tư hữu

vềruộng đất, công xưởng và nhà máy Chính như thế và chỉ có như thế mới mở được conđường giải phóng hoàn toàn và thật sự cho phụ nữ, mới thủ tiêu được “chế độ nô lệ gia đình" nhờ có việc thay thế nền kinh tế gia đình cá thể bằng nền kinh tế xã hội hóa quy mô lớn! "

Xóa bỏ chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất là xóa bỏ nguồn gốc gây nên tình trạngthống trị của người đàn ông trong gia đình, sự bất bình đẳng giữa nam và nữ, giữa vợ vàchồng, sự nô dịch đối với phụ nữ Bởi vì sự thống trị của người đàn ông trong gia đình là kếtquả sự thống trị của họ về kinh tế, sự thống trị đó tự nó sẽ tiêu tan khi sự thống trị về kinh tếcủa đàn ông không còn

Xóa bỏ chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất đồng thời cũng là cơ sở để biến lao động tưnhân trong gia đình thành lao động xã hội trực tiếp, người phụ nữ dù tham gia lao động xãhội hay tham gia lao động gia đình thì lao động của họ đóng góp cho sự vận động và phát

triển, tiến bộ của xã hội Như Ph.Ăngghen đã nhấn mạnh: “ Tư liệu sản xuất chuyển thành

tài sản chung, thì gia đình cá thể sẽ không còn là đơn vị kinh tế của xã hội nữa Nền kinh

tế tư nhân biến thành một ngành lao động xã hội Việc nuôi dạy con cái trở thành công việc của xã hội ".

Do vậy, phụ nữ có địa vị bình đẳng với đàn ông trong xã hội Xóa bỏ chế độ tư hữu

về tư liệu sản xuất cũng là cơ sở làm cho hôn nhân được thực hiện dựa trên cơ sở tình yêuchứ không phải vì lý do kinh tế, địa vị xã hội hay một sự tính toán nào khác

2 Cơ sở chính trị - xã hội

Cơ sở chính trị để xây dựng gia đình trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là việcthiết lập chính quyền nhà nước của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, nhà nước xãhội chủ nghĩa Trong đó, lần đầu tiên trong lịch sử, nhân dân lao động được thực hiện quyềnlực của mình không có sự phân biệt giữa nam và nữ Nhà nước cũng chính là công cụ xóa bỏnhững luật lệ cũ kỹ, lạc hậu, đè nặng lên vai người phụ nữ đồng thời thực hiện việc giải

phóng phụ nữ và bảo vệ hạnh phúc gia đình Như V.I.Lênin đã khẳng định: “ Chính quyền

xô viết là chính quyền đầu tiên và duy nhất trên thế giới đã hoàn toàn thủ tiêu tất cả pháp luật cũ kỹ, tư sản, đê tiện, những pháp luật đó đặt người phụ nữ vào tình trạng không

Trang 10

bình đẳng với nam giới, đã dành đặc quyền cho nam giới Chính quyền xô viết, một chính quyền của nhân dân lao động, chính quyền đầu tiên và duy nhất trên thế giớ đã hủy bỏ tất cả những đặc quyền gắn liền với chế độ tư hữu, những đặc quyền của người đàn ông trong gia đình ”

Nhà nước xã hội chủ nghĩa với tính cách là cơ sở của việc xây dựng gia đình trongthời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, thể hiện rõ nét nhất ở vai trò của hệ thống pháp luật,trong đó có Luật Hôn nhân và Gia đình cùng với hệ thống chính sách xã hội đảm bảo lợi íchcủa công dân, các thành viên trong gia đình, đảm bảo sự bình đẳng giới, chính sách dân số,việc làm, y tế, bảo hiểm xã hội Hệ thống pháp luật và chính sách xã hội đó vừa định hướngvừa thúc đẩy quá trình hình thành gia đình mới trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội.Chừng nào và ở đâu, hệ thống chính sách, pháp luật chưa hoàn thiện thì việc xây dựng giađình và đảm bảo hạnh phúc gia đình còn hạn chế

3 Cở sở văn hóa

Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, cùng với những biến đổi căn bản trong đờisống chính trị, kinh tế, thì đời sống văn hóa, tinh thần cũng không ngừng biến đổi Nhữnggiá trị văn hóa được xây dựng trên nền tảng hệ tư tưởng chính trị của giai cấp công nhântừng bước hình thành và dần dần giữ vai trò chi phối nền tảng văn hóa, tỉnh thần của xã hội,đồng thời những yếu tố văn hóa, phong tục tập quán, lối sống lạc hậu do xã hội cũ để lại từngbước bị loại bỏ

Sự phát triển hệ thống giáo dục, đào tạo, khoa học và công nghệ góp phần nâng caotrình độ dân trí, kiến thức khoa học và công nghệ của xã hội, đồng thời cũng cung cấp chocác thành viên trong gia đình kiến thức, nhận thức mới, làm nền tảng cho sự hình thànhnhững giá trị, chuẩn mực mới, điều chỉnh các mối quan hệ gia đình trong quá trình xây dựngchủ nghĩa xã hội

Thiếu đi cơ sở văn hóa, hoặc cơ sở văn hóa không đi liền với cơ sở kinh tế, chínhtrị, thì việc xây dựng gia đình sẽ lệch lạc, không đạt hiệu quả cao

4 Chế độ hôn nhân tiến bộ

 Hôn nhân tự nguyện

Hôn nhân tiến bộ là hôn nhân xuất phát từ tình yêu giữa nam và nữ Tình yêu là khátvọng của con người trong mọi thời đại Chừng nào, hôn nhân không được xây dựng trên cơ

sở tình yêu thì chừng đó, trong hôn nhân, tình yêu, hạnh phúc gia đình sẽ bị hạn chế

Hôn nhân xuất phát từ tình yêu tất yếu dẫn đến hôn nhân tự nguyện Đây là bước phát

triển tất yếu của tỉnh yêu nam nữ, như Ph.Ăngghen nhấn mạnh: “ nếu nghĩa vụ của vợ và

chồng là phải thương yêu nhau thì nghĩa vụ của những kẻ yêu nhau há chẳng phải là kết hôn với nhau và không được kết hôn với người khác "

Hôn nhân tự nguyện là đảm bảo cho nam nữ có quyền tự do trong việc lựa chọn ngườikết hôn, không chấp nhận sự áp đặt của cha mẹ Tất nhiên, hôn nhân tự nguyện không bác bỏviệc cha mẹ quan tâm, hướng đẫn giúp đỡ con cái có nhận thức đúng, có trách nhiệm trongviệc kết hôn

Hôn nhân tiến bộ còn bao hàm cả quyền tự do ly hôn khi tình yêu giữa nam và nữ

không còn nữa Ph.Ăngghen viết: “ Nếu chỉ riêng hôn nhân dựa trên cơ sở tình yêu mới

hợp đạo đức thì cũng chỉ riêng hôn nhân trong đó tình yêu được duy trì, mới là hợp đạo đức mà thôi và nếu tình yêu đã hoàn toàn phai nhạt hoặc bị một tình yêu say đắm mới át đi, thì ly hôn sẽ là điều hay cho cả đôi bên cũng như cho xã hội "

Trang 11

Tuy nhiên, hôn nhân tiến bộ không khuyến khích việc ly hôn, vì ly hôn để lại hậu quảnhất định cho xã hội, cho cả vợ, chông và đặc biệt là con cái Vì vậy, cần ngăn chặn nhữngtrường hợp nông nổi khi ly hôn, ngăn chặn hiện tượng lợi dụng quyền ly hôn và những lý doích kỷ hoặc vì mục đích vụ lợi.

 Hôn nhân một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng

Bản chất của tỉnh yêu là không thể chia sẻ được, nên hôn nhân một vợ một chồng làkết quả tất yếu của hôn nhân xuất phát từ tình yêu Thực hiện hôn nhân một vợ một chồng làđiều kiện đảm bảo hạnh phúc gia đình, đồng thời cũng phù hợp với quy luật tự nhiên, phùhợp với tâm lý tình cảm và đạo đức của con người

Hôn nhân một vợ một chồng đã xuất hiện từ sớm trong lịch sử xã hội loài người, khi

có sự thắng lợi của chế độ tư hữu đối với chế độ công hữu nguyên thủy Tuy nhiên, trong các

xã hội trước, hôn nhân một vợ một chồng thực chất chỉ đối với người phụ nữ “ Chế độ một

vợ một chồng sinh ra tự sự tập trung nhiều của cải vào tay một người - vào tay người đànông, và từ nguyện vọng chuyển của cải ấy lại cho con cái của người đàn ông ấy, chứ khôngphải của người nào khác Vì thế, cần phải có chế độ một vợ một chồng về phía người vợ, chứkhông phải về phía người chồng ”

Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, thực hiện chế độ hôn nhân một vợ mộtchồng là thực hiện sự giải phóng đối với phụ nữ, thực hiện sự bình đẳng, tôn trọng lẫn nhaugiữa vợ và chồng Trong đó vợ và chồng đều có quyền lợi và nghĩa vụ ngang nhau về mọivấn đề của cuộc sống gia đình Vợ và chồng được tự do lựa chọn những vấn đề riêng, chínhđáng như nghề nghiệp, công tác xã hội, học tập và một số nhu cầu khác v.v Đồng thời cũng

có sự thống nhất trong việc giải quyết những vấn đề chung của gia đình như ăn, ở, nuôi dạycon cái nhằm xây dựng gia đình hạnh phúc

Quan hệ vợ chồng bình đẳng là cơ sở cho sự bình đẳng trong quan hệ giữa cha xu thế

mẹ với con cái và quan hệ giữa anh chị em với nhau Nếu như cha mẹ có nghĩa vụ yêuthương con cái, ngược lại, con cái cũng có nghĩa vụ biết ơn, kính trọng, nghe lời đạy bảo củacha mẹ Tuy nhiên, quan hệ giữa cha mẹ và con cái, giữa anh chị em sẽ có những mâu thuẫnkhông thể tránh khỏi do sự chênh lệch tuổi tác, nhu cầu, sở thích riêng của mỗi người Dovậy, giải quyết mâu thuẫn trong gia đình là vấn đề cần được mọi người quan tâm, chia sẻ

Ví dụ: Một trong những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình được quy định

tại khoản 1 Điều 2 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 là “ Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ,

một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng ”.

Để bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình, một trong những hành vi bị pháp luật nghiêmcấm được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 5 của Luật này là “nời đang có vợ, có chồng màkết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng màkết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ”

Theo luật Hôn nhân và gia đình Khoản 1 Điều 59 Nghị định số 82/2020/NĐ-CP ngày15/7/2020 của Chính phủ quy định phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối vớimột trong các hành vi sau:

Trang 12

a) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác, chưa có vợ hoặc chưa

có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;

b) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác; c) Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình

biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;

d) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con

nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế vớicon riêng của chồng;

e) Cản trở kết hôn, yêu sách của cải trong kết hôn hoặc cản trở ly hôn.

Thậm chí, nếu tính chất, mức độ và hậu quả xảy ra lớn, họ còn có thể phải chịu trách

nhiệm hình sự về Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng, được quy định tại Điều 182 Bộ

luật Hình sự năm 2015 như sau:

1 Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với

người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợchồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ thuộc một trong các trường hợpsau đây, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03tháng đến 01 năm:

a) Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn

b) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm

2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03

năm:

a) Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát;

b) Đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung

sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó

 Hôn nhân được đảm bảo về pháp lý

Quan hệ hôn nhân, gia đình thực chất không phải là vấn đề riêng tư của mỗi gia đình

mà là quan hệ xã hội Tình yêu giữa nam và nữ là vấn đề riêng của mỗi người, xã hội khôngcan thiệp, nhưng khi hai người đã thỏa thuận để đi đến kết hôn, tức là đã đưa quan hệ riêngbước vào quan hệ xã hội, thì phải có sự thừa nhận của xã hội, điều đó được biểu hiện bằngthủ tục pháp lý trong hôn nhân

Thực hiện thủ tục pháp lý trong hôn nhân, là thể hiện sự tôn trọng trong tình tình yêu,trách nhiệm giữa nam và nữ, trách nhiệm của cá nhân với gia đình và xã hội và ngược lại.Đây cũng là biện pháp ngăn chặn những cá nhân lợi dụng quyền tự do kết hôn, tự do ly hôn

để thảo mãn những nhu cầu không chính đáng, để bảo vệ hạnh phúc của cá nhân và gia đình.Thực hiện thủ tục pháp lý trong hôn nhân không ngăn cản quyền tự do kết hôn và tự do lỵhôn chính đáng, mà ngược lại, là cơ sở để thực hiện những quyền đó một cách đầy đủ nhất

Ví dụ: Trích lục Luật Hôn nhân và gia đình quy định:

Trang 13

b) Đang mắc bệnh tâm thần không có khả năng nhận thức hành vi của mình; đang mắc

bệnh hoa liễu

c) Giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa anh chị em cùng cha mẹ, cùng

cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha; giữa những người khác có họ trong phạm vi ba đời;

d) Giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi.

Việc kết hôn vi phạm một trong các Điều 5, 6, 7 của Luật này là trái pháp luật

Một hoặc hai bên đã kết hôn trái pháp luật, vợ, chồng hoặc con của người đang có vợ,

có chồng mà kết hôn với người khác, Viện kiểm sát nhân dân, Hội Liên hiệp Phụ nữ ViệtNam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Công đoàn Việt Nam có quyền yêu cầu Toà

án nhân dân huỷ việc kết hôn trái pháp luật

Tài sản của những người mà hôn nhân bị huỷ được giải quyết theo nguyên tắc: tài sảnriêng của ai thì vẫn thuộc quyền sở hữu của người ấy; tài sản chung được chia căn cứ vàocông sức đóng góp của mỗi bên; quyền lợi chính đáng của bên bị lừa dối hoặc bị cưỡng épkết hôn được bảo vệ

Quyền lợi của con được giải quyết như trong trường hợp cha mẹ ly hôn

IV Xu thế toàn cầu hoá và cuộc cách mạng Công nghiệp 4.0

1 Toàn cầu hoá

a) Khái niệm:

Toàn cầu hóa là khái niệm dùng để miêu tả các thay đổi trong xã hội và trong nền kinh

tế thế giới, tạo ra bởi mối liên kết và trao đổi ngày càng tăng giữa các quốc gia, các tổ chứchay các cá nhân ở góc độ văn hóa, kinh tế trên quy mô toàn cầu Đặc biệt trong phạm vikinh tế, toàn cầu hoá hầu như được dùng để chỉ các tác động của thương mại nói chung và tự

do hóa thương mại hay " tự do thương mại " nói riêng Cũng ở góc độ kinh tế, người ta chỉthấy các dòng chảy tư bản ở quy mô toàn cầu kéo theo các dòng chảy thương mại, kỹ thuật,công nghệ, thông tin, văn hóa

Xét về bản chất, toàn cầu hoá là quá trình tăng lên mạnh mẽ những mối liên hệ, nhữngảnh hưởng tác động lẫn nhau, phụ thuộc lẫn nhau của tất cả các khu vực, các quốc gia, cácdân tộc trên thế giới

từ vùng khí hậu này sang vùng khí hậu khác (chẳng hạn như khoai tây, cà chua và thuốc lá)

Do có hai khía cạnh kỹ thuật và chính trị, " toàn cầu hoá " sẽ có nhiều lịch sử khácnhau Thông thường trong phạm vi của môn kinh tế học và kinh tế chính trị học, toàn cầu

Trang 14

hoá chỉ là lịch sử của việc trao đổi thương mại không ngừng giữa các nước dựa trên những

cơ sở ổn định cho phép các cá nhân và công ty trao đổi hàng hoá với nhau một cách trơn trunhất

Thuật ngữ "tự do hoá" xuất hiện để chỉ sự kết hợp của học thuyết kinh tế về thị trường

tự do tuyệt đối và sự hủy bỏ các rào cản đối với việc lưu thông hàng hoá Điều này dẫn tới sựchuyên môn hoá không ngừng của các nước trong lĩnh vực xuất khẩu, cũng như tạo ra áp lựcchấm dứt hàng rào thuế quan bảo hộ và các rào cản khác Thời kỳ bắt đầu dùng vàng làmtiêu chuẩn của hệ thống tiền tệ (bản vị vàng) và tự do hoá trong thế kỷ thứ XIX thường đượcchính thức gọi là "thời kỳ đầu của toàn cầu hoá" Cùng với thời kỳ bành trướng của đế quốcAnh (Pax Britannica) và việc trao đổi hàng hoá bằng các loại tiền tệ có sử dụng tiền xu, thời

kỳ này là cùng với giai đoạn công nghiệp hoá Cơ sở lý thuyết là công trình của DavidRicardo nói về lợi thế so sánh và luật cân bằng chung của Jean-Baptiste Say, cho rằng, về cơbản các nước sẽ trao đổi thương mại một cách hiệu quả, và bất kỳ những bất ổn tạm thời vềcung hay cầu cũng sẽ tự động được điều chỉnh Việc thiết lập bản vị vàng bắt đầu ở các nướccông nghiệp hoá chính khoảng giữa năm 1850 và năm 1880, mặc dù chính xác khi nào cácnước này áp dụng bản vị vàng vẫn còn là đề tài gây nhiều tranh cãi

" Thời kỳ đầu của toàn cầu hoá " rơi vào thoái trào khi bắt đầu bước vào Chiến tranhthế giới lần thứ nhất, và sau đó sụp đổ hẳn khi xảy ra khủng hoảng bản vị vàng vào cuốinhững năm 1920 và đầu những năm 1930

Trong môi trường hậu Chiến tranh thế giới lần thứ hai, thương mại quốc tế đã tăngtrưởng đột ngột do tác động của các tổ chức kinh tế quốc tế và các chương trình tái kiếnthiết Kể từ Chiến tranh thế giới lần thứ hai, các Vòng đàm phán thương mại do GATT khởixướng, đã đặt lại vấn đề toàn cầu hoá và từ đó dẫn đến một loạt các hiệp định nhằm gỡ bỏcác hạn chế đối với " thương mại tự do " Vòng đàm phán Uruguay đã đề ra hiệp ước thànhlập Tổ chức thương mại thế giới hay WTO, nhằm giải quyết các tranh chấp thương mại Cáchiệp ước thương mại song phương khác, bao gồm một phần của Hiệp ước Maastricht củachâu Âu và Hiệp ước mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA) cũng đã được ký kết nhằm mục tiêugiảm bớt các thuế quan và rào cản thương mại Từ thập kỷ 1970, các tác động của thươngmại quốc tế ngày càng rõ rệt, cả về mặt tích cực lẫn tiêu cực

c) Những biểu hiện chủ yếu của xu thế toàn cầu hóa là:

 Gia tăng thương mại quốc tế với tốc độ cao hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế thế giới, giatăng luồng tư bản quốc tế bao gồm cả đầu tư trực tiếp từ nước ngoài Phát triển các hệthống tài chính quốc tế ( Qũy tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng thế giới (WB), Tổ chứcthương mại thế giới (WTO), Liên minh châu Âu (EU), Hiệp hội các quốc gia ĐNA( ASEAN)

 Gia tăng thị phần thế giới của các tập đoàn đa quốc gia

 Sự phát triển và tác động to lớn của các công ty xuyên quốc gia và sự sáp nhập và hợpnhất các công ty thành những tập đoàn lớn)

 Gia tăng luồng dữ liệu xuyên biên giới thông qua việc sử dụng các công nghệ nhưInternet, các vệ tinh liên lạc và điện thoại,phát triển hạ tầng viễn thông toàn cầu gia tăngviệc đi lại và du lịch quốc tế

 Gia tăng trao đổi văn hoá quốc tế, chẳng hạn như việc xuất khẩu các văn hoá phẩm nhưphim ảnh hay sách báo.Sự tràn lan của chủ nghĩa đa văn hoá và việc cá nhân ngày càng

có xu hướng hướng đến đa dạng văn hoá, mặt khác, làm mất đi tính đa dạng văn hoáthông qua sự đồng hoá, lai tạp hoá, Tây hoá, Mỹ hoá hay Hán hoá của văn hoá

Trang 15

 Toàn cầu hoá cũng tác động đến ý thức con người, khiến con người chú ý hơn đến nhữngvấn đề có ảnh hưởng toàn cầu như vấn đề nóng lên của khí hậu, khủng bố, buôn lậu matuý và vấn đề nâng cao mức sống ở các nước nghèo.

 Làm mờ đi ý niệm chủ quyền quốc gia và biên giới quốc gia thông qua các hiệp ước quốc

tế dẫn đến việc thành lập các tổ chức như WTO và OPEC tuy nhiên góp phần gia tăngvai trò của các tổ chức quốc tế như WTO, WIPO, IMF chuyên xử lý các giao dịch quốctế

 Gia tăng số lượng các tiêu chuẩn áp dụng toàn cầu; v.d luật bản quyền

 Về hàng hoá: giảm hoặc bỏ hẳn các loại thuế quan; xây dựng các khu mậu dịch tự do vớithuế quan thấp hoặc không có.Thúc đẩy thương mại tự do

 Về tư bản: giảm hoặc bỏ hẳn các hình thức kiểm soát tư bản Giảm, bỏ hẳn hay điều hoàviệc trợ cấp cho các doanh nghiệp địa phương

 Thắt chặt vấn đề sở hữu trí tuệ, hoà hợp luật sở hữu trí tuệ giữa các quốc gia, công nhận

sở hữu trí tuệ ở quy mô giữa các nước (Ví dụ: bằng sáng chế do Việt Nam cấp có thể

được Mỹ thừa nhận)

=> Là xu thế khách quan không thể đảo ngược

d) Ảnh hưởng của xu thế toàn cầu hóa:

* Tích cực: Thúc đẩy nhanh chóng sự phát triển và xã hội hóa của lực lượng sản xuất, đưa

lại sự tăng trưởng cao Góp phần chuyển biến cơ cấu kinh tế

* Tiêu cực: Đào sâu hố ngăn cách giàu nghèo và bất công xã hội.Đời sống con người kém

an toàn, tạo ra nguy cơ đánh mất bản sắc dân tộc và độc lập tự chủ của các quốc gia

* Thời cơ :

- Các nước có điều kiện mở rộng giao lưu , hợp tác kinh tế , văn hoá , giáo dục , khoa

học-kỹ thuật , chuyển giao công nghệ , khai thác vốn đầu tư , tiếp thu thành tựu mới của khoa học– kỹ thuật

- Có điều kiện gia nhập các tổ chức quốc tế và khu vực , đẩy nhanh quá trình hội nhập

* Thách thức :

- Hội nhập trong điều kiện dân trí thấp, kinh tế kém phát triển tạo ra áp lực cạnh tranh lớn, khốc liệt đối với các nước đang phát triển

- Giải quyết mối phát triển kinh tế với bảo tồn tài nguyên, môi trường

- Giữ gìn , phát triển văn hoá dân tộc, kết hợp truyền thống với hiện đại

- Toàn cầu hóa vừa là thời cơ, cơ hội lớn cho các nước phát triển mạnh, đồng thời cũng tạo

ra những thách thức lớn đối với các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam, là nếu bỏ lỡthời cơ sẽ tụt hậu nguy hiểm

Rút ra: Toàn cầu hóa vừa là thời cơ, cơ hội lớn cho các nước phát triển mạnh, đồng

thời cũng tạo ra những thách thức lớn đối với các nước đang phát triển Do vậy, “Nắm bắt cơ hội, vượt qua thách thức, phát triển mạnh mẽ trong thời kì mới đó là vấn đề có

ý nghĩa sống còn đối với Đảng và nhân dân ta” Và một hệ quả hết sức quan trọng của

xu thế toàn cầu hoá là cuộc cách mạng công nghệ đã tác động mạnh mẽ đến toàn thế giới

2 Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 ( cách mạng công nghiệp lần thứ 4)

Trang 16

thiệu các hệ thống vật lý không gian mạng Công nghiệp 4.0 cung cấp một cách tiếp cận liênkết và toàn diện hơn cho sản xuất Nó kết nối vật lý với kỹ thuật số và cho phép cộng tác vàtruy cập tốt hơn giữa các bộ phận, đối tác, nhà cung cấp, sản phẩm và con người Côngnghiệp 4.0 trao quyền cho các chủ doanh nghiệp kiểm soát và hiểu rõ hơn mọi khía cạnhhoạt động của họ và cho phép họ tận dụng dữ liệu tức thời để tăng năng suất, cải thiện quytrình và thúc đẩy tăng trưởng.

Nói đơn giản hơn cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là sự kết hợp của công nghệtrong các lĩnh vực vật lý, công nghệ số và sinh học, tạo ra những khả năng sản xuất hoàntoàn mới và có tác động sâu sắc đến đời sống kinh tế, chính trị, xã hội của thế giới

b) Lịch sử

 Cách mạng công nghiệp lần thứ nhất : Cách mạng với động cơ đốt trong: Khoảng thế

kỷ 18 đến đầu thế kỷ 19, xuất phát từ nước Anh, sau đó lan rộng ra toàn thế giới Cácđộng cơ hơi nước là dạng nguyên thủy đầu tiên của cuộc cách mạng 1.0 thời bấy giờ

 Cách mạng công nghiệp lần thứ hai: Cuộc cách mạng động cơ điện: Khoảng những

năm (1871-1914) với sự xuất hiện các ngành; Hóa chất, dầu mỏ, thép, điện lực Các động

cơ đốt trong, động cơ điện là đại diện tiêu biểu của giai đoạn này

 Cách mạng công nghiệp lần thứ ba: Bắt đầu khoảng những năm 1960 với sự xuất hiện

của Internet; máy tính; tự động hóa Cách mạng công nghiệp 3.0 đã thay đổi hầu hết cáchcon người làm việc, giao tiếp và kinh doanh

 Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư: Khái niệm Cách mạng công nghiệp lần thứ tư

được giới thiệu lần đầu tiên bởi một nhóm nhà khoa học người Đức đang phát triển mộtchiến lược kỹ thuật cao cho Chính phủ Đức năm 2011, có thể coi Đức chính là nước khởinguồn cho cuộc cách mạng này Klaus Schwab-chủ tịch điều hành Diễn đàn Kinh tế thếgiới, đã giới thiệu khái niệm này cho nhiều người hơn tại một bài báo năm 2015 đượcxuất bản tại báo Foreign Affairs, “Làm chủ cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư” làchủ đề năm 2016 của Cuộc họp thường niên diễn đàn kinh tế thế giới, ở Davos-Klosters,Thụy Sỹ Ngày 10/10/2016, Diễn đàn Kinh tế Thế giới tuyên bố mở trung tâm Cáchmạng Công nghiệp lần thứ tư ở San Francisco.Cũng trong năm 2016 Schwab xuất bảnsách về Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.Schwab gộp chung những kỹ thuật thế hệ thứ

tư bao gồm phần cứng, phần mềm và sinh học (hệ thống cyber-physical), và nhấn mạnhnhững tiến bộ trong truyền thông và kết nối Schwab cho rằng kỷ nguyên này được đánhdấu bởi những đột phá trong những kỹ thuật nổi bật trong những lĩnh vực như robotics,trí tuệ nhân tạo, công nghệ nano, máy tính lượng tử, công nghệ sinh học, Internet VạnVật, điện toán phân tán, công nghệ không dây thế hệ thứ năm, in 3D, và phương tiện vậntải không người lái

c) Đặc điểm của cuộc cách mạng 4.0

Đặc trưng của Cách mạng công nghiệp 4.0 là sự hội tụ và ứng dụng của các công nghệ

kỹ thuật số mới nổi trong đó, tiêu chuẩn được xem là nền tảng quan trọng nhất

 Một số xu hướng công nghệ trong Cách mạng công nghiệp 4.0 gồm:

 Dữ liệu lớn (Big Data): cho phép phân tích, tính toán để xác định các xu hướng xảy ra.Đồng thời, dữ liệu lớn là điều kiện tiên quyết của:

Trang 17

+ Trí tuệ nhân tạo (Artificial Intelligence, AI).

+ B - Robot tự động (Autonomous Robots): là sự phát triển các máy móc để thay thếcho hoạt động của con người trong các hoạt động liên quan đến tư duy, đa chức năng vàcác kỹ năng vận động tinh xảo

 Điện toán đám mây (Cloud computing): là việc thực hiện việc lưu trữ, quản lý và xử lý

dữ liệu trên Internet thông qua hệ thống các máy chủ từ xa (thay vì việc sử dụng một hệthống các máy chủ cục bộ và máy tính cá nhân)

 Công nghệ in 3D (hay còn gọi là Sản xuất : Additive Manufacturing): là việc sử dụngmột loạt có (dọc biệt là vật liệu sinh học) và phương pháp tiến tiến để thực hiện “in” vậtthể 3 chiều

 Internet kết nối vạn vật (IoT): là việc kết nối, theo dõi và quản lý các sản phẩm, hệthống từ xa thông qua các cảm biến được nối mạng

 Tích hợp hệ thống (System Integration): là việc tích hợp dữ liệu khác nhau của doanhnghiệp dựa trên các tiêu chuẩn truyền dữ liệu

 Mô phỏng (Simulation): là việc tối ưu hóa các mạng giá trị từ các hệ thống thông minhdựa trên dữ liệu theo thời gian thực

 Công nghệ thực tế ảo tăng cường (Augmented Reality): là việc tạo giao diện tương tácgiữa con người và máy tính trong môi trường ảo thông qua nhận diện hình ba chiều và

“thực - ảo”

 An ninh mạng (Cybersecurity): là việc bảo vệ các hệ thống kết nối Internet (bao gồmphần cứng, phần mềm và dữ liệu) khi các cuộc tấn công mạng theo tốc độ phát triển củacông nghệ

 Đặc điểm chính

Các ứng dụng công nghệ mới nêu trên đã góp phần quan trọng hình thành các đặc điểmcủa Cách mạng công nghiệp 4.0 Theo Nghị viện châu Âu (European Parliament), một sốđặc điểm chính của Cách mạng công nghiệp 4.0 bao gồm:

 Tính tương tác: khả năng kết nối, liên lạc và trao đổi thông tin, dữ liệu giữa con người vàcác nhà máy thông minh (Smart Factory) thông qua hệ thống thực - ảo (Cyber-PhysicalSystem, CPS)

 Tính ảo hóa: khả năng tạo một bản sao ảo của nhà máy thông minh (hay còn gọi làDigital twin) trong môi trường mạng thông qua việc liên kết giữa công nghệ thu dữ liệu

từ cảm biến, công nghệ phân tích dữ liệu và công nghệ mô phỏng

 Tính phân cấp: khả năng hệ thống thực = ảo thực hiện phân cấp trong việc tự đưa ra cácquyết định sản xuất nhờ các công nghệ mới (như công nghệ in 3D, công nghệ AI )

 Tính liên tục: khả năng thu thập, phân tích dữ liệu và cung cấp các kết quả phân tích liêntục, theo thời gian thực

 Tính môđun: khả năng thích ứng “ linh hoạt ” của các nhà máy thông minh để đáp ứng sựthay đổi theo yêu cầu thông qua việc thay thế, bổ sung các môđun độc lập trong dâychuyền sản xuất, kinh doanh

 Tình định hướng dịch vụ: khả năng dự đoán, nhận ra và đáp ứng nhu cầu của thị trường

và người tiêu dùng theo thời gian thực

=> Như vậy, có thể thấy rằng, Cách mạng công nghiệp 4.0 được bắt đầu khi có sự tích

hợp giữa thế giới kỹ thuật số Internet với các quy trình, dịch vụ trong sản xuất truyền thống nhằm tạo ra các giá trị mới có tiềm năng và “thông minh hơn”.

d) Ưu điểm của cuộc cách mạng 4.0

Trang 18

 Thay đổi cơ cấu hệ thống sản xuất

Thay đổi đầu tiên và dễ nhận thấy nhất của cách mạng công nghiệp 4.0 là máy móc sẽthay thế hoàn toàn con người trong khâu sản xuất

Nếu như trong cuộc Cách mạng công nghiệp lần 1, hệ thống tự động hóa chỉ có thểlàm những công việc nặng như khuân vác, lắp ráp những bộ phận lớn, nặng nề thì giờ đây,các robot có thể được lập trình để hoàn thành các công việc đòi hỏi sự tỉ mỉ và khéo léo nhưbàn tay con người

Lúc này, con người chỉ thực hiện những công việc đòi hỏi nhiều sự sáng tạo hoặc cácyếu tố mà trí thông minh nhân tạo chưa đạt được Chúng ta giờ sẽ chỉ lên kế hoạch sản xuất,điều chỉnh chi tiết sản phẩm theo yêu cầu khách hàng, hoặc sáng tạo mẫu mã sản phẩm mới

mà thôi Những việc khác sẽ do máy móc đảm nhận

 Tăng năng suất và hiệu quả lao động

Máy móc hiển nhiên có sức bền cao hơn con người Các robot và máy tính có thể hoạtđộng hàng giờ liên tục không ngừng nghỉ, có thể làm việc trong lúc con người đi ngủ Máymóc cũng có thể làm việc trong các điều kiện khắc nghiệt như nhiệt độ cao hoặc áp suất thấp

Ngoài ra, robot hoạt động vô cùng chính xác theo những gì được lập trình Nhờ vào sựchính xác của hệ thống này, nhà sản xuất có thể kiểm soát mọi chi tiết của sản phẩm Bạn sẽkhông sợ một công nhân nào đó sơ ý làm sản phẩm thiếu hụt hoặc dư thừa các chi tiết, khiếnsản phẩm thất bại và không thể sử dụng được Bạn có thể điều chỉnh chi tiết sản phẩm chophù hợp với nhu cầu của từng khách hàng với sự chính xác đến từng milimet

Quan trọng nhất là bạn sẽ có thể sản xuất hàng loạt những sản phẩm có chất lượngđồng đều và chính xác giống như vậy Đây là điều rất khó thực hiện được bởi sai số do conngười là lớn hơn nhiều

Hơn nữa, trí thông minh nhân tạo phản ứng, xử lý thông tin rất nhanh chóng Một lỗixảy ra trong dây chuyền sản xuất được phát hiện thì các phương án sửa chửa, thay thế sẽngay lập tức được kích hoạt Nếu tồi tệ hơn, cả hệ thống sẽ bị dừng ngay lập tức, đảm bảo íttổn thất và sai sót nhất có thể

Không những vậy, thông qua công nghệ máy học (machine learning), AI có thể quansát và học tập cách làm việc và xử lý vấn đề của con người, từ đó nâng cao hiệu quả của hệthống sản xuất

 Giảm chi phí, tăng lợi nhuận

Khi thay thế nguồn lực con người bằng máy móc và công nghệ, bạn sẽ giảm đượcnhiều chi phí hoạt động và sản xuất, cũng như làm giảm giá thành sản phẩm Một robot cóthể làm được khối lượng công việc của nhiều người cộng lại và làm việc với công suất cao

Và robot cũng mắc ít sai lầm hơn, giảm thiểu tổn thất trong quá trình sản xuất

Ngoài ra, bạn cũng không cần trả các khoản phí bảo hiểm lao động, tiền thường hoặctiền bồi dưỡng lao động Bạn chỉ cần phí duy trì, bảo trì máy móc mà thôi

 Cải thiện môi trường làm việc, tăng cường sức khỏe người lao động

Các công việc nặng nhọc, có thể gây nguy hiểm đến sức khỏe đều được máy móc vàcông nghệ đảm nhiệm hết Sẽ không còn những tai nạn lao động, những câu chuyện rơi nướcmắt như khi anh công nhân bị máy cưa cưa đứt cả bàn tay

Trang 19

Máy móc cũng sẽ thay thế con người làm việc trong các điều kiện bất lợi như nhiệt độcao hoặc địa hình hiểm trở Điển hình như việc dọn dẹp các khu hóa chất độc hại hay nhữngnơi nhiễm phóng xạ Đây là những công việc vô cùng nguy hiểm mà đến nay con người vẫnphải tự tay làm.

Ngoài ra, hệ thống làm việc mới với tự động hóa, trí tuệ nhân tạo, trợ lý ảo… sẽ khiếnmôi trường làm việc thêm thú vị Con người không cần phải làm những việc tay chân nhàmchán, ngày qua ngày cũng không có gì mới Chúng ta sẽ có nhiều hoạt động sáng tạo hơntrong tâm thế thoải mái hơn Và với sự giúp sức của công nghệ, ta có thể hoàn thành cáccông việc một cách nhanh chóng và tiện lợi

Với các công ty, doanh nghiệp, họ có thể ứng dụng các công nghệ số hiện đại để cảithiện hiệu suất làm việc và quản lý Ví như việc liên lạc giữa các phòng ban với nhau khi xưachỉ bằng cách nói chuyện trực tiếp hoặc điện đàm, thì ngày nay có thể thông qua các phầnmềm chat nhóm Hoặc có thể sử dụng các công nghệ quản lý khác để thúc đẩy hiệu suất làmviệc của nhân viên

 Nâng cao chất lượng cuộc sống

Lợi ích thiết thực nhất của cách mạng công nghiệp 4.0 là giá thành sản phẩm sẽ đượcgiảm xuống do chi phí sản xuất đã bớt đi Trong bối cảnh vật giá leo thang ngày nay thì đâyquả là một lợi ích vô giá, giúp cải thiện chất lượng cuộc sống cho mỗi người dân

Hơn nữa, nhờ vào hệ thống sản xuất công nghệ cao và chính xác, chất lượng hàng hóa

sẽ được đảm bảo Mỗi một đôi giày sẽ không có bất cứ khác biệt gì với các đôi cùng sizekhác trong cùng một lô Bạn sẽ ít gặp phải trường hợp 2 món hàng giống nhau nhưng có chấtlượng khác biệt nữa, trừ khi bạn mua nhầm hàng nhái!

Thậm chí nhờ vào công nghệ in 3D, bạn sẽ có được sản phẩm theo bất kỳ hình thù gìbạn muốn Trong tương lai sẽ có nhiều sản phẩm độc đáo mà không ai nghĩ sẽ trở thành hiệnthực được

Ngoài ra, một yếu tố chính của cách mạng công nghiệp 4.0 đã được nhắc tới chính làInternet kết nối vạn vật (IoT) IoT chính là sử dụng nền tảng khoa học công nghệ, sử dụngphần mềm để kết nối tất cả mọi thứ trong cuộc sống Công nghệ này giúp chúng ta sử dụngcác dịch vụ hàng ngày theo cách mới, tốt hơn và tiện lợn hơn

Trong tương lai, có thể chúng ta đều sẽ ở trong những ngôi nhà thông minh(smarthome) với khả năng điều khiển mọi thứ trong nhà bằng smartphone Từ bật ti-vi, điềuhòa, hay thậm chí là mở cổng, bạn cũng không cần trực tiếp thực hiện mà chỉ cần bấm mộtvài nút trên điện thoại thông minh của mình Thời gian tiết kiệm được có thể được dùng vàinhững việc bổ ích hơn, hoặc công việc đang dang dở sẽ không bị ảnh hưởng

Hiện tại, smarthome không phải là quá phổ biến, nhưng có vài ứng dụng IoT khác đãtrở nên vô cùng quen thuộc đối với chúng ta Không ai không biết đến Uber, Grab, và dầndần đã quen thuộc với việc gọi xe qua phần mềm này hơn là điện thoại gọi taxi truyền thống.Hoặc là Foody và dịch vụ Now - Delivery order giúp bạn dễ dàng gọi món và thưởng thứctại nhà Một ví dụ dễ thấy hơn nữa là giờ đây, người ta cũng quen với việc trả tiền bằng thẻ

và ví điện tử thay vì tiền giấy rườm rà, phiền phức

e) Khuyết điểm của cuộc cách mạng 4.0

Cùng với những lợi ích, cách mạng công nghiệp 4.0 cũng mang theo không ít hậu quả,một vài trong số chúng có ảnh hưởng rất rộng lớn và khôn lường

 Phá vỡ cấu trúc thị trường lao động, khiến hàng triệu người mất việc

Trang 20

Như đã nói, lao động tay chân sẽ từng bước bị thay thế hoàn toàn bởi công nghệ vàrobot Ngay đến cả những công việc tỉ mỉ, phức tạp nhất thì robot vẫn có thể làm được Vìvậy mà sẽ có rất nhiều lao động mất việc làm, bị cướp miếng ăn Quan trọng hơn, tình trạngnày không diễn ra ở một nhà máy cụ thể nào mà là trên quy mô toàn quốc, toàn thế giới.

Hơn nữa, số lượng công việc con người có thể làm sẽ bị giới hạn lại, chỉ còn lại nhữngviệc có yêu cầu chất lượng khắt khe Đó là những công việc sáng tạo, tốn nhiều chất xám, tưduy và kiến thức Lao động trình độ thấp hoặc không được đào tạo kỹ lưỡng sẽ không cònchỗ đứng trong xã hội nữa

 Nguy cơ bảo mật cá nhân

Để trí tuệ nhân tạo hoạt động tốt nhất, nó cần thu thập dữ liệu người dùng nhiều nhất

có thể Chưa kể đến những lĩnh vực như điện toán đám mây (cloud computing), big data, nóichung là mọi lĩnh vực đều cần đến dữ liệu người dùng

Thông tin cá nhân của chúng ta ngày càng có giá trị, vì thế sẽ trở thành mục tiêu chobọn tin tặc, hacker, và thậm chí là khủng bố Chúng sẽ dùng mọi cách để tấn công các máychủ chứa dữ liệu hoặc máy tính cá nhân của chúng ta để chiếm lấy các dữ liệu đó Vì thếtrong thời kỳ, cách mạng công nghiệp 4.0 con người sẽ đối mặt với nguy cơ bảo mật dữ liệu

cá nhân vô cùng lớn

 Nguy cơ bị hacker can thiệp vào hệ thống sản xuất, điều hành

Cách mạng công nghiệp 4.0 sử dùng công nghệ để kết nối mọi thứ, đây cũng chính làđiểm yếu dễ bị khai thác nhất Các hacker có thể tấn công vào phần mềm, mạng lưới quản lý

để can thiệp vào hệ thống sản xuất Thậm chí chúng có thể chiếm quyền điều khiển cả hệthống công ty, doanh nghiệp trước sự bất lực của chúng ta

Ngoài ra, nếu chính phủ các nước không nắm bắt được tình hình, thay đổi các chính sách

hỗ trợ doanh nghiệp chuyển mình trong thời kỳ cách mạng công nghiệp 4.0, có thể dẫn đến

sự bất công Các doanh nghiệp không thể phát triển được, không kiếm được tiền và dẫn đếnphá sản Từ đó, đất nước cũng mất đi nguồn lực kinh tế, tụt hậu và nghèo nàn

=> Kỹ năng và giáo dục của người lao động làm việc trong các quy trình dựa trên công nghiệp 4.0 cần phải được cải thiện Dưới sự thay đổi vượt trội của khoa học công nghệ, con người cũng phải thay đổi liên tục và cập nhật để có thể bắt kịp, hòa nhập vào thời đại.

=> Máy móc tự có những hạn chế Quá phụ thuộc vào các thiết bị công nghệ, máy móc có thể khiến doanh nghiệp sa vào những thiệt hại nghiêm trọng, hơn nữa các doanh nghiệp phải cân nhắc kỹ lưỡng về tài chính bởi vì các chi phí chuyển dịch, thay đổi máy móc sẽ là rất lớn

=> Xu thế cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 đã tạo ra nhiều giá trị to lớn như đã có

tác động trực tiếp và gián tiếp đến các nước phát triển ( Mỹ, Anh, Nhật , ) lẫn các nước đang phát triển như ( Lào, Campuchia, ) và không loại trừ cả Việt Nam

Trang 21

Phần 2: Thực trạng

I Thực trạng của Việt Nam trước tác động của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0

a) Giai đoạn trước khi đổi mới, hội nhập:

 Trước khi thống nhất đất nước:

Quá trình công nghiệp hóa tại Việt Nam bắt đầu từ thời Pháp thuộc Quá trình này tiếntriển chậm Nền công nghiệp Việt Nam nhỏ bé và không hoàn chỉnh với các cơ sở sản xuấtlớn là của tư bản Pháp còn công nghiệp bản địa chỉ gồm những doanh nghiệp nhỏ hoạt độngtrong lãnh vực sản xuất hàng tiêu dùng và các hộ gia đình sản xuất tiểu thủ công nghiệp.Người Pháp xây dựng một số cơ sở công nghiệp khai khoáng, cơ khí, công nghiệp chế biếnnông lâm sản, công nghiệp nhẹ nhưng vẫn chưa hình thành nền tảng công nghiệp hoàn chỉnhtại Việt Nam, trong khi Nhật Bản đã xây dựng khá nhiều cơ sở công nghiệp tại các thuộc địacủa họ như Triều Tiên, Mãn Châu Công nghiệp thời Pháp thuộc đã cung cấp một số sảnphẩm và kỹ thuật mới như: điện, xi măng, diêm, bia, xà phòng, thuốc lá, thuỷ tinh, ô tô, xeđạp, tàu điện, tàu hoả, các sản phẩm cơ khí Một số sản phẩm quen thuộc được sản xuấttheo quy trình mới như nước máy, giấy, vải, thuốc lá Nhờ sự giao thương mà lần đầu tiên,người Việt Nam được biết đến các sản phẩm của phương Tây, như: dầu hỏa và đèn dầu hỏa,thuốc lá điếu, diêm, xà phòng, sữa bò, kính đeo mắt, ô che mưa nắng, giầy dép, kính lắp cửa,các đồ dùng thủy tinh

Nền kinh tế xuất hiện một số kỹ thuật có thể coi là hiện đại vào thời kỳ đó tạo ra mộtnăng suất mới trong sản xuất và đời sống như kỹ thuật khai thác hầm mỏ, kỹ thuật chế biếnlâm sản, tốc độ và chất lượng của giao thông liên lạc, kỹ thuật và chất lượng xây dựng Công nghiệp đã góp phần mở rộng thị trường trong nước và thị trường nước ngoài, một bộphận dân cư trong nước, nhất là dân thành thị làm quen với những sản phẩm hiện đại phươngTây như điện, xà phòng, nước máy, thuốc lá, xi măng… Một số ngành sản xuất cổ truyềnnhư lúa gạo, cà phê, chè, gỗ có khả năng mở rộng sản xuất, để bước đầu vươn ra thị trườngquốc tế Công nghiệp còn tạo ra một đội ngũ công nhân và kỹ thuật viên Việt Nam tiếp thu

kỹ thuật phương Tây

Đường lối công nghiệp hóa đất nước đã được hình thành từ Đại hội III (tháng 9-1960)của Đảng Quá trình công nghiệp hóa của nước ta diễn ra trong bối cảnh tình hình trong nước

và quốc tế luôn diễn biến phức tạp và không thuận chiều Thực hiện công nghiệp hóa được 4năm (1960 – 1964) thì đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh phá hoại ra miền Bắc Đất nước phảitrực tiếp thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược: Miền Bắc vừa chiến đấu chống chiếntranh phá hoại, vừa xây dựng kinh tế, miền Nam thực hiện cách mạng giải phóng dân tộc.Khi đất nước vừa thống nhất (1975), cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội được vài năm thì lạixảy ra chiến tranh biên giới phía bắc, rồi kết thúc cuộc chiến này lại kéo theo sự cấm vận của

Mỹ Như vậy, trước thời kỳ đổi mới, nước ta có khoảng 25 năm tiến hành công nghiệp hóatheo 2 giai đoạn: từ 1960 đến 1975 công nghiệp hóa ở miền Bắc và từ 1975 – 1985 côngnghiệp hóa trên phạm vi cả nước, hai giai đoạn này có mục tiêu, phương hướng rõ rệt

Ở miền Bắc, đặc điểm lớn nhất là từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu tiến thẳnglên chủ nghĩa xã hội không trải qua phát triển chủ nghĩa tư bản, mặt khác, vừa phải xây dựngchủ nghĩa xã hội vừa phải chiến đấu chống Mỹ Điểm xuất phát của Việt Nam khi bước vàothực hiện công nghiệp hoá rất thấp Trong khi phân công lao động chưa phát triển và lựclượng sản xuất còn ở trình độ thấp thì quan hệ sản xuất đã được đẩy lên trình độ tập thể hóa

và quốc doanh hóa là chủ yếu ( đến năm 1960: 85,8% nông dân vào hợp tác xã; 100% hộ tư

Ngày đăng: 17/10/2021, 14:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Phạm Viết Vượng (2000). Giáo dục học. NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Khác
[2] Thái Duy Tuyên (2001). Giáo dục học hiện đại (những nội dung cơ bản). NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Khác
[3] Trần Khánh Đức (2014). Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong thế kỉ XXI. NXB Giáo dục Việt Nam Khác
[4] John Vũ (2016). Giáo dục trong thời đại tri thức. NXB Lao động Khác
[5] Jayendrakumar N. Amin (2016). Redefining the Role of Teachers in the Digital Era. The International Journal of Indian Psychology, Vol 3, Issues 3, No 6, pp. 40-45 Khác
[6] Đặng Quốc Bảo - Lê Thị Phương (2017). Xây dựng xã hội học tập trong thời đại cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Tạp chí Giáo dục, số 412, tr 1-3 Khác
[7] Phan Chí Thành (2018). Cách mạng công nghiệp 4.0 - xu thế phát triển của giáo dục trực tuyến. Tạp chí Giáo dục, số 421, tr 43-46 Khác

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w