Hay nói cách khác: sự tốn tại giá trị thặng dư là một tất yếu khách quan ở Việt Nam, khi mà ở Việt Nam ta đang thực hiện nền kinh tế thị trường nhiều thành phần theo định hướng xã hội c
Trang 1BỘ XÂY DỰNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIẾN TRÚC TPHCM
● Họ và tên sinh viên:
- Phan Anh Huy
Trang 2Lời Mở Đầu
- Sau thời kì kháng chiến kiên cường dành lại độc lập, đất nước ta bước vào thời kì
xây dựng đất nước Đảng và Nhà nước đã dùng mọi tâm huyết cho vấn đề kiến thiết đất nước và hơn hết là vấn đề kinh tế luôn là vấn đề quan tâm hàng đầu Do đã trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm và để lại nhiều bài học sâu sắc do đó Đảng Cộng sản Việt Nam đã chủ trương xây dựng kinh tế trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa Trong giai đoạn trước đây, không riêng gì ở nước ta mà cả các nước khác thuộc hệ thống xã hội chủ nghĩa,người ta đã đồng nhất nền kinh tế thị trường với chủ nghĩa tư bản và phủ nhận kinh tế thị trường và các phạm trù, quy luật kinh tế tồn tại và hoạt động trong nền kinh tế thị trường Nhưng ngày nay, trải qua thực tiễn càng ngày chúng ta càng nhận thức rõ rằng: Kinh tế thị trường không đối lập với chủ nghĩa xã hội, đó là thành tựu của nhân loại, đồng thời nó rất cần thiết cho công cuộc xây dựng phát triển kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội và kế cả khi chủ nghĩa xã hội đã được xây dựng Mà nền kinh tế thị trường thì luôngắn liền với các phạm trù và các quy luật kinh tế của nó, trong đó có phạm trù giá trị
thặng dư Hay nói cách khác: sự tốn tại giá trị thặng dư là một tất yếu khách quan ở Việt
Nam, khi mà ở Việt Nam ta đang thực hiện nền kinh tế thị trường nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa nhưng trong chừng mực nào đó vẫn tồn tại thành kiến với các thành phần kinh tế tư nhân, tư bản, coi các thành phần kinh tế này là bóc lột, nhận thức này không chỉ xảy ra với một số cán bộ đảng viên làm công tác quản lý mà còn xảy
ra ngay trong những người trực tiếp làm kinh tế tư nhân ở nước ta Mà theo như lý luận của Các Mác, vẫn để bóc lột này lại liên quan đến “giá trị thặng dư" Chính vì thế, việc nghiên cứu về học thuyết giá trị thặng dư sẽ giúp chúng ta có những nhận thức đúng đăn
về con đường đi lên xây dựng CNXH ở Việt Nam mà Đảng và Nhà nước đã chọn Từ việc nghiên cứu đó, rút ra ý nghĩa thực tiễn của vấn đề này là cần thiết
- Theo như Lênin đã từng đánh giá: “Giá trị thặng dư là hòn đá tảng trong học thuyết kinh tế của Mác", lời đánh giá này cho thấy nghiên cứu về giá trị thặng dư là một vấn đề lớn Với kiến thức còn hạn hẹp, bài viết này chỉ nêu ra những nội dung cơ bản của
"giá trị thặng dư", cùng một vài ý nghĩa thực tiễn rút ra được khi nghiên cứu vấn đề này
và một số y kiến để vận dụng "giá trị thặng dư" trong nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa ở nước ta
Trang 3I Lý luận của C.Mác về giá trị thặng dư
- Lý luận về giá trị thặng dư được trình bày cô đọng nhất trong tác phẩm “ Tư bản” Trong
đó C.Mác lý giải cơ bản về nguồn gốc và bản chất của giá trị thặng dư
1) Nguồn gốc của giá trị thặng dư:
- Thặng dư là thuật ngữ trong lĩnh vực kinh tế mà ai cũng đã từng nghe qua nhưng có
thể chưa chắc đã hiểu rõ về bản chất của nó
- Giá trị thặng dư (surplus value) là mức độ dôi ra khi lấy mức thu của một đầu vào
nhân tố trừ đi phần giá cung của nó
a) Công thức chung của giá trị thặng dư:
- Để tìm ra công thức chung của tư bản cần xem xét vai trò của tiền trong luu thông
hàng hóa giản đơn trong nềnn sản xuất tư bản chủ nghĩa Tiền trong nền sản xuất hàng
hóa giản đơn vận động trong quan hệ “H-T-H” Tiền trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa vận động trong quan hệ “T- H-T” Điểm khác nhau cơ bản giữa hai hình thức vận động
nêu trên thể hiện ở mục đích của quá trình lưu thông Mục đích trong lưu thông hàng hóa giản đơn là giá trị sử dụng Mục đích trong lưu thông tư bản là giá trị lớn hơn vì nếu
không thu được lượng giá trị lớn hơn thì sự lưu thông này không có ý nghĩa Do vậy, tư
bản vận động theo công thức “T-H-T” hay đây là công thức chung của tu bản Các hình
thái tư bản đều vận động theo công thức này Trong đó:
T'=T+ t ( t >0)
- C.Mác cho rằng t phải là một số dương , vì thế lưu thông “T-H-T” mới có ý nghĩa.Đối với nền kinh tế thị trường mỗi ngừời đều đóng vai trò là người bán và đồng thời làngười mua.Có thể nói lưu thông (mua, bán thông thường) không tạo ra giá trị tăng thêmxét trên phạm vi xã hội C.Mác nhận định rằng chỉ có hàng hoá lao động là bảo tổn đuợcgiá trị của nó và tạo ra được giá trị mới Và khi sức lao động trở thành hàng hóa thì tiền tệmang hình thái là tư bản và gắn liền với nó là một quan hệ sản xuất mới xuất hiện: quan
hệ giữa nhà tư bản và lao động làm thuê Thực chất của mối quan hệ này là nhà tư bảnchiếm đoạt giá trị thặng dư của công nhân làm thuê
- Có thể nói, qua giá trị thặng dư, bản chất của tư bản chủ nghĩa là bóc lột sức ngườilao động để tạo ra nhiều thặng dư hơn cho mình Việc họ bóc lột công nhân càng nhiều thìgiá trị thặng dư được tạo ra càng cao
Ví dụ: Một người lao động làm việc trong một giờ được giá trị sản phẩm là 2000đồng Nhưng đến giờ thứ hai trở đi, trên cơ sở sức lao động đã bỏ ra ở giờ thứ nhất, ngườilao động đó sẽ làm ra được 3000 đồng Số tiền chênh lệch là 2000 đồng đó chính là giá trịthặng dư sức lao động
Trang 4- Phần giá trị mới do lao động sống tạo thêm ra ngoài giá trị hàng hóa sức lao động,được nhà tư bản thu lấy mà không trả cho người lao động, được gọi là giá trị thặng dư(m).Giá trị thặng dư tư bản chủ nghĩa (m) là một phần giá trị mới do lao động sống tạothêm ra ngoài giá trị hàng hoá sức lao động, là lao động không được trả công của ngườilao động làm thuê.
- Sản xuất giá trị thặng dư là mục tiêu và động cơ của từng nhà tư bản cũng như toàn bộnền sản xuất tư bản chủ nghĩa Bản chất của giá trị thặng dư tư bản chủ nghĩa thể hiện quan hệ bóc lột giữa người sở hữu tư liệu sản xuất và người sở hữu hàng hoá sức lao động, hay nói cách khác giữa nhà tư bản và người làm thuê
Và sức lao động muốn trở thành hàng hoá sẽ được xét trong hai điều kiện sau:
Một, người lao động được tự do về thân thể.
Hai, người lao động không có đủ tư liệu sản xuất cần thiết để kết hợp với sức lao
động của mình tạo ra hàng hoá để bán, cho nên họ phải bán sức lao động
Và tất nhiên khi sức lao động trở thành hàng hoá thì nó cũng có hai thuộc tính nhưhàng hoá thông thường Đó là thuộc trính giá trị và thuộc tính sử dụng
Và cấu thành giá trị hàng hoá sức lao động bao gồm:
Một là giá trị tư liệu sinh hoạt cần thiết( cả vật chất lẫn tinh thần) để tái sản xuất ra
sức lao động
Hai là phí đào tạo lao động
Ba là giá trị những tư liệu sinh hoạt cần thiết( vật chất và tinh thần) nuôi con của
người lao động
=> Hàng hoá sức lao động là loại hàng hoá đặc biệt nó mang yếu tố tinh thần và lịch sử.
Và đặc biệt ở chỗ, trong khi sử dụng, không những giá trị của nó được bảo tồn mà còn tạo
ra được lượng giá trị lớn hơn
=> C.Mác cũng khẳng định rằng nguồn gốc của giá trị thặng dư là do hao phí sức lao
động mà có được
Trang 5c) Tiền công
- Tiền công chính là giá cả của hàng hoá sức lao động Và với bản chất của giá trị
nêu trên thì giá trị mới như nêu trên, thì tiền công là do chính hao phí sức lao động của người lao động làm thuê tạo ra, nhưng nó lại thường được hiểu là do người mua sức lao động trả cho người làm thuê
- Cứ sau một thời gian lao động nhất định, người lao động làm thuê được trả một
khoản tiền công nhất định Điều đó thậm chí làm cho người lao động cũng nhầm hiểu làngười mua sức lao động làm thuê tự trả công cho mình thông qua sổ sách của người muahàng hoá sức lao động mà thôi
II) Sự phân chia tư bản thành tư bản bất biến và tư bản khả biến Biểu hiện hình thái của giá trị thặng dư
1. Tư bản bất biến
- Để sản xuất ra giá trị thặng dư, nhà tư bản phải ứng trước tư bản ra để mua tư liệusản xuất và sức lao động Trong quá trình sản xuất , giá trị của tư liệu sản xuất được lao động cụ thể của người công nhân chuyển vào sản phẩm mới, lượng giá trị của chúng không đổi Bộ phận tư bản ấy được gọi là tư bản bất biến ( ký hiệu là c) Tư bản bất biếntạo ra giá trị thặng dư nhưng là điều kiện cần thiết để cho quá trình tạo ra giá trị thặng được diễn ra
- Máy móc dù hiện đại, dù được tự động hoá thì vai trò của nó, C.Mác so sánh, giống nh vai trò của chiếc bình thuỷ tinh trong thí nghiệm phản ứng hoá học Máy móc, nguyên nhiên vật liệu là điều kiện để cho quá trình làm tăng giá trị diễn ra Không có máymóc, không có quá trình sản xuất giá trị thặng dư
- Ngày nay máy móc được từ tự động hoá như người máy, thì người máy cũng chỉ
có vai trò là máy móc, chừng nào việc sử dụng sức lao động còn có lợi hơn cho người mua hàng hoá sức lao động so với sử dụng sức lao động sống của người bán sức lao động làm thuê
2)Tư bản khả biến
- Nhưng đối với bộ phận tư bản dùng để mua sức lao động thì trong quá trình sản xuất, bằng lao động trừu tượng của mình, người công nhân tạo ra một giá trị mới không chỉ bù đắp đủ giá trị sức lao động của công nhân mà còn tạo ra giá trị thặng dư cho nhà tưbản Như vậy, bộ phận
3) Ý nghĩa
Trang 6- Việc phân chia tư bản bất biến và tư bản khả biến là dựa vào vai trò của từng bộ phận tư bản trong quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư còn việc phân chia tư bản cố định
và tư bản lưu động là dựa vào phương thức chuyển dịch giá trị của chúng vào sản phẩm trong quá trình sản xuất hay dựa vào tính chất chu chuyển của tư bản
- Việc phân chia tư bản thành tư bản bất biến và tư bản khả biến phản ánh được nguồn gốc sinh ra giá trị thặng dư Trong quá trình sản xuất, tư bản bất biến chỉ là điều kiện để sinh ra giá trị thặng dư còn tư bản khả biến mới là nguồn gốc tạo ra giá trị thặng dư
- Việc phân chia tư bản cố định và tư bản lưu động tuy không phản ánh nguồn gốc sinh ra giá trị thặng dư nhưng lại có ý nghĩa quan trong trong việc quản lý kinh tế Nó là
cơ sở để quản lý, sử dụng vốn cố định và vốn lưu động một cách có hiệu quả cao
c1 là giá trị máy móc, thiết bị, nhà xưởng…
c2 là giá trị nguyên, nhiên, vật liệu…
v là tư bản khả biến
=>Vậy, tư bản bất biến = c1 + c2; tư bản khả biến = v;
tư bản cố định = c1; tư bản lưu động = c2 + v
IV) Hình thái biểu hiện của giá trị thặng dư và các công thức tính toán
C.Mác nêu ra định nghĩa lợi nhuận: “Giá trị thặng dư, được quan niệm là con đẻ
của toàn bộ tư bản ứng trước, mang hình thái chuyển hóa là lợi nhuận”
a) Chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa
Để sản xuất hàng hóa phải có chi phí lao động quá khứ và lao động sống, khi đó giátrị hàng hóa được tạo ra là
Trang 7Lao động quá khứ (lao động vật hóa) tức là giá trị của tư liệu sản xuất (c); lao động hiệntại (lao động sống) tức là lao động lạo ra giá trị mới (v + m).
Đứng trên quan điểm xã hội mà xét, chi phí lao động đó là chi phí thực tế của xãhội, chi phí này tạo ra giá trị hàng hóa Ký hiệu giá trị hàng hóa là w
[ W = c + v + m ]
Song, đối với nhà tư bản, họ không phải chi phí lao động để sản xuất hàng hóa, chonên họ không quan tâm đến điều đó Trên thực tế, họ chỉ quan tâm đến việc ứng tư bản để
mua tư liệu sản xuất (c) và mua sức lao động (v) Do đó, nhà tư bản chỉ xem hao phí hết
bao nhiêu tư bản, chứ không tính đến hao phí hết bao nhiêu lao động xã hội C.Mác gọi
chi phí đó là chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa, ký hiệu là ( k)
Về mặt lượng: chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa luôn luôn nhỏ hơn chi phí thực tế:
(c + v) < (c + v + m)
Vì tư bản sản xuất đươc chia thành tư bản cố định và tư bản lưu động cho nên chi
phí sản xuất tư bản chủ nghĩa luôn luôn nhỏ hơn tư bản ứng trước (k).
Ví dụ: Một nhà tư bản sản xuất đầu tư tư bản với số tư bản cố định (c 1) là 1.200 đơn vị
tiền tệ; số tư bản lưu động (c 2 và v) là 480 đơn vị tiền tệ (trong đó giá trị của nguyên nhiên, vật liệu (c 2 ) là 300, tiền công (v) là 180 Nếu tư bản cố định hao mòn hết trong 10
năm, tức là mỗi năm hao mòn 120 đơn vị tiền tệ, thì:
Trang 8Chi phí sản xuất (k) là: 120 + 480 = 600 đơn vị tiền tệ Tức là K > k
Tư bản ứng trước (K) là: 1.200 + 480 = 1.680 đơn vị tiền tệ.
Nhưng khi nghiên cứu, C.Mác thường giả định tư bản cố định hao mòn hết trong
một năm, nên tổng tư bản ứng trước (K) và chi phí sản xuất luôn bằng nhau (K = k).
Việc hình thành chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa (k) che đậy thực chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản Giá trị hàng hóa: w = k + m, trong đó k = c + v.
Nhìn vào công thức trên thì sự phân biệt giữa c và v đã biến mất, người ta thấy
dường như k sinh ra m Chính ở đây chi phí lao động bị che lấp bởi chi phí tư bản (k), lao
động là thực thể, là nguồn gốc của giá trị thì bị biến mất, và giờ đây hình như toàn bộ chi phí sán xuất tư bản chủ nghĩa sinh ra giá trị thặng dư
b) Tỉ suất giá trị thặng dư
- Tỷ suất giá trị thặng dư là tỷ số tính theo phần trăm giữa giá trị thặng dư và tư bản khả biến cần thiết để sản xuất ra giá trị thặng dư đó
- Công thức: nếu ký hiệu m’ là tỷ suất giá trị thặng dư, m là giá trị thặng dư, v là
tư bản khả biến, thì m’ được xác định bằng công thức:
- Do đó, có thể biểu thị tỷ suất giá trị thặng dư theo một công thức khác:
m’= t(th i t (th i ờ gianlaođ ng ờ gianlao đ ng ộ ộ th ng t t ấ y u ặ ế ) dư )100 %
- Tỷ suất giá trị thặng dư nói lên trình độ bóc lột của nhà tư bản đối với công nhân làm thuê, nó chưa nói rõ quy mô bóc lột Để phản ánh quy mô bóc lột, C Mác sử dụng phạm trù khối lượng giá trị thặng dư
Trang 9c) Khối lượng giá trị thặng dư
- Khái niệm: Khối lượng giá trị thặng dư là tích số giữa tỷ suất giả trị thặng dư và tổng tư bản khả biến đã được sử dụng
- Công thức: nếu ký hiệu M là khối lượng giá trị thặng dư, V là tổng tư bản khả biến, thì M được xác định bằng công thức:
M = m’ V
- Chủ nghĩa tư bản càng phát triển thì khối lượng giá trị thặng dư càng tăng, vì trình độ bóc lột sức lao động càng tăng Khối lượng giá trị thặng dư phản ánh quy mô sự bóc lột
d) Lợi nhuận
- Giữa giá trị hàng hóa và chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa luôn luôn có khoảng chênh lệch, cho nên sau khi bán hàng hóa (giả định: giá cả = giá trị), nhà tư bản không những bù đắp đúng số tư bản ứng ra, mà còn thu về được một số tiền lời ngang bằng với
m Số tiền này được gọi là lợi nhuận, ký hiệu là p
- Giá trị thặng dư được so với toàn bộ tư bản ứng trước, được quan niệm là con đẻ của toàn bộ tư bản ứng truớc sẽ mang hình thức biến tướng là lợi nhuận
- Nếu ký hiệu lợi nhuận là p thì công thức:
W = c + v + m = k + m bây giờ sẽ chuyển thành: W = k + p
e) Tỉ suất lợi nhuận
- Trên thực tế, các nhà tư bản không chỉ quan tâm đến lợi nhuận mà còn quan tâm
đến tì suất lợi nhuận Đây là tỉ số tính theo phần trăm gữa giá trị thặng dư và toàn bộ tư
Trang 10- Tỉ suất lợi nhuận cho ta biết cho nhà tư bản biết họ nên đầu tư vào đâu thì có lợi nhiều hơn Do đó việc thu lợi nhuận và việc theo đuổi tỉ suất lỡi nhuận là động lực thúc đẩy sự cạnh tranh giữa các nhà tư bản
Về mặt chất: m’ phản ánh trình độ phát triển của các nhà tư bản đối với công nhân
làm thuê còn p’ không phản ánh được điều đó mà chỉ nói được mức doanh lợi của tư bản
Về mặt lượng: p’ luôn nhỏ hơn m’
IV) Gía trị thặn g dư siêu ngạch
- Các nhà tư bản muốn thu được nhiều giá trị thặng dư và chiếm ưu thế cạnh tranh nên họ áp dụng những tiến bộ kỹ thuật vào trong sản xuất Mục đích là để cải tiến và hoànthiện phương pháp quản lý kinh tế nhằm nâng cao năng suất lao động Nhà tư bản nào áp dụng phương pháp này thì hàng hóa khi bán sẽ thu được một giá trị thặng dư nhiều hơn sovới nhà tư bản khác
- Gía trị thặng dư siêu ngạch hiểu đơn giản hơn chính là phần thặng dư thu được trội
hơn phần thặng dư bình thường của một loại hàng hóa trong xã hội Nếu xét theo từng nhà tư bản xuất thì giá trị này là hiện tượng tạm thời Tuy nhiên nếu xét trên toàn xã hội
tư bản thì giá trị thặng dư siêu ngạch tồn tại một cách thường xuyên Do đó điều này chính là động lực thúc đẩy mạnh mẽ nhất cho các nhà tư bản để cải tiến kỹ thuật và tăng năng suất lao động
- Có thể thấy rằng cả hai giá trị thặng dư tương đối và siêu ngạch đều dựa vào cơ sở
là việc tăng năng suất lao động Tuy nhiên chúng khác nhau ở chỗ giá trị thặng dư tương
đối sẽ dựa vào cơ sở tăng năng suất lao động của xã hội Trong khi thặng dư siêu ngạch sẽdựa trên việc tăng năng suất lao động cá biệt
V) Bản chất của giá trị thặng dư
Nghiên cứu sâu hơn về giá trị thặng dư ta sẽ thấy :
- Qúa trình đó được diễn ra trong quan hệ xã hội giữa mua sức lao động và ngườibán sức lao động Nếu giả định xã hội chỉ có hai giai cấp là giai cấp tư sản và giai cấp
công nhân thì giá trị thặng dư trong nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa mang bản
chất kinh tế- xã hội là quan hệ giai cấp.
Trang 11- C.Mác cho rằng đây là quan hệ bóc lột, mặc dù các nhà tư bản đã hợp lý hoá việc
bóc lột này về mặt kinh tế họ không vi phạm quy định về trao đổi ngang giá
- Sự giải thích khoa học của C.Mác đã vượt hẳn so với những nhà kinh tế ở chỗ,ông đã mô tả được một tế tế nhà tư bản không vi phạm thông qua việc ký kết hợp đồngthoả thuận người làm thuê, song song với việc trao đổi ngang giá đó giá trị thặng dư vẫnđược tạo ra bằng lao động sống chứ không phải do máy móc
- Đối với xã hội văn minh ngày nay việc bóc lột sức lao động không những khôngmất đi được diễn ra một các tinh vi hơn khéo léo hơn và tất nhiên những nhà tư bảnnhững doanh nghiệp đã thu lại rất nhiều lợi nhuận từ giá trị thặng dư đó
- Từ việc nghiên cứu Học thuyết giá trị thặng dư của C Mác, chúng ta thấy rõ ítnhất ba vấn đề lớn trong giai đoạn phát triển hiện nay của đất nước
Một là, trong thời kỳ quá độ nền kinh tế ở nước ta, trong một chừng mực nào đó,
quan hệ bóc lột chưa thể bị xóa bỏ ngay, sạch trơn theo cách tiếp cận giáo điều và xơcứng cũ Càng phát triển nền kinh tế nhiều thành phần chúng ta càng thấy rõ, chừng nàoquan hệ bóc lột còn có tác dụng giải phóng sức sản xuất và thúc đẩy lực lượng sản xuấtphát triển, thì chừng đó chúng ta còn phải chấp nhận sự hiện diện của nó
Hai là, trong thực tế nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta
hiện nay, mọi phương án tìm cách định lượng rành mạch, máy móc và xơ cứng về mức độbóc lột trong việc hoạch định các chủ trương chính sách, cũng như có thái độ phân biệtđối xử với tầng lớp doanh nhân mới đều xa rời thực tế và không thể thực hiện được Điều
có sức thuyết phục hơn cả hiện nay là quan hệ phân phối phải được thể chế hóa bằng luật
Đường lối chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước mỗi khi được thể chế hóathành luật và các bộ luật thì chẳng những góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xãhội chủ nghĩa, lấy luật làm công cụ và cơ sở để điều chỉnh các hành vi xã hội nói chung,
mà còn cả hành vi bóc lột nói riêng Ai chấp hành đúng pháp luật thì được xã hội thừanhận và tôn vinh theo phương châm: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ,văn minh
Trong nhận thức, quan điểm chung nên coi đó cũng chính là mức độ bóc lột được
xã hội chấp nhận, tức là làm giàu hợp pháp Trong quản lý xã hội thì phải kiểm soát chặtchẽ thu nhập cá nhân, thu nhập doanh nghiệp để, một mặt, chống thất thu thuế, mặt khác,bảo đảm sự công bằng trong phân phối thông qua Nhà nước và bằng các “kênh” phânphối lại và điều tiết thu nhập xã hội Thiết nghĩ, đây là một hướng tiếp cận vấn đề bóc lộtgiúp chúng ta tránh được những nhận thức giáo điều, phi biện chứng về quan hệ bóc lột,cũng như việc vận dụng nó trong một giai đoạn lịch sử cụ thể của việc giải phóng sức sảnxuất, tạo động lực phát triển kinh tế và chủ động hội nhập thành công với nền kinh tếquốc tế