Kết quả thực hiện các chính sách giảm nghèo trên địa bàn tỉnh Bình Định cho thấy nguồn vốn bố trí được thực hiện đúng mục đích và các dự án, chương trình được triển khai có hiệu quả góp
Trang 1THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG
TỈNH BÌNH ĐỊNH
Trang 22021 – 2025 5 2.2.1 Giải pháp hoàn thiện các chính sách giảm nghèo bền vững, đồng thời nâng cao nhận thức mới và hình thành văn hóa thoát nghèo trong cộng đồng 5 2.2.2 Giải pháp giảm nghèo tổng thể, dài hạn và bền vững tỉnh Bình Định 9 2.2.3 Giải pháp giảm nghèo bền vững phân theo vùng, miền 14 2.2.4 Giải pháp giảm nghèo bền vững theo đối tượng thụ hưởng 16 TÀI LIỆU THAM KHẢO 19
TRÍCH DẪN HÌNH ẢNH TRANG BÌA
Bìa 1:
- Tạo điều kiện tiếp cận vốn cho hộ nghèo có cơ hội phát triển sản xuất
- Phổ biến pháp luật, chính sách cho đồng bào vùng sâu, vùng xa
-Tổ chức Liên hoan văn hóa cồng chiêng Bình Ðịnh
Trang 31 THỰC TRẠNG GIẢM NGHÈO TỈNH BÌNH ĐỊNH GIAI ĐOẠN 2016
tỷ lệ hộ nghèo là 6,03% Ở các vùng xã bãi ngang ven biển và hải đảo lao động chính trong hộ nghèo là nam giới, nữ giới không có việc làm ổn định
Thu nhập bình quân đầu người ở Bình Định có tăng trong thời gian qua nhưng thấp so với trung bình của cả nước và thấp hơn nhiều so với thành phố
Đà Nẵng Tỷ lệ hộ nghèo theo thu nhập ở tỉnh Bình Định có xu hướng giảm
từ 10,08% (năm 2015) xuống còn 4,76% (năm 2019)
Hình 1: Xu hướng giảm nghèo theo thu nhập ở tỉnh Bình Định giai đoạn
2015-2019 (%)
Theo kết quả rà soát hộ nghèo do Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tiến hành năm 2019, toàn tỉnh có 1.580 hộ nghèo đa chiều (Từ năm 2019 trở đi, TP Quy Nhơn và huyện Tuy Phước không còn hộ nghèo đa chiều) Trong số các chiều, thiếu hụt về hố xí/ nhà tiêu hợp vệ sinh có tỷ lệ cao nhất (46,16%), tiếp theo là bảo hiểm y tế (32,91%) thiếu hụt này đã được cải thiện hơn so với năm 2018 (52,61%), và thiếu hụt về chất lượng nhà ở (23,68%)
1.2 Kết quả thực hiện các chính sách giảm nghèo trên địa bàn tỉnh Bình Định cho thấy nguồn vốn bố trí được thực hiện đúng mục đích và các dự
án, chương trình được triển khai có hiệu quả góp phần hỗ trợ người nghèo vươn lên thoát nghèo
Các chính sách thường xuyên hỗ trợ cho hộ nghèo, hộ cận nghèo như: y
tế, giáo dục, nhà ở, tín dụng ưu đãi, khuyến nông và khuyến lâm, hỗ trợ phát
Trang 4triển sản xuất, xây dựng mô hình giảm nghèo, trợ giúp pháp lý… đã được các
sở, ngành và địa phương xây dựng kế hoạch và tích cực tổ chức triển khai thực hiện ngay từ đầu năm
Các dự án thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững 2016-2020 như: Chương trình 30a; Chương trình 135; Dự án hỗ trợ phát triển sản xuất, đa dạng hóa sinh kế và nhân rộng mô hình giảm nghèo trên địa bàn các xã ngoài Chương trình 30a, 135; Dự án truyền thông và giảm nghèo về thông tin đã giúp cho hộ nghèo, hộ cận nghèo tăng thu nhập, ổn định đời sống, vươn lên thoát nghèo, thoát cận nghèo
Các Chương trình lồng ghép khác: Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới; Chính sách thực hiện định canh, định cư cho đồng bào DTTS theo Quyết định 33/2013/QĐ-TTg ngày 04/6/2013 và chính sách hỗ trợ đất ở, đất sản xuất, chuyển đổi nghề theo Quyết định 2085/QĐ-TTg ngày 31/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ; Đầu tư cơ sở hạ tầng từ nguồn ngân sách địa phương; Và nguồn huy động từ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp,
đã đóng góp rất lớn trong việc đảm bảo an sinh xã hội, giảm nghèo bền vững
đã thực hiện thời gian qua
Tổng kinh phí thực hiện trong giai đoạn 2016-2020 là 7.303.203,1 triệu đồng, trong đó: (1) Kinh phí bố trí từ nguồn vốn Trung ương, ngân sách tỉnh, huy động, lồng ghép thực hiện trong giai đoạn 2016-2020 là 3.180.548,3 triệu đồng1
, chiếm 43,55% tổng số của Chương trình; (2) Nguồn vốn tín dụng ưu đãi (dư nợ): 4.122.654,8 triệu đồng, chiếm 56,45% tổng vốn của Chương trình
1.3 Kết quả khảo sát cho thấy hộ được thụ hưởng chính sách giảm nghèo có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến nghèo khác nhau Thiếu vốn sản xuất (22,35%); Thiếu đất canh tác (18,95%) và Thiếu phương tiện sản xuất (14,9%) Ngoài ra, còn các nguyên nhân khách quan đến từ hoàn cảnh sống, như: Thiếu lao động, neo đơn (10,9%); Đông người ăn theo (7,45%); Do sinh sống ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn (4,65%); Ốm đau nặng (11,35%); Có lao động nhưng không có việc làm (4,4%); và Không biết cách làm ăn, không có tay nghề (4,25%); Do rủi ro, thiên tai, bệnh dịch (0,7%) và Mắc tệ nạn xã hội (0,1%)
1 Kế hoạch vốn Trung hạn (giai đoạn 2016-2020) đã được Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 1865/QĐ-TTg ngày 23/11/2017 kinh phí là 1.055.741 triệu đồng Các nguồn vốn còn lại đã tổng hợp từ các chính sách, dự án thông qua báo cáo của các Sở, ban, ngành và Mặt trận Tổ quốc Việt
Trang 5Hình 2: Nguyên nhân nghèo ở các nhóm hộ thụ hưởng chính sách giảm
nghèo qua khảo sát
Từ những nguyên nhân đó, nguyện vọng của các hộ được khảo sát là:
hỗ trợ đất sản xuất (20,0%); tiếp đến là được hỗ trợ tín dụng ưu đãi (14,3%); 14,2% số hộ mong muốn được hỗ trợ y tế; 12,5% số hộ mong muốn được hỗ trợ phương tiện sản xuất; 12,2% số hộ mong muốn được hỗ trợ về xây, sửa chữa nhà ở; 7,7% số hộ mong muốn được hỗ trợ về giáo dục; 7,2% số hộ mong muốn được nhận trợ cấp xã hội; 5,7% số hộ muốn hỗ trợ tiền điện; số còn lại mong muốn được hỗ trợ đào tạo nghề và xuất khẩu lao động (1,3%),
hỗ trợ trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng (1,0%), được trợ giúp pháp lý và thông tin (0,3%)
Cũng theo kết quả điều tra của nhóm nghiên cứu, có 41,3% số hộ được hỏi đều mong muốn nhà nước tiếp tục hỗ trợ cho hộ nghèo, hộ cận nghèo như hiện nay Như vậy cho thấy vẫn còn một số bộ phận người dân còn trông chờ,
ỷ lại vào sự hỗ trợ của nhà nước, chưa muốn tự thoát nghèo Điều này đồng
Trang 6nghĩa, khi khảo sát các nhà quản lý về hạn chế lớn nhất ảnh hưởng tới quá trình xây dựng và thực thi chính sách giảm nghèo hiện nay trên địa bàn tỉnh Bình Định là “Một số chính sách (cho không) gây tác động ngược, tạo tâm lý ỷ lại cả trong cán bộ địa phương và người nghèo, không chịu thoát nghèo, thoát cận
nghèo” chiếm tỷ lệ 84,9% Thứ hai, tỷ lệ giảm hộ nghèo chênh lệch giữa vùng
sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; giữa hộ người kinh
và hộ đồng bào dân tộc thiểu số còn chênh lệch lớn (81,4%) Thứ ba, tính đồng
bộ của các chương trình, dự án, chính sách hỗ trợ cho việc giảm nghèo chưa cao, chưa phối kết hợp, lồng ghép các nguồn lực để thực hiện giảm nghèo bền vững tại địa phương, cộng đồng, người dân và hộ nghèo (76,7%)
Theo các nhà quản lý “Chính sách hỗ trợ tín dụng ưu đãi” là chính sách quan trọng nhất để giúp hộ nghèo vượt lên thoát nghèo
2 GIẢI PHÁP GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG TỈNH BÌNH ĐỊNH GIAI ĐOẠN
Đổi mới cách tiếp cận từ “ưu tiên”, “hỗ trợ” phụ nữ sang cách tiếp cận bảo đảm quyền cho cả nam và nữ về cơ hội và môi trường để phát triển đầy
đủ năng lực của mỗi cá nhân Giảm dần khoảng cách giới trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình, trong đó, ưu tiên tập trung giải quyết các vấn đề giảm bất bình đẳng giới về phát triển nguồn nhân lực, về tiếp cận các cơ hội kinh tế và thu nhập, về tiếng nói trong xã hội và hạn chế sự tái diễn của tình trạng bất bình đẳng giới từ thế hệ này sang thế hệ khác
2.1.2 Mục tiêu
2.1.2.1 Mục tiêu tổng quát
Thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững, hạn chế tái nghèo; cải thiện đời sống, tăng thu nhập của người dân, đặc biệt là ở các địa bàn nghèo, tạo điều kiện cho người nghèo, hộ nghèo tiếp cận thuận lợi các dịch vụ xã hội cơ bản (về y tế, giáo dục, an ninh lương thực, nhà ở an toàn, nước sạch sinh hoạt
và vệ sinh, tiếp cận nguồn thông tin có chất lượng, việc làm, bảo hiểm xã hội…) và thích ứng với biến đổi khí hậu Giảm ít nhất 2/5 tỷ lệ nam giới, phụ
nữ và trẻ em ở mọi lứa tuổi đang sống nghèo khổ ở tất cả cấp độ theo định nghĩa quốc gia so với năm 2020
Trang 7- Trên 95% số hộ nghèo, cận nghèo ở khu vực nông thôn được sử dụng nguồn nước hợp vệ sinh
- 100% hộ nghèo có nhà ở dột nát, xuống cấp hư hỏng nặng được hỗ trợ xây dựng lại nhà ở, đảm bảo nơi ở an toàn, phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai
- 100% hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo có nhu cầu, điều kiện phát triển sản xuất, được tiếp cận các dự án hỗ trợ phát triển sản xuất, đa dạng hóa sinh kế và nhân rộng mô hình giảm nghèo; có từ 20% đến 25% hộ nghèo, hộ cận nghèo tăng thu nhập thoát nghèo, thoát cận nghèo khi tham gia
dự án
- Đảm bảo 100% cán bộ cấp xã, thôn được tập huấn kỹ năng, nghiệp vụ
về công tác giảm nghèo, truyền thông về giảm nghèo và hiểu được tầm quan trọng của giảm nghèo bền vững đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương
2.2 Đề xuất một số giải pháp giảm nghèo bền vững tỉnh Bình Định giai đoạn 2021 - 2025
2.2.1 Giải pháp hoàn thiện các chính sách giảm nghèo bền vững, đồng
thời nâng cao nhận thức mới và hình thành văn hóa thoát nghèo trong cộng đồng
2.2.1.1 Tiếp tục nâng cao nhận thức mới và hình thành văn hóa thoát nghèo bền vững trong cộng đồng
Thay đổi tư duy tự giác trong ý thức vươn lên thoát nghèo, là bước đầu thành công trong công cuộc giảm nghèo lâu dài của tỉnh Bình Định Do vậy, cần tiếp tục nâng cao nhận thức về giảm nghèo bền vững cho cán bộ và người dân, một số đề xuất như sau:
Trang 8Các nhà quản lý cần phải thay đổi tư duy hiện nay: giảm nghèo là phải tạo việc làm cho dân chứ không phải cấp đất cho dân; tạo việc làm cho dân bằng cách phát triển vùng miền núi, ven biển; tạo quỹ đất trống cho doanh nghiệp thuê; bán nguyên, vật liệu của địa phương cho các nhà máy xây dựng tại địa phương; xây dựng hệ thống giao thông và mạng lưới điện cho vùng nông thôn để kêu gọi doanh nghiệp về đầu tư tại địa phương, tạo việc làm cho người dân địa phương,…
Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức hội đoàn thể phối hợp các cấp chính quyền địa phương tổ chức tuyên truyền trong các tầng lớp nhân dân về các chủ trương, chính sách của Đảng để người dân, hộ nghèo, hộ cận nghèo biết và tích cực tham gia vào các dự án, chính sách của Chương trình, nhằm cải thiện đời sống, tăng thu nhập, từng bước thoát nghèo, thoát cận nghèo
Cùng với đó, tập trung thông tin, tuyên truyền về những gương điển hình tiên tiến, gương người tốt việc tốt và mô hình sản xuất tiêu biểu trong giảm nghèo bền vững; những sáng kiến và mô hình tiêu biểu về gìn giữ và bảo vệ môi trường Tuyên truyền, phổ biến về quy trình điều tra, rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo, về chuẩn nghèo theo phương pháp tiếp cận đa chiều, các tiêu chí đánh giá, cho điểm, công bố danh sách hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ thoát nghèo Kịp thời phản ánh những khó khăn, vướng mắc và những bất cập, tồn tại trong quá trình triển khai thực hiện Chương trình giảm nghèo bền vững
ở các địa phương trong tỉnh
Đi đôi với nâng cao nhận thức cho cán bộ, nhân dân là từng bước hình thành văn hóa thoát nghèo trong cộng đồng theo hướng đa chiều, trong đó cán
bộ địa phương phải thật sự gương mẫu trong điều tra, bình chọn hộ nghèo không để tình trạng thiên vị cho người thân Đối với người dân phải biết vươn lên không trông chờ ỷ lại sự cưu mang của nhà nước Về chủ trương, chính sách cần phải chuyển từ giúp đỡ người nghèo trực tiếp sang gián tiếp, tức là người nghèo phải tự chính mình vươn lên thoát nghèo một cách tự tin và bền vững Thực hiện giảm nghèo phải thông qua xây dựng các mô hình sinh kế dựa vào các nguồn lực của chính người nghèo, nhà nước chỉ đóng vai trò hỗ trợ bước đầu, lúc gặp khó khăn do tác động của biến đổi khí hậu, biến động của nền kinh tế…
2.2.1.2 Hoàn thiện các chính sách giảm nghèo bền vững
(1) Đối với các chính sách của Trung ương
Nghiên cứu đề xuất thay đổi, bổ sung một số nội dung Thông tư số 17/2016/TT–BLĐTBXH và Thông tư số 14/2018/TT–BLĐTBXH về rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo hàng năm theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều, cụ thể:
- Hướng dẫn việc rà soát thu nhập thực tế của các hộ gia đình và bổ sung thêm cột thu nhập bình quân đầu người hàng tháng để nhận dạng nhanh
hộ gia đình từ ban đầu
Trang 9- Tại khoản 2, Điều 4, việc rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo được thực hiện thường xuyên tại thời điểm hộ gia đình có giấy đề nghị UBND cấp xã (trưởng thôn xác nhận) đối với những hộ gia đình phát sinh khó khăn đột xuất
để bổ sung vào danh sách hộ nghèo, hộ cận nghèo hoặc đề nghị xét duyệt
thoát nghèo, cận nghèo Cần bổ sung thêm: không quy định hộ gia đình có
giấy đề nghị xét bổ sung hộ nghèo, hộ cận nghèo mới công nhận, mà cán bộ thôn, điều tra viên cần tổ chức nhận diện hộ có khả năng nghèo, cận nghèo để
đưa vào danh sách
- Xem xét việc rút ngắn các biểu mẫu, nội dung các biểu mẫu lặp lại nhiều lần và trùng lắp như ghi tên danh sách từng thành viên trong hộ gia đình nghèo, cận nghèo gây mất thời gian và dễ sai sót trong quá trình ghi thông tin Trong khi đó giấy chứng nhận hộ nghèo và hộ cận nghèo đã quy định rõ tên từng thành viên trong hộ gia đình
- Cần sửa đổi, bổ sung thông tin tiêu chí đất đai, chăn nuôi trong phiếu điều tra hộ nghèo, hộ cận nghèo đối với khu vực thành thị (sinh sống vùng ven đô thị), có làm việc các ngành nghề nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp cho phù hợp với thực tế đời sống của các hộ dân trong vùng này Việc chấm điểm đối với tài sản, xe máy, xe có động cơ chưa phù hợp vì không quy định rõ số lượng, cũng như chất lượng tài sản
Sửa đổi, bổ sung các chính sách hỗ trợ giảm nghèo bền vững
- Cần điều chỉnh theo hướng nâng mức hỗ trợ thực hiện các chính sách đặc thù của Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo (Chương trình 30a) do Chương trình này ban hành năm 2008, đến nay một số nội dung không còn phù hợp, mức hỗ trợ thấp Đảm bảo nguồn lực hỗ trợ sản xuất; đầu tư trung tâm dạy nghề và dạy nghề cho lao động nông thôn các huyện nghèo theo Chương trình 30a Tạo điều kiện đa dạng hóa các loại hình đào tạo nhằm phù hợp với đặc điểm vùng, miền và các đối tượng thụ hưởng giáo dục từ các chính sách do giáo dục mang lại
- Tiếp tục đầu tư kinh phí xây dựng, cải tạo cơ sở hạ tầng và cung cấp trang thiết bị y tế đồng bộ, đầy đủ đảm bảo công tác khám chữa bệnh phục vụ nhân dân Quan tâm cho tăng mức vay vốn ưu đãi hỗ trợ về nhà ở đối với hộ nghèo: nâng mức vay tối đa đối với hộ xây dựng mới là 50 triệu đồng/hộ để
hộ nghèo có thể vay vốn làm nhà ở đảm bảo theo diện tích tối thiểu quy định
và đầu tư vốn sản xuất mang tính lâu dài để giảm nghèo bền vững
- Đầu tư, hỗ trợ cho chính sách giảm nghèo phải đi vào trọng tâm, trọng điểm, đồng bộ, cần giao cho một cơ quan chịu trách nhiệm làm đầu mối quản
lý (cụ thể là cơ quan Thường trực Chương trình), tránh đầu tư phân tán, nhiều
cơ quan quản lý, vừa kém hiệu quả vừa lãng phí ngân sách nhà nước, trong khi ngân sách còn khó khăn Đưa tiêu chí đánh giá mức giảm nghèo (là tỉ lệ
hộ nghèo thoát nghèo trong năm so với hộ nghèo có vào đầu năm) để đánh giá hiệu quả triển khai chương trình của các địa phương có tỉ lệ hộ nghèo thấp
Trang 10(các địa phương có tỉ lệ nghèo thấp thì việc giảm 1-2%/năm là rất khó mặc dù
đã có rất nhiều cố gắng)
- Bổ sung, sửa đổi chính sách đối với bảo trợ xã hội, trong đó bỏ quy định người thuộc đối tượng bảo trợ xã hội được vào các trung tâm bảo trợ xã hội phải là hộ nghèo, thực tế này đã phát sinh hộ nghèo của các đối tượng bảo trợ xã hội để đủ điều kiện vào các cơ sở bảo trợ xã hội Thực hiện xã hội hóa tại các cơ sở bảo trợ xã hội công lập Bên cạnh đó, có chính sách khuyến khích về đất đai, thuế để tư nhân đầu tư vào việc chăm sóc, nuôi dưỡng đối tượng bảo trợ xã hội, nhất là ở khu vực đô thị
(2) Đối với các chính sách của tỉnh Bình Định
Nhằm hỗ trợ giảm nghèo bền vững, trong thời gian tới, tỉnh Bình Định cần thực hiện một số nội dung sau:
- Cần khoanh vùng người nghèo (vùng có tỷ lệ hộ nghèo cao như xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển và hải đảo, các huyện 30a, vùng DTTS) nhằm nâng mức hỗ trợ BHXH tự nguyện cho người nghèo từ 30-50%, điều này cũng phù hợp và giúp BHXH đa dạng thêm đối tượng tham gia
- Rà soát một cách chặt chẽ để đảm bảo đúng đối tượng và cứng rắn xử
lý những trường hợp lợi dụng, thậm chí tranh giành để được hưởng chính sách của người nghèo, đơn cử: Các hộ gia đình không nghèo, nhưng bằng cách tách bố mẹ nằm trong diện không có nguồn thu nhập để được đưa vào hộ nghèo theo quy định - đây là thực trạng phản ánh lỗ hổng của chính sách hỗ trợ người nghèo đang được một số người lợi dụng để được nghèo “bền vững”
- Tiếp tục thực hiện các chính sách hỗ trợ cho hộ nghèo, hộ cận nghèo,
hộ mới thoát nghèo, ưu tiên cho hộ nghèo đồng bào DTTS, thông qua chính sách hỗ trợ cho vay vốn, đào tạo nghề để tạo sinh kế cho hộ nhằm ổn định và duy trì thu nhập từng bước thoát nghèo Thực hiện các chính sách hỗ trợ các dịch vụ xã hội cơ bản về y tế, giáo dục, nhà ở, đất sản xuất (hướng tiếp cận đa chiều)
- Chú trọng nhân rộng mô hình hỗ trợ sinh kế, hỗ trợ sản xuất, giảm nghèo bền vững có hiệu quả trên địa bàn tỉnh Nâng cao năng lực cho cán bộ làm công tác giảm nghèo các cấp, nhất là cấp xã, trưởng thôn bản Ngoài ra còn lồng ghép các chương trình, kế hoạch để nâng cao năng lực người dân, cộng đồng trong công tác giảm nghèo
- Tiếp tục đổi mới công tác chỉ đạo, điều hành Chương trình giảm nghèo ở các cấp; xây dựng các cơ chế chính sách cụ thể, phân cấp, phân công tránh nhiệm rõ ràng cho các ngành, các địa phương, tăng cường vai trò tham gia của các tổ chức chính trị – xã hội đối với công tác giảm nghèo Đặc biệt cần chú trọng lồng ghép và đảm bảo tính hiệu quả của các chương trình liên quan đến giảm nghèo bền vững theo hướng đa chiều, nhất là chương trình xây dựng nông thôn mới…
Trang 112.2.2 Giải pháp giảm nghèo tổng thể, dài hạn và bền vững tỉnh Bình Định
Trong bối cảnh việc giải quyết đói nghèo ngày càng khó khăn hơn, tốn kém nhiều hơn song các nguồn lực hiện tại có xu hướng giảm; theo đó, nhằm tạo động lực mới về giảm nghèo bền vững trong thời gian tới, tỉnh Bình Định cần dựa trên các trụ cột chính như: Phát triển kinh tế nông nghiệp có năng suất và giá trị cao; tăng năng suất lao động và chuyển sang các việc làm có năng suất cao hơn; tăng cường khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu, mở rộng an sinh xã hội; nâng cao năng lực phòng, chống và lồng ghép giảm thiểu rủi ro vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, trước hết là biến đổi khí hậu
1) Phát triển kinh tế nông nghiệp có năng suất và giá trị cao, bền vững
Để phát triển ngành nông nghiệp bền vững, có khả năng cạnh tranh và thích ứng với điều kiện biến đổi khí hậu, phù hợp với yêu cầu của thị trường, nâng cao thu nhập cho người dân, đặc biệt là người nghèo, tỉnh Bình Định xác định tập trung tái cơ cấu lại ngành nông nghiệp, phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng ứng dụng công nghệ cao, nhằm tạo bước đột phá để nâng cao mức tăng trưởng, sức cạnh tranh của nền nông nghiệp địa phương, góp phần giảm nghèo bền vững Đặc biệt cần chú ý rằng các hoạt động đó phải phù hợp với sự vươn lên của người nghèo, phải tiến hành từng bước thích hợp, chú trọng các điều kiện và môi trường hoạt động cho người nghèo, đảm bảo tính phù hợp, thiết thực và hiệu quả… Bởi vì người nghèo rất khó tiếp cận các phương thức sản xuất kinh doanh mới, hiện đại, người nghèo còn thụ động trong tiếp cận cái mới và thiếu kiên trì, quyết liệt đổi mới phương thức sản xuất để thoát nghèo đa chiều bền vững
Trước hết, tỉnh cần có giải pháp hỗ trợ cho các chủ thể trong phát triển
kinh tế, trước hết là trong sản xuất kinh doanh nông nghiệp, đặc biệt đối với doanh nghiệp nông nghiệp để nhân rộng, đẩy nhanh các mô hình sản xuất, liên kết sản xuất nông nghiệp công nghệ cao Trên cơ sở doanh nghiệp làm nòng cốt, tập trung các yếu tố đầu vào áp dụng khoa học công nghệ từ khâu giống, tổ chức sản xuất cho đến khâu chế biến và mở rộng thị trường thương mại, hình thành chuỗi giá trị sản phẩm Các doanh nghiệp sẽ liên kết với các hợp tác xã, các trang trại, gia trại, các hộ nông dân để hình thành những vùng nguyên liệu tập trung, tổ chức thành công chương trình, kế hoạch tái
cơ cấu nông nghiệp đã được tỉnh đề ra
Đặc biệt cần chú ý rằng các hoạt động đó phải phù hợp với sự vươn lên của người nghèo, phải tiến hành từng bước thích hợp; chú trọng các điều kiện và môi trường hoạt động cho người nghèo; đảm bảo tính phù hợp, thiết thực và hiệu quả; tạo ra động lực kích thích người nghèo chủ động trong việc thực hiện chính sách, các mô hình, đổi mới phương thức sản xuất để vươn lên thoát nghèo, sớm hình thành văn hóa thoát nghèo trong cộng đồng…
Bên cạnh đó, phải hướng dẫn, tập huấn cho nông dân tiếp cận những
yêu cầu kỹ thuật mới, mức đầu tư, trình độ quản lý cao hơn so với lối canh