Vai trò của đường mòn Hồ Chí Minh trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc Việt Nam. 1. Đặc điểm của đường mòn Hồ Chí Minh trên biển. 1. Sơ lược về đường mòn HCM trên biển1.1.1 Thành lập. Tiền thân đường Hồ Chí Minh trên biển là hải lộ ven bờ do những người trong hàng ngũ Việt Minh ở Nam Bộ thực hiện lần đầu tiên. Năm 1946, lực lượng Việt Minh ở Nam Bộ đã tổ chức chuyến đi của một thuyền đánh cá xuất phát từ Thạnh Phong, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre ra Bắc xin tiếp tế vũ khí. Tàu cập bến trong vùng Việt Minh kiểm soát tại Tuy Hòa, Phú Yên. Những người trên tàu ra Bắc bằng tàu hỏa. Số vũ khí được Quân đội nhân dân Việt Nam cung cấp cũng được chuyển vào Phú Yên bằng tàu hỏa và chất lên thuyền chở vào Bến Tre. Từ tháng 061961 đến tháng 021962, những người lãnh đạo của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ở các tỉnh Bến Tre, Cà Mau, Trà Vinh, Bà Rịa đã cử năm con thuyền gỗ từ miền Nam ra miền Bắc để báo cáo tình hình, xin tiếp tế vũ khí và sau đó trực tiếp vận chuyển vũ khí cũng như dẫn đường cho các tàu tiếp tế giả dạng tàu đánh cá từ Bắc vào Nam. Những người chỉ huy chủ chốt gồm các ông Phan Văn Nhờ (tức Tư Mau), bà Nguyễn Thị Định, ông Bông Văn Dĩa... Trong số 5 chiếc thuyền gỗ, chiếc thuyền của Bà Rịa đã bị lực lượng tuần duyên của Hải quân Việt Nam Cộng hòa chặn bắt tại ngoài khơi Cam Ranh. Không phát hiện thấy nghi ngờ, con thuyền này được trả tự do. Sau đó nó bị bão đánh trôi dạt đến đảo Hải Nam. Đây là chiếc thuyền do ông Dương Quang Đông, nguyên Ủy viên thường vụ Xứ ủy Nam Kỳ của Đảng Cộng sản Đông Dương trước năm 1945, nguyên là cán bộ hậu cần của Việt Minh tại Khu VIII trong Kháng chiến chống Pháp được giao nhiệm vụ mua sắm. Tuy nhiên, khi di chuyển đến Bà Rịa, ba người cũng đi với ông Đông đã bị quân Việt Nam Cộng hòa bắn chết và tịch thu số tiền mà tổ công tác của ông được tổ chức giao cho để mua thuyền. Nhờ có bà Nguyễn Thị Mười ở Phước Hải, Long Đất đã dồn tiền của trong nhà tổng cộng 10 cây vàng để đóng góp, chiếc thuyền này được mua về và được sử dụng trong chuyến liên lạc, vận chuyển đầu tiên. Tham gia chuyến vượt biển trên con thuyền của Bà Rịa còn có ông Lê Hà, con trai bà Mười, sau này trở thành một trong các thuyền trưởng đầu tiên trên các con tàu không số.Ngày 23101961, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương Việt Nam quyết định mở tuyến đường biển BắcNam. Trung tướng Trần Văn Trà, Phó Tổng tham mưu trưởng được Quân ủy Trung ương giao nhiệm vụ thành lập tuyến đường này. Ngày 23101961, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Hoàng Văn Thái ký Quyết định số 97QP thành lập Đoàn 759, sau này trở thành Lữ đoàn 125 thuộc Hải quân nhân dân Việt Nam. Đoàn 759 có trách nhiệm chi viện vũ khí cho miền Nam bằng đường biển. Trung tá Đoàn Hồng Phước được giao nhiệm vụ làm Đoàn trưởng. Đây là đơn vị đầu tiên đảm nhận nhiệm vụ vận tải vũ khí, hàng hóa vào chiến trường miền Nam bằng các con tàu không số, mở ra sự phát triển mới của Đường Hồ Chí Minh trên biển. Tại Nam Bộ, Bộ Chỉ huy quân khu IX của Quân giải phóng miền Nam Việt Nam được giao nhiệm vụ thành lập Trung đoàn 962 chuyên trách nhiệm vụ chuẩn bị bến bãi tại bờ biển các tỉnh Trà Vinh, Bến Tre, Cà Mau. Bộ chỉ huy các Khu V, VI, VIII cũng được lệnh thiết lập các bến bãi bí mật để đón nhận vũ khí, đạn dược, phương tiện và các hàng hóa khác từ miền Bắc Việt Nam chuyển vào bằng đường biển. 1.1.2 Phát triển phương tiện và các tuyến vận tải quân sự trên biển • Các đơn vị • Đoàn 759: Ngày 23101961, Quân ủy Trung ương Việt Nam quyết định thành lập Đoàn hải quân 759, sau này trở thành Lữ đoàn 125 của Hải quân nhân dân Việt Nam. Đây là đơn vị đầu tiên đảm nhận nhiệm vụ vận tải vũ khí, hàng hóa vào chiến trường miền Nam bằng các con tàu không số, mở ra sự phát triển mới của Đường Hồ Chí Minh trên biển. • Đoàn 962: Tại Nam Bộ, Bộ Chỉ huy quân khu IX của Quân giải phóng miền Nam Việt Nam được giao nhiệm vụ thành lập Trung đoàn 962 chuyên trách nhiệm vụ chuẩn bị bến bãi tại bờ biển các tỉnh Trà Vinh, Bến Tre, Cà Mau. Bộ chỉ huy các Khu V, VI, VIII cũng được lệnh thiết lập các bến bãi bí mật để đón nhận vũ khí, đạn dược, phương tiện và các hàng hóa khác từ miền Bắc Việt Nam chuyển vào bằng đường biển.• Đoàn 950: Qua nghiên cứu việc vận chuyển bằng xuồng, ghe hai đáy trong nội địa quân khu, năm 1972, được sự đồng ý của Bộ Tổng tham mưu, Bộ tư lệnh quân khu 9 đã quyết định thành lập Đoàn 950 (sau gọi là Đoàn 371). Đoàn 950 hoạt động theo phương thức hợp pháp (các tàu vận chuyển), bất hợp pháp (các bến bãi và kho). Hoạt động từ ngày thành lập cho đến ngày chiến thắng 30 tháng 4 năm 1975. • Phương tiện: Tàu, thuyền gỗ; Tàu sắt và Tàu hai đáy • Các tuyến chính: Tuyến ven bờ, Tuyến tiếp giáp lãnh hải và Tuyến hàng hải quốc tế 1.1.3. Các căn cứ và bến bãi Trên tuyến đường Hồ Chí Minh trên biển gồm nhiều bến bãi. Trong đó có những bến bãi quan trọng sau: • K15: là bí danh được đặt tên cho bến tàu xuất phát có quy mô lớn đầu tiên của các con tàu không số vận chuyển người và vũ khí từ Bắc vào Nam bằng đường biển trong Chiến tranh Việt Nam. Cầu cảng K15 đánh dấu một bước chuyển biến lớn của Đường Hồ Chí Minh trên biển.
Trang 1II NỘI DUNG 3
1 Đặc điểm của đường mòn Hồ Chí Minh trên biển 3
1.1 Sơ lược về đường mòn HCM trên biển 3
Trang 21.1.1 Thành lập 3
1.1.2 Phát triển phương tiện và các tuyến vận tải quân sự trên biển 4
1.1.3 Các căn cứ và bến bãi 5
1.2 Số liệu liên quan 7
2 Vai trò của đường mòn HCM trên biển trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ cứu nước 8
2.1 Đường Hồ Chí Minh trên biển là sự sáng tạo chiến lược của Đảng trong cuộc
kháng chiến chống Mỹ cứu nước 9
2.2 Đường Hồ Chí Minh là nơi hội tụ sức mạnh của chiến tranh nhân dân Việt Nam trong cuộc đấu trí, đấu lực với kẻ thù 10
2.3 Đường Hồ Chí Minh trên biển là niềm tự hào, nguồn cổ vũ, động viên lớn lao đối với các cán bộ, chiến sĩ 11
2.4 Đường Hồ Chí Minh trên biển là nét độc đáo, sáng tạo, đặc sắc của đường lối chiến tranh nhân dân 14
2.5 Vai trò trong việc chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền Nam
Trang 3của dân tộc Việt Nam Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước bắt nguồn
từ đường lối kháng chiến đúng đắn, sáng tạo của Đảng và của Chủ tịch Hồ Chí Minh,
từ tinh thần đoàn kết chiến đấu anh hùng bất khuất của toàn dân, toàn quân ta Điều
đó được thể hiện qua sự phối hợp tuyệt vời của hậu phương và tiền tuyến qua công trình thế kỷ đã thấm đẫm mồ hôi, xương máu của cả một thế hệ người Việt Nam anh hùng – Đường Hồ Chí Minh trên biển Đường Hồ Chí Minh trên biển còn được gọi với cái tên “Đoàn tàu không số”, đây là tuyến đường chi viện chiến lược, nó đã đóng góp phần quan trọng vào thắng lợi vĩ đại và trọn vẹn của dân tộc ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước Đường Hồ Chí Minh trên biển là con đường của niềm tin tất thắng, con đường tự hào của bộ đội Hải quân Nhân dân Việt Nam Nó là sự kế thừa
và phát triển lên tầm cao mới truyền thống chống ngoại xâm của dân tộc, đồng thời vừa là sự sáng tạo độc đáo, tạo nên những giá trị nghệ thuật quân sự đặc sắc trong những thời điểm khó khăn, gian khổ, ác liệt nhất của cuộc kháng chiến, trở thành biểu tượng của ý chí giải phóng dân tộc – huyền thoại trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vĩ đại của dân tộc ta Hiện nay, con đường ấy lại có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng, là con đường của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, của sự hội nhập
và phát triển Để thế hệ hôm nay và mai sau, cũng như mọi người hiểu rõ hơn về đóng góp của tuyến đường trong chiến tranh và trong thời kỳ đổi mới Tưởng nhớ đến những anh hùng, những con người đã chiến đấu, lao động và hy sinh để nối liền chi viện của miền Bắc đối với miền Nam trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước Chính vì vậy, nhóm 3 chúng em xin nghiên cứu đề tài “Vai trò của Đường mòn Hồ Chí Minh trên biển trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ cứu nước ở Việt Nam” để làm rõ hơn vai trò của con đường chiến lược ấy
II NỘI DUNG
1 Đặc điểm của đường mòn Hồ Chí Minh trên biển
1 Sơ lược về đường mòn HCM trên biển
Trang 41.1.1 Thành lập
Tiền thân đường Hồ Chí Minh trên biển là hải lộ ven bờ do những người trong hàng ngũ Việt Minh ở Nam Bộ thực hiện lần đầu tiên Năm 1946, lực lượng Việt Minh ở Nam Bộ đã tổ chức chuyến đi của một thuyền đánh cá xuất phát từ Thạnh Phong, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre ra Bắc xin tiếp tế vũ khí Tàu cập bến trong vùng Việt Minh kiểm soát tại Tuy Hòa, Phú Yên Những người trên tàu ra Bắc bằng tàu hỏa Số
vũ khí được Quân đội nhân dân Việt Nam cung cấp cũng được chuyển vào Phú Yên bằng tàu hỏa và chất lên thuyền chở vào Bến Tre
Từ tháng 06/1961 đến tháng 02/1962, những người lãnh đạo của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ở các tỉnh Bến Tre, Cà Mau, Trà Vinh, Bà Rịa đã cử năm con thuyền gỗ từ miền Nam ra miền Bắc để báo cáo tình hình, xin tiếp tế vũ khí
và sau đó trực tiếp vận chuyển vũ khí cũng như dẫn đường cho các tàu tiếp tế giả dạng tàu đánh cá từ Bắc vào Nam Những người chỉ huy chủ chốt gồm các ông Phan Văn Nhờ (tức Tư Mau), bà Nguyễn Thị Định, ông Bông Văn Dĩa Trong số 5 chiếc thuyền
gỗ, chiếc thuyền của Bà Rịa đã bị lực lượng tuần duyên của Hải quân Việt Nam Cộng hòa chặn bắt tại ngoài khơi Cam Ranh Không phát hiện thấy nghi ngờ, con thuyền này được trả tự do Sau đó nó bị bão đánh trôi dạt đến đảo Hải Nam Đây là chiếc thuyền do ông Dương Quang Đông, nguyên Ủy viên thường vụ Xứ ủy Nam Kỳ của Đảng Cộng sản Đông Dương trước năm 1945, nguyên là cán bộ hậu cần của Việt Minh tại Khu VIII trong Kháng chiến chống Pháp được giao nhiệm vụ mua sắm Tuy nhiên, khi di chuyển đến Bà Rịa, ba người cũng đi với ông Đông đã bị quân Việt Nam Cộng hòa bắn chết và tịch thu số tiền mà tổ công tác của ông được tổ chức giao cho để mua thuyền Nhờ có bà Nguyễn Thị Mười ở Phước Hải, Long Đất đã dồn tiền của trong nhà tổng cộng 10 cây vàng để đóng góp, chiếc thuyền này được mua về và được sử dụng trong chuyến liên lạc, vận chuyển đầu tiên Tham gia chuyến vượt biển trên con thuyền của Bà Rịa còn có ông Lê Hà, con trai bà Mười, sau này trở thành một trong các thuyền trưởng đầu tiên trên các con tàu không số
Trang 5Ngày 23/10/1961, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương Việt Nam quyết định mở tuyến đường biển Bắc-Nam Trung tướng Trần Văn Trà, Phó Tổng tham mưu trưởng được Quân ủy Trung ương giao nhiệm vụ thành lập tuyến đường này Ngày 23/10/1961, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Hoàng Văn Thái ký Quyết định số 97/QP thành lập Đoàn 759, sau này trở thành Lữ đoàn 125 thuộc Hải quân nhân dân Việt Nam Đoàn 759 có trách nhiệm chi viện vũ khí cho miền Nam bằng đường biển Trung
tá Đoàn Hồng Phước được giao nhiệm vụ làm Đoàn trưởng Đây là đơn vị đầu tiên đảm nhận nhiệm vụ vận tải vũ khí, hàng hóa vào chiến trường miền Nam bằng các con tàu không số, mở ra sự phát triển mới của Đường Hồ Chí Minh trên biển Tại Nam Bộ,
Bộ Chỉ huy quân khu IX của Quân giải phóng miền Nam Việt Nam được giao nhiệm
vụ thành lập Trung đoàn 962 chuyên trách nhiệm vụ chuẩn bị bến bãi tại bờ biển các tỉnh Trà Vinh, Bến Tre, Cà Mau Bộ chỉ huy các Khu V, VI, VIII cũng được lệnh thiết lập các bến bãi bí mật để đón nhận vũ khí, đạn dược, phương tiện và các hàng hóa khác từ miền Bắc Việt Nam chuyển vào bằng đường biển
1.1.2 Phát triển phương tiện và các tuyến vận tải quân sự trên biển
• Các đơn vị
• Đoàn 759: Ngày 23/10/1961, Quân ủy Trung ương Việt Nam quyết định thành
lập Đoàn hải quân 759, sau này trở thành Lữ đoàn 125 của Hải quân nhân dân Việt Nam Đây là đơn vị đầu tiên đảm nhận nhiệm vụ vận tải vũ khí, hàng hóa vào chiến trường miền Nam bằng các con tàu không số, mở ra sự phát triển mới của Đường Hồ Chí Minh trên biển
• Đoàn 962: Tại Nam Bộ, Bộ Chỉ huy quân khu IX của Quân giải phóng miền
Nam Việt Nam được giao nhiệm vụ thành lập Trung đoàn 962 chuyên trách nhiệm vụ chuẩn bị bến bãi tại bờ biển các tỉnh Trà Vinh, Bến Tre, Cà Mau Bộ chỉ huy các Khu V, VI, VIII cũng được lệnh thiết lập các bến bãi bí mật để đón nhận vũ khí, đạn dược, phương tiện và các hàng hóa khác từ miền Bắc Việt Nam chuyển vào bằng đường biển
Trang 6• Đoàn 950: Qua nghiên cứu việc vận chuyển bằng xuồng, ghe hai đáy trong nội
địa quân khu, năm 1972, được sự đồng ý của Bộ Tổng tham mưu, Bộ tư lệnh quân khu 9 đã quyết định thành lập Đoàn 950 (sau gọi là Đoàn 371) Đoàn 950 hoạt động theo phương thức hợp pháp (các tàu vận chuyển), bất hợp pháp (các bến bãi và kho) Hoạt động từ ngày thành lập cho đến ngày chiến thắng 30 tháng
4 năm 1975
• Phương tiện: Tàu, thuyền gỗ; Tàu sắt và Tàu hai đáy
• Các tuyến chính: Tuyến ven bờ, Tuyến tiếp giáp lãnh hải và Tuyến hàng hải quốc tế
• Sa Huỳnh là một làng chài cổ đồng thời là một bãi biển nổi tiếng ở miền Trung Trung Bộ với nghề đánh cá từ lâu đời Trong quá trình hoạt động của "Đường
Hồ Chí Minh trên biển"; Sa Huỳnh là một trong những bến bãi tiếp nhận vũ khí, đạn dược, hàng hóa do các chuyến tàu không số chuyên chở từ miền Bắc gửi vào cho Quân giải phóng miền Nam Việt Nam tại chiến trường Khu V
• Quy Thiện: Địa điểm Quy Thiện thuộc xã Phổ Hiệp, huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi Là một trong các bến đỗ dự bị của các chuyến tàu không số trong trường hợp tàu bị hỏng, là nơi tránh trú khi gặp bão lớn hoặc bị hải quân Việt Nam Cộng hòa vây ráp Tháng 03/1968, tại đây đã diễn ra cuộc hội ngộ không hẹn mà gặp giữa các cán bộ, nhân viên của Bệnh xá Đức Phổ nổi tiếng do bác sĩ Đặng Thùy Trâm lãnh đạo với các thủy thủ Tàu 43 khi tàu bị không quân và hải quân Việt Nam Cộng hòa bắn hỏng Các thủy thủ phải đổ bộ lên bờ và được người dân
Trang 7trong vùng bí mật đưa đến trạm xá này để cứu chữa Sau đó, họ được Bộ Chỉ huy Khu V của Quân giải phóng miền Nam tổ chức vượt Trường Sơn trở lại miền Bắc
• Lộ Diêu: Bến này nằm trên địa bàn Hoài Hải, thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định
Ở vào vị trí giữa đèo Lộ Diêu trong và đèo Lộ Diêu ngoài, phía Tây là núi, phía Đông là bãi biển, Lộ Diêu được chọn làm bến trung chuyển vũ khí, đạn dược và hàng hóa do các con tàu không số chở từ miền Bắc vào chiến trường khu V Bến
Lộ Diêu bắt đầu hoạt động từ ngày 01/01/1964 khi đón con tàu đầu tiên chở hàng chục tấn vũ khí xuất phát từ Hòn Dấu, Hải Phòng đi vào
• Lộc An: Địa điểm này nay thuộc huyện Long Đất, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu Đây
là bến xuất phát của một trong năm con thuyền gỗ đầu tiên mở tuyến đường Hồ Chí Minh trên biển từ Nam ra Bắc và ngược lại Trong quá trình hoạt động, bến này đã đón 3 tàu không số cập bến, vận chuyển 109 tấn vũ khí cho Quân giải phóng miền Nam Việt Nam tại Khu IX
• Cồn Tàu: Đây là bến chính trong hệ thống bến bãi Trà Vinh, nằm ở gần cửa Cung Hầu, một trong ba cửa chảy ra biển của sông Hậu, thuộc huyện Duyên Hải Bến này bắt đầu hoạt động từ tháng 06/1963 khi đón chuyến tàu sắt đầu tiên chở 44 tấn vũ khí từ Bắc vào Nam
• Bến "Ông Hai Ghiền": Đây là biệt danh được những người lính của Trung đoàn vận tải 962 đặt cho Bến Thạnh Phong Địa điểm này nay thuộc xã Thạnh Phong, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre Đây là nơi xuất phát của con tàu đầu tiên của Việt Minh ở vùng Tây Nam Bộ ra Bắc xin vũ khí để tổ chức kháng chiến chống Pháp từ năm 1946 Từ năm 1961 đến năm 1962, 2 chuyến tàu của lực lượng Quân giải phóng miền Nam Việt Nam ở Tây Nam Bộ cũng xuất phát từ đây ra Bắc xin chi viện vũ khí và trở về an toàn Bến này cũng với các bến Cồn Tra và Cồn Lợi hợp thành một hệ thống bến bãi đón nhận vũ khí, đạn dược, hàng hóa của Quân giải phóng miền Nam Việt Nam tại tỉnh Bến Tre Mặc dù theo sự bố trí của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam, Thạnh Phong thuộc khu VIII
Trang 8nhưng lại đóng vai trò là bến trung chuyển lớn cho cả miền Đông và miền Tây Nam Bộ trong thời kỳ 1961-1963 Kho cất giữ vũ khí bí mật phục vụ cho bến Thạnh Phong được xây dựng dưới lòng đất tại xã Thạnh Thới A, gần bến phà Cầu Ván, thuộc huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre Xã Thạnh Thới A cũng là nơi đóng sở chỉ huy Trung đoàn vận tải 962 của Quân giải phóng miền Nam Việt Nam tại Khu IX
• Vàm Lũng: Bến này do ông Bông Văn Dĩa (sau này là thượng tá hải quân) lựa chọn và xác định thay cho hai con lạch Bồ Đề và Rạch Gốc tuy sâu và rộng hơn nhưng dễ bị lộ hơn Địa điểm này thuộc huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau Tại đây
có một con rạch lớn sâu từ 2 đến 3m Hai bên có rừng đước rộng lớn che phủ Các tàu pha sông biển cỡ nhỏ có trọng tải dưới 100 tấn có thể ra vào được và dễ dàng ẩn nấp dưới các rặng đước cao và rậm rạp Tháng 10/1962, bến này bắt đầu hoạt động khi đón con tàu gỗ mang mật danh "Phương Đông 1" chở 30 tấn vũ khí từ miền Bắc vào cho Quân giải phóng miền Nam Việt Nam tại Khu IX Trong toàn bộ thời gian hoạt động, bến này đã đón 68 chuyến tàu tiếp tế từ miền Bắc vào
• Rạch Giá: Cảng cá Rạch Giá là căn cứ nửa công khai, nửa bí mật của đoàn tàu hai đáy do Trung đoàn vận tải 950 thuộc Khu IX, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam phụ trách Bến này đi vào hoạt động từ nửa sau năm 1968 Gọi là nửa công khai vì bề ngoài, đây là một cảng cá, gọi là nửa bí mật vì đây là một bến tiếp nhận vũ khí vận chuyển bằng đường biển Bến cảng này đánh dấu một phương pháp vận chuyển mới: "trên cá, dưới súng đạn" Do tàu gỗ có cấu tạo hai đáy nên bề ngoài, nó giống như một tàu đánh cá bình thường Nhưng giữa hai lớp đáy có một khoảng trống để cất giấu vũ khí, đạn dược và các hàng hóa khác Do sự kiểm soát gắt gao của Hải quân Việt Nam Cộng hòa khi phát hiện một tàu hai đáy bị hỏng máy và được kéo về bờ, bến này phải tạm ngừng hoạt động từ giữa năm 1973 đến đầu năm 1975, khi Chiến dịch Mùa Xuân 1975 bắt đầu được khởi động
Trang 92 Số liệu liên quan
Ngày 11-10-1962, một tàu vỏ gỗ mang mật danh “Phương Đông một” do đồng chí
Lê Văn Một và đồng chí Bông Văn Dĩa chỉ huy, chở 30 tấn vũ khí rời bến Đồ Sơn (Hải Phòng) rẽ song ra khơi nhằm hướng Cà Mau tiến tới Đến ngày 29-10-1962 tàu cập bến Vàm Lũng an toàn Nhân dân đón nhận vũ khí chi viện đầu tiên cho cách mạng miền Nam với lòng hồ hởi, phấn khởi vô hạn Họ nhanh chóng khuân vác vũ khí cất giấu vào kho bí mật an toàn Tiếp đó những chuyến tàu Phương Đông 2, 3, 4 cũng lần lượt lên đường vận chuyển vũ khí vào Nam Bộ
Trong vòng 2 tháng, các tàu này đã chuyển vào Nam 111 tấn vũ khí cập bến tỉnh
Cà Mau Vượt qua những thử thách, gian nan, đấu trí căng thẳng với địch và song gió biển khơi các chiến sĩ đã hoàn thành nhiệm vụ xuất sắc thời kì đầu tiếp tế vũ khí cho cách mạng miền Nam, góp phần quan trọng tăng cường nhanh chóng sức mạnh chiến đấu cho lực lượng vũ trang giải phóng Công việc vận chuyển vũ khí vào chiến trường Nam Bộ tạm ổn, tuy số lượng chưa nhiều nhưng đã góp phần giúp quân và dân các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long phát triển lực lượng vũ trang, tạo được thế mới, lực lượng mới, đánh thắng địch nhiều trận, mở rộng vùng giải phóng
Tính từ 10-1962 đến 2-1965, ta đã sử dụng 3 tàu gỗ, 17 tàu vỏ sắt, tổ chức đưa 88 chuyến tàu tới đích (không tính các chuyến chinh sát, mở đường) vận chuyển được 4.919.636 tấn vũ khí và một số mặt hàng thiết yếu vào chiến trường (Cà Mau, Bạc Liêu 45 chuyến, Bến Tre 23 chuyến, Trà Vinh 12 chuyến, Bà Rịa 3 chuyến, Vũng Rô
4 chuyến, Bình Định 1 chuyến) đạt 93% kế hoạch, vượt chỉ tiêu Trung ương giao (Bộ chính trị, Quân ủy trung ương, Bộ Quốc phòng giao chỉ tiêu đưa được 50% số hàng tới đích thành công) Riêng hai năm 1962 và 1964, đạt tỷ lệ cao nhất 100% (57/57 chuyến thành công)
Thành công của những chuyến vũ khí đã trực tiếp góp phần đẩy mạnh chiến tranh nhân dân, xây dựng và phát triển khối chủ lực ở chiến trường Nam Bộ, cực Nam Trung Bộ; góp phần làm nên những chiến thắng oanh liệt của nhân dân ta ở Ấp Bắc, Đầm Dơi, Cái Nước, Chà Là, Vạn Tường, Ba Gia, Bình Gĩa, Đồng Xoài… Đặc biệt, điều
Trang 10đó có ý nghĩa hơn khi cũng trong những thời gian này, tuyến chi viện chiến lược trên
bộ (Đoàn 559) tuy đã được tổ chức ngang cấp sư đoàn, được biên chế 2 trung đoàn gửi thồ, 1 đại đội ô tô vận tải, một số đơn vị công binh, giao liên đã có những nỗ lực lớn trong nhiệm vụ mở đường và đã vươn tới chiến trường Bắc Tây Nguyên Nhưng
do đường mới mở, mưa lớn nên chỉ vận chuyển được 1.410 tấn vật chất các loại (chủ yếu là cho Trị Thiên và Nam Lào) đạt 25% kế hoạch được giao
Từ 2-1965 đến 1-1973 là giai đoạn khó khăn nhất nhưng hết sức hào hung của tuyến chi viện chiến lược trên biển Sau sự kiện xảy ra với tàu C143 ở Vũng Rô (Phú Yên) bí mật của tuyến chi viện chiến lược trên biển của ta không còn nữa Công việc tiếp tế cho miền Nam bằng đường biển vẫn phải tiếp tục, nhưng ta chuyển hướng vận chuyển từ phương thức trực tiếp sang gián tiếp Bằng phương thức này, trong từ năm
1968 đến năm 1969 lực lượng vận tải biển đã đưa vào cảng sông Gianh 21.737 tấn vũ khí Từ đây, số vũ khí được chuyển vào bằng đường bộ Ngoài ra, trong giai đoạn này, cán bộ chiến sĩ Đoàn 125 còn tham gia chiến dịch vận tải VT5 – Vận tải tranh thủ tụt thang (từ tháng 11-1968 đến năm 1969) cùng các lực lượng trong và ngoài quân đội vận chuyển hàng chục vạn tấn vũ khí, lương thực, xăng dầu … từ Hải Phòng vào các tỉnh Nam khu 4 tạo chân hàng cho tuyến chi viện chiến lược trên bộ
Từ 1973 đến 1975 tuyến chi viện chiến lược bằng đường biển đã dốc toàn bộ lực lượng và phương tiện, sử dụng hàng nghìn lượt và chuyến tàu chuyển vũ khí và vật chất các loại vào chiến trường Đặc biệt trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, đã sử dụng 140 lượt chuyến tàu, vận chuyển 6.282 tấn vũ khí và vật chất khác, cùng hàng ngàn lượt cán bộ chiến sĩ vào tăng cường cho chiến trường Nam
Bộ và khu 5, cơ động bộ đội thuộc đảo Trường Sa, Cù Lao Thu, các đảo phía Nam và Tây Nam của Tổ Quốc
2 Vai trò của đường mòn HCM trên biển trong sự nghiệp kháng chiến chống
Mỹ cứu nước
Trang 112 Đường Hồ Chí Minh trên biển là sự sáng tạo chiến lược của Đảng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Đường Hồ Chí Minh trên biển – Một sáng tạo chiến lược của Đảng trong cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước Từ đầu cho đến kết thúc chiến tranh, trong từng thời điểm, giai đoạn cụ thể, Đảng ta luôn chỉ đạo sát sao, cụ thể và có những quyết sách chính xác với Đường Hồ Chí Minh trên biển Cùng với Đường Hồ Chí Minh trên bộ, Đường
Hồ Chí Minh trên biển là một chiến lược kỳ công của dân tộc ta trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
Trong quá trình hoạch định đường lối kháng chiến là quá trình Đảng ta, đứng đầu
là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành sự quan tâm, chỉ đạo chặt chẽ, cụ thể, tỉ mỉ công tác chi viện chiến trường thông qua Bộ Chính trị, Quân ủy trung ương Thực tế cho thấy, ngay sau Hội nghị Trung ương 15 quyết định đường lối cách mạng miền Nam từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công Bộ chính trị đã trực tiếp chỉ đạo tổ chức mở tuyến đường Trường Sơn chi viện miền Nam Nhằm đáp ứng yêu cầu trên, đầu tháng 5-1959 Tổng Quân ủy (nay là Quân ủy Trung ương) và Bộ tổng tư lệnh thành lập Đoàn 759,
có nhiệm vụ mở đường giao liên và vận tải trên bộ, đưa người và vũ khí cùng những mặt hàngthiết yếu từ hậu phương lớn Miền Bắc vào chiến trường
Sau một thời gian nghiên cứu chuẩn bị, ngày 23-10-1961, Bộ quốc phòng ra quyết định số 97/QP thành lập Đoàn 759 vận tải quân sự đường biển Được sự quan tâm chỉ đạo của cấp trên, sự ủng hộ, giúp đỡ hết lòng của cấp ủy, chính quyền và nhân dân một số địa phương, Đoàn759 nhanh chóng xây dựng lực lượng, chuẩn bị phương tiện,
tổ chức trinh sát nhằm nắm chắc quy luật tuần tra, ngăn chặn trên biển của địch; hiệp đồng với các tỉnh ven biển Nam Bộ và Nam Trung Bộ xây dựng các bến bãi tiếp nhận
và tổ chức lực lượng vận chuyển vũ khí Theo yêu cầu của đoàn, Bộ Quốc phòng làm việc với Bộ Giao thông vận tải giao nhiệm vụ cho Xưởng đóng tàu Hải Phòng bí Mật nghiên cứu đóng loại tàu vỏ gỗ gắn máy đúng kiểu dạng ngư dân Nam Bộ vẫn sử dụng
để phục vụcông tác vận chuyển Sáng ngày 19-10-1962, chiếc tàu chở gỗ đầu tiên chở
Trang 12hơn 30 tấn vũ khí mang mật danh phương đông đã cập bến Vàm Lũng an toàn Tuyến chi viện chiến lược đường Hồ Chí Minh trên biển chính thức được khai thông
Sự nhìn nhận từ sớm của Đảng và chủ tịch Hồ Chí Minh về yêu cầu, nhiệm vụ, vị trí và vai trò của công tác chi viện chiến trường đã tạo bước phát triển vững chắc mạnh
mẽ cho cách mạng miền Nam Con đường chi viện trên biển đã ghi dấu ấn quan trọng thúc đẩy sự lớn mạnh của lực lượng vũ trang cách mạng trên chiến trường, góp phần vào thắng lợi của những trận đánh gây tiếng vang lớn Đặc biệt trong cuộc tiến công
và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, thực hiện chỉ lệnh ‘thần tốc, đại thần tốc’ của Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp đường Hồ Chí Minh trên biển đã vận chuyển nhanh nhiều vũ khí hạng nặng và hàng chục nghìn cán bộ, chiến sĩ vào miền Tây, kịp thời chi viện chiến trường
Kết quả của sự phát triển thực lực kháng chiến ở miền Nam sau thắng lợi của phong trào “Đồng Khởi” năm 1960 đã chứng tỏ rằng, Đảng ta và chủ tịch Hồ Chí Minh trên
cơ sở nắm bắt, lường định đúng xu thế phát triển cuộc kháng chiến, chủ động, tích cực chuẩn bị thời cơ, lực lượng, tạo ra bước phát triển mạnh mẽ, vững chắc của cách mạng; con đường chi viện trên biển đã có những đóng góp thiết thực trong quá trình ấy Quyết định đúng đắn, sáng tạo, táo bạo của Đảng và chủ tịch Hồ Chí Minh, mở con đường vận tải quân sự chiến lược chi viện miền Nam trên hướng biển, đã thể hiện rõ nhãn quan nhạy bén, tài tình của Đảng ta và chủ tịch Hồ Chí Minh; đáp ứng khát vọng cháy bỏng và quyết tâm sắt đá giải phóng miền Nam thống nhất tổ quốc của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta Tuyến vận tải quân sự chiến lược này đã góp phần phát huy sức mạnh của miền Bắc Xã hội Chủ nghĩa - nhân tố quyết định nhất, kết hợp với sức mạnh tại chỗ của cách mạng miền Nam, tạo nên sức mạnh tổng hợp to lớn của toàn dân tộc, đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đến thắng lợi hoàn toàn
2 Đường Hồ Chí Minh là nơi hội tụ sức mạnh của chiến tranh nhân dân Việt Nam trong cuộc đấu trí, đấu lực với kẻ thù
Trang 13Đường Hồ Chí Minh trên biển đã trở thành nơi hội tụ sức mạnh của chiến tranh nhân dân Việt Nam trong cuộc đấu trí, đấu lực với các âm mưu thủ đoạn của kẻ thù;
là nơi tỏa sáng chủ nghĩa anh hùng cách mạng; lòng quả cảm, trí thông minh và quyết tâm đánh Mỹ của dân tộc Việt Nam anh hùng
Đi vào cuộc trường chinh chống Mỹ, cứu nước, hành trang - vũ khí sắc bén của con người Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh chính là niềm tin sắt son vào sự nghiệp cách mạng do Đảng và Bác Hồ lựa chọn Niềm tin ấy của các thế hệ người Việt Nam được hun đúc, bồi đắp bằng sự quan tâm, chăm lo của Đảng ta và chủ tịch Hồ Chí Minh; được hấp thu, truyền thụ qua môi trường giáo dục xã hội chủ nghĩa, qua những biểu tượng, hình tượng của con người Việt Nam giàu lòng yêu nước, có ý thức sâu sắc về giá trị của độc lập, tự do luôn sẵn sàng hi sinh phấn đấu cho sự nghiệp đánh giặc ngoại xâm, thống nhất non sông gấm vóc
Được dẫn dắt bởi đường lối kháng chiến đúng đắn, ý chí, nghị lực, quyết tâm trong mỗi con người, mỗi tập thể, mỗi lực lượng thực sự là vũ khí tinh thần có ý nghĩa quyết định thành bại trên mỗi trận tuyến chống quân thù Trên ý nghĩa đó, lực lượng vận tải quân sự đường biển đã thể hiện một bản lĩnh chính trị vững vàng, tinh thần chịu đựng gian khổ, hy sinh, sự mưu trí, dũng cảm hiếm có để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao Không có bản lĩnh chính trị vững vàng thì không thể thực hiện được nhiệm
vụ gian khó đặt ra, nhất là trong buổi đầu hình thành lực lượng vận tải quân sự đường biển, vấn đề soi đường, thông đường, tổ chức chuẩn bị phương tiện, bến bãi Đó quả
là quá trình tìm tòi, khảo nghiệm công phu, đồng thời là sự thử thách ý chí, quyết tâm của cả một tập thể, từ người chỉ huy đến thủy thủ, sự phối hợp ăn khớp giữa hậu phương và tiền tuyến Đường Hồ Chí Minh trên biển thì phải nói đến cả tuyến, bởi từ trăm sông, trăm ngả, có ngõ, có đường, có đầu, có cuối mới hình thành nên một con đường hoàn chỉnh Không có tinh thần chịu đựng gian khổ, hy sinh, sự mưu trí, dũng cảm hiếm có thì khó có thể thực hiện được cuộc vượt biển vào Nam với bao hiểm nguy rình rập Trên những con tàu nhỏ, trang thiết bị hạn chế, cán bộ, thủy thủ phải đối mặt với sóng to, gió lớn, với sự ngăn chặn gắt gao của quân thù đòi hỏi phải có tinh thần
Trang 14chịu đựng gian khổ, trong tình huống hiểm nghèo, phải chấp nhận hy sinh tính mạng
để giữ bí mật của tuyến đường
Do vị trí chiến lược hết sức quan trọng của đường Hồ Chí Minh trên biển, đế quốc
Mỹ dùng mọi thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt với các loại vũ khí, thiết bị tối tân hiện đại nhất của nền khoa học - công nghệ quân sự Mỹ để đánh phá, hòng hủy diệt, ngăn chặn, cắt đứt tuyến đường viện trợ của ta trên biển Những con đường, các bến bãi đều nằm trongcác vùng kìm kẹp, lùng sục, truy quét, đánh phá ác liệt suốt đêm ngày của địch Trên con đường vận chuyển ấy, cán bộ, chiến sỹ đoàn tàu không số với tinh thần “Vì miền Nam ruột thịt” đã xác định quyết tâm, âm thầm hy sinh tình cảm gia đình và bản thân, biết rằng ra đi là cảm tử, vẫn chấp nhận gian nguy, đương đầu với khó khăn thử thách.Mỗi chuyến đi là một cuộc đấu trí căng thẳng, quyết liệt với kẻ thù, với thiên nhiên, sóng gió Và vượt lên tất cả là chiến thắng chính bản thân mình, đòi hỏi cao ý chí kiển định, mưu trí, dũng cảm, sáng tạo và ý thức chấp hành kỷ luật nghiêm minh Thời đại Hồ Chí Minh đã tạo ra con người Việt Nam và chính con người Việt Nam
đã viết nên những trang sử hào hùng của thời đại Hồ Chí Minh Thắng lợi của sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước nói chung và thành công của công cuộc chi viện chiến trường bằng đường Hồ Chí Minh trên biển nói riêng thực sự là biểu trưng sinh động cho giá trị, phẩm chất và hào khí bất khuất của con người Việt Nam Đây chính là nhân tố trung tâm, quyết định tạo nên sức mạnh phi thường để nhân dân Việt Nam đương đầu và đánh thắng quân xâm lược Mỹ
3 Đường Hồ Chí Minh trên biển là niềm tự hào, nguồn cổ vũ, động viên lớn lao đối với các cán bộ, chiến sĩ
Đi vào cuộc trường chinh chống Mỹ, cứu nước, hành trang - vũ khí sắc bén của con người Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh chính là niềm tin sắt son vào sự nghiệp cách mạng do Đảng và Bác Hồ lựa chọn Niềm tin ấy của các thế hệ người Việt Nam được hun đúc, bồi đắp bằng sự quan tâm, chăm lo của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh; được hấp thu, truyền thụ qua môi trường giáo dục xã hội chủ nghĩa, qua những biểu tượng, hình tượng của con người Việt Nam giàu lòng yêu nước, có ý thức sâu sắc về
Trang 15giá trị của độc lập, tự do, luôn sẵn sàng hy sinh, phấn đấu cho sự nghiệp đánh đuổi ngoại xâm, thống nhất non sông gấm vóc Được dẫn dắt bởi đường lối kháng chiến đúng đắn, ý chí, nghị lực, quyết tâm trong mỗi con người, mỗi tập thể, mỗi lực lượng thực sự là thứ vũ khí tinh thần có ý nghĩa quyết định thành bại trên mỗi trận tuyến chống quân thù Trên ý nghĩa đó, lực lượng vận tải quân sự đường biển đã thể hiện một bản lĩnh chính trị vững vàng, tinh thần chịu đựng gian khổ, hy sinh, sự mưu trí, dũng cảm hiếm có để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao
Trên những chuyến "tàu không số", nhiều cán bộ chỉ huy, thuyền trưởng, chính trị viên, thuyền phó đã thể hiện sự xử trí tài tình, mưu trí, điều khiển con tàu tiếp tục giữ vững hành trình vào Nam và đối phó linh hoạt với các tình huống xảy ra Có thể kể ra đây những cán bộ như thế: đồng chí Hồ Đắc Thạnh, Nguyễn Văn Cứng, Lê Văn Thêm, Đinh Đạt, Phạm Vạn, Lê Quốc Thành, Nguyễn Hữu Phước, Trần Ngọc Ẩn…
Các đồng chí ấy đã nêu những tấm gương mẫu mực về chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trình độ hàng hải vững vàng, điều khiển những con tàu vượt qua các bãi đá ngầm, sóng gió hiểm nguy và nhất là sự phong tỏa ngăn chặn, đánh phá ác liệt của quân thù, đưa nhiều chuyến tàu chở vũ khí cập bến an toàn Và cũng trong số đó, nhiều cán bộ, chiến sĩ cùng với những con tàu ra đi không trở lại Khi gặp địch bao vây bốn phía, cán bộ và chiến sĩ trên tàu đã dũng cảm chiến đấu và để giữ bí mật cho con đường, họ hy sinh cả thân mình nơi biển cả mênh mông Nêu tấm gương nghĩa liệt ấy
là các đồng chí Đặng Văn Thanh, Nguyễn Phan Vinh, Nguyễn Văn Hiệu, Hồ Đức Thắng…
Có thể nói, suốt 14 năm ròng rã (1961-1975) thực hiện vận chuyển chiến lược bằng đường biển chi viện miền Nam, cán bộ, chiến sĩ hải quân nhân dân đã lập nhiều chiến công xuất sắc, nêu cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng và tạo dựng nên một con đường huyền thoại trên biển mang tên Hồ Chí Minh - vị Cha già kính yêu của Bộ đội Hải quân nhân dân Việt Nam nói riêng, của Quân đội nhân dân Việt Nam nói chung Suy cho cùng, thời đại Hồ Chí Minh đã tạo ra con người Việt Nam và chính con người Việt Nam đã viết nên những trang sử hào hùng của thời đại Hồ Chí Minh Thắng