Ngày nay, quá trình toàn cầu hóa đang diễn ra ngày một mạnh mẽ, vừa là thời cơ cho sự hội nhập và phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời cũng là những thách thức to lớn đối với vấn đề bả
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
PHẠM THỊ LOAN
QUÁ TRÌNH DU NHẬP CỦA NHO GIÁO VÀO VIỆT NAM TỪ ĐẦU CÔNG
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Người hướng dẫn khoa học: PGS, TS TRƯƠNG VĂN CHUNG
12 Đinh Tiên Hoàng, Q.1 vào lúc: 8giờ 00 ngày 10 tháng 12 năm 2015
Có thể tìm hiểu luận án tại:
Thư viện trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Tp Hồ Chí Minh, số 10-12 Đinh Tiên Hoàng, Q.1
Trang 31 Đồng tác giả (2006), “Sự phát triển của Nho giáo thời kỳ Lý - Trần”,
tạp chí Triết học, số 12 (187)
2 Tác giả (2011), “Thế giới quan triết học của các nhà nho trong xã hội
phong kiến Việt Nam”, tạp chí Triết học, số 2 (237)
3 Tác giả (2015), “Sự tiếp biến các quan niệm đạo đức Nho giáo của
người Việt trong lịch sử”, tạp chí Khoa học chính trị, số 4
4 Tham gia (2007), “Khái quát sự phát triển của Nho giáo thời kỳ Lý –
Trần”, sách Tư tưởng Việt Nam thời Lý – Trần, PGS.TS Trương Văn Chung – PGS.TS Doãn Chính đồng chủ biên, Nxb Chính trị, quốc
gia, Hà Nội
5 Tham gia (2011), “Ảnh hưởng của Tống Nho trong tư tưởng triết học
Nguyễn Bỉnh Khiêm”, sách Tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ XV đến thế kỷ
XIX, PGS.TS Doãn Chính chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia
6 Tham gia (2012), Lịch sử triết học phương Đông, PGS.TS Doãn
Chính chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
7 Tham gia (2013), Lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam từ thời kì dựng
nước đến đầu thế kỷ XX, PGS.TS Doãn Chính chủ biên, Nxb Chính
trị quốc gia, Hà Nội
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Là học thuyết triết học, chính trị, đạo đức Trung Quốc, ra đời ở thế kỷ VI trước Công nguyên, sau đó lần lượt được truyền sang các nước Á Đông khác, Nho giáo đã có mặt ở Việt Nam hàng ngàn năm nay và trải qua nhiều biến đổi
Từ chỗ những ngày đầu còn xa lạ và bị phần lớn người Việt từ chối, sau thời Bắc thuộc, Nho giáo đã dần được các triều đại Việt Nam tiếp nhận, sử dụng làm hệ tư tưởng và công cụ trị nước, đào tạo ra những con người phù hợp với mục đích cai trị của chế độ phong kiến nước nhà Nho giáo đã trở thành một trong những thành tố của truyền thống văn hóa Việt Nam, chi phối mạnh mẽ đến tư duy và thái độ ứng xử của người Việt
Ngày nay, quá trình toàn cầu hóa đang diễn ra ngày một mạnh mẽ, vừa là thời cơ cho sự hội nhập và phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời cũng là những thách thức to lớn đối với vấn đề bảo vệ, giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của mỗi dân tộc trong bối cảnh mới của thế giới hiện đại Trong
xu hướng đó, việc khẳng định và phát huy những yếu tố văn hóa bền vững, lâu dài, làm nền tảng tinh thần cho sự tồn tại và phát triển của cả một dân tộc là điều kiện hết sức thiết yếu Nền văn hóa ấy tất yếu phải kế thừa và phát huy tinh hoa văn hóa truyền thống hàng ngàn năm của dân tộc mà trong đó Nho giáo đã từng giữ vai trò chủ đạo suốt nhiều thế kỷ Việc nghiên cứu vấn đề Nho giáo nói chung, quá trình Nho giáo du nhập Việt Nam nói riêng một mặt nhằm xem xét những cơ sở lịch sử, chính trị và văn hóa mà Nho giáo có thể bén rễ trong xã hội, những ảnh hưởng của Nho giáo thể hiện qua tư tưởng, phong tục tập quán, lối sống, cách ứng xử xã hội mặt khác để có thái độ đúng đắn đối với một học thuyết đã có những ảnh hưởng sâu sắc đối với đời sống xã hội của dân tộc trong lịch sử, đồng thời đem lại những bài học kinh nghiệm về
sự tiếp thu, vận dụng của dân tộc ta đối với Nho giáo nói riêng và các học thuyết, tư tưởng ngoại lai nói chung vừa để tránh bị đồng hóa văn hóa vừa để làm giàu thêm nền văn hóa của riêng mình
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu về quá trình du nhập của Nho giáo vào Việt Nam được nhận thức trong lý luận về sự chuyển đổi tư tưởng từ một nền văn hóa này sang một
nền văn hóa khác, thể hiện ở nhiều công trình nước ngoài, như: Learning as
Transformation: Critical perspectives on a theory in progress (2000) và Perspective Transformation (2012) của Jack Mezirow; Organizational Transformation: Approaches, Strategies, Theories, Amir Levy, Uri Merry,
Havard, New York, 1998; Understanding religious conversion, Lewis Rambo, Yale University, 1993; Thought on the problem of religious conversion in
history, Propper Karl, London, Oxford University, 1986; Rambo’s stages of
Trang 5conversion, Judy Harrow, Sociology and social Research (UNESCO), vol 36,
No 3; Religion and the transformation of society, Wilson Monica, Cambridge,
thư, 3 tập, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1998; Lịch sử tư tưởng Việt Nam,
tập 1, Nguyễn Tài Thư (chủ biên), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993 và tập
2, Lê Sỹ Thắng (chủ biên), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1997; Lịch sử tư
tưởng Việt Nam, Nguyễn Đăng Thục (6 tập), Nxb Tp Hồ Chí Minh, 1998; Đại cương lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam, Nguyễn Hùng Hậu (chủ biên),
tập 1, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, 2002; Đại cương lịch sử văn hóa Việt
Nam (tập 3) của Nguyễn Khắc Thuần, Nxb Giáo dục, 1997; Sự phát triển của tư tưởng Việt Nam từ thế kỉ XIX đến Cách mạng Tháng Tám của Trần Văn
Giàu, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1993 (tập 1, tập 2); Nho giáo ở Gia Định của Cao Tự Thanh, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1996 cùng nhiều bài viết trên các tạp chí Triết học và tạp chí Hán Nôm đề cập đến vấn đề này
2 Hướng nghiên cứu nội dung tư tưởng, vai trò và ảnh hưởng của Nho giáo ở Việt Nam, có các công trình như: Tập sách Khổng giáo phê bình
tiểu luận của Đào Duy Anh, Nxb Quan Hải tùng thư, Huế, 1939, Nho giáo,
Trần Trọng Kim, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1992; Nho giáo xưa và nay,
Vũ Khiêu (chủ biên), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1991; Nho giáo tại Việt
Nam, Lê Sỹ Thắng (chủ biên), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1994, Đến hiện tại từ truyền thống của Trần Đình Hượu, Nxb Văn hóa, 1995; Nho học và Nho học ở Việt Nam của Nguyễn Tài Thư, Nxb Hà Nội, 1997; Một số vấn đề về Nho giáo Việt Nam, Phan Đại Doãn (chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội, 1998; Nho giáo với văn hóa Việt Nam của Nguyễn Đăng Duy, Nxb Hà Nội, 1998; Tìm hiểu tư tưởng chính trị Nho giáo Việt Nam từ Lê Thánh Tông
đến Minh Mệnh của Nguyễn Hoài Văn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002; Học thuyết chính trị - xã hội của Nho giáo và ảnh hưởng của nó ở Việt Nam
của Nguyễn Thanh Bình, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007…
3 Hướng nghiên cứu việc kế thừa các giá trị của Nho giáo trong sự nghiệp đổi mới, được đề cập trong tác phẩm Nho giáo và phát triển ở Việt
Nam, Vũ Khiêu, Nxb Khoa học xã hội, 1997, các công trình của Lê Sỹ Thắng,
Trần Đình Hượu và các bài viết trên tạp chí Triết học của các tác giả Nguyễn
Trọng Chuẩn, Nguyễn Tài Thư…
Trang 63 Mục đích và nhiệm vụ của luận án
Mục đích của luận án là làm rõ được bản chất, đặc điểm và ý nghĩa lịch
sử của quá trình Nho giáo du nhập Việt Nam từ đầu Công nguyên đến thế kỷ XIX Để đạt được mục đích đó, luận án có nhiệm vụ: Khái quát về học thuyết Nho giáo và những điều kiện cho sự du nhập của Nho giáo vào Việt Nam; Trình bày, phân tích các giai đoạn và những nội dung tư tưởng trong quá trình
du nhập của Nho giáo vào Việt Nam; Nhận diện những đặc điểm cơ bản của quá trình du nhập Nho giáo vào Việt Nam, trên cơ sở đó rút ra một số ý nghĩa lịch sử từ quá trình ấy
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
Về đối tượng nghiên cứu, luận án tập trung tìm hiểu quá trình du nhập của Nho giáo vào Việt Nam ở góc độ triết học, trong đó cố gắng phân tích, làm
rõ những chuyển biến của Nho giáo trong quá trình truyền bá và tiếp nhận ở Việt Nam nhằm tìm ra tính quy luật của quá trình đó Phạm vi nghiên cứu của luận án là từ đầu Công nguyên cho đến cuối thế kỷ XIX
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, tiếp cận đề tài dưới góc độ triết học tôn giáo, đồng thời, tham khảo các lý thuyết chung về tiếp biến văn
quy nạp
6 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận án
Về ý nghĩa khoa học, luận án muốn góp phần làm rõ thêm quá trình du nhập của Nho giáo vào Việt Nam từ đầu Công nguyên đến thế kỷ XIX ở góc
độ triết học Về ý nghĩa thực tiễn, đề tài giúp người đọc nhận thức rõ hơn về vấn đề tiếp thu và biến đổi Nho giáo của người Việt trong lịch sử, làm cơ sở cho những nghiên cứu về Nho giáo ở Việt Nam nói riêng, về tư tưởng, văn hóa Việt Nam nói chung Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho những sinh viên, học viên, những người quan tâm đến lĩnh vực lịch sử tư tưởng Việt Nam nói riêng và văn hóa Việt Nam nói chung
7 Cái mới của luận án
Thứ nhất, luận án làm rõ nội hàm khái niệm về sự du nhập, bản chất của
sự du nhập văn hóa, tư tưởng ở góc độ triết học Thứ hai, luận án phân tích đặc điểm của quá trình du nhập Nho giáo vào Việt Nam Thứ ba, luận án đề xuất
một số ý nghĩa rút ra từ việc nghiên cứu quá trình Nho giáo du nhập Việt Nam trong lịch sử tư tưởng
8 Kết cấu của luận án
Trang 7Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận án được kết cấu thành ba chương, sáu tiết, mười sáu tiểu tiết
Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ NHO GIÁO VÀ NHỮNG ĐIỀU KIỆN CHO SỰ DU NHẬP
CỦA NHO GIÁO VÀO VIỆT NAM 1.1 KHÁI QUÁT VỀ HỌC THUYẾT NHO GIÁO
1.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Nho giáo
Nho giáo là một học thuyết chính trị - đạo đức nổi tiếng của Trung Quốc thời cổ đại, do Khổng Tử (551-479 TCN) hệ thống hóa những tư tưởng và tri thức trước đây mà thành, sau này Mạnh Tử (372-289 TCN) kế thừa và phát triển theo chiều hướng duy tâm, gọi là Nho nguyên thuỷ hay Nho Khổng - Mạnh Thời Hán, Đổng Trọng Thư (179 -104 TCN) đã phát triển Nho Khổng - Mạnh theo hướng duy tâm, thần bí và tăng thêm tính đẳng cấp nhiệt ngã gọi là Hán Nho Đến thời Tống, Nho giáo pha trộn với nhiều bộ phận của tư tưởng
Phật, Lão - Trang, Âm Dương thành một hệ thống hoàn chỉnh, dựa vào Kinh
Dịch làm xương sống triết học, với các cặp phạm trù cơ bản, cả về bản thể
luận, nhận thức luận và luân lý - đạo đức, chính trị - xã hội, như là lý - khí, tâm
- vật, số, tính, tình, mệnh, tam cương ngũ thường, tri và hành, thiên lý và nhân dục… Vào thời Minh, Vương Thủ Nhân (1472 - 1527) phát triển thêm theo
hướng duy tâm và xây dựng nên học thuyết Tâm học Đến đời Thanh, Vương Phu Chi, Hoàng Tông Hi, Cố Viêm Võ đã đề xướng trào lưu Thực học, cố
gắng đổi mới Nho học theo hướng hiệu quả, thiết thực hơn Cuộc cách mạng
tư sản đầu thế kỷ XX đã làm sụp đổ triều đại phong kiến cuối cùng của Trung Quốc, đồng thời chấm dứt vị trí chính thống của Nho giáo trong đời sống xã hội
1.1.2 Nội dung tư tưởng cơ bản của Nho giáo
Trong quan điểm về thế giới, nhìn chung, Nho giáo là một học thuyết duy
tâm Tuy trong quan niệm của người sáng lập Nho giáo là Khổng Tử cũng đã chứa đựng một số yếu tố tiến bộ nhưng do những biến đổi của thời cuộc, do những hạn chế bởi lợi ích giai cấp và nhận thức khiến cho tư tưởng của ông không tránh khỏi có những yếu tố duy tâm, thần bí Mạnh Tử đã kế thừa tư tưởng “Thiên mệnh” của Khổng Tử và đẩy nó tới đỉnh cao của chủ nghĩa duy tâm khi khẳng định ý chí và quyền uy của trời trong việc sáng tạo và chi phối vạn vật: “Chẳng có việc gì xảy ra mà không do mệnh trời Mình nên tùy thuận
mà nhận lấy cái mệnh chính đáng ấy” (Mạnh Tử, Tận tâm thượng, 1, 2) Tư
tưởng này của Khổng Tử và Mạnh Tử đến đời Hán được Đổng Trọng Thư kết hợp với thần học, “sấm vĩ”, quan điểm Âm dương - ngũ hành đã hình thành nên một hệ thống triết học mang tính chất duy tâm thần bí rõ rệt với các luận
đề “thiên nhân hợp nhất”, “thiên nhân cảm ứng”, “vương quyền thần thụ”,
Trang 8“thiên bất biến đạo diệc bất biến” cho tất cả đều là do trời định Từ thời Tống
trở đi, với sự kết hợp tư tưởng của Phật giáo và Đạo gia, đồng thời lấy Kinh
Dịch làm cơ sở chủ đạo, quan điểm của Nho gia về thế giới trở nên khái quát
và trừu tượng hơn, mang tính triết học nhiều hơn với các nguyên lý và các
phạm trù như đạo và khí, lý và khí, trong đó lý là cái tuyệt đối vĩnh viễn không
biến đổi, là bản thể của thế giới vạn vật, chi phối khí; còn khí là cái cụ thể, hữu hình, biểu hiện của lý và chịu sự chi phối của lý
Về tư tưởng chính trị - xã hội, Nho giáo, đặc biệt là Nho Khổng - Mạnh
đã nêu lên một xã hội lý tưởng như thời Đường Nghiêu, Ngu Thuấn, xem đó như là mục tiêu phấn đấu của mình Để đạt tới xã hội đó, Nho giáo chủ trương
“nhân trị”, “đức trị” nghĩa là lấy đạo đức để giáo hóa con người Bởi lẽ, nếu người cầm quyền “dùng đạo đức để hướng dẫn chỉ đạo dân, dùng lễ nghĩa để giáo hóa dân, làm như vậy chẳng những dân hiểu được thế nào là nhục nhã khi phạm tội, mà còn can tâm tình nguyện sửa chữa sai lầm của mình tận từ gốc từ
mặt tư tưởng” (Luận ngữ, Vi chính, 3) và “dựa vào đức hạnh khiến người khác
phục thì người ta chịu tâm phục, tức là phục mà trong lòng thật tâm thật ý”
(Mạnh Tử, Công Tôn Sửu Thượng, 2, 1) Không những thế, nhà cầm quyền
còn phải chăm lo cho dân, không để dân phải đói khổ, phải được lòng dân, bởi:
“Muốn được thiên hạ có đạo lý nên theo là: có được dân là có được thiên hạ”
(Mạnh Tử, Ly lâu thượng, 9)
Về mặt đạo đức - luân lí, Nho giáo chủ trương con người luôn phải có
năm đức tính cơ bản (ngũ thường): nhân, nghĩa, lễ, trí, tín để có thể xử lý tốt
quan hệ vua - tôi, cha - con, chồng - vợ, anh - em và bạn bè Trong đó, Nho
giáo đặt lên hàng đầu đức nhân, tất cả các đức khác cũng nhằm thực hiện đức
nhân Trong quan niệm của Nho giáo Khổng Mạnh, những mối quan hệ giữa
vua - tôi, cha - con, chồng - vợ và các hành vi ứng xử của con người trong xã hội là có tính hai chiều, chứ không mang tính khắt khe một chiều của bề dưới đối với bề trên Đến đời Hán, Đổng Trọng Thư đã hệ thống hóa các phạm trù đạo đức thể hiện những mối quan hệ cơ bản giữa người với người trong xã hội, trở thành nội dung, tiêu chuẩn cho sự giáo hóa đạo đức phong kiến Ông đặc biệt nhấn mạnh ba mối quan hệ cơ bản nhất trong xã hội: “Quân vi thần cương,
phụ vi tử cương, phu vi thê cương” (tam cương) và tuyệt đối hóa một chiều
những chuẩn mực đạo đức và các mối quan hệ này Vào thời Tống, khi chế độ
phong kiến trung ương tập quyền được củng cố thêm, cái được gọi là lý lại được họ vận dụng vào xã hội để chỉ cái lý trong quan hệ vua tôi, cha con, vợ
chồng, cũng chính là những quy phạm đạo đức phong kiến, tạo ra những chuẩn mực vô cùng khắc nghiệt đối với con người
1.2 KHÁI LUẬN VỀ DU NHẬP VÀ NHỮNG ĐIỀU KIỆN CHO SỰ
DU NHẬP CỦA NHO GIÁO VÀO VIỆT NAM
Trang 91.2.1 Khái luận chung về sự du nhập
Du nhập là khái niệm được Việt hóa từ tiếng Trung Quốc dùng để chỉ sự
đưa vào của một yếu tố từ một quốc gia, một nền văn hóa bên ngoài vào khu
du nhập chính là mối liên hệ giữa yếu tố truyền bá văn hóa và yếu tố tiếp nhận
văn hóa, mối liên hệ này được hiểu trong khái niệm về sự tiếp biến văn hóa
xúc giữa mô hình văn hóa bản địa và văn hóa bên ngoài, diễn ra sự chuyển hóa hay kết hợp giữa các giá trị văn hóa nội sinh với các giá trị văn hóa ngoại sinh, trong đó có những giá trị bị khước từ, có những giá trị được vay mượn, có
những giải thích quan trọng từ lý luận tiếp biến văn hóa, sự biến đổi của một yếu tố văn hóa, tôn giáo, tư tưởng từ bên ngoài trở thành yếu tố bản địa hoặc từ nguyên gốc chuyển thành tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau còn được giải
chuyển đổi là một quá trình chứ không phải một sự kiện, quá trình đó phải trải qua nhiều giai đoạn khác nhau, được xem xét trong những mối tương quan về văn hóa, xã hội Sự chuyển đổi này không chỉ là sự di chuyển từ nền văn hóa này sang nền văn hóa khác, từ cộng đồng này sang cộng đồng khác mà nó bao hàm nhiều sự thay đổi vi diệu trong sự thâm nhập, hòa quyện tư tưởng, văn hóa, niềm tin giữa các chủ thể, các nhóm người Sự du nhập Nho giáo vào Việt Nam được xem xét trong một quá trình lâu dài với nhiều giai đoạn chuyển đổi khác nhau Quá trình này thể hiện mối liên hệ giữa chủ thể truyền bá và chủ thể
song song nhưng không đồng nhất, hai quá trình đó khác nhau về mục đích, cách thức, nội dung, kết quả ở từng giai đoạn nhất định
1.2.2 Những điều kiện cho sự du nhập của Nho giáo vào Việt Nam Điều kiện địa lý, lịch sử:
Về vị trí địa lý, Việt Nam nằm ở khu vực Đông Nam Á, về hướng Bắc, cả trên đất liền và biển, Việt Nam đều tiếp giáp Trung Quốc, giữ vai trò là cửa ngõ, thuận lợi nhất cho Trung Quốc nếu muốn xuống phía Nam Xuất phát từ
vị trí địa lý đó, từ xa xưa Việt Nam và Trung Quốc đã diễn ra sự giao lưu kinh tế - văn hoá giữa các tộc người thuộc hai quốc gia trong một không gian có không ít tương đồng về địa lý, lịch sử và văn hóa Là sản phẩm của Trung Quốc cổ đại, Nho giáo được truyền vào Việt Nam không phải thông qua con đường giao lưu văn hóa bình thường mà thông qua con đường xâm lược
1 Phạm Xuân Nam (2013), Sự đa dạng và đối thoại giữa các nền văn hóa - một góc nhìn từ Việt Nam, Nxb
Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.83.
Trang 10của chính quyền phong kiến nhà Hán (110 TCN - 39 SCN) Bằng nhiều thủ đoạn khác nhau, qua các thời điểm khác nhau dưới thời Bắc thuộc, giai cấp phong kiến thống trị phương Bắc đã truyền bá Nho giáo vào Việt Nam, xem đó
là công cụ tinh thần để thống trị và đồng hóa người Việt Đầu thế kỷ XV, sự xâm lăng của nhà Minh trên đất nước ta với những chính sách cai trị tàn bạo, xét ở một phương diện nào đó, đã củng cố cho sự phát triển sâu rộng của Nho giáo ở Việt Nam Bên cạnh con đường của sự xâm lược, các yếu tố văn hóa Trung Hoa trong đó có tư tưởng Nho giáo cũng tràn vào đất phương Nam theo dấu chân của các đoàn thương gia Đồng thời, hoạt động đối ngoại của các sứ giả triều đình trong mối quan hệ bang giao giữa Việt Nam và Trung Quốc trong lịch sử đã tạo cơ hội để người Việt hiểu biết thêm về sự phát triển của Nho giáo Trung Quốc, tiếp nhận kinh điển Nho giáo
Điều kiện chính trị:
Các triều đại phong kiến Việt Nam khi đã thiết lập bộ máy chính quyền của mình với sự tập trung cao độ quyền lực vào một dòng họ thống trị, đứng đầu là một ông vua thì việc tìm được một hệ tư tưởng có khả năng phản ánh lợi ích, địa vị thống trị của triều đại mình, đồng thời giúp đỡ cho hoạt động quản
lý xã hội, cai trị đất nước của vương triều là một điều hết sức thiết yếu Cùng với Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo cũng sớm du nhập Việt Nam và tạo ra ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống xã hội Tuy nhiên, Phật giáo và Đạo giáo trong bản chất không phải là một đạo trị nước mà chỉ có Nho giáo ở góc độ một học thuyết chính trị - đạo đức, chủ trương quyền hành phải tập trung vào thiên tử, bảo vệ quyền lợi của dòng họ thống trị và các địa vị tôn quý của nó, đồng thời đưa ra cái gọi là “tam cương”, “ngũ thường” như là những chuẩn mực cho hành vi ứng xử của con người đã tỏ ra là một công cụ hữu hiệu giúp các triều đại củng cố sự thống trị giai cấp, ổn định trật tự xã hội nói chung, đáp ứng được yêu cầu của giai cấp phong kiến thống trị Do đó, các triều đại phong kiến Việt Nam đã từng bước tạo điều kiện cho Nho giáo phát triển, biến nó thành ý thức hệ vững chắc để bảo vệ quyền lợi của giai cấp thống trị.Sự du nhập và phát triển của Nho giáo ở Việt Nam gắn với xu thế đi lên tập quyền và thống nhất của chế độ phong kiến dân tộc
Điều kiện kinh tế - xã hội:
Nền kinh tế nước ta trong xã hội Việt Nam trước đây về thực chất, là một nền kinh tế nông nghiệp lúa nước mang tính lạc hậu, khép kín, ổn định Chính
cơ sở kinh tế ấy khiến cho con người ta có sự cố kết cộng đồng hơn, hoà nhập vào thiên nhiên, chịu ảnh hưởng của thiên nhiên và sùng bái thiên nhiên (trời, đất), khiến con người trong các xã hội ấy tôn trọng tuổi tác, tôn trọng những người có kinh nghiệm, tôn trọng trật tự trong gia đình và xã hội, chú trọng sự hài hoà, hoà hợp… Trong nền sản xuất tiểu nông ấy, người nông dân tiến hành
Trang 11canh tác với kỹ thuật thô sơ và lối làm ăn riêng lẻ, đồng thời mỗi gia đình trở thành một đơn vị sản xuất hoàn chỉnh và vai trò của người chủ gia đình hết sức được đề cao Nền sản xuất ấy trong xã hội phong kiến đã tồn tại trên một chế độ ruộng công, tạo ra các làng xã tự trị có tính chất như một công xã nông thôn Cùng với quan hệ đẳng cấp của xã hội phong kiến, quan hệ gia trưởng phụ quyền, thị tộc góp phần làm tăng thêm tôn ti trật tự của gia đình, làng xã Đó chính là mảnh đất thuận lợi nhất để Nho giáo tồn tại và phát triển ở Việt Nam
Điều kiện văn hóa - giáo dục:
Sau thời Bắc thuộc, Nho giáo du nhập Việt Nam gắn với nhu cầu phát triển văn hóa - giáo dục của các triều đại phong kiến nước nhà Để nắm quyền quản lý đất nước, các triều đại Lý - Trần đã quan tâm đến việc nâng cao tri thức Đồng thời, do yêu cầu củng cố và phát triển của nhà nước phong kiến, nên việc bổ nhiệm quan lại bằng con đường cũ - con đường “nhiệm tướng” và
“thủ sĩ” không đáp ứng được, mà cần phải có một phương thức đào tạo và tuyển lựa quan lại mới để bổ sung vào đó Điều này chỉ thực hiện được bằng việc phát triển một nền giáo dục mới, với chế độ thi cử để tuyển lựa nhân tài
mà lúc này, chỉ có Nho giáo, với hệ thống lý thuyết đầy đủ về giáo dục và khoa
cử, mới có thể đảm đương được nhiệm vụ lịch sử đó Do vậy, từ cuối thời Trần, số người tiến thân bằng con đường cử nghiệp ngày càng nhiều, giới Nho
sĩ đông đảo hơn trước Từ thời Lê đến thời Nguyễn, cho dù thời cuộc biến động, chủ trương chung của nhà nước phong kiến vẫn là mở mang, phát triển giáo dục Nho học, tuyển lựa nhân tài cho đất nước Cuối thế kỷ XIX, đầu thế
kỷ XX, cùng với sự suy tàn của chế độ phong kiến và việc bãi bỏ giáo dục, khoa cử Nho học, Nho giáo cũng mất đi vị trí và vai trò của mình Sự tồn tại của Nho giáo trong xã hội phong kiến Việt Nam gắn bó không thể tách rời với
việc giáo dục, khoa cử của nhà nước phong kiến
Kết luận chương 1
Nho giáo là học thuyết do Khổng Tử sáng lập vào cuối thời Xuân Thu, được bổ sung và phát triển qua nhiều giai đoạn, trở thành một hệ thống triết
lý chính trị - đạo đức có ảnh hưởng lớn ở Trung Hoa Nho giáo ngay từ đầu
đã hướng đến xây dựng một xã hội thịnh trị và chủ trương lấy đạo đức, lễ nghĩa để giáo hóa con người, chủ trương chăm lo cho đời sống của nhân dân, coi dân là nền tảng để có được thiên hạ Về sau, nó được bổ sung những luận điểm mới để khẳng định quyền uy tối cao của nhà vua, bảo vệ quyền lợi, địa vị của vương triều thống trị, dần dần tuyệt đối hóa thân phận và sự phục tùng của
bề dưới đối với bề trên, trở thành những quy phạm khắc nghiệt, ràng buộc con người trong xã hội Nho giáo du nhập Việt Nam trước hết bắt nguồn từ mưu đồ bành trướng lãnh thổ, đồng hóa nhân dân ta của các thế lực phong kiến phương
Trang 12Bắc xâm lược Bên cạnh đó, sự gần gũi về địa lý, sự tương đồng về sản xuất nông nghiệp, quan hệ thương mại, bang giao giữa Việt Nam và Trung Hoa
đã tạo ra những thuận lợi trong việc tiếp thu về cách thức xây dựng, quản lý nhà nước cũng như về văn hóa, tư tưởng đối với các triều đại phong kiến Việt Nam
Chương 2 CÁC GIAI ĐOẠN VÀ NHỮNG NỘI DUNG TƯ TƯỞNG CƠ BẢN CỦA NHO GIÁO TRONG QUÁ TRÌNH DU NHẬP VIỆT NAM
2.1 CÁC GIAI ĐOẠN TRONG QUÁ TRÌNH NHO GIÁO DU NHẬP VIỆT NAM 2.1.1 Giai đoạn đầu Nho giáo được truyền bá vào Việt Nam
Giai đoạn đầu tiên Nho giáo được truyền bá vào Việt Nam tương ứng với thời kỳ Bắc thuộc trong lịch sử dân tộc Nho giáo được truyền vào Việt Nam với mục đích thống trị và đồng hóa người Việt của các triều đại Trung Quốc
di cư từ Trung Quốc sang Việt Nam vì nhiều lý do khác nhau cũng tham gia vào quá trình truyền bá Nho giáo và văn hóa Hán ở Giao Châu bấy giờ Sau khi xâm lược nước ta, cùng với việc chia lại khu vực hành chính và tổ chức bộ máy cai trị trên vùng đất mới chiếm được theo chế độ quận huyện của Trung Quốc, lực lượng đô hộ thực hiện một loạt các chính sách, biện pháp nhằm đồng hóa nhân dân ta mà theo đó Nho giáo được truyền bá vào: Thứ nhất, bắt nhân dân ta thay đổi phong tục tập quán theo người Trung Quốc; Thứ hai, phổ biến tiếng Hán và chữ Hán trong nhân dân nhằm thay đổi ngôn ngữ, chữ viết của người Việt; Thứ ba, mở trường dạy học để truyền bá Nho giáo nhằm đồng
hóa dân tộc ta về tư tưởng tinh thần
2.1.2 Giai đoạn Nho giáo được tiếp nhận chủ động ở Việt Nam
Xuất phát từ nhu cầu củng cố nhà nước quân chủ tập quyền và trật tự của
xã hội phong kiến, nhu cầu phát triển văn hóa giáo dục, từ thời Lý - Trần, nhà nước phong kiến đã chủ động tiếp nhận và sử dụng Nho giáo trong quản lý đất nước Nho giáo trong giai đoạn này được truyền vào Việt Nam chủ yếu thông qua các hoạt động như: Các chuyến đi sứ; Xin sách, nhân bản sách;
Những luồng người nhập cư Về cách thức Nho giáo được tiếp nhận ở Việt
Nam: Thứ nhất, các vị vua thời Lý - Trần đã cho mở mang giáo dục Nho giáo,
xem trọng khoa cử Nho học và từng bước đưa nó trở thành công cụ chính để tăng cường sự thống trị của giai cấp phong kiến, tạo nên sức mạnh cho bộ máy
nhà nước; Thứ hai, Nho giáo được phổ biến và gây ảnh hưởng trong xã hội cùng với sự mở rộng và vị thế ngày càng tăng của tầng lớp nho sĩ; Thứ ba, sự
du nhập và phát triển của Nho giáo ở Việt Nam giai đoạn này còn thông qua đóng góp của của các tăng sĩ - những người có ảnh hưởng lớn trong triều đình
Trang 13và xã hội bấy giờ Sự ảnh hưởng của Nho giáo trong lĩnh vực giáo dục đã tác động trực tiếp vào sự hình thành đội ngũ trí thức dân tộc, tạo nên những bậc danh nho, danh tướng lẫy lừng, những người có đóng góp lớn trong lịch sử dân tộc Việt Nam như Lê Văn Hưu, Nguyễn Trung Ngạn, Trương Hán Siêu, Chu Văn An, Lê Bá Quát, Phạm Sư Mạnh, Đoàn Nhữ Hài, Lê Phụng Hiểu, Lý Thường Kiệt, Trần Nhật Duật, Trần Quốc Tuấn, Phạm Ngũ Lão, Trần Khánh
dục và khoa cử Nho học; Thứ hai, thời kỳ này, nhà nước phong kiến còn ban hành các văn bản chính trị - xã hội dựa trên hệ thống quan điểm Nho giáo; Thứ
ba, nhằm đề cao Nho giáo, triều đình còn thi hành những biện pháp hạn chế
Phật giáo, Đạo giáo Thông qua các chính sách, biện pháp đó, Nho giáo đã
từng bước thâm nhập vào các lĩnh vực xã hội, đi sâu vào các thiết chế làng xã, tác động lớn đến thế giới quan, nhân sinh quan của những người theo học đạo nho Giai đoạn này gắn liền với tên tuổi của những nhà nho xuất sắc như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Phùng Khắc Khoan, Lê Quý Đôn, Ngô Thì Nhậm, Lê Thánh Tông và Minh Mệnh những người với tài năng, trí tuệ và bản lĩnh của mình đã có những đóng góp to lớn, để lại những dấu ấn sâu sắc