1. Trang chủ
  2. » Trung học cơ sở - phổ thông

Bài đọc 4.3. Báo cáo thường niên ĐBSCL 2020: Nâng cao NLCT để phát triển bền vững

352 102 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nâng cao Năng Lực Cạnh Tranh Để Phát Triển Bền Vững
Tác giả Vũ Thành Tự Anh, Lê Duy Bình, Vũ Sỹ Cường, Huỳnh Thế Du, Trần Hương Giang, Hồ Thị Thu Hòa, Lương Minh Huân, Phan Đình Huê, Lê Việt Phú, Nguyễn Phú Son, Ngô Viết Nam Sơn, Hoàng Văn Thắng, Nguyễn Xuân Thành, Từ Minh Thiện, Lê Anh Tuấn, Nguyễn Thị Thu An, Lê Thị Thanh Hiếu, Thạch Phước Hùng, Lê Tấn Nghiêm, Trần Thị Phương
Người hướng dẫn Vũ Tiến Lộc, Nguyễn Phương Lam
Trường học Trường Chính sách Công và Quản lý Fulbright
Thể loại báo cáo
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 352
Dung lượng 38,81 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giải pháp tài chính – ngân sách trong giai đoạn tới cần phải: i bổ sung chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển ĐBSCL chống biến đổi khí hậu khi phân bổ vốn đầu tư phát triển trong [r]

Trang 1

Nâng cao năng lực cạnh tranh

để phát triển bền vững

BÁO CÁO KINH TẾ THƯỜNG NIÊN

Trang 2

Chỉ đạo biên soạn

Trang 3

Ấn phẩm này là công trình nghiên cứu của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) và nhóm chuyên gia Trường Chính sách Công và Quản lý Fulbright (FSPPM) Những phân tích đánh giá, phát hiện

và kết luận thể hiện trong báo cáo này là của các tác giả, không nhất thiết phản ánh quan điểm của Ban lãnh đạo VCCI hay FSPPM

Các thông tin trong báo cáo này được tổng hợp từ nhiều nguồn dữ liệu khác nhau, vì vậy VCCI và FSPPM không đảm bảo tính chính xác, đồng nhất trong các số liệu do các cơ quan công bố, cung cấp Các bản đồ, hải đảo, hình ảnh, màu sắc, tên gọi,… trong ấn phẩm này phục vụ cho minh họa nghiên cứu, không hàm ý một sự xác nhận hay thừa nhận đường biên giới hoặc tuyên truyền, quảng cáo cho bất kỳ tổ chức hay đơn

vị nào

Tất cả tư liệu trong ấn phẩm này đều có bản quyền Chúng tôi khuyến khích việc truyền tải thông tin của báo cáo phục vụ cho các hoạt động nghiên cứu, tham vấn chính sách, luận dẫn trong triển khai hoạt động quản lý điều hành kinh tế Việc sao chép và dẫn chứng phải ghi rõ nguồn gốc, các trường hợp sử dụng từng phần hoặc in lại bất cứ phần nội dung nào của báo cáo phải được sự đồng ý của VCCI và FSPPM Hãy gửi

Nâng cao năng lực cạnh tranh

để phát triển bền vững

BÁO CÁO KINH TẾ THƯỜNG NIÊN

ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 2020

Trang 4

Thông điệp của Chủ tịch

Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam

Quý vị đang cầm trên tay là ấn phẩm Báo cáo Kinh tế thường niên Đồng bằng sông Cửu Long năm 2020 với chủ đề “Nâng cao năng lực cạnh tranh để phát triển bền vững” Đây là báo cáo kinh tế đầu tiên và đầy đủ nhất về một vùng kinh tế trong cả nước, được thực hiện bởi sự phối hợp của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) với Trường Chính sách Công và Quản lý Fulbright (Đại học Fulbright Việt Nam) Ấn phẩm được xây dựng nhằm đánh giá lại giai đoạn phát triển 10 năm qua của vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), triển vọng phát triển trong giai đoạn tới với bối cảnh phát triển mới của kinh tế Việt Nam và hướng tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng

Trong những năm qua, các Nghị quyết của Chính phủ và Quyết định của Thủ tướng Chính phủ được ban hành

đã khẳng định vai trò và vị trí chiến lược của vùng ĐBSCL trong sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước Quyết định số 245/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ vào năm 2014 về phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng kinh tế trọng điểm vùng ĐBSCL (gồm thành phố Cần Thơ, tỉnh Cà Mau, An Giang

và Kiên Giang) đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 Quyết định số 245/QĐ-TTg đã khẳng định vùng kinh tế trọng điểm vùng ĐBSCL là vùng trọng điểm sản xuất lương thực, thủy sản, hoa quả, góp phần quan trọng đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, đóng góp lớn vào xuất khẩu nông, thủy sản của cả nước Tiếp đến, Nghị quyết số 120/NQ-CP của Chính phủ về phát triển bền vững vùng ĐBSCL thích ứng với biến đổi khí hậu được ban hành vào năm 2017 một lần nữa khẳng định vai trò và vị thế của vùng ĐBSCL: đóng góp 50% sản lượng lúa, 65% sản lượng nuôi trồng thủy sản, 70% các loại trái cây; 95% sản lượng gạo xuất khẩu và 60% sản lượng cá xuất khẩu của cả nước

Không thể phủ nhận vai trò và đóng góp kinh tế của vùng ĐBSCL trong phát triển kinh tế của cả nước, tuy nhiên việc triển khai nhiều nghị quyết của Đảng, Quốc hội, chính sách của Chính phủ vẫn chưa theo kịp được với đòi hỏi thực tế của sự phát triển của vùng ĐBSCL Sự chậm trễ trong triển khai nghị quyết và thực thi chính sách đang là một trở ngại trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, cộng thêm tác động lớn nhất đối với Vùng là biến đổi khí hậu, đã đưa vùng kinh tế ĐBSCL vào một giai đoạn khó khăn, thách thức nhất trong lịch sử tồn tại của vùng và đó cũng là một thách thức chung của quốc gia

Để vượt qua thách thức này, Đảng, Nhà nước đã có sự quan tâm đặc biệt thông qua các nghị quyết, quy hoạch mới trong giai đoạn từ nay đến năm 2030, tầm nhìn 2045 Năm 2018, Thủ tướng Chính phủ cũng đã ban hành Quyết định số 68/QĐ-TTg, theo đó phê duyệt điều chỉnh quy hoạch xây dựng vùng ĐBSCL đến năm

2030 và tầm nhìn đến năm 2050 Gần đây nhất, Quyết định số 1163/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày

31 tháng 7 năm 2020 đã phê duyệt nhiệm vụ lập quy hoạch vùng ĐBSCL thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 Việc lập quy hoạch vùng ĐBSCL theo Quyết định 1163/QĐ-TTg đã xác định vị trí và vai trò quan trọng của vùng ĐBSCL, với mục tiêu xác định phương hướng phát triển, đảm bảo tính liên kết toàn vùng, nhằm phát triển vùng ĐBSCL đến năm 2045 trở thành vùng có trình độ phát triển khá so với cả nước theo yêu cầu đặt ra tại Nghị quyết số 120/NQ-CP năm 2017 của Chính phủ

II

Trang 5

Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam

Trưởng Ban Chỉ đạo thực hiện Báo cáo

Tiến sỹ Vũ Tiến Lộc

Với vai trò là tổ chức quốc gia đại diện cho cộng đồng doanh nghiệp, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam luôn tham gia kiến tạo, thúc đẩy cải thiện môi trường kinh doanh, phát triển bền vững thông qua việc tham mưu, góp ý chính sách, lấy doanh nghiệp làm trung tâm trong cải cách và phát triển kinh tế Hiện nay, hầu hết các địa phương đều xác định việc cải thiện môi trường kinh doanh và sự phát triển doanh nghiệp là động lực phát triển kinh tế của địa phương Nghị quyết 35/NQ-CP của Chính phủ về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp đến năm 2020 được ban hành vào giữa năm 2016, thể hiện quan điểm, định hướng, các nguyên tắc và biện pháp mà Chính phủ xác định trong công tác hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp Từ đó, cho thấy một quan điểm xuyên suốt của Nghị quyết 35 chính là tập trung xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế, tạo môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển và trở thành động lực của nền kinh

tế Đối với vùng ĐBSCL, để phát triển được bền vững, rất cần có một cơ cấu kinh tế vừa hiệu quả, vừa “thuận thiên” thích ứng với biến đổi khí hậu

Tôi đánh giá cao sáng kiến, nỗ lực của Chi nhánh Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam tại Cần Thơ

và các tác giả Ban biên soạn trong việc xây dựng Báo cáo này Đây sẽ là cơ sở dữ liệu, thông tin quan trọng

để tham mưu cho Đảng, Chính phủ trong việc định hướng, hoạch định chính sách đầu tư phát triển vùng ĐBSCL; là công cụ hữu ích cho lãnh đạo các địa phương trong quá trình xây dựng và điều hành chính sách phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, thành phố Báo cáo cũng là nguồn tham khảo quan trọng cho các nhà đầu

tư trong và ngoài nước để có thông tin định hướng đầu tư, mở rộng thị trường trong chiến lược phát triển kinh doanh tại vùng ĐBSCL Tôi kỳ vọng Báo cáo này sẽ được thực hiện thường niên và sẽ là tiếng nói quan trọng đóng góp cho sự phát triển kinh tế và doanh nghiệp của vùng ĐBSCL trong tương lai

Trang 6

Lời nói đầu

Báo cáo Kinh tế Thường niên Đồng bằng sông Cửu Long lần đầu tiên được thực hiện bởi nhóm các chuyên gia kinh tế, chính sách hàng đầu Việt Nam dưới sự chủ trì, điều phối của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) và chịu trách nhiệm chuyên môn của Trường Chính sách Công và Quản lý Fulbright (FSPPM), Đại học Fulbright Việt Nam Đây là báo cáo nghiên cứu trên phạm vi vùng kinh tế đầu tiên trong cả nước và ĐBSCL được chọn như là một sự điển hình về tính liên kết, sự nhất quán để hướng đến hình thành một thiết chế vùng kinh tế trong tương lai

Trong thập niên qua, đồng bằng sông Cửu Long đang đứng trước những thách thức lớn từ bên ngoài của biến đổi khí hậu như hạn mặn, sạt lở, ngập lụt và ô nhiễm môi trường gia tăng, đến các vấn đề bên trong như chất lượng tăng trưởng giảm sút, và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp chưa cao, cấu trúc kinh tế chưa thực sự ổn định, chất lượng nguồn nhân lực hạn chế, năng suất lao động thấp, tình trạng di dân gia tăng… là những ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển kinh tế xã hội mà ĐBSCL đang và sẽ phải đối mặt Trong khi đó quan điểm khi nhìn nhận về ĐBSCL luôn gắn liền với những cụm từ trù phú, lợi thế tài nguyên, thiên nhiên ưu đãi, nguồn lao động dồi dào,… nhưng thực tế quá trình phát triển trong hơn hai thập niên qua cho thấy không là như thế Bên cạnh đó hạ tầng cơ sở mặc dù được đầu tư nhưng còn quá nhiều điểm nghẽn, nhất là giao thông kết nối Thiếu quy hoạch đồng bộ và logistics yếu kém dẫn đến sự gia tăng chi phí trong các khâu của chuỗi giá trị sản xuất, giảm sức cạnh tranh của doanh nghiệp và kinh tế toàn vùng

Về mặt xã hội, chất lượng giáo dục không theo kịp các vùng miền khác, tỷ lệ bỏ học cao và trình độ học vấn của người dân khá thấp Lợi thế của các tỉnh Tây Nam bộ là địa hình, thổ nhưỡng, điều kiện khí hậu ôn hòa,… nay đã không còn nữa do tác động từ thiên tai và con người Những thế mạnh khác trước đây đã tạo được qua nỗ lực cải cách, cải thiện trong công tác điều hành kinh tế địa phương nay cũng đang mất dần so với các vùng kinh tế khác Những thách thức và hạn chế trên đang đẩy vùng đồng bằng này vào tình thế hết sức nan giải và rất cần một nghiên cứu chuyên sâu và toàn diện

Trước thực trạng nền kinh tế cùng với kỳ vọng hơn một giai đoạn phát triển mới, VCCI và FSPPM tiến hành hợp tác xây dựng Báo cáo Kinh tế ĐBSCL Sau một năm hoạch định, Ban biên soạn được hình thành và chủ

đề “Nâng cao năng lực cạnh tranh để phát triển bền vững” được lựa chọn để làm tâm điểm và động lực phát triển kinh tế vùng ĐBSCL trong thời gian tới Không thể một vùng kinh tế với nhiều tiềm năng và đóng góp lớn như ĐBSCL cứ mãi manh mún và thiếu động lực phát triển như hiện nay, các chuyên gia kinh tế hàng đầu trong các lĩnh vực thể chế, chính sách, kinh tế, quy hoạch, môi trường, giao thông,… đã được mời cùng thực hiện báo cáo nghiên cứu đầy tâm huyết Báo cáo đã đúc kết thành tựu trong một thập niên qua và nêu bật những hạn chế trong quá trình phát triển, đồng thời phác họa những cơ hội và thách thức đang và sẽ diễn ra đối với ĐBSCL

IV

Trang 7

Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam

Chi nhánh tại Cần Thơ

Giám đốc

Ths Nguyễn Phương Lam

Đại học Fulbright Việt NamTrường Chính sách Công và Quản lýGiám đốc (2017 - 2020)

TS Vũ Thành Tự Anh

Báo cáo được hoàn thành và ra mắt tại điểm vô cùng quan trọng của đất nước: Đại hội Đảng Toàn quốc lần thứ XIII, cả nước buớc vào giai đoạn phát triển quan trọng với nhiều hiệp định thương mại toàn cầu có hiệu lực và nền kinh tế đang đứng trước nhiều cơ hội và thách thức chưa bao giờ có trong quá trình phát triển Vì vậy, báo cáo là nguồn thông tin quý báu cho các cơ quan quản lý địa phương sử dụng trong điều hành, là tư liệu quan trọng để tham vấn chính sách cho Đảng, Quốc hội và Chính phủ trong việc định hướng, quyết nghị chiến lược và thiết lập các chính sách phát triển bền vững cho vùng kinh tế đặc biệt này

Trong tương lai, Báo cáo Kinh tế ĐBSCL sẽ được thực hiện thường niên để tiếp tục nghiên cứu, phân tích, đánh giá các cơ hội, thách thức lớn tác động đến kinh tế của vùng, giúp cho các cơ quan quản lý, các nhà nghiên cứu, cộng đồng doanh nghiệp tìm hiểu và xây dựng chương trình hành động để thích ứng, cùng thúc đẩy vùng đồng bằng này phát triển ổn định và bền vững

Chúng tôi mong rằng Báo cáo Kinh tế Thường niên ĐBSCL này là tài liệu hữu ích cho những ai quan tâm đến vùng kinh tế Tây Nam bộ

Trang 8

và Thông tin Kinh tế của VCCI tại Cần Thơ và do các tác giả dày công biên soạn

Đứng đầu nhóm nghiên cứu là TS Vũ Thành Tự Anh, Trường Chính sách Công và Quản lý Fulbright, thành viên Tổ Tư vấn của Thủ tướng Chính phủ chịu trách nhiệm xây dựng chủ đề, nội dung, định hình phương pháp nghiên cứu và trình bày kết quả báo cáo nghiên cứu Tham gia ban biên soạn gồm: Lê Duy Bình, Vũ Sỹ Cường, Huỳnh Thế Du, Trần Hương Giang, Hồ Thị Thu Hòa, Lương Minh Huân, Phan Đình Huê, Lê Việt Phú, Nguyễn Phú Son, Ngô Viết Nam Sơn, Hoàng Văn Thắng, Nguyễn Xuân Thành, Từ Minh Thiện là những chuyên gia thực hiện các nội dung và bà Võ Thị Thu Hương là thư ký tổng hợp đã nỗ lực cùng các thành viên thực hiện trong hơn một năm qua

Kết quả nghiên cứu nhận được sự phản biện sâu sắc của bà Phạm Chi Lan, Chuyên gia kinh tế cao cấp, nguyên thành viên Ban nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ; TS Nguyễn Đình Cung, nguyên Viện trưởng Viện nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương, thành viên Ban nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ Bên cạnh phản biện khoa học, Báo cáo còn nhận được các góp ý có giá trị của Nhà giáo Nhân dân, GS.TS Võ Tòng Xuân, Hiệu trưởng Đại học Nam Cần Thơ; Chuyên gia Phan Chánh Dưỡng, Giảng viên thực tiễn Trường Chính sách Công và Quản lý Fulbright; TS Nguyễn Văn Sánh, nguyên Viện trưởng Viện Phát triển ĐBSCL, trường Đại học Cần Thơ; ThS Đậu Anh Tuấn, Trưởng ban Pháp chế VCCI; Ông Hồ Quốc Lực, Chủ tịch HĐQT Công

ty CP Thực phẩm Sao Ta; bà Trương Thị Lệ Khanh, Chủ tịch HĐQT Công ty CP Vĩnh Hoàn; ông Võ Quốc Thắng, TGĐ Công ty CP Đồng Tâm; ông Trương Tấn Lộc, Giám đốc Marketing Tổng Công ty Tân Cảng Sài Gòn; Ông Phan Xuân Anh, Giám đốc Mekong Riverside Tiền Giang Đây là những phản biện và góp ý rất có giá trị về học thuật và thực tiễn giúp cho báo cáo được hoàn thiện một cách tốt nhất

Đặc biệt, từ khi hình thành ý tưởng đến triển khai nghiên cứu, Ban biên soạn đón nhận sự quan tâm từ cơ quan các tỉnh, thành vùng ĐBSCL Ban biên soạn xin cảm ơn sự ủng hộ của lãnh đạo UBND các tỉnh, trong

đó nhóm nghiên cứu nhận được các góp ý, đánh giá đầy tâm huyết của ông Lê Minh Hoan, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Đồng Tháp; ông Lê Tiến Châu, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Hậu Giang; ông Trần Việt Trường, Chủ tịch UBND thành phố Cần Thơ; ông Trương Quang Hoài Nam, Phó trưởng Ban Đối ngoại Trung ương Đảng, nguyên Phó chủ tịch UBND thành phố Cần Thơ; ông Phạm Thiện Nghĩa, Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Tháp; ông Trương Thanh Tùng, Phó Giám đốc Đài Tiếng nói Việt Nam tại ĐBSCL, cùng nhiều lãnh đạo các cơ quan trong nước và quốc tế đã tham vấn và ủng hộ Chúng tôi ghi nhận và cảm ơn sự đóng góp quý báu và đầy trách nhiệm này

VI

Trang 9

Trong quá trình thực hiện, chúng tôi đã nhận được sự hỗ trợ của các cơ quan và cá nhân, các tổ chức quốc

tế trong việc cung cấp thông tin, số liệu, gợi ý, trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm trong các lĩnh vực chuyên môn Nhóm nghiên cứu xin chân thành cảm ơn ông Võ Tân Thành, Phó chủ tịch VCCI, Giám đốc VCCI chi nhánh tại thành phố Hồ Chí Minh; ông Lê Văn Nưng, Phó bí thư Tỉnh ủy An Giang; GS.TS Nguyễn Thanh Phương, Chủ tịch Hội đồng trường Đại học Cần Thơ; GS.TS Hà Thanh Toàn, Hiệu trưởng trường Đại học Cần Thơ; ông Trần Quốc Hà, Giám đốc Ngân hàng Nhà nước chi nhánh Cần Thơ và Ban Pháp chế VCCI đã quan tâm, ủng

hộ Chúng tôi xin chân thành ghi nhận sự ủng hộ của Tổng Lãnh sự Hoa Kỳ, Tổng Lãnh sự Singapore, Tổng Lãnh sự Campuchia, Tổng Lãnh sự Vương quốc Anh tại thành phố Hồ Chí Minh, Quỹ Châu Á tại Hà Nội, Tổ chức Xúc tiến Thương mại Nhật Bản (JETRO) tại thành phố Hồ Chí Minh, Hiệp hội Doanh nghiệp châu Âu (Eurocharm), Hiệp hội Doanh nghiệp Hoa kỳ (Amcharm) tại Việt Nam, Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) đã quan tâm và ủng hộ ý tưởng nghiên cứu Xin cảm ơn Công ty CP Đầu tư và Phát triển Đa Quốc Gia IDI, Công ty CP Vĩnh Hoàn, Văn phòng Đại diện Tân Cảng Sài Gòn Khu vực Tây Nam Bộ, Cảng vụ Hàng hải Cần Thơ, Công ty CP Thuỷ sản Minh Phú - Hậu Giang, Công ty CP Thực phẩm Sao Ta, Công

ty CP Thủy sản Sóc Trăng, Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Sóc Trăng, Ban Quản lý Khu Chế xuất Công nghiệp Thành phố Cần Thơ đã đón tiếp nhiệt tình và hỗ trợ các thành viên nhóm nghiên cứu trong quá trình khảo sát thực địa

Chúng tôi cũng xin cảm ơn họa sỹ Xuân Vinh đã phác thảo bức tranh “chật vật” theo ý tưởng từ Ban biên soạn để mô tả hình ảnh của ĐBSCL trong giai đoạn vừa qua với khao khát vươn ra biển lớn, làm bìa cho báo cáo kinh tế quan trọng này

Một lần nữa xin chân thành cảm ơn sự ủng hộ và những sự đóng góp quý báu của các chuyên gia, các nhà quản lý cùng các cơ quan, tổ chức và doanh nghiệp để Báo cáo Kinh tế Thường niên ĐBSCL năm 2020 được hoàn thiện một cách tốt đẹp, phục vụ cho hoạt động nghiên cứu, tham vấn chính sách, điều hành kinh tế và nhu cầu tìm kiếm thông tin kinh tế xã hội về vùng ĐBSCL

Trang 10

CHƯƠNG II NHÌN LẠI 10 NĂM PHÁT TRIỂN KINH TẾ ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 2009 – 2019 21

Trang 11

2.2 Dân số, lao động, việc làm, mức sống dân cư 31

Trang 12

Thách thức và yêu cầu tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh của khu vực ĐBSCL 138

Trang 13

3.6 Phát triển doanh nghiệp ở ĐBSCL giai đoạn 2009 – 2019 141

Trang 14

Danh mục hình

Hình 1.11 Vốn đầu tư toàn xã hội phân theo thành phần kinh tế và hiệu quả đầu tư 12

Hình 1.14 Cơ cấu đầu tư FDI tại Việt Nam (lũy kế còn hiệu lực đến 31/12/2019) 14

Hình 2.3 Đóng góp của ba khu vực vào tăng trưởng GRDP vùng ĐBSCL (2010 – 2019) 27

Hình 2.5 Phân tách nguồn gốc tăng GDP ở ĐBSCL cho từng khu vực (2000 – 2010) 28

Hình 2.9 So sánh tỷ lệ lao động đã qua đào tạo giữa các vùng miền trong cả nước 35 Hình 2.10 GRDP bình quân đầu người của ĐBSCL dưới góc nhìn so sánh (2010 – 2018) 36

Trang 15

Hình 2.11 Thay đổi tỷ lệ nghèo tại các vùng miền cả nước giai đoạn 2010 - 2016 37 Hình 2.12 Thay đổi tỷ lệ nghèo tại các vùng miền cả nước (giai đoạn 2016 – 2019) 38

Hình 2.18 Xuất khẩu gạo (tỷ USD) và thị phần toàn cầu (%) của một số quốc gia hàng đầu (2017) 50

Hình 2.20 Thị trường cá phi lê toàn cầu (tỷ USD) và thị phần xuất khẩu (%) của các nước dẫn đầu 51

Hình 2.24 Tỷ phần dân số, dân số thành thị và GRDP của ĐBSCL so với cả nước 65 Hình 2.25 Chi NS/người 2004 - 2016 và tỷ lệ nghèo 2016 của các địa phương thâm hụt 65 Hình 2.26 Tổng thu và chi ngân sách bình quân đầu người giai đoạn 2004 - 2016 (triệu đồng) 66

Hình 3.1 Các nhân tố tác động tới năng lực cạnh tranh vùng Đồng bằng sông Cửu Long 74

Hình 3.4 Sơ đồ định hướng phát triển không gian vùng Đồng bằng sông Cửu Long 98 Hình 3.5 Phân bố độ sâu lũ tại thời điểm lũ mở rộng nhất với hai kịch bản “hiện tại” (2000s) và

Hình 3.6 Tỷ lệ dân trong độ tuổi học phổ thông hiện không đi học theo vùng 2019 (%) 103

Trang 16

Hình 3.16 Số lượng doanh nghiệp thành lập mới giai đoạn 2013 – 2019 vùng ĐBSCL 142 Hình 3.17 Số lượng doanh nghiệp thành lập mới giai đoạn 2013 – 2019 ở các vùng 143

Hình 3.19 Tăng trưởng số lượng DN thành lập mới giai đoạn 2015 - 2019 ở ĐBSCL 144

Hình 3.22 Phân loại doanh nghiệp ngừng hoạt động giai đoạn 2014 - 2019 vùng ĐBSCL 147 Hình 3.23 Số doanh nghiệp ngừng hoạt động không đăng ký giai đoạn 2014 - 2019 ở các vùng 148 Hình 3.24 Số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động không đăng ký ở ĐBSCL (2018 - 2019) 149

Hình 3.28 Số lượng doanh nghiệp đang hoạt động vào 31/12/2019 tại các tỉnh ĐBSCL 152

Hình 3.30 Tăng trưởng bình quân về số lượng doanh nghiệp hoạt động giai đoạn 2009 - 2018 154 Hình 3.31 Tốc độ tăng trưởng bình quân số lượng doanh nghiệp ở ĐBSCL (2009 - 2018) 154

Hình 3.33 Quy mô lao động bình quân trong các doanh nghiệp ĐBSCL giai đoạn 2009 - 2018 157 Hình 3.34 Quy mô lao động bình quân trong các doanh nghiệp theo ngành ở ĐBSCL 2018 159 Hình 3.35 Quy mô vốn bình quân trong các doanh nghiệp ở ĐBSCL giai đoạn 2007 - 2017 159

Trang 17

Hình 4.1 Số lượng và GTXK gạo Việt Nam 2009 - 2019 167 Hình 4.2 Tỷ trọng XK gạo bình quân qua các châu lục giai đoạn 1989 - 2017 (%) 167

Hình 4.9 Tương quan giữa sản lượng nuôi trồng và kim ngạch XK cá da trơn tại ĐBSCL 188

Hình 4.11 Cơ cấu XK cá da trơn của Việt Nam phân theo thị trường chính (2010 - 2019) 189 Hình 4.12 Đánh giá năng lực cạnh tranh của cụm ngành chế biến cá da trơn tại ĐBSCL 194

Hình 4.14 Tỷ trọng GTXK của tôm trong tổng GTXK thủy sản Việt Nam 2010 - 2019 202 Hình 4.15 Chia sẻ thị phần xuất khẩu tôm nguyên liệu đông lạnh toàn cầu 2009 và 2018 203

Hình 4.24 Đánh giá môi trường kinh doanh của ngành công nghiệp chế biến tại Long An 242 Hình 4.25 Tiêu thụ điện cuối cùng theo thành phần tiêu thụ giai đoạn 2010 - 2018 244 Hình 4.26 Danh sách các nhà máy nhiệt điện tại ĐBSCL theo Quy hoạch điện 7 hiệu chỉnh 245 Hình 4.28 Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố làm tăng chi phí logistics của doanh nghiệp 260

Trang 18

Danh mục bảng

Bảng 2.1 Tỷ trọng lao động theo hoạt động kinh tế ở ĐBSCL năm 2010 và 2019 (%) 26

Bảng 2.3 Tỷ lệ hộ nghèo phân theo thành thị, nông thôn và phân theo vùng (%) 29

Bảng 2.5 Thu nhập đầu người và phân hóa giàu nghèo ở ĐBSCL từ góc nhìn so sánh 37

Bảng 2.10 Nhu cầu hàng hóa vận chuyển qua cảng biển của ĐSBCL so với cả nước 56

Bảng 3.6 Mức độ sẵn sàng cho phát triển và ứng dụng CNTT của ĐBSCL (2009 - 2019) 97 Bảng 3.7 Tỷ lệ đi học chung và đi học đúng tuổi theo cấp học và vùng KTXH 2019 (%) 104

Bảng 3.9 Nhận diện điểm mạnh, yếu, cơ hội, thách thức của nguồn nhân lực ĐBSCL 108

Trang 19

Bảng 3.10 So sánh tổng chi cân đối NSNN của Đồng bằng sông Cửu Long với các vùng (triệu đồng) 115 Bảng 3.11 Quy mô thu NSNN trên địa bàn vùng ĐBSCL và so sánh các vùng (triệu đồng) 116 Bảng 3.12 Cơ cấu chi cân đối NSNN các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long 2018 (triệu đồng) 117 Bảng 3.13 Cơ cấu thu NSĐP từ tiền sử dụng đất và thu xổ số kiến thiết vùng ĐBSCL 119

Bảng 3.16 Kết quả hoạt động tín dụng trên địa bàn tỉnh An Giang qua các năm 122 Bảng 3.17 So sánh tín dụng chính thức và phi chính thức cho hộ nuôi tôm ở Trà Vinh 123 Bảng 3.18 Điểm số PCI và các CSTP trung bình giai đoạn 2009 - 2019 của các vùng kinh tế 136 Bảng 3.19 Dịch chuyển doanh nghiệp theo ngành nghề tại vùng ĐBSCL giai đoạn 2009 - 2018 156 Bảng 4.1 Tổng quan về ngành sản xuất và chế biến cá tra xuất khẩu tại ĐBSCL 176

Bảng 4.3 Kim ngạch XK rau quả tươi và tổng kim ngạch XK của Việt Nam và thế giới (2016) 215

Bảng 4.5 Lượng khách và doanh thu du lịch của các tỉnh/thành ĐBSCL năm 2019 229

Bảng 4.10 Tình hình kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng nông sản và thủy hải sản của ĐBSCL 257

Bảng 4.12 Mô hình vận tải – Dự báo sự gia tăng của vận tải thủy nội địa 2030 - 2040 264

Trang 20

Danh mục từ viết tắt

Trang 21

ĐBSCL Đồng bằng sông Cửu Long

Trang 22

XX

Trang 23

QĐ-TTg Quyết định Thủ tướng

Trang 24

Tóm tắt

Bối cảnh kinh tế trong nước và quốc tế

Trước đại dịch Covid-19, tăng trưởng kinh tế thế giới đã chậm lại và trở thành xu hướng “bình thường mới” Đại dịch Covid-19, với tác động thậm chí còn nghiêm trọng hơn so với khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008

- 2009, sẽ làm trầm trọng thêm xu thế này Kinh tế thế giới, vì vậy, sẽ không chỉ tăng trưởng chậm lại mà còn trở nên bất định hơn Dự báo của các tổ chức quốc tế như Ngân hàng Thế giới (WB) và Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) cho rằng kinh tế toàn cầu sẽ phục hồi theo hình chữ V trong năm 2021, sau đó sẽ trở về trạng thái như trước đại dịch Covid-19

Trong bối cảnh này, nổi lên một số xu thế mới, tác động trực tiếp đến nền kinh tế Việt Nam, trong đó có Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL)

Từ năm 2015 cho đến 2019, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) toàn cầu liên tục suy giảm Theo dự báo của UNCTAD, cuộc khủng hoảng Covid-19 sẽ khiến FDI toàn cầu giảm tới 40% trong năm 2020, sau đó giảm thêm 5 – 10% vào năm 2021 và chỉ phục hồi trở lại trong năm 2022 Nhưng ngay cả khi ấy, sự hồi phục sẽ chậm chạp, trong khi tính bất định vẫn còn cao Đối với các nước đang phát triển ở châu Á trong

đó có Việt Nam, dòng vốn FDI năm 2019 đã giảm 5% so với năm 2018 và UNCTAD dự báo sẽ giảm thêm từ

30 – 45% trong năm 2020 do sự đứt gãy của chuỗi cung ứng, nhu cầu đa dạng hóa địa điểm sản xuất để hạn chế rủi ro và phong trào dân tộc chủ nghĩa Điều này ngụ ý rằng mức độ cạnh tranh thu hút FDI giữa các quốc gia đang phát triển sẽ trở nên gay gắt hơn, đặc biệt là với những nền kinh tế thâm dụng vốn và lao động như Việt Nam

Hình 0.1 Tăng trưởng GDP toàn cầu và một số nhóm nước (2005 – 2025) (%)

Nguồn: IMF, World Economic Outlook, 10/2020

Trang 25

Sự suy giảm và dịch chuyển của dòng vốn đầu tư xuyên biên giới cùng chiến tranh thương mại Mỹ – Trung dẫn đến hoạt động sản xuất và thương mại toàn cầu suy giảm Ở phương diện tích cực, sự phát triển của khoa học công nghệ gắn liền với cách mạng số (digital revolution), trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (big data) là động lực cho sự phục hồi và phát triển của kinh tế toàn cầu Cách mạng công nghiệp 4.0 và sự phát triển của kinh tế số có thể mở ra muôn vàn cơ hội cho các nước đi sau bắt kịp các nước phát triển, nhưng đồng thời sẽ mang lại nguy cơ tụt lại phía sau ngày càng xa – tất cả phụ thuộc vào sự chuẩn bị và tích lũy

về năng lực khoa học công nghệ của những nước này

Chủ nghĩa bảo hộ đang dâng cao cùng với yêu cầu ngày càng trở nên khắt khe của người tiêu dùng quốc tế khiến cho hoạt động xuất khẩu của các nước đang phát triển sẽ gặp phải nhiều rào cản phi thuế quan Trong ngắn hạn, chắc chắn những rào cản này sẽ hạn chế khả năng xuất khẩu của tất cả các nước Song trong trung và dài hạn, nó trở thành cơ chế sàng lọc những nhà xuất khẩu có năng lực nhất, và theo nghĩa đó có tác dụng tích cực trong việc thúc đẩy chất lượng và tiêu chuẩn của hàng xuất khẩu từ các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam

Trong nước, cho đến trước đại dịch Covid-19, tăng trưởng kinh tế được duy trì ở mức khá cao, trung bình 6,8% trong giai đoạn 2016 - 2019 Kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát được duy trì ở mức thấp, tiêu dùng nội địa tăng trưởng, sự phụ thuộc vào vốn tín dụng giảm nhẹ, cán cân thanh toán thặng dư, nợ công và thâm hụt ngân sách đều giảm

Động lực tăng trưởng về phía cầu của nền kinh tế Việt Nam là tiêu dùng, đầu tư, và xuất khẩu (đặc biệt là FDI) Về phía cung, động lực đến từ công nghiệp chế tạo chế biến (cũng phụ thuộc vào FDI) và dịch vụ

Nhờ sự ổn định chính trị và tăng trưởng kinh tế cao, Việt Nam sẽ tiếp tục là điểm đến hấp dẫn cho dòng vốn quốc tế Tuy nhiên, khả năng hấp thu có hiệu quả các dòng vốn này còn phụ thuộc vào chất lượng cấp cơ sở

hạ tầng, nguồn nhân lực, và cải cách thể chế - ba nút thắt cơ bản của nền kinh tế Việt Nam

Trang 26

Nền kinh tế Việt Nam chịu tác động nghiêm trọng của đại dịch Covid-19 và khủng hoảng kinh tế toàn cầu Riêng đối với ĐBSCL, do hoạt động công nghiệp chưa phát triển, nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng cao, du lịch chủ yếu phục vụ khách trong nước nên tác động của dịch Covid-19 đến kinh tế ĐBSCL được đánh giá là nhẹ nhàng hơn so với các trung tâm công nghiệp, thương mại và du lịch của cả nước Tăng trưởng 6 tháng đầu năm 2020 của vùng đạt 2,08%, cao hơn mức bình quân cả nước (1,81%) nhưng là mức thấp nhất trong nhiều năm qua Số lượng doanh nghiệp thành lập mới giảm 2,9% so với cùng kỳ 2019, hoạt động sản xuất và xuất khẩu một số mặt hàng chủ lực như cá tra, tôm và trái cây giảm lần lượt -39,0%, -14,5% và -21,0% do chuỗi cung ứng tạm thời bị gián đoạn trong giai đoạn đầu khi dịch bùng phát ở Trung Quốc.

Tuy vậy, trong bối cảnh diễn biến dịch bệnh vẫn còn phức tạp và có thể kéo dài, ĐBSCL sẽ có thể phải đối diện một số hệ lụy tiêu cực, xuất phát từ vai trò cũng như cấu trúc nội tại của vùng Thứ nhất, với vai trò đảm bảo an ninh lương thực cho quốc gia, việc ngừng xuất khẩu gạo có thể xảy ra bất cứ thời điểm nào Chính sách này sẽ ảnh hưởng đáng kể đến giá thu mua nông sản và sinh kế của người dân ĐBSCL Thứ hai, chuỗi cung ứng, xuất khẩu hàng hóa sẽ tiếp tục bị gián đoạn, thậm chí có thể bị đóng băng khi dịch bệnh diễn biến phức tạp Đồng thời chi phí logistics vốn đã bị đánh giá là cao sẽ tăng thêm do phát sinh chi phí liên quan đến an toàn phòng chống dịch bệnh Thứ ba, dòng kiều hối đổ về ĐBSCL đang có xu hướng ngày càng gia tăng trong giai đoạn gần đây bởi hoạt động xuất khẩu lao động và kết hôn với người nước ngoài Đại dịch Covid-19 kéo dài sẽ làm suy giảm nguồn thu nhập của kiều bào và nguy cơ mất việc của lao động xuất khẩu, qua đó dẫn đến suy giảm lượng kiều hối gửi về ĐBSCL Thứ tư, làn sóng hồi hương của người ĐBSCL đang lao động ở Đông Nam Bộ hay người đi xuất khẩu lao động có thể trở thành gánh nặng của vùng Thứ năm, trong bối cảnh dịch bệnh chưa thể kiểm soát, tình trạng hạn hán kéo dài, xâm lấn mặn ngày càng nghiêm trọng, tần suất xảy ra thời tiết cực đoan ngày càng dày làm môi trường kinh tế - xã hội trở nên bấp bênh, gánh nặng về tâm lý và kinh tế đối với cả doanh nghiệp, người dân và chính quyền trong vùng ngày càng lớn Thứ sáu, sự phụ thuộc quá lớn vào thị trường Trung Quốc kết hợp với khó khăn trong đại dịch Covid-19 và tình trạng hạn hán, xâm nhập mặn có thể trở thành sức ép buộc phải chuyển đổi cơ cấu và mô hình sản xuất nông nghiệp trong vùng

Nhìn lại 10 năm phát triển kinh tế Đồng bằng sông Cửu Long 2009 – 2019

Sau hơn ba thập kỷ kể từ Đổi mới, mặc dù ĐBSCL đã thành công trong việc thoát đói, giảm nghèo, nhưng vùng đất này vẫn chưa đem lại được sự thịnh vượng cho phần lớn người dân của mình Bằng chứng là tốc

độ phát triển của Vùng đã chậm lại một cách đáng kể, mức sống của người dân thấp hơn mức trung bình của cả nước, và ĐBSCL ngày càng tụt hậu về hầu hết các khía cạnh phát triển kinh tế - xã hội

Vai trò kinh tế của ĐBSCL đang giảm dần so với các vùng khác trong cả nước (Hình 0.2) Đóng góp của ĐBSCL vào tổng sản phẩm quốc nội (GDP) trong ba thập kỷ qua giảm mạnh Nếu so với thành phố Hồ Chí Minh thì vào năm 1990, GDP của thành phố Hồ Chí Minh chỉ bằng 2/3 so với ĐBSCL thì hai thập niên sau, tỷ

lệ này đã hoàn toàn đảo ngược và duy trì cho đến ngày hôm nay Điều này còn ngụ ý rằng, mặc dù có lợi thế nằm ngay sát thành phố Hồ Chí Minh và vùng kinh tế trọng điểm Đông Nam Bộ năng động và phát triển, song dường như ĐBSCL không được hưởng lợi đáng kể từ sự kết nối này, không những thế còn ngày một tụt hậu Một nguyên nhân quan trọng khiến tăng trưởng GDP của ĐBSCL thấp hơn thành phố Hồ Chí Minh và Đông Nam Bộ là do ĐBSCL được giao sứ mệnh đảm bảo an ninh lương thực cho cả nước, vì vậy phải tập trung vào nông nghiệp và sản xuất lúa gạo, và kết quả là chậm chuyển dịch sang các ngành có năng suất cao hơn

XXIV

Trang 27

Sự chênh lệch về mức sống và thiếu cơ hội kinh tế là hai nguyên nhân quan trọng thúc đẩy tình trạng di cư của người dân đồng bằng về thành phố Hồ Chí Minh và miền Đông Nam Bộ Kết quả là so với các vùng khác trong cả nước, ĐBSCL có tỷ lệ nhập cư thấp nhất, tỷ lệ xuất cư cao nhất, và do đó là vùng duy nhất có tỷ lệ tăng dân số là gần như bằng 0 trong giai đoạn 2009 – 2019 (Bảng 0.2).

Hình 0.2 Tỷ trọng GDP của ĐBSCL so với thành phố Hồ Chí Minh và cả nước (%)

Bảng 0.2 Biến động dân số và tình trạng di cư của các vùng (2009 – 2019)

Ghi chú: Giá cố định 1989 cho năm 1990, giá cố định 1994 cho giai đoạn 2000 - 2010, giá cố định 2010 cho các năm còn lại

Nguồn: Niên giám Thống kê Việt Nam, thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh ĐBSCL

Nguồn: Tính toán dựa trên số liệu Tổng điều tra dân số 2009 và 2019

Vùng

Dân số (triệu người)

Tỷ trọng

Dân số (triệu người) Tỷ trọng

Tăng trưởng Dân số

Nhập

cư (‰) Xuất cư (‰)

Nhập

cư ròng (‰)

TDMNPB 11,1 12,90% 12,5 13,00% 1,20% 5,2 23,1 -19,6 ĐBS Hồng 19,6 22,80% 22,5 23,40% 1,40% 16,6 9,1 9,7 BTB & DHMT 18,8 21,90% 20,2 21,00% 0,70% 4,9 29,6 -25,2 Tây Nguyên 5,1 6,00% 5,8 6,10% 1,40% 11,1 23,2 -13,5 Đông Nam Bộ 14,1 16,40% 17,8 18,50% 2,40% 80,3 7,5 70,7

Trang 28

Thập niên 2010 – 2019 chứng kiến sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế mạnh mẽ ở ĐBSCL Tỷ trọng khu vực I đã giảm từ 39,6% trong năm 2010 xuống chỉ còn 28,3% trong năm 2019, nhanh hơn hẳn tốc độ dịch chuyển cơ cấu trong hai thập niên trước đó Tương tự như vậy, cơ cấu công nghiệp – xây dựng và thương mại – dịch vụ cũng đang thay đổi mạnh mẽ, hội tụ ngày càng gần hơn so với cơ cấu kinh tế của cả nước Tuy nhiên, dư địa chuyển đổi cơ cấu không phải là vô hạn Với đặc điểm tự nhiên vốn có, không thể và không nên yêu cầu ĐBSCL có cơ cấu kinh tế tương tự như cả nước

Tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế mạnh mẽ của ĐBSCL cũng được phản ảnh qua số liệu về cơ cấu lao động của Vùng Cho đến năm 2010, 62,2% lao động ở vùng ĐBSCL vẫn nằm trong lĩnh vực nông nghiệp (so với 48,7% của cả nước) Thế nhưng đến năm 2019, nhờ tốc độ chuyển đổi cơ cấu lao động mạnh mẽ từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ, tỷ lệ này chỉ còn 43,3% Tất nhiên, như đã lưu ý, sự chuyển đổi từ nông nghiệp sang các lĩnh vực còn lại không phải là vô hạn, vì vậy cũng không nên kỳ vọng tốc độ chuyển đổi lao động của thập niên vừa qua sẽ được tăng tốc trong thập niên tiếp theo

Một thành tích nổi bật của ĐBSCL trong hai thập niên trở lại đây là kết quả giảm nghèo Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo của Chính phủ ở ĐBSCL đã giảm từ mức rất cao là 36,9% vào năm 1998 xuống chỉ còn 12,6% vào năm 2010 và 5,2% vào năm 2016, và tỷ lệ này tiếp tục giảm trong giai đoạn 2016 - 2019 Không những thế, tỷ lệ nghèo của ĐBSCL luôn thấp hơn so với mức trung bình của cả nước (Bảng 0.3) Kết quả giảm nghèo chứng tỏ lợi ích của tăng trưởng được chia sẻ rộng rãi, và người nghèo cũng đã được hưởng lợi từ sự phát triển kinh tế chung của toàn vùng

Tuy nhiên, đa số thành tích giảm nghèo của ĐBSCL (cũng như của cả nước nói chung) được thực hiện trong

6 năm từ 1998 đến 2004 Điều này, một mặt gợi ý rằng phần dễ dàng trong giảm nghèo đã gần hết, và vì vậy kết quả giảm nghèo sẽ càng ngày càng khiêm tốn hơn so với trước; mặt khác cho thấy từ nay trở đi kết quả giảm nghèo sẽ mong manh hơn và có thể bị đổi chiều dưới tác động của những rủi ro kinh tế, môi trường, và dịch bệnh trong và ngoài nước Đối với ĐBSCL cũng như cả nước, thành tích giảm nghèo chỉ có thể được duy trì một cách bền vững nếu như nhịp độ tăng trưởng kinh tế được giữ ở mức cao và ổn định Điều này, đến lượt mình, phụ thuộc vào đầu tư cho cơ sở hạ tầng, phát triển giáo dục, đào tạo, y tế, công nghệ (đặc biệt là thông tin và sinh học),… để tăng năng suất và giá trị gia tăng trong các công việc hiện có, tăng khả năng tiếp cận cơ hội việc làm mới tốt hơn, nhờ đó tăng năng suất lao động, tạo thu nhập cao và ổn định hơn cho người lao động

Hình 0.3 Cơ cấu GDP của ĐBSCL trong giai đoạn 1990 – 2019 (%)

Nguồn: Tổng hợp số liệu từ Nedeco (1993), Cục thống kê thành phố Cần Thơ (2010), Viện nghiên cứu Phát triển thành phố Hồ Chí Minh (2011), Niên giám Thống kê các tỉnh ĐBSCL, Niên giám Thống kê Việt Nam.

0102030405060708090100

Cả nước Việt Nam

Khu vực I Khu vực II Khu vực III Thuế - trợ cấp

XXVI

Trang 29

Năng suất lao động (NSLĐ) – đo bằng giá trị GRDP trung bình do một lao động tạo ra trong thời gian một năm – của ba khu vực kinh tế ở ĐBSCL được trình bày trong Hình 0.4 Cho đến năm 2010, NSLĐ của khu vực

II cao hơn hẳn so với khu vực III, và đến lượt mình NSLĐ của khu vực III cao hơn hẳn so với khu vực I Tuy nhiên, mối tương quan về năng suất giữa ba khu vực thay đổi nhanh chóng kể từ sau 2010 do dư chấn của bất ổn vĩ mô trong nước và khủng hoảng tài chính thế giới Trong giai 2010 – 2019, NSLĐ của khu vực nông

- lâm - ngư nghiệp và thương mại – dịch vụ tăng rất nhanh, với mức trung bình lần lượt là 5,2% và 8,3% trong giai đoạn 2010 – 2019 Đáng lưu ý là tốc độ tăng NSLĐ công nghiệp – xây dựng trong giai đoạn 2010 – 2019 chỉ là 3,5%/năm – thấp hơn hẳn so với khu vực nông - lâm - ngư nghiệp vốn là khu vực không có nhiều dư địa để tăng năng suất Đến 2015, năng suất lao động trong khu vực III đã vượt lên, cao hơn năng suất lao động của khu vực II tới gần 10%; và đến năm 2019 thì năng suất lao động của khu vực III đã khẳng định vị thế vượt trội so với hai khu vực còn lại – cao hơn khu vực II tới 16% và gần gấp đôi khu vực I

Bảng 0.3 Tỷ lệ hộ nghèo phân theo thành thị, nông thôn và phân theo vùng (%)

Nguồn: Niên giám Thống kê

(*) Chuẩn nghèo của Chính phủ giai đoạn 2011-2015 tính theo thu nhập bình quân 1 người 1 tháng của hộ gia đình được cập nhật theo chỉ số giá tiêu dùng như sau: Năm 2010 là 400 nghìn đồng đối với khu vực nông thôn và 500 nghìn đồng đối với khu vực thành thị; tương tự, năm 2013 là 570 nghìn đồng và 710 nghìn đồng; năm 2014 là 605 nghìn đồng

và 750 nghìn đồng; năm 2015 là 615 nghìn đồng và 760 nghìn đồng; năm 2016 là 630 nghìn đồng và 780 nghìn đồng.

Hình 0.4 Năng suất lao động của ba khu vực kinh tế (2010 – 2019)

Nguồn: Tính toán từ số liệu kinh tế - xã hội của ĐBSCL

27,6

54,6

42,1 37,4

Đồng bằng sông Cửu Long 36,9 15,3 12,6 10,1 7,9 5,2 8,6 7,4 5,8

Trang 30

Có ba nguyên nhân trực tiếp nằm đằng sau thực trạng đáng lo ngại về tốc độ tăng năng suất công nghiệp ở ĐBSCL Thứ nhất, năng suất công nghiệp phụ thuộc vào đầu tư, và trong bối cảnh của Việt Nam thì quan trọng nhất là đầu tư của khu vực FDI, mà đây chính là một điểm yếu cố hữu của ĐBSCL Thứ hai, hoạt động sản xuất công nghiệp quan trọng nhất ở ĐBSCL là chế biến thủy hải sản, thế nhưng tốc độ tăng trưởng của hoạt động này lại khiêm tốn, không những thế còn chịu rủi ro từ những biến động thất thường không chỉ về khí hậu và tự nhiên, mà còn do khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 Đại dịch Covid-19 có thể làm trầm trọng hơn tình trạng này, khiến công nghiệp ĐBSCL khó phát triển ít nhất là trong trung hạn Thứ ba, các hoạt động sản xuất công nghiệp còn lại của ĐBSCL nhìn chung khá trầm lắng, nếu có tăng trưởng thì chủ yếu tập trung vào các hoạt động chế tạo – chế biến thâm dụng lao động với giá trị thấp Nhìn sâu xa hơn, công nghiệp của ĐBSCL nói riêng và kinh tế - xã hội ĐBSCL nói chung đang bị cản trở bởi nút thắt nghiêm trọng

về cơ sở hạ tầng, đặc biệt là hệ thống giao thông kết nối với Đông Nam Bộ

Trong khi công nghiệp chế biến – chế tạo và cơ sở hạ tầng là hai nút thắt quan trọng cho tăng trưởng của ĐBSCL thì tỷ trọng vốn đầu tư toàn xã hội của Vùng so với cả nước ngày càng suy giảm, đặc biệt là từ năm

2015 đến nay Không những thế, nguồn đầu tư từ khu vực nhà nước ngày càng bị thu hẹp cả về quy mô tuyệt đối lẫn tỷ trọng tương đối (41,4% năm 2014 giảm còn 22,4% năm 2018)

Hình 0.5 Vốn đầu tư toàn xã hội tại ĐBSCL (2010 – 2018)

Nguồn: Tổng hợp và tính toán của tác giả từ số liệu GSO và NGTK các tỉnh

Đối với FDI, ĐBSCL chưa thực sự tỏ ra hấp dẫn FDI của vùng chỉ chiếm 5,6% số dự án và 8,4% số vốn đăng

ký của cả nước, chủ yếu do bất lợi về mặt địa lý và khả năng kết nối giao thông Long An và Tiền Giang là các tỉnh có khả năng thu hút đầu tư FDI tốt nhất vùng nhờ có đường cao tốc nối liền với thành phố Hồ Chí Minh Kiên Giang thu hút FDI tốt hơn các tỉnh còn lại nhờ hoạt động du lịch tại Phú Quốc, còn Trà Vinh nhờ vào tổ hợp nhà máy nhiệt điện Duyên Hải

Một cách tổng thể, nhu cầu đầu tư quan trọng nhất ở ĐBSCL là phát triển hạ tầng giao thông (cầu, đường cao tốc, đường tỉnh lộ), hỗ trợ đổi mới mô thức sản xuất nông nghiệp theo hướng công nghiệp và thích nghi với biến đổi khí hậu, và chế biến sản phẩm nông – thủy sản Trong thời gian qua, các cây cầu trọng yếu ở ĐBSCL có vai trò tích cực, nhưng nhiều cây cầu quan trọng vẫn chưa được xây dựng Nhiều công trình thủy lợi, ngăn mặn tuy thành công để thâm canh và tăng sản lượng lúa, nhưng cơ bản là thất bại trong việc gia tăng giá trị, chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp, thậm chí gây hại cho sự bền vững cả về kinh tế và môi trường trong tương lai

Trang 31

Trong khi các nhu cầu đầu tư còn lại chưa thu hút được sự quan tâm đúng mức, do cả yếu tố khách quan (sự hấp dẫn của vùng, nguồn lực ngân sách TW còn hạn chế) và chủ quan (chiến lược phát triển vùng ĐBSCL chưa thực sự rõ ràng, cạnh tranh giữa các địa phương do đặc điểm tương đồng), nhiều hoạt động đầu tư đang mang tính đánh đổi giữa kinh tế và môi trường

Song hành và gắn bó gần gũi với công nghiệp là phát triển đô thị và và phát triển doanh nghiệp Đô thị hóa tạo ra sự tập trung nguồn lực với quy mô lớn và mật độ cao, nhờ đó gắn kết các hoạt động kinh tế, giảm chi phí vận chuyển hàng hóa và con người, tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động công nghiệp – dịch vụ phát triển, thúc đẩy đổi mới và sáng tạo, nhờ đó đa dạng hóa và nâng cao năng suất kinh tế

ĐBSCL hiện là “vùng trũng” về đô thị hóa ở Việt Nam, trong khi Việt Nam là vùng trũng về đô thị hóa khi so với các nền kinh tế chủ yếu trong khu vực Theo kết quả Điều tra Dân số và Nhà ở, dân số vùng ĐBSCL vào ngày 01/04/2019 là 17,3 triệu người, gần như không đổi so với mức 17,2 triệu người trước đó 10 năm Số lượng di cư ròng khỏi ĐBSCL trong thập niên vừa qua là gần 1,1 triệu người, lớn hơn dân số của một số tỉnh trong Vùng và tương đương với số tăng dân số tự nhiên của cả Vùng Trong khi ĐBSCL chiếm gần 18% dân

số của cả nước thì trong giai đoạn 2009 - 2019, dân số thành thị của Vùng chỉ tăng 403 nghìn người, xấp xỉ 5,3% số tăng dân số thành thị của cả nước Tỷ lệ đô thị hóa của cả vùng trong 10 năm chỉ tăng nhẹ từ 22,8% lên 25,1%, trong khi cả nước tăng từ 29,6% lên 34,4% Kết quả là khoảng cách về dân số đô thị của ĐBSCL

so với cả nước đang ngày một giãn ra (Hình 0.6)

Nhìn về tương lai, nếu không có những yếu tố đột biến, rất khó để ĐBSCL có tốc độ tăng trưởng dân số chung

và dân số đô thị cao hơn trong 10 năm tới Trên thực tế, dân số cả Vùng hàng năm đã giảm 0,3% mỗi năm trong hai năm gần đây và dân số thành thị chỉ tăng khoảng 0,6%/năm Nếu xu thế di dân tiếp tục như hiện nay, mà khả năng này rất cao, thì đến năm 2030, dân số của cả Vùng còn chưa đến 17 triệu người, và đến năm 2030, tỷ lệ đô thị hóa rất khó đạt 30%

Để giảm thiểu những thách thức và bất lợi của ĐBSCL cũng như ứng phó với biến đổi khí hậu, việc phân bố lại dân cư, từng bước xóa bỏ thói quen dân cư sống dọc tuyến giao thông, tập trung dân cư về thị trấn/ thị xã/ đô thị để cải thiện hiệu quả cung cấp hạ tầng và dịch vụ xã hội thiết yếu Để thực hiện được chiến lược này, cần có quy hoạch bài bản và nhất quán về kinh tế - xã hội – môi trường, đồng thời Trung ương cần dành

đủ nguồn lực để xây dựng các hạ tầng giao thông kết nối với vùng thành phố Hồ Chí Minh

Hình 0.6 Tỷ phần dân số, dân số thành thị và GRDP của ĐBSCL so với cả nước

Nguồn: Tập hợp từ các số liệu thống kê chính thức

Trang 32

Đánh giá năng lực cạnh tranh của Đồng bằng sông Cửu Long

Trong Báo cáo này, năng lực cạnh tranh (NLCT) được đo lường bằng năng suất Vì vậy, câu hỏi then chốt phải trả lời là: Đâu là những nhân tố quyết định năng suất và tốc độ tăng trưởng năng suất? Sử dụng khuôn khổ phân tích của Michael Porter, Báo cáo phân tích ba nhóm nhân tố quyết định NLCT của vùng ĐBSCL, bao gồm (i) Các yếu tố lợi thế tự nhiên và sẵn có của vùng, (ii) NLCT ở cấp độ địa phương; và (iii) NLCT ở cấp độ doanh nghiệp (Hình 0.7)

Các yếu tố sẵn có ở địa phương

Nằm ở vị trí tận cùng phía Nam của đất nước, ĐBSCL là vùng đất châu thổ có tuổi địa chất rất non trẻ, hình thành từ khoảng 7.000 – 9.000 năm trong quá khứ do sự bồi tụ liên tục của dòng chảy cùng nguồn phù sa sông Mekong và quá trình biển lùi trong quá khứ từ hơn 4.000 - 5.000 năm trước Quá trình bồi đắp âm thầm nhưng liên tục này đã kiến tạo nên một ĐBSCL màu mỡ với tổng diện tích tự nhiên là 40.572 km², chiếm 12,3% diện tích đất liền của cả nước ĐBSCL có vùng biển đặc quyền kinh tế với diện tích xấp xỉ 360.000 km2, gấp 9 lần diện tích đất liền Với diện tích đồng bằng rộng lớn và màu mỡ, hệ thống sông rạch dày đặc, với hai mặt giáp biển và bờ biển dài hơn 732 km, ĐBSCL được trời phú cho lợi thế sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản từ các vùng nước ngọt, nước lợ và nước mặn Nhờ có thiên nhiên hiền hòa, ưu đãi nên việc canh tác nông nghiệp tương đối an nhàn, không đòi hỏi người nông dân phải phát minh, cải tiến, hay ứng dụng kỹ thuật phức tạp

NĂNG LỰC CẠNH TRANH Ở CẤP ĐỘ DOANH NGHIỆP

Môi trường kinh doanh Trình độ phát triển

cụm ngành chiến lược của DN Hoạt động và

CÁC YẾU TỐ SẴN CÓ CỦA ĐỊA PHƯƠNG

Hình 0.7 Các nhóm nhân tố quyết định năng lực cạnh tranh của vùng ĐBSCL

Nguồn: Trường Fulbright điều chỉnh từ Michael Porter (1990, 1998, 2008)

XXX

Trang 33

Tập quán canh tác chủ yếu dựa vào lợi thế sẵn có và tư duy nâng cao năng suất thông qua tận khai nguồn lợi tự nhiên đang dẫn đến mất cân bằng sinh thái như một biểu hiện của lời nguyền tài nguyên tại vùng ĐBSCL Thực tế là những lợi thế trời phú của Vùng đang từng bước bị xói mòn bởi những nhân tố tác động

từ bên ngoài cũng như từ chính sách và thói quen sản xuất nông nghiệp và thủy sản bên trong Phong trào thâm canh lúa ba vụ kéo dài khiến cho chất lượng đất nông nghiệp ngày một suy giảm, vùng đất nằm trong

đê bao do không nhận được phù sa trở nên bạc màu, dẫn đến việc phân hóa học và thuốc trừ sâu bị lạm dụng tối đa

Hiện nay, tài nguyên nước ở ĐBSCL phải tiếp tục đối diện với năm thử thách thường xuyên, trong đó có hai vấn đề về số lượng nước (ngập lụt và hạn hán) và ba vấn đề về chất lượng nước (suy giảm phù sa, nhiễm mặn và ô nhiễm nước) Tình trạng khó khăn này đang có xu thế gia tăng do tác động đồng thời của nhiều nhân tố: hiện tượng biến đổi khí hậu – nước biển dâng và vấn đề nước xuyên biên giới như các dự án phát triển và vận hành hồ chứa - thủy điện ở thượng nguồn, gia tăng tình trạng phá rừng, thay đổi sử dụng đất, đô thị hoá, thu hẹp các khu đất ngập nước tự nhiên, nguy cơ chuyển nước - khai thác nước trong mùa khô và ô nhiễm nguồn nước từ gia tăng hoạt động công nghiệp và nông nghiệp dọc theo hai bên bờ sông

Nhìn về tương lai, biến đổi khí hậu, nước biển dâng và những tác động về vấn đề nguồn nước xuyên biên giới

sẽ tiếp tục là những thử thách rất lớn uy hiếp sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững của nền nông nghiệp vùng ĐBSCL Chính phủ đã nhận thức được rằng các nguy cơ này không chỉ là nguy cơ cục bộ của ĐBSCL

mà là nguy cơ của toàn vùng Nam Bộ và rộng hơn là của cả quốc gia để từ đó có những chiến lược và đối sách kịp thời và đúng mức Đối với sản xuất lúa, cần phải có những điều chỉnh lịch thời vụ kịp thời, đẩy mạnh nghiên cứu tìm ra các giống lúa mới có thể chịu đựng khô hạn, nhiễm mặn tốt hơn Các biện pháp công trình như ngăn mặn, giữ ngọt, khai thác nước ngầm, nạo vét củng cố hệ thống kênh mương nhằm gia tăng hiệu quả sử dụng nước, xây dựng và khai thác các nguồn năng lượng tái tạo (gió, mặt trời, sinh khối, dòng chảy) nhằm phục vụ sản xuất và sinh hoạt cần được thực hiện theo nguyên tắc “không hối tiếc” Các quy hoạch và

kế hoạch phát triển của từng địa phương và toàn vùng cần theo tinh thần “thuận tiện” và “hợp lòng dân” của Nghị quyết 120 Điều quan trọng nhất nhưng thường bị xem nhẹ trong chiến lược bảo vệ tài nguyên nước nói chung và lưu vực sông nói riêng ở ĐBSCL là phải có sự tham gia của cộng đồng như là những chủ nhân đích thực của nguồn tài nguyên quý giá này

Quy mô kinh tế của vùng ĐBSCL cũng là một yếu tố sẵn có quan trọng, quyết định mức độ hấp dẫn đối với các nhà kinh doanh – đầu tư tìm kiếm thị trường tại chỗ Về phương diện này, ĐBSCL đang gặp phải bất lợi tương đối, đặc biệt khi so với vùng Đông Nam Bộ khi cả quy mô dân số, mức chi tiêu của người dân, và sự tập trung dân cư của ĐBSCL đều đang tụt lại phía sau ngày một xa Đơn cử về quy mô thị trường, với thu nhập của dân cư ĐBSCL chỉ bằng khoảng 60% của thành phố Hồ Chí Minh, quy mô thị trường tiêu dùng của

cả vùng ĐBSCL chỉ tương đương 86% của thị trường thành phố Hồ Chí Minh Trong bối cảnh này, nếu không nhanh chóng phát triển cơ sở hạ tầng cho ĐBSCL, đồng thời phát triển chất lượng nguồn nhân lực tại chỗ và thay đổi các tập quán sản xuất nông nghiệp – thủy sản thiếu bền vững thì sự tụt hậu về kinh tế của ĐBSCL

là không thể tránh khỏi

Năng lực cạnh tranh ở cấp độ địa phương

Cơ sở hạ tầng: Giao thông là một trong những nhân tố quan trọng, nếu không muốn nói là quan trọng nhất trong động lực phát triển của các địa phương kém phát triển Với ĐBSCL, sự yếu kém của hệ thống giao thông kết nối nội Vùng cũng như giữa Vùng với thành phố Hồ Chí Minh và Đông Nam Bộ là một nút thắt quan trọng cho sự phát triển của Vùng

Trang 34

Tới thời điểm Báo cáo này được xuất bản, cả ĐBSCL chỉ có 45km đường cao tốc, chiếm khoảng 3% chiều dài đường cao tốc của cả nước Trục đường bộ chính phổ biến trong vùng chỉ có quy mô 2 làn ô tô và 1 làn xe máy cho mỗi bên và có dải phân cách, trong khi một số trục đường chính khác có quy mô chỉ 1 làn ô tô và

1 làn xe máy cho mỗi bên và không có dải phân cách Một số tuyến lộ chính dọc ven sông còn bị ảnh hưởng bởi tình trạng sạt lở Năng lực vận chuyển hàng hóa từ vùng sản xuất, nuôi trồng đến nhà máy và trục giao thông chính cũng còn nhiều hạn chế và vẫn phụ thuộc nhiều vào giao thông đường thủy nội địa

Trục giao thông đường bộ cao tốc huyết mạch của vùng mặc dù đã có trong quy hoạch nhưng vẫn chưa thể hoàn thành hoặc chưa được đầu tư Tuyến Trung Lương – Mỹ Thuận vẫn đang triển khai và chưa thể xác định thời gian hoàn thành Tuyến Mỹ Thuận – Cần Thơ đến nay vẫn chưa khởi công Còn tuyến Cần Thơ –

Cà Mau mới chỉ trong giai đoạn nghiên cứu khả thi, dự kiến hoàn thành trong giai đoạn 2021 – 2025 nhưng không có gì chắc chắn Trong khi đó, trục ngang từ Sóc Trăng – Cần Thơ – Châu Đốc tiếp tục đưa vào quy hoạch trong các giai đoạn tiếp theo nhưng khả năng bố trí vốn chưa rõ ràng và thời điểm triển khai chưa được xác định

Trong bối cảnh nguồn lực đầu tư còn hạn chế, khả năng kêu gọi sự tham gia của khu vực tư nhân bị hạn chế bởi cơ chế PPP hiện tại cũng như các thất bại của các dự án PPP đã triển khai, việc có thể làm hiện nay, mang tính tình thế là cải tạo các tuyến quốc lộ hiện hữu Tuy vậy, ngay cả giải pháp này cũng gặp khó khăn bởi nhu cầu đầu tư cải tạo quốc lộ rất lớn, trong khi quỹ bảo trì đường bộ chỉ đáp ứng được khoảng 35% nhu cầu đầu tư Trong khi đó, nguồn lực đầu tư mới lại tiếp tục bị phân tán khi đầu tư vào các tuyến giao thông vành đai và ven biển với nhu cầu và lưu lượng hàng hóa rất thấp, khả năng kết nối không đồng bộ với các trục chính Kết quả này phần nào phản ánh hạn chế trong nguồn lực cho đầu tư cơ sở hạ tầng giao thông,

và cũng phản ánh sự thiếu tính liên kết trong đề xuất cũng như trong lựa chọn ưu tiên đầu tư giữa các tỉnh trong vùng Khi khả năng kêu gọi PPP còn chưa khả thi, việc tập trung nguồn lực cho hai trục cao tốc huyết mạch cần được tất cả các tỉnh trong Vùng coi là ưu tiên hàng đầu trong giai đoạn 2021 – 2025

ĐBSCL vẫn luôn được nhắc đến là địa bàn có nhiều tiềm năng khai thác giao thông đường thủy Tuy vậy, hiện nay giao thông đường thủy nội địa mới chỉ đóng vai trò trong tập kết và thu gom hàng hóa với quy mô hết sức hạn chế So với đường bộ, đường thủy có lợi thế trong việc vận chuyển hàng hóa có tải trọng lớn do có chi phí đơn vị thấp hơn, nhưng thay vào đó lại phát sinh chi phí bốc dỡ tại mỗi đầu cảng, thời gian vận chuyển cao hơn nhiều lần, do vậy không phù hợp với các mặt hàng nông thủy sản cần bảo quản đông lạnh Kết quả

là hiện nay, 70 - 75% lượng hàng xuất khẩu của vùng ĐBSCL đang phải vận chuyển lên cụm cảng vùng thành phố Hồ Chí Minh và Cái Mép – Thị Vải, trong khi các cụm cảng trong vùng ĐBSCL hoạt động cầm chừng Ở phía nhập khẩu, nhu cầu vận chuyển chủ yếu phục vụ cho một số dự án đặc thù trong vùng như nhiệt điện (than), điện (tua bin khí) – là những mặt hàng không có tiềm năng tăng trưởng ổn định và dài hạn

Gần đây dự án cảng nước sâu của cả vùng cũng được đặt vấn đề trở lại Tuy nhiên hai câu hỏi lớn nhất cần được trả lời là nguồn đầu tư đến từ đâu và tính khả thi về tài chính – kinh tế - xã hội của dự án này sẽ như thế nào? Lấy dự án cảng nước sâu Trần Đề làm ví dụ Theo đánh giá của các chuyên gia, chân hàng khai thác hiện tại chỉ vào khoảng 10 - 15% công suất thiết kế của cảng Trần Đề bởi không phải tất cả hàng hóa trong vùng sẽ chọn hướng kết nối qua Sóc Trăng để xuống cảng Trần Đề, đặc biệt là các tỉnh phía Tây và Tây Bắc Trong khi đó, tính khả thi của các nguồn hàng mới trong vùng cũng không cao, đặc biệt trong bối cảnh môi trường đầu tư tại vùng ĐBSCL bị ảnh hưởng đáng kể bởi tình trạng nước biển dâng cao trong tương lai Giao thông kết nối với cảng Trần Đề cũng chưa được đầu tư và đồng bộ Nhu cầu nguồn lực đầu tư lớn trong bối cảnh ngân sách còn nhiều hạn chế và khả năng huy động nguồn lực đầu tư tư nhân không nhiều bởi tính khả thi về mặt tài chính của dự án là rất thấp Bên cạnh đó, tác động lan tỏa của việc đầu tư cảng Trần Đề đối với phát triển kinh tế hay phát triển dân cư – đô thị cũng không thật sự rõ ràng khi so sánh với phát triển giao thông đường bộ

XXXII

Trang 35

Do vậy, nếu các địa phương trong vùng không xác định rõ ràng tính ưu tiên giữa ưu tiên hoàn thiện trục giao thông huyết mạch với phát triển cảng nước sâu cho toàn vùng thì kỳ vọng về một hệ thống giao thông hoàn thiện, đa dạng, có tính kết nối cho vùng ĐBSCL vẫn sẽ chỉ nằm trên quy hoạch như các giai đoạn trước.

Về giao thông hàng không, sân bay quốc tế Cần Thơ là trung tâm kết nối của cả vùng nhưng công suất khai thác chỉ đạt khoảng 25% Công suất khai thác của sân bay Cà Mau hay Rạch Giá (Kiên Giang) cũng không khả quan hơn Sân bay quốc tế Phú Quốc (Kiên Giang) có công suất khai thác cao nhất vùng, song chủ yếu phục vụ nhu cầu đi lại của khách du lịch của Phú Quốc nên không có tính lan tỏa toàn vùng Thực tế là ở Việt Nam, ngoài sân bay Tân Sơn Nhất, Nội Bài, Đà Nẵng có lãi, còn hầu hết các sân bay khác trong cả nước hiện nay đang được bù lỗ hàng năm Trong bối cảnh này, việc đề xuất đầu tư các sân bay mới trong vùng ĐBSCL vừa không hợp lý, vừa bất khả thi Đầu tư và nâng cấp hạ tầng giao thông đường bộ để đảm bảo thuận tiện trong kết nối giữa các trung tâm kinh tế của ĐBSCL và kết nối với vùng Đông Nam Bộ đóng vai trò quan trọng

và thiết thực hơn nhiều

Nguồn vốn con người: Nhân lực là nguồn lực quan trọng mang tính quyết định cao đối với năng lực cạnh tranh Thể lực, trí lực và nhân cách là ba yếu tố chính cấu thành chất lượng đội ngũ lao động tại mỗi địa phương Trên cơ sở đó, văn hóa xã hội, giáo dục và y tế là các tác nhân đầu vào có ảnh hưởng đến đặc điểm nguồn nhân lực của một khu vực như ĐBSCL

Về văn hóa, ĐBSCL là vùng đất đa văn hóa, là nơi hội tụ và quần cư của nhiều cộng đồng cư dân, cả bản địa

cả nhập cư đến “khẩn hoang lập ấp” Về phương diện kinh tế, điều này một mặt tạo ra nguồn tài nguyên vô cùng phong phú cho hoạt động du lịch, song đồng thời hạn chế khả năng hợp tác giữa các cộng đồng khác nhau Bên cạnh đó, đặc trưng “dân làng đi trước, nhà nước đến sau”, cùng với các hoạt động tôn giáo và lễ hội diễn ra rải rác trong năm khiến cho tác phong lao động của người dân thiếu tính kỷ luật và chuyên nghiệp Như vậy, các giá trị văn hóa truyền thống đa dạng, phong phú do lịch sử và tôn giáo để lại đã từng là niềm

tự hào của người dân vùng ĐBSCL lại đang phần nào cản trở quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa nền kinh tế của Vùng Bên cạnh đó, điều kiện thuận lợi do tự nhiên ưu đãi khiến cho nguồn nhân lực không đủ động cơ để tự thay đổi, phát triển bản thân thích ứng với yêu cầu và bối cảnh mới

Về giáo dục phổ thông, ĐBSCL từ lâu đã luôn được xem là “vùng trũng” về giáo dục đào tạo của cả nước với

tỷ lệ bỏ học cao, cơ sở hạ tầng hạn chế, tỷ lệ chi ngân sách địa phương cho giáo dục thấp hơn mức bình quân

cả nước Đáng lưu ý là mặc dù tỷ lệ đi học ở cấp tiểu học của ĐBSCL cao nhất so với cả nước, nhưng tỷ lệ này bắt đầu tuột dốc mạnh từ cấp THCS và tiếp tục ở cấp PTTH khiến cho ĐBSCL có tỷ lệ đi học phổ thông thấp nhất nước Trong nội bộ vùng ĐBSCL, những địa phương có lợi thế về phát triển kinh tế và có khả năng tạo nhiều cơ hội nghề nghiệp sẽ có tỷ lệ đi học cao hơn Vì vậy, để nâng cao tỷ lệ đi học (và giảm bớt tỷ lệ bỏ học), nếu chỉ tăng chi hỗ trợ hay tuyên truyền vận động thôi là không đủ, mà quan trọng hơn là phải phát triển kinh tế, tạo thêm cơ hội sinh kế và việc làm cho người lao động

Về giáo dục đại học, mặc dù ở ĐBSCL đã có nhiều trường đại học lớn ở các địa phương, đặc biệt các trường đại học ở Cần Thơ có uy tín về đào tạo nguồn nhân lực chất lượng, song một lần nữa do thiếu cơ hội việc làm tốt nên một tỷ lệ lớn nguồn nhân lực chất lượng cao có khuynh hướng di cư về miền Đông Nam Bộ Về đào tạo nghề, hệ thống trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề nhìn chung không gắn kết với khu vực doanh nghiệp, đồng thời lạc hậu so với thực tiễn sản xuất – kinh doanh nên không giúp cung ứng nguồn lao động

kỹ thuật lành nghề hay góp phần tích cực cho sự phát triển các ngành kinh tế đặc thù ở địa phương Kết quả

là ĐBSCL có tỷ lệ lao động có việc làm đã qua đào tạo thấp nhất nước (13,3%), thậm chí thấp hơn cả Tây Nguyên và Trung du - miền núi phía Bắc

Về y tế, hầu hết các tỉnh trong khu vực ĐBSCL có số lượng giường bệnh và bác sĩ trên 10.000 dân rất thấp

so với cả nước, một số tỉnh thậm chí chỉ bằng phân nửa số bình quân cả nước Tuy nhiên, ĐBSCL có thuận lợi lớn khi có Cần Thơ và gần thành phố Hồ Chí Minh là hai thành phố lớn có hệ thống y tế phát triển nhất nước

Trang 36

Với đặc điểm này, nếu thực hiện được việc kết nối hệ thống y tế giữa các địa phương với Cần Thơ và thành phố Hồ Chí Minh thì trước mắt các tỉnh ít phát triển chỉ cần đóng vai trò khám sàng lọc, xử lý bệnh cơ bản

và phân luồng bệnh nhân tốt Hoạt động khám chữa bệnh ở mức độ cao hơn có thể được thực hiện ở những thành phố có thế mạnh về hạ tầng y tế

Tóm tắt lại, cả số lượng và chất lượng nguồn nhân lực ở ĐBSCL đang khá hạn chế, không những thế lại đang

bị chảy máu chất xám Để khắc phục tình trạng này, cần cải thiện các tác nhân đầu vào trong đó quan trọng nhất là cần thiết kế chính sách tạo động cơ đi học, đồng thời phát triển kinh tế để tạo thêm cơ hội việc làm,

từ đó khuyến khích người dân theo đuổi việc học tập, phát triển bản thân, kích thích hệ thống giáo dục chuyên nghiệp phát triển Ở một mức độ táo bạo hơn, tận dụng đặc điểm văn hóa cởi mở, dễ tiếp nhận cái mới và ít rào cản xã hội, ĐBSCL nên tìm cách xây dựng hệ sinh thái sáng tạo để hấp dẫn nhân tài lựa chọn đây là nơi khởi nghiệp và phát triển

Chính sách tài khóa và tín dụng

Trong 10 năm trở lại đây, số chi ngân sách nhà nước (NSNN) cho vùng ĐBSCL đã tăng lên cả về tuyệt đối và tương đối, Tuy nhiên nếu tính chung cả ngân sách trung ương và địa phương thì tốc độ tăng chi của vùng ĐBSCL vẫn thấp hơn tốc độ tăng tổng chi NSNN của cả nước Về cơ cấu chi, tổng chi cân đối NSNN của vùng ĐBSCL cũng tăng nhẹ từ 12,4% năm 2010 lên 14,2% trong dự toán 2020 Sự thay đổi này thể hiện sự quan tâm của Chính phủ cho phát triển vùng ĐBSCL, nhất là sau khi có nghị quyết 120/NQ-CP năm 2017 Tuy nhiên, mức tăng chi cân đối NSNN vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu cho phát triển vùng Báo cáo của Bộ Kế hoạch Đầu tư (2019) cho thấy tỷ trọng đầu tư cho vùng ĐBSCL trong hai giai đoạn 2011 - 2015 và 2016 -

2020 chỉ chiếm khoảng 18% của cả nước Trong giai đoạn 2021 - 2025, nhu cầu vốn đầu tư của vùng lên tới 45.000 tỷ đồng, song ngân sách chỉ có thể cân đối khoảng ½ trong số này

Như vậy tỷ lệ chi đầu tư của NSĐP trong tổng chi cân đối NSNN không hề thấp, song do quy mô tuyệt đối của chi đầu tư nhỏ, hơn nữa các khoản chi này bị phân tán dàn trải, hầu như không thể dồn sức cho các dự

án xây dựng cơ sở hạ tầng trọng điểm mang tính liên vùng Bên cạnh đó, do đặc điểm tự nhiên, kinh tế, và

xã hội, ĐBSCL cũng khó có thể thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước Hơn nữa, do số thu hạn chế nên việc huy động nguồn tài chính ngoài NSNN qua vay nợ của chính quyền địa phương cũng khó thực hiện Nghị quyết 120/NQ-CP đã đề cập đến việc xem xét việc thành lập Quỹ phát triển bền vững vùng ĐBSCL Tuy nhiên, đến nay Quỹ này vẫn chưa được thành lập và các chính sách liên quan đến huy động nguồn lực ngoài ngân sách cho các tỉnh ĐBSCL vẫn còn hạn chế

Phát triển ĐBSCL là yêu cầu cấp thiết nhằm khai thác tốt hơn nguồn lực và đáp ứng tốt hơn những thách thức trong giai đoạn tới của vùng này Giải pháp tài chính – ngân sách trong giai đoạn tới cần phải: (i) bổ sung chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển ĐBSCL chống biến đổi khí hậu khi phân bổ vốn đầu tư phát triển trong cân đối thay thế Quyết định số 40/2015/QĐ-TTg cho giai đoạn 2021 – 2025; (ii) số tăng thu được để lại địa phương có quyền chủ động phân bổ chi đầu tư thực hiện các nhiệm vụ quan trọng, trong đó

ưu tiên chi các lĩnh vực cơ sở hạ tầng, giáo dục - đào tạo, y tế, nông nghiệp, nông thôn, ứng phó với biến đổi khí hậu; (iii) đề xuất Quốc hội cho phép mở rộng hạn mức vay theo quy định của Luật NSNN đối với các tỉnh ĐBSCL để mở rộng dư địa tài chính cho mục tiêu đầu tư phát triển, nhất là cơ sở hạ tầng; (iv) kiến nghị xây dựng định mức phân bổ dự toán chi thường xuyên NSNN giai đoạn 2021 - 2025 thay thế quyết định số 46/2016/QĐ-TTg tính đến đặc thù ĐBSCL để có tiêu chí phù hợp; (v) với chi đầu tư phát triển, Quốc hội và Chính phủ cũng cần xem xét ban hành chính sách cho phép chia sẻ gánh nặng tài chính ngân sách giữa thành phố Hồ Chí Minh với các tỉnh vùng ĐBSCL khi phát triển các công trình hạ tầng có tính chất liên vùng, liên tỉnh; (vi) cần đẩy nhanh việc xây dựng Quỹ phát triển ĐBSCL, đặc biệt là phát hành trái phiếu địa phương hoặc trái phiếu chính phủ riêng cho mục tiêu phát triển cơ sở hạ tầng giao thông và ứng phó với biến đổi khí hậu ở ĐBSCL

XXXIV

Trang 37

Về tín dụng ngân hàng, hoạt động tín dụng ở ĐBSCL chưa tương xứng với vị thế kinh tế của vùng Số dư tiền gửi và tín dụng năm 2019 của ĐBSCL chỉ chiếm lần lượt 5,4% và 8,2% so với quy mô cả nước trong khi Vùng đóng góp khoảng 18% vào GDP của nền kinh tế Lũy kế đến 2019, cho thấy tổng nguồn lực huy động trong vùng chỉ tương đương 86% nhu cầu tín dụng, thấp hơn nhiều so với mức 129% của cả nước Thoạt nhìn, số liệu này ngụ ý rằng nhu cầu vốn trong vùng vượt quá nguồn lực tiết kiệm, nhưng suy xét kỹ hơn thì thấy nguồn vốn cho doanh nghiệp và người dân không thiếu Vấn đề thực sự nằm ở chỗ doanh nghiệp và người dân không có phương án, sản xuất kinh doanh hiệu quả hay có tài sản đảm bảo an toàn

Các khoản cho vay trong ngành nông nghiệp ở ĐBSCL có khuynh hướng tập trung vào một số doanh nghiệp dẫn đầu, có thị trường đầu ra và vùng nguyên liệu ổn định Với các doanh nghiệp nhỏ, vốn tín dụng phụ thuộc vào xoay vòng nguồn vốn và ứng trước từ hợp đồng xuất khẩu đầu ra Kết quả là hiệu quả kinh doanh giảm

do phải chịu chi phí ứng trước lên đến khoảng 10% giá trị hợp đồng, rủi ro thua lỗ hay bỏ hợp đồng khá cao trong trường hợp giá giảm bất ngờ

Với nông hộ sản xuất, phần lớn nhu cầu vốn tín dụng phụ thuộc vào các mô hình tín dụng của thương lái hay nhà cung cấp thức ăn – vật tư, và do vậy phụ thuộc vào kết quả vụ mùa nuôi trồng vốn có tỉnh rủi ro tương đối cao vì phụ thuộc cả vào điều kiện thời tiết, dịch bệnh lẫn biến động thị trường Các khoản vay này có điều kiện vay linh hoạt, số vốn cho vay cao hơn nhưng chi phí lãi vay đồng nghĩa cũng cao hơn

Môi trường kinh doanh và phát triển doanh nghiệp

Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) của tất cả các tỉnh ĐBSCL đều tăng rõ rệt trong năm năm trở lại đây (Hình 0.8) Thậm chí một số tỉnh như Long An, Đồng Tháp, Bến Tre và Vĩnh Long đã vươn lên nằm trong tốp đầu của cả nước

Cà Mau Cần Thơ

Hậu Giang Kiên Giang

Vĩnh Long

Long An Sóc Trăng Tiền Giang Trà Vinh

Hình 0.8 Chỉ số PCI của các tỉnh ĐBSCL trong giai đoạn 2009 - 2019

Nguồn: Tổng hợp từ kết quả khảo sát PCI các năm của VCCI - USAID

Trang 38

Tương tự như vậy, khu vực ĐBSCL cũng có 4 tỉnh nằm trong tốp 10 tỉnh đứng đầu cả nước bao gồm về chỉ

số cải cách hành chính (PAR Index) là Đồng Tháp, Cần Thơ, Long An và An Giang Nếu so với cả nước thì điểm PAR Index trung bình của ĐBSCL năm 2018 đạt 76,81 điểm, chỉ đứng sau Đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ

Tuy các chỉ số PCI và PAR Index tốt như vậy nhưng tình hình phát triển doanh nghiệp ở ĐBSCL lại không hề khả quan Trong giai đoạn 2013 - 2019, tốc độ tăng trưởng doanh nghiệp mới ở ĐBSCL là 4,4%/năm, chưa bằng một nửa tốc độ tăng trung bình của cả nước (10,2%/năm) Kết quả là tỷ trọng doanh nghiệp thành lập mới vùng ĐBSCL ngày càng thấp, giảm từ 9,4% năm 2013 xuống chỉ còn 6,8% trong năm 2019 và chỉ đứng trên hai vùng đặc biệt khó khăn là Trung du - miền núi phía Bắc và Tây Nguyên Không những thế, ĐBSCL cũng là vùng có tốc độ tăng trưởng số doanh nghiệp ngừng hoạt động thuộc loại cao nhất nước – trong giai đoạn 2014 - 2019 lên tới 17,6%/năm, chỉ đứng sau vùng Trung du – miền núi phía Bắc (23,7%/năm) và cao hơn rất nhiều mức trung bình của nền kinh tế (14,2%/năm)

Một điều đáng ngạc nhiên là cơ cấu doanh nghiệp của vùng ĐBSCL phân theo ngành kinh tế về cơ bản giống

cả nước Cụ thể là 5 ngành chiếm tỷ trọng doanh nghiệp lớn nhất vẫn là bán buôn và bán lẻ; sửa chữa ô tô,

mô tô, xe máy (42,52%), công nghiệp chế biến chế tạo (16,37%), xây dựng (15,29%), hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ (5,91%) và vận tải kho bãi (3,69%) Năm ngành này cùng nhau chiếm đến 83,78% số doanh nghiệp đang hoạt động ở vùng ĐBSCL

Một điều gây ngạc nhiên nữa là ngược lại với xu hướng của cả nước, quy mô bình quân về lao động của các doanh nghiệp vùng ĐBSCL đã có những giai đoạn tăng lên (từ 29 lên 32 lao động trong giai đoạn 2009 - 2014) trước khi giảm xuống còn 27 lao động trong giai đoạn 2010 - 2018 Kết quả là nếu như trước năm

2013, quy mô lao động bình quân của các doanh nghiệp vùng ĐBSCL luôn thấp hơn thì từ năm 2014 lại luôn cao hơn bình quân của cả nước

Nguồn vốn bình quân của các doanh nghiệp vùng ĐBSCL tuy cũng có xu hướng tăng lên về giá trị danh nghĩa nhưng luôn thấp hơn nhiều so với mức trung bình của cả nước Trong tổng số 18 ngành kinh tế, các doanh nghiệp vùng ĐBSCL có quy mô vốn trung bình nhỏ hơn mức trung bình của cả nước ở 14 ngành, nhất là các ngành tài chính, ngân hàng và bảo hiểm (cả nước 3.711 tỷ so với ĐBSCL chỉ là 236 tỷ), sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí (753 tỷ so với 116 tỷ), khai khoáng (305 tỷ so với

78 tỷ) và hoạt động kinh doanh bất động sản (271 tỷ so với 171 tỷ) Bốn ngành mà các doanh nghiệp ở ĐBSCL có quy mô vốn cao hơn mức trung bình của cả nước là dịch vụ lưu trú và ăn uống (26 tỷ so với 42 tỷ), công nghiệp chế biến chế tạo (82 tỷ so với 97 tỷ), y tế và hoạt động trợ giúp xã hội (40 tỷ so với 46 tỷ) và giáo dục và đào tạo (11 tỷ so với 12 tỷ)

Về cơ cấu các thành phần kinh tế, tính đến thời điểm 31/12/2018 tại khu vực ĐBSCL, các doanh nghiệp ngoài nhà nước chiếm chủ yếu với tỷ lệ 97,82%, trong khi các doanh nghiệp FDI chiếm 1,79% còn các doanh nghiệp nhà nước chỉ còn chiếm 0,39% Tỷ lệ này trên quy mô cả nước lần lượt là 97,23%; 2,34% và 0,33% Như vậy có thể thấy rõ sự hạn chế của vùng ĐBSCL trong việc thu hút các dự án FDI so với mặt bằng chung của cả nước

XXXVI

Trang 39

Năng lực cạnh tranh của các cụm ngành vùng ĐBSCL

Cụm ngành lúa gạo

Theo thống kê của Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn 2009

- 2019 gia tăng gần 5%, trong khi đó giá trị xuất khẩu (GTXK) gia tăng đến 24% Đây là dấu hiệu đáng mừng, cho thấy sự cải thiện quan trọng về chất lượng gạo xuất khẩu Trong dài hạn, cùng với sự biến đổi về cơ cấu nhân khẩu học và mức sống toàn cầu, định hướng hạn chế số lượng và tăng cường chất lượng lúa gạo xuất khẩu sẽ ngày càng trở thành chiến lược quan trọng để phát triển bền vững ngành lúa gạo Việt Nam nói chung và ĐBSCL nói riêng

Cụm ngành lúa gạo ở ĐBSCL có lợi thế cạnh tranh nhờ điều kiện tự nhiên như thổ nhưỡng và nguồn nước thích hợp; lực lượng lao động sản xuất giàu kinh nghiệm; hệ thống phân phối vật tư nông nghiệp dày đặc và rộng khắp Đặc biệt gần đây, ĐBSCL đã lai tạo nhiều dòng lúa thơm có thương hiệu, phẩm chất cao, được thế giới công nhận Cơ hội phát triển sản phẩm lúa gạo lớn mạnh còn đến từ xu thế hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng Thêm vào đó, năng lực cạnh tranh của cụm ngành cũng luôn được bồi đắp bởi các chính sách hỗ trợ của Nhà nước, cũng như từ những chương trình/ dự án hỗ trợ kỹ thuật của nước ngoài

Bên cạnh những lợi thế cạnh tranh vừa nêu, cụm ngành lúa gạo cũng phải đối mặt với những bất lợi như: ảnh hưởng biến đổi khí hậu; suy kiệt nguồn nước tưới; khan hiếm lao động ở vùng nông thôn; cơ giới hóa trong ngành chưa đồng đều giữa các tỉnh trong vùng và chưa đồng bộ giữa các khâu trong chuỗi cung ứng; chất lượng gạo không đồng nhất; hạ tầng giao thông của vùng chưa hoàn chỉnh và thiếu đồng bộ; đối thủ cạnh tranh gay gắt về xuất khẩu gạo trên thế giới; khả năng tự túc lương thực của một số quốc gia nhập khẩu gạo lớn ngày càng gia tăng, trong khi chiến lược phát triển sản phẩm giá trị gia tăng từ lúa gạo của vùng vẫn chưa có lời giải Cuối cùng, năng lực cạnh tranh của cụm ngành đang bị kìm hãm bởi năng lực liên kết của các tác nhân tham gia trong chuỗi cung ứng Cũng chính từ sự thiếu năng lực liên kết này đã dẫn đến tình trạng nông dân phải mua vật tư nông nghiệp qua các đại lý và chịu mức tín dụng cao, dẫn đến làm tăng chi phí trung gian, và do vậy làm giảm giá trị gia tăng thuần (lợi nhuận) của toàn chuỗi giá trị lúa gạo

Cụm ngành thủy sản (tôm và cá da trơn)

Ngành nuôi trồng thủy sản hình thành và phát triển tại ĐBSCL gắn liền với điều kiện tự nhiên thuận lợi, nhưng

sự hình thành và phát triển của ngành công nghiệp chế biến thủy sản lại gắn liền với nhu cầu và sự phát triển của thị trường xuất khẩu Điều này phần nào giải thích sự thăng trầm của ngành chế biến và xuất khẩu thủy sản trong giai đoạn vừa qua do chịu tác động to lớn từ ảnh hưởng và biến động của thị trường xuất khẩu thế giới, đặc biệt là về giá xuất khẩu

Bên cạnh thế mạnh nổi bật về điều kiện thổ nhưỡng và nguồn nước phù hợp, ĐBSCL còn có ưu thế nhờ lực lượng lao động trong ngành thủy sản giàu kinh nghiệm và có trình độ đáp ứng nhu cầu kinh doanh và cạnh tranh Tuy nhiên, sự thiếu hụt và già hóa lực lượng lao động ở các vùng nuôi sẽ là thách thức lớn cho ngành trong dài hạn

Về nuôi trồng, thách thức lớn nhất của ngành là đảm bảo nguồn cung dồi dào và ổn định các con giống sạch bệnh và có sức sống cao Việc phụ thuộc vào nguồn cung ứng con giống bên ngoài vùng như hiện nay cũng

là một hạn chế quan trọng Bên cạnh đó, ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và tình trạng xâm nhập mặn có thể làm hạn chế tốc độ phát triển cụm ngành

Trang 40

Thị trường đầu ra của cụm ngành trong 10 năm qua đã tăng trưởng và đa dạng hóa, Tuy nhiên bài toán khó

là làm thế nào đối phó với sự cạnh tranh ngày một gay gắt trên thị trường quốc tế, và để giải bài toán này cần sự phối hợp chặt chẽ của các tác nhân tham gia trong chuỗi cung ứng, trong cụm ngành cũng như từ các Bộ ngành liên quan Tất nhiên trong những thành tựu của cụm ngành, không thể phủ nhận vai trò thúc đẩy của Chính Phủ, Bộ NN&PTNT, Bộ Công Thương, và đặc biệt là vai trò của VASEP Tuy nhiên, vai trò của các tổ chức này vẫn chưa được thể hiện đầy đủ, nhất là trong việc khắc phục các khó khăn và thách thức của ngành vừa nêu ở trên

Năng lực cạnh tranh hiện tại cũng như trong tương lai cụm ngành bị hạn chế khá lớn bởi ba nhân tố quan trọng sau đây: Thứ nhất là sự yếu kém trong việc xây dựng mối liên kết dọc giữa các tác nhân tham gia trong chuỗi, cũng như mối liên kết ngang giữa các thành viên trong cùng nhóm (giữa các hộ nuôi trong các tổ chức kinh tế hợp tác; giữa các DNCBXK thủy sản với nhau) Thứ hai, cơ sở hạ tầng giao thông và hệ thống logistics trong vùng chưa được đầu tư thích đáng và thiếu đồng bộ, khiến chi phí, giá thành và thời gian vận chuyển tăng lên đáng kể Thứ ba, hạn chế về khả năng nghiên cứu phát triển các sản phẩm giá trị gia tăng cũng như xây dựng thương hiệu riêng cho ĐBSCL

Cụm ngành rau quả

ĐBSCL có lợi thế nổi trội về canh tác rau quả nhờ điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng thuận lợi Việc chuyển đổi canh tác từ thuần lúa sang rau màu và cây ăn trái là một xu thế tất yếu giúp cải thiện nguồn thu cho người nông dân Tuy nhiên, ở thời điểm hiện tại, ngành rau quả vẫn chỉ mới ở giai đoạn định hình và đối mặt với nhiều thách thức Ở tầm quốc gia, các chính sách tập trung phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng trồng rau quả chưa hoàn thiện và còn thiếu hiệu quả Ở cấp độ vùng, mỗi tỉnh vẫn theo đuổi một chính sách riêng

và việc quy hoạch các vùng trồng trọt vẫn chưa được xem xét về mặt tổng thể để có hướng phát triển tổng thể Về mặt thị trường, việc phụ thuộc quá nhiều vào thị trường Trung Quốc, trong khi về cơ bản chưa đáp ứng được các yêu cầu về vệ sinh an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc của các nước tiên tiến Bên cạnh

đó, tác động của biến đổi khí hậu và những tác động tiêu cực do dịch Covid-19 cũng buộc ĐBSCL phải đánh giá lại vị thế, năng lực của ngành, từ đó tìm cách nâng cao năng lực cạnh tranh hướng đến những chuẩn mực cao hơn

Về phương diện sản xuất, các điểm yếu và khó khăn của cụm ngành bắt nguồn từ năm nguyên nhân chính Thứ nhất, nguồn nhân lực có trình độ hạn chế, thái độ thiếu chuyên nghiệp Bên cạnh đó, tập quán canh tác lạc hậu, kỹ thuật canh tác thô sơ nhưng khả năng tiếp thu những quy trình mới đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng quốc tế lại chưa cao Ngoài ra, tư duy ngắn hạn, chạy theo lợi ích trước mắt khiến người nông dân lựa chọn nền nông nghiệp lạm dụng hóa chất và dễ bị dẫn dắt bởi thương lái hơn là liên kết với hợp tác xã hay các doanh nghiệp chế biến và thương mại lớn Thứ hai, ĐBSCL là “vùng trũng” về cơ sở hạ tầng giao thông, yếu tố được xem là huyết mạch giúp lưu thông hoạt động kinh tế Ngành rau quả ĐBSCL bị ảnh hưởng bởi

sự yếu kém của hạ tầng giao thông khu vực rất lớn do đặc điểm hàng hóa yêu cầu phải đảm bảo được độ tươi ngon nên cần được vận chuyển nhanh chóng và an toàn Thứ ba, các chính sách đặc thù phát triển ngành rau quả trên cả nước và khu vực chưa hình thành rõ nét, không tạo lực đẩy cho hoạt động trồng trọt, chế biến và thương mại Chính sách an ninh lương thực kìm hãm chuyển đổi đất cũng tạo rào cản mở rộng quy mô trồng trọt rau quả Ngoài ra, hoạt động liên kết giữa các tỉnh chưa được định hướng và hỗ trợ bởi các chính sách quốc gia và khu vực khiến thương hiệu rau quả ĐBSCL khó lớn mạnh Thứ tư, do lịch sử để lại, các vùng nguyên liệu trồng rau quả đều manh mún, nhỏ lẻ, khó tạo lượng hàng hóa lớn, an toàn và đồng nhất Thứ năm, chất lượng, sự ổn định và đồng đều của giống cũng là một nhược điểm quan trọng cần khắc phục

XXXVIII

Ngày đăng: 17/10/2021, 08:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w