1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

CÔNG TÁC DÂN VẬN CỦA ĐẢNG BỘ LIÊN KHU VIỆT BẮC TỪ THÁNG 10-1949 ĐẾN THÁNG 7-1954 TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ

27 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 326,53 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích nghiên cứu - Làm sáng tỏ quá trình lãnh đạo thực hiện công tác dân vận của Trung ương Đảng và các Đảng bộ ở Liên khu Việt Bắc trong thời kỳ kháng chiến; góp phần lý giải nguyên

Trang 1

Mã số: 62 22 03 15

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS TS Nguyễn Viết Thảo

2 PGS TS Nguyễn Ngọc Hà

Phản biện 1:

Phản biện 2:

Phản biện 3:

Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp

Học viện họp tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

vào hồi giờ ngày tháng năm 201

Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:

Thư viện Quốc gia, Thư viện Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh,

Thư viện Viện Lịch sử Đảng

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Ngay từ những ngày đầu cách mạng, Trung ương Đảng và Chủ tịch

Hồ Chí Minh đã khẳng định công tác vận động quần chúng là một nhiệm

vụ chiến lược, có ý nghĩa quyết định cho sự thành bại của cách mạng Đường lối và quá trình tổ chức chỉ đạo thực hiện công tác dân vận là một thành công quan trọng, quyết định sức mạnh tổng hợp của cách mạng Việt Nam trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954) Để có được chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, kết thúc cuộc kháng chiến chống Pháp của dân tộc, việc vận động quần chúng nhân dân cung cấp nhân lực, vật lực ở hậu phương là một trong những nhân tố thường xuyên, quan trọng quyết định thắng lợi của cuộc chiến tranh cách mạng

Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận định nguy cơ thực dân Pháp quay trở lại xâm lược, nên đã cử cán bộ ở lại tiếp tục củng cố căn cứ địa Việt Bắc Việt Bắc lại một lần nữa vinh dự được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng chọn làm căn cứ địa, nơi đứng chân của các cơ quan lãnh đạo Đảng

và Nhà nước Tháng 10-1946, Trung ương Đảng cử cán bộ lên Việt Bắc để xây dựng căn cứ địa kháng chiến, chọn Thái Nguyên, Bắc Kạn, Tuyên Quang làm An toàn khu của Trung ương Việt Bắc trở thành vùng hậu phương - căn cứ địa đặc biệt quan trọng của cuộc kháng chiến chống Pháp Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: “Cách mạng đã do Việt Bắc

mà thành công thì kháng chiến sẽ do Việt Bắc mà thắng lợi”

Dưới sự chỉ đạo của Trung ương Đảng và Đảng bộ Liên khu Việt Bắc, căn cứ địa kháng chiến được xây dựng, củng cố về mọi mặt, sẵn sàng cho cuộc kháng chiến lâu dài của quân và dân Việt Nam Đảng, chính quyền, các tổ chức đoàn thể ở Việt Bắc đã vận động nhân dân các dân tộc trên địa bàn đóng góp to lớn sức người, sức của cho kháng chiến, cung cấp nhân lực chủ yếu cho chiến trường Nhờ chủ động trong công tác chuẩn bị nên khi cuộc kháng chiến toàn quốc nổ ra, việc di chuyển các cơ quan đầu não lãnh đạo kháng chiến được thực hiện đúng kế hoạch Việc chủ động

Trang 4

trong công tác xây dựng và củng cố căn cứ địa Việt Bắc mà quân và dân Việt Nam đã đánh bại âm mưu của thực dân Pháp trong việc đánh vào cơ quan đầu não lãnh đạo kháng chiến; làm thất bại hoàn toàn chủ trương đánh nhanh, thắng nhanh của địch

Với ý nghĩa đó, tôi chọn đề tài: “Công tác dân vận của Đảng bộ

Liên khu Việt Bắc từ tháng 10-1949 đến tháng 7-1954”, làm đề tài Luận

án tiến sĩ chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

- Làm sáng tỏ quá trình lãnh đạo thực hiện công tác dân vận của Trung ương Đảng và các Đảng bộ ở Liên khu Việt Bắc trong thời kỳ kháng chiến; góp phần lý giải nguyên nhân quan trọng dẫn tới thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp

- Góp phần đúc rút những kinh nghiệm để vận dụng vào quá trình hoạch định chủ trương, chính sách dân vận của Trung ương Đảng trong thời

kỳ mới, tạo sự đồng thuận của toàn dân

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Phân tích những thuận lợi, khó khăn thách thức của cách mạng Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược từ đó chỉ rõ những yếu tố tác động đến công tác dân vận của Đảng ở Liên khu Việt Bắc

- Làm sáng tỏ chủ trương của các Đảng bộ trong quá trình cụ thể hóa, tổ chức thực hiện công tác dân vận của Đảng trên tất cả các lĩnh vực, đối với các giai tầng ở Việt Bắc từ tháng 10-1949 đến tháng 7-1954

- Trên cơ sở phân tích những chủ trương, chính sách của Trung ương Đảng và sự chỉ đạo của Đảng bộ Liên khu Việt Bắc đối với công tác dân vận ở Việt Bắc (từ tháng 10-1949 đến tháng 7-1954), nhận xét những thành công, ưu điểm, hạn chế trong công tác dân vận của Đảng thời kỳ kháng chiến chống Pháp

- Từ những thành công, hạn chế và nguyên nhân luận án đúc kết một số kinh nghiệm có giá trị lý luận và thực tiễn góp phần bổ sung vào quá trình hoàn thiện chủ trương, chính sách dân vận của Đảng trong thời

kỳ mới

Trang 5

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận án nghiên cứu những quan điểm, chủ trương, chính sách và quá trình tổ chức lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện công tác dân vận của Đảng bộ Liên khu Việt Bắc trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược giai đoạn từ tháng 10-1949 đến tháng 7-1954

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Thời gian: Luận án nghiên cứu trong phạm vi thời gian từ tháng

10-1949 (Liên khu Việt Bắc được thành lập) đến tháng 7-1954 (khi kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược)

- Nội dung: Luận án tập trung nghiên cứu những chủ trương, chính sách về công tác dân vận của Đảng và quá trình các Khu uỷ, Liên khu uỷ ở Việt Bắc tổ chức chỉ đạo thực hiện công tác dân vận phục vụ cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (từ tháng 10-1949 đến tháng 7-1954)

- Không gian: gồm có 17 tỉnh, đặc khu và 01 huyện: Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Hà Giang, Tuyên Quang, Lào Cai, Yên Bái, Sơn La, Lai Châu, Bắc Giang, Bắc Ninh, Phúc Yên, Vĩnh Yên, Phú Thọ, Quảng Yên, Hải Ninh, đặc khu Hồng Gai và huyện Mai Đà của tỉnh Hòa Bình) trên địa bàn Việt Bắc

4 Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu

4.1 Cơ sở lý luận

Tác giả luận án vận dụng chủ nghĩa duy vật lịch sử và phép biện chứng của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng về công tác dân vận làm cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành Trong đó, chủ yếu là hai phương pháp lịch sử và lôgíc; ngoài ra, luận án cũng sử dụng phương pháp phân tích, thống kê, so sánh; chú trọng áp dụng các phương pháp phê phán sử liệu và lấy các văn bản nghị quyết, chỉ thị gốc của Đảng làm cơ

sở đối chiếu với sự kiện, nhân vật lịch sử trong thực tiễn

Luận án cũng kết hợp phương pháp khảo sát thực tế tại một số địa phương và phỏng vấn chuyên gia, nhân chứng lịch sử

Trang 6

4.3 Nguồn tài liệu

- Các văn kiện, các nghị quyết, chỉ thị, báo cáo của Trung ương Đảng, của các tác giả nước ngoài viết về chiến tranh Việt nam, về ý nghĩa của kháng chiến chống Pháp

- Luận án khai thác trực tiếp các tài liệu gốc tại Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng, Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, Phòng Tư liệu Viện Lịch

sử Đảng và Thư viện quốc gia Việt Nam

- Các tư liệu, tài liệu, sách đã xuất bản của các địa phương ở khu vực miền núi phía Bắc, đặc biệt là Liên khu Việt Bắc, của một số nhân chứng lịch

sử, một số nhà nghiên cứu về kháng chiến chống Pháp

- Luận án cũng tham khảo những bài nghiên cứu, những hồi ký có liên quan đến công tác dân vận của Đảng đã được công bố trong các cuốn sách, tạp chí chuyên ngành, các kỷ yếu hội thảo khoa học, hồi ký

5 Đóng góp của luận án

- Tái hiện một cách có hệ thống, toàn diện về quá trình Đảng bộ Liên khu Việt Bắc lãnh đạo thực hiện công tác dân vận từ tháng 10-1949 đến tháng 7-1954

- Đánh giá khách quan, khoa học những ưu điểm, chỉ ra những hạn chế và đúc kết một số kinh nghiệm có giá trị lý luận và thực tiễn đối với công tác dân vận hiện nay

- Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần cung cấp thêm tư liệu cho công tác nghiên cứu, giảng dạy Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

- Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần tổng kết thực tiễn, cung cấp những luận cứ khoa học cho việc tiếp tục đổi mới, hoàn thiện và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới

- Luận án có thể được sử dụng làm tài liệu phục vụ công tác nghiên cứu, giảng dạy, học tập môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, Luận án

kết cấu gồm 4 chương, 8 tiết

Trang 7

Chương 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU

LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

1.1 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

1.1.1 Một số công trình nghiên cứu về công tác dân vận của Đảng

Đề cập tới những vấn đề lý luận liên quan đến công tác dân vận nói chung trong các thời kì lịch sử, tiêu biểu là các công trình: Ban Dân vận

Trung ương (1995), Tư tưởng dân vận của Chủ tịch Hồ Chí Minh; Phùng Hữu Phú (Chủ biên) (1996), Chiến lược Đại đoàn kết Hồ Chí Minh; Ban Dân vận Trung ương (1994), Về Đại đoàn kết dân tộc và tăng cường Mặt

trận dân tộc thống nhất; Nguyễn Văn Linh (1987), Về công tác quần chúng; Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị (1996), Đổi mới công tác dân vận của Quân đội nhân dân Việt Nam trong tình hình mới; Lý luận và kinh nghiệm của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác dân vận (2014)…

Đề cập đến công tác dân vận trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp

có thể kể đến các công trình cơ bản: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam,

(Sơ thảo), (1981), tập 1; Võ Nguyên Giáp (1960), Những năm tháng không

thể nào quên; Võ Nguyên Giáp (1994), Những chặng đường lịch sử; Võ

Nguyên Giáp (1999), Đường đến Điện Biên Phủ; Viện Sử học, Lịch sử

Việt Nam tập X (1945-1950)…

Những công trình trên đề cập một cách toàn diện về cuộc kháng chiến chống thực Pháp từ 1945 đến 1954, trong đó, khi phân tích về nguyên nhân thắng lợi của cuộc kháng chiến cũng đã phác họa một số nét cơ bản liên quan đến công tác dân vận của Đảng trong thời kỳ này

1.1.2 Các công trình nghiên cứu về cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954) và công tác dân vận trong thời kỳ này

Những công trình nghiên cứu sâu sắc và toàn diện về cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954): Ban Nghiên cứu Lịch sử Quân sự - Tổng cục Chính trị - Bộ Quốc phòng (1974), Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam, tập 1; Viện Lịch sử Quân sự (1997), Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-1954); Đảng Cộng sản Việt Nam (1981), Lịch sử Đảng Cộng sản

Trang 8

Việt Nam, (Sơ thảo), tập 1; Học viện CT-HC quốc gia Hồ Chí Minh, Viện Lịch sử Đảng (2009), Lịch sử biên niên Đảng Cộng sản Việt Nam, tập III: Đảng lãnh đạo kháng chiến và kiến quốc (1945-1954); Bộ sách Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954) của Viện Lịch sử Quân sự Việt

Nam; Bộ sách Lịch sử Việt Nam do Viện Sử học biên soạn…

Đề cập đến công tác dân vận trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp có

thể kể đến các công trình cơ bản: Võ Nguyên Giáp (1960), Những năm

tháng không thể nào quên; Đào Trọng Cảng (1993), Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo công cuộc xây dựng các vùng tự do lớn trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp (1946-1954), Luận án tiến sĩ lịch sử; Khuất Thị

Hoa (2000), Quá trình thực hiện chiến lược đại đoàn kết Hồ Chí Minh

trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954), Luận án

tiến sĩ lịch sử…

Ngoài ra, khi nghiên cứu về Việt Nam thời kỳ 1945-1954 còn có các công trình của người nước ngoài với nhiều góc độ khác nhau, trên những quan điểm khác nhau về cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân Việt

Nam như: Nava.H (1958), Đông Dương hấp hối; Pátti.L.A (1995), Tại sao

Việt Nam?; Y Gơ-ra (1979), Lịch sử cuộc chiến tranh Đông Dương 1954); J Laniel (1954), Thảm họa Đông Dương từ Điện Biên Phủ đến cuộc đánh đổ ở Giơ-ve-vơ…

(1945-1.1.3 Các công trình nghiên cứu liên quan đến công tác dân vận ở Việt Bắc trong thời kì kháng chiến chống thực dân Pháp

Ban Dân vận Trung ương (2015), Lịch sử công tác dân vận của Đảng Cộng sản Việt Nam (1930-2010); Bộ Quốc phòng, Bộ Tư lệnh Quân khu I (1990), Tổng kết chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ chiến lược quân sự của Liên khu Việt Bắc trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954), tập I; Cao Xuân Lịch (Chủ biên) (1991), Một số trận đánh trên chiến trường Việt Bắc (1945-1954); Nguyễn Xuân Minh (1996), An toàn khu (ATK) Trung ương ở Việt Bắc (trong kháng chiến chống thực dân Pháp 1945-1954); Âu Thị Hồng Thắm (2013), Tỉnh Bắc Kạn trong Căn cứ địa Việt Bắc từ năm

1942 đến năm 1954; Nguyễn Thị Lan (2015), Đảng bộ Liên khu Việt Bắc thực hiện nhiệm vụ xây dựng Đảng (1949-1956)…

Trang 9

Đề cập tới cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ở Việt Bắc có thể kể đến các công trình sau: Lịch sử Chính phủ Việt Nam (2006) tập I (1945- 1955); Lịch sử Quốc hội Việt Nam (2000) - (1946-1960); Việt Bắc 30 năm chiến tranh cách mạng (1945-1975), (1990), Tập I; Ban Tuyên giáo Tỉnh

uỷ Thái Nguyên (1997), Hồ Chí Minh với việc xây dựng ATK Định Hoá

trong căn cứ địa Việt Bắc (1947-1954); Đảng ủy - Ban Chỉ huy Quân sự

Những công trình trên đề cập đến lịch sử của Chính phủ, Quốc hội, các ban, ngành và các địa phương trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trên nhiều phương diện khác nhau, trong đó, cũng đã đề cập đến công tác dân vận của Đảng trên một vài khía cạnh, ở các địa phương, các ban ngành…

1.2 NHỮNG VẤN ĐỀ LUẬN ÁN TẬP TRUNG NGHIÊN CỨU, GIẢI QUYẾT

- Cơ sở lý luận và thực tiễn của công tác dân vận của Đảng trong kháng chiến chống Pháp Những yếu tố tác động đến công tác dân vận của Đảng khi cả nước bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp

- Trình bày và phân tích một cách có hệ thống và toàn diện các chủ trương chính sách của Đảng về công tác dân vận từ 1946-1954

- Qua khảo sát thực địa một số tỉnh miền núi phía Bắc, đặc biệt là các tỉnh trước đây thuộc Liên khu Việt Bắc, làm rõ quá trình tổ chức chỉ đạo thực hiện công tác dân vận của Đảng từ 1946-1954

- Đánh giá khách quan những thành công, hạn chế, nguyên nhân của công tác dân vận của Đảng qua các dữ liệu lịch sử cụ thể trên địa bàn Việt Bắc và một số tỉnh lân cận Từ đó, luận án đúc kết một số kinh nghiệm chủ yếu góp phần tiếp tục hoàn thiện chủ trương chính sách của Đảng về công tác dân vận trong tình hình hiện nay

Trang 10

Chương 2 CÔNG TÁC DÂN VẬN CỦA ĐẢNG BỘ LIÊN KHU VIỆT BẮC

TỪ THÁNG 10-1949 ĐẾN THÁNG 7-1952

2.1 NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CÔNG TÁC DÂN VẬN CỦA ĐẢNG Ở LIÊN KHU VIỆT BẮC TRONG NHỮNG NĂM ĐẦU KHÁNG CHIẾN

2.1.1 Khái quát chung về địa bàn Việt Bắc

Địa danh “Việt Bắc” được biết đầu tiên là một vùng lãnh thổ trong quá trình vận động cuộc cách mạng tháng Tám Địa hình Việt Bắc chia thành 2 vùng rõ rệt là vùng thượng du và vùng trung du Rừng núi chiếm 90% diện tích với nhiều vùng núi đất, rừng già xen với những vùng núi đá vôi cùng mật độ sông suối khá dày Việt Bắc là địa bàn quan trọng về chiến lược, là

“nơi dụng binh lợi hại”, “tiến có thể đánh, lui có thể giữ” Việt Bắc là địa bàn

tụ cư của 28 dân tộc Truyền thống yêu nước và cách mạng, tình đoàn kết yêu thương, tương trợ lẫn nhau của đồng bào các dân tộc cùng địa thế hiểm trở của vùng căn cứ địa cách mạng là điều kiện thuận lợi trong việc đảm bảo

bí mật cho quá trình tiến hành công cuộc kháng chiến, cũng như trong công tác dân vận của Đảng với đồng bào các dân tộc trên địa bàn Việt Bắc

2.1.2 Chủ trương của Trung ương Đảng về công tác dân vận trong những năm đầu toàn quốc kháng chiến chống Pháp

Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà

ra đời, mở ra một kỷ nguyên mới của dân tộc, kỷ nguyên độc lập, tự do Đảng ra hoạt động công khai và lãnh đạo chính quyền Mặt trận Việt Minh

và các đoàn thể tổ chức chính trị xã hội như: Hội Thanh niên, Hội Công thương phát triển nhanh chóng

Để tăng cường công tác dân vận trước tình hình mới, Hội nghị cán

bộ Trung ương Đảng được tổ chức (từ ngày 31-7 đến ngày 1-8-1946)

Trên cơ sở đánh giá việc thống nhất các giai cấp, các dân tộc, tôn giáo, hội nghị đã chủ trương củng cố và phát triển Hội Liên Việt ở Trung ương, các tỉnh thành…

Nhận thấy âm mưu của thực dân Pháp sẽ quay trở lại, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng lựa chọn Việt Bắc làm căn cứ địa kháng

Trang 11

chiến lâu dài đã thể hiện rõ tầm nhìn lãnh đạo sáng suốt, đúng đắn và khoa học Do làm tốt công tác tuyên truyền vận động nhân dân, căn cứ địa kháng chiến không ngừng được xây dựng, củng cố về mọi mặt, trụ vững trong cuộc kháng chiến lâu dài của quân và dân Việt Nam Trong những ngày đầu kháng chiến, khối đoàn kết toàn dân được tăng cường, quần chúng nhân dân các dân tộc trên địa bàn Việt Bắc đa số đã được quy tụ trong Mặt trận Việt Minh và Hội Liên Việt với các đoàn thể Nông hội, Hội phụ nữ, Hội thanh niên…

2.1.3 Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ các Khu, Liên khu trên địa bàn Việt Bắc từ tháng 12-1946 đến tháng 10-1949

Thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng về xây dựng căn cứ địa kháng chiến, Khu uỷ các Khu I, X, XII, XIV (từ ngày 20-1-1948, 4 khu được sáp nhập thành 2 liên khu là Liên khu uỷ I và Liên khu uỷ X) và các Tỉnh uỷ trên địa bàn Việt Bắc nhanh chóng triển khai tuyên truyền nội dung các chỉ thị, nghị quyết của Đảng để vận động quần chúng nhân dân đẩy mạnh công tác chuẩn bị mọi mặt cho cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài của dân tộc

2.2 ĐẢNG BỘ LIÊN KHU VIỆT BẮC ĐƯỢC THÀNH LẬP, LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CÔNG TÁC DÂN VẬN TỪ THÁNG 10-1949 ĐẾN THÁNG 7-1952

2.2.1 Liên khu Việt Bắc được thành lập

Xuất phát từ tình hình thực tế và yêu cầu của cuộc kháng chiến, Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương Đảng vào ngày 28 và ngày 29-9-1949 ra Nghị quyết số 28/NQ-TW về việc thống nhất hai Liên khu I và Liên khu X thành Liên khu Việt Bắc Nghị quyết Hội nghị thống nhất hai Liên khu I

và Liên khu X ngày 27, 28-10-1949 đã được Trung ương thông qua

Việt Bắc là khu hành chính - quân sự với diện tích 102.700 km2 (chiến 1/10 diện tích cả nước) Phía Bắc là biên giới Việt - Trung, phía Nam giáp với các tỉnh Liên khu III, phía Đông là bờ biển vịnh Bắc Bộ chạy dọc các tỉnh Quảng Yên và Hải Ninh, phía Tây là biên giới Việt - Lào Việt Bắc có vị trí giao thông khá thuận tiện, giáp với thủ đô Hà Nội

và thành phố cảng Hải Phòng

Trang 12

2.2.2 Tình hình mới và chủ trương của Trung ương Đảng về công tác dân vận

Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ nhất (tháng 3-1951) đã

đề ra những công việc quan trọng và cấp bách trước mắt đó là: sản xuất lương thực; dân công; giảm chi; thuế; đấu tranh kinh tế tài chính với địch Như vậy, Hội nghị đã tập trung giải quyết các nhiệm vụ kinh tế, tài chính để bồi dưỡng sức dân và bảo đảm cung cấp đầy đủ mọi mặt cho quân đội; thực hiện phương châm tác chiến là tiêu diệt địch, phát triển lực lượng ba thứ quân; tăng cường công tác địch vận

Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ hai (tháng 9-1951):

Nhằm củng cố và phát triển phong trào đấu tranh ở vùng sau lưng địch, Hội nghị đề ra 3 công tác lớn: công tác dân vận, vận động ngụy binh và phát triển chiến tranh du kích Ở vùng sau lưng địch công tác dân vận là công tác chính, làm gốc cho mọi công tác khác…

Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ ba (tháng 4-1952): Với

phương châm nhạy bén, bám sát quần chúng, thống nhất chỉ đạo, tổ chức Đảng phải chặt chẽ, bí mật, gọn gàng, các cấp ủy Đảng đã đẩy mạnh công tác vận động quần chúng, làm cho nhân dân thấy rõ những âm mưu xảo quyệt của địch, xác định trọng tâm chính của phong trào đấu tranh là phá cho được kế hoạch bình định của địch

2.2.3 Chủ trương của Đảng bộ Liên khu Việt Bắc về công tác dân vận từ tháng 10-1949 đến tháng 7-1952

Trước tình hình mới của cuộc kháng chiến, kiến quốc, Đảng bộ Liên khu Việt Bắc đã có những chủ trương lớn về công tác dân vận nhằm huy động sức người, sức của phục vụ kháng chiến Để đẩy mạnh công tác dân vận trên địa bàn Liên khu, Đảng bộ Liên khu đã triệu tập Hội nghị Cán bộ dân vận và các Đảng đoàn nhằm đề ra phương hướng cho công tác của ngành dân vận, trong đó, phải nắm vững những ngành chính yếu trong thời điểm này là công giáo, Hoa kiều, miền núi, biên giới, căn cứ địa

Một trong những nội dung quan trọng của công tác dân vận thời kỳ này là thống nhất Mặt trận Việt Minh với Hội Liên Việt Đối với Mặt trận

Trang 13

Việt Minh: các giới xúc tiến việc củng cố, tuyên truyền, giải thích cho các cấp và quần chúng hiểu ý nghĩa của việc thống nhất Mặt trận Việt Minh với Hội Liên Việt; theo chỉ thị của Tổng bộ thì bao giờ thống nhất hết ở cấp dưới mới được thống nhất toàn bộ Đối với Hội Liên Việt: phải chấn chỉnh ban chấp hành các cấp, đưa những người có năng lực, tinh thần, hoạt động thực sự vào các ban chấp hành để thay thế những người chưa làm được việc

2.2.4 Quá trình tổ chức chỉ đạo thực hiện công tác dân vận của Đảng bộ Liên khu Việt Bắc từ tháng 10-1949 đến tháng 7-1952

Để tăng cường công tác dân vận trong giai đoạn mới, trong chỉ đạo thực hiện, trước hết Đảng bộ Liên khu Việt Bắc tập trung củng cố bộ máy dân vận Ban Chấp hành Đảng bộ Liên khu Việt Bắc ra Thông tri số 12, ngày 20-12-1949 về việc thành lập Phòng Dân vận thuộc Văn phòng Liên khu Đảng bộ Việt Bắc

Nhiệm vụ của công tác dân vận được Đảng bộ Liên khu thực hiện là

đi sâu vào quần chúng, đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục, củng cố

tư tưởng chính trị; qua việc thực hiện các chính sách và lo cải thiện đời sống cho quần chúng nhằm củng cố tổ chức và tranh thủ ủng hộ của quần chúng nhân dân; muốn quần chúng có ý thức với tổ chức phải làm cho họ có ý thức tự động tham gia việc củng cổ tổ chức của họ; củng cố nông hội là chính, nhiệm vụ chung của các ngành, củng cố được nông hội thì mới thực

tế củng cố được các tổ chức khác; Đảng bộ các cấp phải theo dõi, thực tế lãnh đạo thực hiện củng cố tổ chức, tranh thủ quần chúng

Tiểu kết: Công tác dân vận của Đảng nói chung và của Liên khu uỷ

Việt Bắc nói riêng giai đoạn từ năm 1949 đến năm 1952 được triển khai toàn diện và đạt được những thành tựu to lớn, tạo nên khối đại đoàn kết toàn dân và thống nhất các giai cấp, các dân tộc, tôn giáo trên địa bàn Liên khu Việt Bắc Để phát triển và củng cố Hội Liên Việt, chăm lo đoàn kết lương giáo, Đảng chủ trương mở rộng đoàn kết dân tộc, vận động các tầng lớp nhân dân thực hiện thắng lợi nhiệm vụ kháng chiến kiến quốc, ban Dân

Ngày đăng: 17/10/2021, 08:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w