1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

NÂNG CAO GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO PHẬT PHÁP ĐỂ PHÁT TRIỂN PHẬT GIÁO VIỆT NAM ĐĐ Thích Minh Tấn

28 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 247,81 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NÂNG CAO GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO PHẬT PHÁP ĐỂ PHÁT TRIỂN PHẬT GIÁO VIỆT NAM Mục tiêu của nghiên cứu này là Hệ thống Giáo dục và Đào tạo Phật giáo Việt Nam và cơ sở được chọn là Học viện Phậ

Trang 1

NÂNG CAO GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO PHẬT PHÁP

ĐỂ PHÁT TRIỂN PHẬT GIÁO VIỆT NAM

Mục tiêu của nghiên cứu này là Hệ thống Giáo dục và Đào tạo Phật giáo Việt Nam và cơ sở được chọn là Học viện Phật giáo Việt Nam (sau đây gọi là VBU) tại Thành phố Hồ Chí Minh

Hiện nay, Học viện Phật giáo Việt Nam (VBU) tại Thành phố

Hồ Chí Minh là một trường đại học chuyên về Cử nhân Phật giáo cho các thành viên Tăng đoàn và sinh viên Đã có một số khóa học

* Nghiên cứu sinh Đại học European International University (Pháp), Uỷ Viên Phân ban hướng dẫn Phật tử Trung ương, Trưởng ban quản chúng Tổ đình Chùa Bửu Quang, Trụ trì chùa Đại Thọ Phần Lan

** Phó viện trưởng – Viện Đào tạo Phát triển Doanh nhân Việt Nam (VIETD), Giáo sư tại Apollos University (USA), Giáo sư tại Đại học Khoa học và Công nghệ Malaysia (MUST), Giảng viên tại một số trường đại học tại thành phố Hồ Chí Minh, Nghiên cứu viên tự do.

Trang 2

thạc sĩ về Phật giáo cho các sinh viên và sinh viên Tăng đoàn, và đã

có các khoá học thạc sĩ và bằng tiến sĩ về Phật giáo (giảng dạy bằng tiếng Anh) cho các thành viên Tăng đoàn và sinh viên quốc tế Quá trình phát triển của trường đại học là liên tục chuyển đổi

và sửa đổi để áp dụng các phương pháp tiếp cận mới nhất cho các chiến lược giáo dục nhằm tăng cường chất lượng giảng dạy và học tập tại VBU Do đó, nghiên cứu này là kịp thời vì nó cung cấp động lực để xem xét sự liên quan và sự phù hợp của thực tiễn giảng dạy, học tập hiện tại với mối quan hệ gắn với sự hài lòng của sinh viên Chính sách hiện tại của VBU nếu không phù hợp, cản trở hoặc

họ không thích, không đi đúng vào hệ thống đào tạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam hoặc hệ thống giáo dục thế giới sẽ dần dần

bị loại bỏ Thực tiễn và chiến lược cho việc dạy và học, thực hành và chiến lược sẽ thay thế phương pháp truyền thống đã được sử dụng trước đây

Nghiên cứu này rất quan trọng để tìm ra các giải pháp và biện pháp phù hợp để có được nguồn nhân lực tốt nhất để họ có thể đóng góp phần của mình nhằm tăng cường các nhiệm vụ hội nhập

và phát triển toàn cầu của Tăng đoàn Phật giáo Việt Nam

Mục tiêu nghiên cứu chính như sau:

1 Xác định các yếu tố dạy và học chính sẽ dẫn đến kết quả học tập cao hơn của sinh viên tại VBU

2 Xác định dịch vụ hỗ trợ là gì sẽ dẫn đến thành tích học tập cao hơn cho sinh viên tại VBU

3 Xác định những đóng góp của sinh viên tốt nghiệp từ VBU cho các nhiệm vụ hội nhập và phát triển toàn cầu của Phật giáo Việt Nam

Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong nghiên cứu khoa học này là thực hiện các cuộc phỏng vấn với các chuyên gia trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo để lấy ý kiến phân tích

Giáo dục đại học tại Việt Nam đang ở giai đoạn phát triển quan

Trang 3

trọng Các cải cách mới về quản lý chính sách, giáo dục và đầu tư mới để cải thiện chất lượng vẫn là vấn đề chính cần được giải quyết.Tiếp tục có những điểm yếu nghiêm trọng về chất lượng cơ sở hạ tầng và các tổ chức, bao gồm giáo dục và đào tạo đại học Hệ thống giáo dục đại học chịu chất lượng dưới tiêu chuẩn trong giảng dạy và nghiên cứu, trình độ của nhân viên đại học thấp, năng lực R & D và đầu tư nghiên cứu thấp, tăng bằng chứng về tắc nghẽn kỹ năng và phân phối cơ hội không công bằng Nói cách khác, hệ thống giáo dục đại học chưa có các công cụ cần thiết để thích ứng với nhu cầu ngày càng tăng và thay đổi của một nền kinh tế ngày càng năng động.

Hướng tới một hệ thống giáo dục đại học hiệu suất cao hạng nhất sẽ đòi hỏi một loạt các cải cách tạo ra một hệ thống linh hoạt

và đa dạng hơn, trong số các đặc điểm khác, khung quản trị và quy định mới, tăng đáng kể tài trợ với sự tham gia của khu vực tư nhân nhiều hơn và lớn hơn nhấn mạnh vào nghiên cứu với sự phát triển tiềm năng của các trung tâm xuất sắc Phát triển môi trường chính sách cung cấp cho các trường đại học và cao đẳng nguồn lực đầy đủ,

tự chủ đầy đủ và khuyến khích phù hợp là điều cần thiết để cung cấp các hoạt động nghiên cứu và giảng dạy theo tiêu chuẩn chất lượng quốc tế Điều này đòi hỏi những cải cách cơ bản, đặc biệt là trong lĩnh vực quản trị, tài chính và đảm bảo chất lượng

Bộ Giáo dục và Đào tạo, nơi quản lý và điều chỉnh hệ thống giáo dục đại học trong nước, đã xây dựng các mục tiêu này trong Chương trình nghị sự cải cách giáo dục đại học, 2006-2020 Chương trình cải cách thúc đẩy một chương trình nghị sự hướng tới chiến lược phát triển một hệ thống giáo dục đại học có tính cạnh tranh cao với năng lực nghiên cứu và giảng dạy tiên tiến như là động lực cho nền kinh tế dựa trên tri thức Mục tiêu chính của chiến lược là (i) tăng đáng kể tỷ lệ tham gia vào các trường đại học, (ii) đồng thời tăng cường chất lượng và hiệu quả của hệ thống giáo dục đại học, (iii) tăng cường năng lực nghiên cứu trong các trường đại học để nâng cao chất lượng giảng dạy và để cung cấp một cơ sở nghiên cứu cho

sự phát triển của ngành công nghiệp và doanh nghiệp, và (iv) cải

Trang 4

thiện quản trị của hệ thống giáo dục đại học Bộ Giáo dục và Đào tạo đối mặt với những thách thức to lớn, tuy nhiên, trong việc đáp ứng các mục tiêu cụ thể trong chương trình cải cách giáo dục đại học, bao gồm (i) phát triển các trường đại học trọng điểm thành trung tâm khoa học lớn cho cả nước bằng cách tăng thu nhập từ các hoạt động khoa học và công nghệ (dịch vụ và sản phẩm) lên 15% trong tổng doanh thu của các tổ chức vào năm 2010 và đến 25% vào năm 2020; (ii) tăng tuyển sinh lên 200 sinh viên trên 10.000 dân vào năm 2010 và lên 450 sinh viên trên 10.000 dân vào năm 2020; (iii) nâng tỷ lệ nhân viên giảng dạy đại học với trình độ thạc sĩ lên 40% vào năm 2010 và lên 60% vào năm 2020; (iv) nâng tỷ lệ nhân viên giảng dạy đại học có trình độ tiến sĩ lên 25% vào năm 2010 và lên 35% vào năm 2020; và (v) giảm tỷ lệ sinh viên đại học trong đội ngũ giảng viên xuống 20:1 vào năm 2020.

Thách thức chính của Chính phủ là vận hành các mục tiêu chiến lược này bằng cách thay đổi quản trị và tài chính cấp hệ thống trong khi thúc đẩy hiện đại hóa cấp độ tổ chức Điều này đòi hỏi một sự thay đổi mô hình trong quản lý ngành, thay đổi từ mức độ kiểm soát trung tâm cao hiện nay đối với các vấn đề vận hành và chuyển sang

mô hình management quản lý bị phá hủy Quản lý chuyên nghiệp

sẽ thấy Bộ Giáo dục và Đào tạo hướng dẫn hệ thống bằng cách thiết lập khung chính sách và quản lý tài chính để tạo thuận lợi cho kết quả giáo dục và kết quả giám sát đối với trách nhiệm công cộng trong khi các trường đại học tự trị chịu trách nhiệm về chất lượng và kết quả học tập, và báo cáo cho Chính phủ về kết quả

Chính phủ đang nhận được khoản vay đáng kể từ Ngân hàng Thế giới để hỗ trợ sự phát triển của ngành, thông qua hai chương trình cho vay hiện tại: Dự án Giáo dục Đại học thứ hai và Hoạt động Chính sách Phát triển Giáo dục Đại học số 1 (Công cụ cho vay Chính sách Phát triển) Những cải cách này nhằm đưa ra các quy định hiện đại về quản trị hệ thống, tài chính và đảm bảo chất lượng Mô hình mới NMU (Trường đại học kiểu mới) sẽ là nơi để thiết lập và thử nghiệm tính chất, phạm vi và mức độ của các cải

Trang 5

cách đó để phục vụ như các trường đại học trình diễn và hỗ trợ Chính phủ xác định cách mở rộng tốt nhất các cải cách cho toàn hệ thống Để có hiệu quả như các trường đại học mô hình mới, NMU

sẽ cần được cung cấp các cơ chế quản lý mới về quản trị, tài chính

và đảm bảo chất lượng để làm cho chúng hoàn toàn hiệu quả, tự chủ

và cạnh tranh

Những thay đổi về quy định được lên kế hoạch để thực hiện HERA (Chương trình cải cách giáo dục đại học) trong những năm tới đến năm 2020 sẽ đòi hỏi những cách tiếp cận mới trong lĩnh vực quản trị, (i) về mặt lựa chọn lãnh đạo trường đại học, tuyển dụng, bồi thường và quản lý học thuật và nhân viên hành chính, tuyển sinh, lựa chọn chương trình học và bằng cấp, lựa chọn các chủ đề nghiên cứu; (ii) tài chính, bao gồm học phí và chương trình cho vay sinh viên, chương trình tài trợ nghiên cứu cạnh tranh và khuyến khích tài trợ ngoài công lập lớn hơn; và (iii) phát triển đảm bảo chất lượng nội bộ, bao gồm các nguồn lực bổ sung liên quan đến tiêu chuẩn hiệu suất cao hơn, trách nhiệm giải trình thông qua kiểm toán tài chính, học thuật và các nguồn lực để đáp ứng một cách thích hợp với hệ thống đảm bảo chất lượng bên ngoài của Chính phủ và các cơ quan kiểm định độc lập Đầu tư lớn vào các cơ sở hiện đại, phòng thí nghiệm nghiên cứu tiên tiến và nắm giữ thư viện mạnh mẽ cũng được yêu cầu để mang lại sự cải thiện cần thiết về chất lượng, tính phù hợp và khả năng cạnh tranh

2 BÀI HỌC KINH NGHIỆM - TRIỂN VỌNG CHO GIÁO DỤC VIỆT NAM (BÁO CÁO VỀ PHƯƠNG HƯỚNG VÀ NHIỆM VỤ PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI 5 NĂM GIAI ĐOẠN 2016-2020, (2015))

Bài học đầu tiên rút ra từ sự phát triển thực tế của giáo dục Việt Nam, đặc biệt là hơn 20 năm cải cách, là: Chính phủ phải luôn quyết tâm và nhất quán trong các hành động và nhận thức của mình, và phải liên tục coi giáo dục và đào tạo, cùng với khoa học và công nghệ, như chính sách quốc gia hàng đầu Quan điểm này cần được thể hiện thông qua một loạt các quyết định quan trọng, từ việc thiết lập môi trường pháp lý (ban hành luật, nghị định và quy định), để

Trang 6

tăng cường các điều kiện hoạt động cho hệ thống giáo dục (chính sách liên quan đến tài chính, nhân viên giảng dạy, thể chất trường học các cơ sở, v.v…), cũng như việc đánh giá các hoạt động giáo dục, làm cho khả năng đáp ứng của hệ thống đối với sự phát triển kinh tế

xã hội là một yêu cầu cơ bản Xuất phát từ quan điểm này, nhận thức về giáo dục ngày càng tăng, và giáo dục đã thực sự trở thành nguyên nhân của cả nhà nước Việt Nam và nhân dân Việt Nam

Bài học thứ hai là để phát triển, hệ thống giáo dục Việt Nam phải được đổi mới căn bản và toàn diện để đi theo các hướng dân chủ hóa, xã hội hóa, đa dạng hóa, tiêu chuẩn hóa và hiện đại hóa a) Liên quan đến dân chủ hóa, Việt Nam đã không ngừng nỗ lực xây dựng một hệ thống giáo dục là của mọi người, của mọi người

và của mọi người; chuyển đổi từ mệnh lệnh sang phong cách dân chủ với phương pháp giáo dục lấy người học làm trung tâm, thiết lập và liên tục hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm đảm bảo quyền

và lợi ích của người học, giáo viên và phụ huynh; tăng dần quyền tự chủ và trách nhiệm giải trình của tổ chức; và để thực hiện phân cấp thích hợp trong quản lý giáo dục b) Về xã hội hóa (hỗ trợ trực tiếp

từ người học và gia đình họ), hệ thống giáo dục Việt Nam đã trải qua những thay đổi cơ bản: tất cả các nguồn lực xã hội đã được huy động; giáo dục phi chính quy đã trải qua sự phát triển mạnh mẽ với nhiều tổ chức ngoài công lập được thành lập và các chế độ giáo dục khác nhau được áp dụng để đáp ứng nhu cầu học tập đa dạng của mọi người Hiện nay, nhu cầu nguồn nhân lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nền kinh tế tri thức đòi hỏi hệ thống giáo dục Việt Nam phải tăng cường hơn nữa quá trình xã hội hóa, phát huy thế mạnh thông qua sự hợp tác của nhà nước và nhân dân, và tạo điều kiện cho việc học tập suốt đời để xây dựng một xã hội học tập c) Liên quan đến đa dạng hóa, giáo dục Việt Nam đã được chuyển đổi

từ hệ thống ‘đơn điệu’, thiếu sự khác biệt giữa tính đồng nhất và tính

độc đáo sang phong cách tổ chức và hoạt động đa dạng, dẫn đến mở rộng cơ hội học tập và tăng khả năng đáp ứng nhu cầu học tập của mọi người d) Về tiêu chuẩn hóa, hệ thống giáo dục Việt Nam đang cố

gắng chuyển từ các quy định chung sang các quy định cụ thể và chi

Trang 7

tiết để trong bối cảnh tiếp tục mở rộng định lượng, việc đo lường hiệu suất chất lượng có thể diễn ra và củng cố đảm bảo chất lượng Điều này bắt đầu với sự phát triển của hệ thống tiêu chuẩn quốc gia trong lĩnh vực giáo dục, đồng thời việc thiết lập chương trình / chứng nhận chương trình cũng như các điều kiện để đảm bảo chất lượng giáo dục Các nhà hoạch định chính sách giáo dục Việt Nam

hy vọng rằng hệ thống giáo dục Việt Nam sẽ có thể, về tiêu chuẩn hóa, đạt được sự nhất quán trong đa dạng hóa và đẩy nhanh quá trình hội nhập, hợp tác và cạnh tranh với các hệ thống giáo dục tiên tiến khác trong khu vực và quốc tế e) Liên quan đến hiện đại hóa, các nhà hoạch định chính sách giáo dục Việt Nam kỳ vọng sẽ đưa

hệ thống giáo dục của chúng ta đến cấp độ khu vực và quốc tế Điều này đòi hỏi các tiêu chuẩn cao trong hệ thống tiêu chuẩn giáo dục quốc gia Trong bối cảnh của một quốc gia nghèo như Việt Nam, đây là một thách thức lớn và đòi hỏi các nhà giáo dục phải tích cực tìm cách thu hẹp nhanh chóng các lỗ hổng với các hệ thống giáo dục tiên tiến khác nhau trên thế giới

Bài học thứ ba là, để mang lại những thay đổi cơ bản và toàn diện cho hệ thống giáo dục Việt Nam phản ánh các mục tiêu tiêu chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa và dân chủ hóa, các nhà hoạch định và quản lý chính sách giáo dục Việt Nam tin rằng cần phải đổi mới cách suy nghĩ, để thoát khỏi cái gọi là cách suy nghĩ và làm việc truyền thống, và đặc biệt là để tránh một phong cách quản lý từng phần Nhiệm vụ khó khăn nhất trong khi đổi mới cách suy nghĩ hiện tại trong giáo dục là thiết lập một tầm nhìn tổng thể về giáo dục phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước trong bối cảnh toàn cầu hóa và kinh tế tri thức Đồng thời, một phong cách làm việc mới cần được thiết lập cho tất cả các cán bộ giảng dạy và quản lý giáo dục, tập trung vào chất lượng và hiệu quả làm cơ sở để đánh giá Hơn nữa, vì giáo dục là một lĩnh vực rất nhạy cảm, đổi mới cách suy nghĩ của các nhà hoạch định và quản lý chính sách giáo dục phải được chuyển thành đổi mới cách suy nghĩ của toàn xã hội Để đạt được điều này, tất cả các thay đổi phải xuất phát từ nhu

Trang 8

cầu thực tế và phục vụ lợi ích và lợi ích lâu dài của mọi người; do

đó, công khai và minh bạch phải được coi là yếu tố quan trọng nhất trong phong cách quản lý và hoạch định chính sách giáo dục Ở đây, một thách thức lớn cần được giải quyết, đó là mối quan hệ giữa đổi mới và ổn định Nhằm duy trì sự ổn định cần thiết trong giáo dục, mọi thay đổi phải tuân theo một lộ trình phù hợp, được tất cả các cán bộ giảng dạy và quản lý giáo dục hiểu và được phụ huynh và xã hội đồng ý, và một trong những điều đó dẫn đến việc giữ gìn trật tự trong quá trình cải cách giáo dục

Mục tiêu quan trọng cho sự phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam trong những năm tới là: Từ đó đặt nền móng cho việc thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển nền kinh tế tri thức

Đó là, liên tục tăng nội dung tri thức trong tất cả các hoạt động phát triển kinh tế xã hội, và mang lại những thay đổi cơ bản trong giáo dục và đào tạo Từ quốc gia thực tế và những bài học kinh ng-hiệm ở các nước khác, nhiều nhà hoạch định và quản lý chính sách giáo dục Việt Nam tin rằng hệ thống giáo dục mà Việt Nam mong đợi phải là một hệ thống giáo dục mở mà mọi người đều có thể tiếp cận dễ dàng; một hệ thống giáo dục nuôi dưỡng và thúc đẩy sự sáng tạo của những người trẻ tuổi, với các tổ chức giáo dục - nhất

là các trường đại học - như những cái nôi của đổi mới khoa học và công nghệ; một hệ thống giáo dục gắn liền với tiến bộ khoa học và công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin và viễn thông, để liên tục đổi mới nhưng giữ gìn sự ổn định; và một hệ thống giáo dục thúc đẩy cạnh tranh giữa các cơ sở giáo dục khác nhau để nâng cao chất lượng, và dần dần nâng cao, thông qua hợp tác và cạnh tranh với các

tổ chức giáo dục nước ngoài, tình trạng khu vực và quốc tế của Việt Nam Hướng tới một hệ thống giáo dục như vậy không chỉ là thách thức mà còn là cơ hội cho Việt Nam; và thành công trong tương lai

sẽ phụ thuộc vào sự nhạy cảm của nhà hoạch định chính sách đối với các yếu tố mới và khả năng thực hiện đổi mới trong bối cảnh hiện tại, cũng như những nỗ lực của đội ngũ giảng viên, quản lý giáo dục, phụ huynh, người học và toàn xã hội

Trang 9

a Những vấn đề và cơ hội chính đối với Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh, Giáo dục đại học và sự kiểm soát của Chính phủ

Thứ nhất, Giáo dục Đại học Phật giáo là một phần của Giáo dục Đại học Việt Nam Hệ thống đại học Việt Nam cho đến nay đã

bị ảnh hưởng nặng nề bởi hệ thống học thuật của Liên Xô, trong

đó các trường đại học chủ yếu là các tổ chức giảng dạy, trong khi nghiên cứu được thực hiện bởi các viện nghiên cứu Chính phủ Việt Nam đang cố gắng thúc đẩy các nhiệm vụ nghiên cứu đại học Thật không may, những nỗ lực này đã gặp rất ít thành công

Những vấn đề Việt Nam phải đối mặt trong giáo dục đại học ngày nay một phần là hậu quả của chiến tranh kéo dài Chính phủ Pháp cai trị Việt Nam từ nửa cuối thế kỷ XIX cho đến năm 1945 đầu tư rất ít vào giáo dục đại học Do đó, chúng ta đã bỏ lỡ làn sóng đổi mới trong giáo dục đại học đi qua phần lớn châu Á trong đầu thế kỷ XX (Valley &Wikinson, 2008)

Chất lượng giáo dục đại học kém có một hàm ý khác: trái ngược với các đồng nghiệp Ấn Độ và Trung Quốc, người Việt Nam thường không thể cạnh tranh cho các vị trí trong các chương trình sau đại học ưu tú ở Mỹ và châu Âu (Valley &Wikinson, 2008)

Hiện nay, có bốn Học viện Phật giáo: tại Hà Nội, Huế, Thành phố Hồ Chí Minh và Đại học Phật giáo Nguyên thủy ở Cần Thơ dành cho các nhà sư Phật giáo Nguyên thủy Viện nghiên cứu Phật giáo Việt Nam thành lập năm 1984 là một đơn vị riêng biệt với hệ thống đại học và thuộc Hội đồng Tăng đoàn Phật giáo

Trình độ đào tạo của các Học viện Phật giáo Việt Nam bị giới hạn ở các trường đại học, cao đẳng và chuyên ngành Các chương trình giáo dục được pha trộn giữa các văn bản kinh điển cũng như các môn khoa học xã hội (Thích Thanh Từ, 2001) Mục đích là để cải thiện kiến thức thế tục cho các thành viên Tăng đoàn, để họ dễ dàng đóng góp thiết thực cho xã hội

Trang 10

b Phật giáo được dạy như thế nào?

Trong giáo dục, những điểm chính là phương pháp đào tạo của các giảng viên và thái độ học tập của sinh viên cả trong và ngoài lớp Hiện nay trên thế giới, ba hình thức giáo dục hiện đại được áp dụng

- Giảng viên làm trung tâm; Phương pháp giảng dạy lấy người học làm trung tâm và Phương pháp tương tác

Phương pháp truyền thống đã được sử dụng rộng rãi trong đó đặt học sinh vào thế bị động chứ không phải là vai trò tích cực và khuyến khích giao tiếp một chiều Do đó, các giảng viên cố gắng

nỗ lực để nhận thức được sự hiểu biết của sinh viên mà không có bất kỳ phản hồi nào Giải thích chung cho sự thụ động là những nét văn hóa của văn hóa di sản Nho giáo được khẳng định là định hình phong cách học tập của học sinh ở Việt Nam

c Cơ sở vật chất và kinh phí

Các Học viện Phật giáo tại Việt Nam đang phải đối mặt với một

số vấn đề với các cơ sở Lớp học, thư viện không được trang bị tốt Máy vi tính, ký túc xá, đa phương tiện và nghiên cứu không có sẵn cho sinh viên

Việc xây dựng Học viện Phật giáo Việt Nam hiện đại mới trên khu đất rộng 23,8 ha tại Thành phố Hồ Chí Minh đang trong giai đoạn hoàn thành đầu tiên và thật khó để dự đoán hoàn thành do vấn đề kinh phí Chỉ 83 tỷ đồng (khoảng 3,8 triệu đô la) trong số 2.000 tỷ đồng (khoảng 93 triệu đô la) - cho đến nay chỉ cần 4% yêu cầu về vốn (Tin tức của Học viện Phật giáo Việt Nam)

Học phí có vai trò quan trọng Nó sẽ được sử dụng để tái đầu tư vào các trường đại học để liên tục cải thiện cơ sở vật chất Phí liên quan đến chất lượng giảng dạy và học tập Dưới đây là bảng so sánh học phí của bậc cử nhân Bảng dưới đây cho thấy sự bất hợp lý về học phí của các Học viện Phật giáo tại Việt Nam:

Đơn vị: USD

Trang 11

Đại học Công

Nguồn: Các tác giả thu lượm (2016).

Về lâu dài, Hội đồng Tăng đoàn Phật giáo Việt Nam cần có những chính sách phù hợp để VBU có thể có thu nhập ổn định bằng cách tự kinh doanh Có nhiều tranh luận về chủ đề này của các học giả Phật giáo bởi vì lối sống tu sĩ được lý tưởng hóa bởi Phật giáo là rất tối giản về kinh tế (Thích Tâm Đức, 2016)

d Những vấn đề và cơ hội then chốt đối với Phật giáo Việt Nam

Trong lĩnh vực nghiên cứu Phật giáo, Phật giáo Việt Nam đã nhận được sự quan tâm không đầy đủ từ các học giả trong môi trường Euro-American Một phần của điều này xuất phát từ những thành kiến học thuật ủng hộ Phật giáo tập trung vào văn bản hơn

là những biểu hiện đạo đức của thực tiễn Phật giáo Sự thiên vị như vậy có cơ sở trong các cách tiếp cận cũ hơn đối với học bổng đặc quyền các văn bản nhất định và, từ quan điểm đó, xây dựng một bức tranh về tôn giáo trong khi chủ yếu bỏ qua các đại diện và miêu tả

Trang 12

của các cá nhân và nền văn hóa tương ứng của họ Văn hóa văn học Phật giáo Việt Nam đã không phát triển đến mức tương tự như ở các địa phương Phật giáo khác và sau đó đã được chú ý ít học thuật hơn Ngoài ra, những trở ngại vẫn còn đối với những người hoàn thành nghiên cứu về tôn giáo ở Việt Nam, dưới chế độ cầm quyền, vẫn là một chủ đề nhạy cảm Ví dụ, việc định vị và truy cập các đối tượng để phỏng vấn và xử lý các tài liệu lưu trữ quan liêu nặng

nề có thể là một thách thức hơn so với khi được thực hiện ở các quốc gia đa số Phật giáo khác Mặc dù còn nhiều hạn chế, công việc xuất sắc đã được thực hiện ở Việt Nam, chiếu sáng một số lĩnh vực nhất định của lịch sử Phật giáo và thực tiễn đương đại, nhưng vẫn còn những khoảng trống đáng kể trong một số lĩnh vực quan trọng trong nghiên cứu Phật giáo Việt Nam

Các ấn phẩm hấp dẫn, như McDaniel (2011), Kitiarsa (2012)

và Soucy (2012) đã giúp đẩy Phật giáo ra khỏi một phiên bản Phật giáo cũ, lý tưởng hóa, tập trung vào giáo luật, vào các hình thức biểu hiện tôn giáo phổ biến

Liên quan đến một chủ đề đặc biệt trong Phật giáo và vai trò của

nó trong lịch sử Việt Nam, McHale (2004) và DeVido (2007) đã làm sáng tỏ cuộc phục hưng Phật giáo thế kỷ XX tại Việt Nam Tuy nhiên, nhiều công việc vẫn còn trên di sản của phong trào này Tóm lại, Phục hưng đã tìm cách củng cố và biến đổi Phật giáo tại Việt Nam và đưa nó trở lại thời kỳ hoàng kim của Phật giáo

Hơn nữa, các văn bản Phật giáo mới và cũ đã được dịch và đưa

ra tình trạng quan trọng về thần học trong khi các học viên được khuyên nên đọc, nghiên cứu và hiểu chúng hơn là dựa vào việc đọc thuộc lòng mà không có kiến thức về nội dung Những người phục hưng Việt Nam tập trung vào sự tham gia với xã hội, thiết lập trường học, phòng khám, tổ chức và các phương tiện tiếp cận xã hội khác - nhiều trong số đó vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay

Phong trào Phật giáo hòa bình ở miền Nam Việt Nam là một phần quan trọng của lịch sử gắn liền với cuộc Phục hưng vốn là tâm điểm chú ý của các học giả trong những năm gần đây Taylor

Trang 13

(2013) và Miller (2013, 2015), đều có những diễn giải bằng văn bản (thường khác biệt nhau) về phong trào này và các nhân vật chủ chốt của nó

Kể về niềm đam mê học tiếng Anh của sinh viên tại VBU, Thích Tâm Đức (2016) cũng trích dẫn rằng các sinh viên đăng ký các khóa học tiếng Anh cho Phật giáo là: (1) 40 sinh viên năm 2009; (2) 33 sinh viên 2011; (3) 30 sinh viên năm 2013; và (4) 28 sinh viên năm

2015 Điều này nói lên rằng tinh thần thụ động của sinh viên trong việc học tiếng Anh

3 BÀI HỌC TỪ CÁC QUỐC GIA KHÁC

3.1 Các trường đại học dựa trên Phật giáo tại Hoa Kỳ

Các trường đại học dựa trên Phật giáo tại Hoa Kỳ cung cấp giáo dục về nghệ thuật tự do và các lĩnh vực chuyên nghiệp, trong khi sử dụng các phương pháp thử nghiệm thời gian của sư phạm truyền thống Phật giáo Bởi vì những trường đại học này thường không được công chúng biết đến, nên cần cung cấp thông tin về lịch sử, chương trình học thuật và thành công giáo dục được tạo ra trong khuôn viên của họ Các trường đại học này phục vụ như một mô hình giáo dục đại học thành công ở nhiều cấp độ khác nhau và mang lại kết quả khả quan cho cả những người cung cấp và những người nhận được giáo dục đại học

Phật pháp đã lan truyền ở Hoa Kỳ theo nhiều cách khác nhau Một cách quan trọng mà nó đã thấm thành công ý thức của công chúng rộng lớn hơn là thông qua các tổ chức giáo dục Điều này phù hợp với bản chất của Phật giáo Ở mỗi quốc gia mà nó được truyền

bá trong lịch sử, nó đã tạo ra các trường học, trường đại học và các trung tâm khác nhau để học tập, thiền định và thực hành đạo đức Trong nghiên cứu này, các nhà nghiên cứu điều tra một loại tổ chức giáo dục Phật giáo đặc biệt, mà họ gọi là một trường “đại học dựa trên nền tảng Phật giáo” (Storch, 2013)

3.2 Phật giáo ở các nước khác

Trong Phật giáo, tầm quan trọng của các chuỗi hiệu ứng do

Trang 14

nguyên nhân gây ra, với sự phân nhánh vượt xa mục tiêu chính của hành động khởi tạo (và thường là trở lại với tác nhân ban đầu), được liên kết chặt chẽ với các khái niệm trung tâm về hiệu ứng lan tỏa bên trong hoặc bên ngoài (Daniels, 2003).

Trên khắp lĩnh vực rộng lớn của lý thuyết xã hội, những giải thích

về động cơ, lựa chọn và hành vi của con người thường tập trung vào cuộc tranh luận của cấu trúc cơ quan (Hay, 2001)

Trong Phật giáo, dường như có một vai trò mạnh mẽ được quy cho cơ quan về khả năng thay đổi động cơ và ý định cá nhân mặc dù điều kiện cuộc sống nghiệp chướng tích lũy có ảnh hưởng đến một tình trạng khó khăn bất cứ lúc nào Động lực mong muốn nằm dưới

sự kiểm soát của cá nhân mặc dù các lực lượng văn hóa có cấu trúc (hoặc ít nhất là bên ngoài) có ý nghĩa xác định và định hình vai trò, động cơ và địa vị của kinh tế xã hội và rộng lớn hơn Một loạt các yếu tố sẽ hoạt động ở đây bao gồm các phương tiện truyền thông, nhà nước, hệ thống tài chính và các cấu trúc kinh tế và thể chế khác, quán tính công nghệ và cơ sở hạ tầng có xu hướng củng cố guồng quay của sản xuất,tiêu dùng Điều này được tăng cường bởi sự khao khát các kích thích và niềm vui dựa trên tiêu dùng để lấp đầy khoảng trống do xã hội quy mô lớn, sự bất thường và mất liên kết cộng đồng 3.3 Tạo ra các hệ thống kinh tế bền vững - Đóng góp từ quan điểm thế giới Phật giáo

Các đặc điểm chính của hệ thống kinh tế bền vững được lấy cảm hứng từ trí tuệ của thế giới Phật giáo Nó bao gồm một cuộc thảo luận song song về bản chất của những thay đổi phù hợp cần thiết Một hệ thống kinh tế của thành phố khác được mô tả ở đây là sự sắp xếp của con người có giao diện với môi trường vật chất để có được phúc lợi từ các nguồn nguyên liệu cuối cùng có nguồn gốc từ thiên nhiên Phúc lợi cũng có thể được cung cấp từ các nguồn xã hội

và tình cảm (và tinh thần) và, trong khi đó chắc chắn là những ảnh hưởng quan trọng đến kết quả kinh tế, theo định nghĩa, chúng có xu hướng nằm ngoài cốt lõi của kinh tế

Ngày đăng: 17/10/2021, 08:13

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w