Parsons cho rằng công tác hướng nghiệpphải được thể hiện trong 3 quá trình sau: 1 Sự thấu hiểu một cách rõ ràng về bản thân, về khả năng, sở thích, hoài bão, nguồn lực cũng như những hạn
Trang 1SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN TRẦN VĨNH LINH
QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG TƯ VẤN HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Ở CÁC TỈNH MIỀN ĐÔNG NAM BỘ
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Thành phố Hồ Chí Minh- 2021
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Thế giới trong thế kỉ XXI đang tiến hành cuộc cách mạng công nghiệp 4.0,thời kì của kĩ thuật số, công nghệ sinh học và Robot thế hệ mới, do đó, cũng mangđến những thách thức đối với nguồn nhân lực Việt Nam Theo Tổ chức Lao độngquốc tế, nước ta là một trong những nước chịu ảnh hưởng nhiều nhất từ cách mạngcông nghiệp 4.0 Những ngành sử dụng nhiều lao động phổ thông sẽ chịu tác độnglớn, nguy cơ thất nghiệp cao do sự phát triển của công nghệ tự động và trí tuệ nhântạo Việt Nam sẽ phải đối mặt với nhiều thách thức về chất lượng nguồn nhân lựcnhư trình độ chuyên môn kĩ thuật của lao động còn thấp cũng như năng suất laođộng thấp hơn nhiều nước trong khu vực ASEAN… Mặc dù chúng ta có dân số hơn
96 triệu người, đứng thứ 14 thế giới, thứ 3 trong khu vực Đông Nam Á và đangtrong thời kì dân số vàng Nhưng trình độ chuyên môn kĩ thuật vào quý 4 năm 2017(ước tính) còn thấp, người có trình độ đại học trở lên chỉ là 5.264.480; 1.567.030người tốt nghiệp cao đẳng chuyên nghiệp; 2.110.850 người trình độ trung cấpchuyên nghiệp (TCCN); 2.957.680 người kết thúc dạy nghề từ 3 tháng trở lên;người không có trình độ chuyên môn kĩ thuật là 42.867.230 Nguồn nhân lực chưaqua đào tạo chiếm 78,3%, một tỉ lệ khá cao; 5,4% qua dạy nghề từ 3 tháng trở lên;3,9% qua TCCN; 2,9% qua cao đẳng chuyên nghiệp; và 9,6% qua đại học trở lên(Trung tâm Thông tin - Tư liệu, Viện Nghiên cứu quản lí kinh tế Trung ương,2018) Giải quyết được những thách thức trên không thể không qua con đường giáodục Vì giáo dục và đào tạo có vị trí và vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự pháttriển mỗi quốc gia và dân tộc, nó thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đạihóa, là điều kiện phát huy nguồn lực của con người
Ở Việt Nam, Đảng và Nhà nước nhận thức về tầm quan trọng của giáo dục từ rấtlâu, Luật Giáo dục của Quốc hội số 11/1998/QH 10 ngày 01 tháng 12 năm 1998 đã khẳngđịnh “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu” và Nghị quyết 29-NQ/TW ngày4/11/2013 Hội nghị Trung ương 8 khóa XI xác định quan điểm chỉ đạo “Giáo dục và đàotạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn
Trang 3dân Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chươngtrình, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội” Nghị quyết này cũng xác định rõ mục tiêu cụthể về giáo dục phổ thông “tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất,năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp choHS” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2014) Từ nhiều năm nay, quán triệt các chủ trương,chính sách của Đảng và Nhà nước về giáo dục nói chung và giáo dục hướng nghiệp(GDHN) nói riêng với “mục đích chủ yếu của GDHN là phát hiện, bồi dưỡng tiềmnăng sáng tạo của cá nhân, giúp họ hiểu mình và hiểu yêu cầu của nghề, chuẩn bị cho
họ sự sẵn sàng tâm lí đi vào những nghề mà các thành phần kinh tế trong xã hội đangcần nhân lực, trên cơ sở đó đảm bảo sự phù hợp nghề cho mỗi cá nhân” Đồng thờithực hiện “nhiệm vụ của GDHN cho HS phổ thông là: Giáo dục thái độ lao động và ýthức đúng đắn với nghề nghiệp; cho HS làm quen với một số nghề phổ biến trong xãhội và các nghề truyền thống của địa phương; tìm hiểu năng khiếu, khuynh hướng nghềnghiệp của từng HS để khuyến khích, hướng dẫn và bồi dưỡng khả năng nghề nghiệpthích hợp nhất; động viên HS đi vào những nghề, những nơi đang cần.” (Bộ GD&ĐT,
2013, trang (tr.) 11-12) Vào tháng 5 năm 2018, Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết địnhphê duyệt đề án “GDHN và định hướng phân luồng HS trong giáo dục phổ thông giaiđoạn 2018 - 2025”, đây là một định hướng mới cho GDHN nói chung và hoạt động tưvấn hướng nghiệp (TVHN) nói chung Trong đó đã xác định rõ về TVHN ở mục tiêu
cụ thể đến năm 2020 là: “Khoảng 55% trường trung học cơ sở (THCS), 60% trườngtrung học phổ thông (THPT) có giáo viên (GV) kiêm nhiệm làm nhiệm vụ TVHN đápứng yêu cầu về chuyên môn, nghiệp vụ; đối với các địa phương có điều kiện kinh tế -
xã hội đặc biệt khó khăn đạt ít nhất 50% đối với cả hai cấp học trên.” (Thủ tướng Chínhphủ, 2018)
Công tác GDHN bước đầu đã thu được những kết quả đáng khích lệ Nhưng vẫncòn tỉ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi năm 2016 là 2,30%, trong đó khu vựcthành thị là 3, 18%; khu vực nông thôn là 1,86% Tỉ lệ thất nghiệp của thanh niên (từ15-24 tuổi) cùng năm là 7,34%, trong đó khu vực thành thị là 11,30%; khu vực nôngthôn là 5, 74% Tỉ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi lao động năm 2016 là1,64%, thấp hơn mức 1,89% của năm 2015 và 2,40% của năm 2014 (Dẫn theo Tổngcục Thống kê về tình hình kinh tế xã hội năm 2016) Vào quý III năm
Trang 42017, số người thất nghiệp có trình độ đại học trở lên là 237 nghìn người, tăng 53, 9nghìn người so với quý II Bên cạnh đó, với mục đích cuối cùng của GDHN là “tiếnhành TVHN cho HS nhằm giúp các em chọn được nghề, chọn được ngành và chọnđược trường” (Đặng Danh Ánh, 2007, tr.7) Một trong những nguyên nhân cơ bảndẫn đến tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm trong thanh niên, thậm chí sinh viêntốt nghiệp đại học là do hoạt động TVHN chưa mang lại hiệu quả.
Trong 05 tỉnh miền Đông Nam Bộ có tổng cộng 164 trường THPT với khoảng
68596 HS lớp 12 (Theo bảng tổng hợp số liệu thí sinh đăng khí dự tuyển kì thi THPT
quốc gia 2017 của 5 tỉnh), cho thấy nhu cầu TVHN của HS rất cao Hoạt động TVHN
đã và đang được tăng cường thông qua nhiều hình thức, với nội dung GDHN theo xuhướng đổi mới Nhưng phần lớn những hoạt động này chỉ theo phong trào, diễn ra ởmột thời gian nhất định, nhàm chán nên chưa thu hút được sự tham gia của HS Hoạtđộng TVHN chưa tạo được hứng thú và mang lại niềm tin trong việc chọn nghề, chọntrường cho HS sau khi tốt nghiệp THPT Một trong những nguyên nhân dẫn đến hoạtđộng TVHN chưa mang lại hiệu quả là do hạn chế trong quản lí hoạt động này quản líhoạt động này còn nhiều bất cập, chưa mang lại hiệu quả thiết thực Nghiên cứu quản líhoạt động TVHN cho HS THPT chưa làm rõ và đầy đủ cơ sở lí luận, chỉ hệ thống cơ
sở lí luận về quản lí hoạt động TVHN theo quan điểm quản lí về mục tiêu, nội dung,phương pháp, hình thức và điều kiện thực hiện
Từ những lí do trên, có thể thấy việc thực hiện luận án “Quản lí hoạt động
TVHN cho HS THPT ở các tỉnh miền Đông Nam Bộ” theo tiếp cận chức năng
quản lí: Lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra có ý nghĩa thiết thực Kết quảcủa luận án là những biện pháp quản lí hoạt động TVHN nhằm góp phần nâng caochất lượng GDHN nói chung và chất lượng THVN nói riêng
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lí luận và đánh giá thực trạng, luận án đề xuất một sốbiện pháp quản lí hoạt động TVHN trong các trường THPT nhằm quản lí hoạt động
và nâng cao chất lượng TVHN cho HS THPT ở miền Đông Nam Bộ
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Căn cứ vào mục đích nghiên cứu trên, luận án đề ra những nhiệm vụ cụ thểsau đây:
Trang 5- Xác định cơ sở lí luận về quản lí hoạt động TVHN trong các trường THPT;
- Khảo sát, đánh giá thực trạng quản lí hoạt động TVHN trong các trường THPT
ở miền Đông Nam Bộ;
- Đề xuất một số biện pháp quản lí hoạt động TVHN trong các trường THPT
ở miền Đông Nam Bộ
4 Câu hỏi nghiên cứu
Luận án tập trung vào giải quyết các câu hỏi nghiên cứu sau:
- Nghiên cứu hoạt động TVHN và quản lí hoạt động TVHN được dựa trên nền tảng lí thuyết nào?
- Thực trạng hoạt động TVHN và quản lí hoạt động TVHN trong các trường THPT ở miền Đông Nam Bộ hiện nay như thế nào?
- Những yếu tố cơ bản/chính nào ảnh hưởng đến quản lí hoạt động TVHN trong các trường THPT ở miền Đông Nam Bộ?
- Vì sao kết quả quản lí hoạt động TVHN trong các trường THPT ở miền Đông Nam Bộ còn yếu?
- Những biện pháp quản lí hoạt động TVHN nào cần thực hiện để nâng cao chất lượng hoạt động TVHN trong các trường THPT ở miền Đông Nam Bộ?
5 Giả thuyết khoa học
Hoạt động TVHN trong các trường THPT ở miền Đông Nam Bộ đã đạt đượcmột số kết quả khả quan, tuy nhiên vẫn tồn tại những hạn chế như chưa xác định đượcnhu cầu TVHN của HS, năng lực TVHN của đội ngũ tư vấn còn yếu Có nhiều nguyênnhân dẫn đến tình trạng trên, trong đó, nguyên nhân cơ bản là do thực hiện quản lí hoạtđộng TVHN còn yếu Nếu áp dụng các biện pháp quản lí theo chức năng quản lí và phùhợp với những điểm đặc thù của hoạt động TVHN thì sẽ góp phần nâng cao hiệu quảquản lí hoạt động TVHN cho HS THPT tại các tỉnh miền Đông Nam Bộ
Trang 66 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Công tác quản lí hoạt động TVHN cho HS THPT.
- Đối tượng nghiên cứu: Quản lí hoạt động TVHN trong các trường THPT ở
các tỉnh miền Đông Nam Bộ
7 Giới hạn nghiên cứu
- Về địa bàn nghiên cứu: Luận án này chỉ tập trung nghiên cứu 20 trường ở
3 tỉnh, trong đó:
+ Bà Rịa - Vũng Tàu gồm 06 trường là: THPT Châu Thành, THPT Nguyễn
Trãi, THPT Nguyễn Văn Cừ, THPT Nguyễn Bỉnh Khiêm, THPT Ngô Quyền, THPTPhú Mỹ;
+ Bình Dương gồm 04 trường: THPT Võ Minh Đức, THPT Bình An, THPT
Bình Phú, THPT Phan Bội Châu;
+ Đồng Nai gồm 10 trường: THPT Thanh Bình, THPT Ngọc Lâm, THPT
Chu Văn An, THPT Xuân Lộc, THPT Đắc Lua, THPT Nguyễn Đình Chiểu, THPTNhơn Trạch, THPT Phước Thiền, THPT Tôn Đức Thắng và THPT Vĩnh Cửu
- Về đối tượng nghiên cứu: Có nhiều cấp cùng tham gia quản lí hoạt động
TVHN cho HS THPT, đề tài tập trung nghiên cứu quản lí của Hiệu trưởng trong mối
tương tác phân cấp quản lí đối với TVHN ở các trường THPT
- Về đối tượng khảo sát: Khảo sát 2863 người ở 20 trường THPT công lập,
trong đó:35 Cán bộ quản lí (CBQL), 462 GV và 2366 HS.
- Về thời gian điều tra, thực nghiệm
+ Thời gian điều tra thực trạng: Từ tháng 09 năm 2016 đến tháng 4 năm 2017.+ Thời gian thực nghiệm: Từ tháng 09 năm 2017 đến tháng 2 năm 2018
8 Các cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
8.1 Cách tiếp cận
- Tiếp cận theo chức năng quản lí: Về căn bản có bốn chức năng chính mà các
nhà quản lí phải thực hiện Đó là các công việc lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, và kiểm tra;
và chúng có thể được dùng như là một cách phân loại cơ bản về kiến thức quản lí Bản chấtcủa quản lí là phối hợp các nỗ lực của con người thông qua bốn chức năng nói trên để đạtcác mục tiêu đề ra Nói một cách khác, các chức năng quản
Trang 7lí là bộ khung để tổ chức các kiến thức quản lí trong nó Với tinh thần đó, luận án sẽnghiên cứu việc quản lí hoạt động TVHN bằng cách tiếp cận bốn chức năng chủ yếunày.
- Tiếp cận theo lí thuyết hoạt động: Việc nghiên cứu quản lí TVHN cho HS
THPT được thực hiện theo nguyên tắc thông qua hoạt động và bằng hoạt động Trongquá trình nghiên cứu, cần tập trung vào các hoạt động TVHN của GV ở THPT, hoạtđộng tự nhận thức và đánh giá bản thân của HS, quá trình lựa chọn nghề của HS, cáchoạt động quản lí hoạt động TVHN của hiệu trưởng liên quan đến giáo viên chủ nhiệm(GVCN), giáo viên bộ môn (GVBM) và cán bộ Đoàn thanh niên (CBĐTN) ở THPT
- Tiếp cận theo hệ thống - cấu trúc: Bản thân hoạt động GDHN là một hệ thống
cấu trúc trọn vẹn được thực hiện thông qua nhiều con đường khác nhau, trong đóTVHN là một khâu trong GDHN chứ không phải là một hoạt động độc lập Do đó, khinghiên cứu quản lí hoạt động TVHN cần phải đặt trong mối quan hệ thống nhất giữaGDHN, TVHN và quản lí hoạt động TVHN phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện thực tếtrong các trường THPT ở nước ta trong giai đoạn hiện nay
- Tiếp cận theo lịch sử- logic: Hoạt động TVHN của nước ta đã có từ lâu Nó
chịu sự tác động và ảnh hưởng bởi những yếu tố nhất định trong quá trình lịch sử xã hộiViệt Nam, đôi khi rất được chú trọng nhưng cũng có lúc bị thờ ơ Vì thế, khi nghiêncứu cần chú ý về các giai đoạn phát triển kinh tế, xã hội và giáo dục Để đề xuất cácbiện pháp có tính khả thi và thực sự cần thiết
8.2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu lí luận
Phương pháp nghiên cứu tài liệu, phương pháp phân tích- tổng hợp và phương
pháp hệ thống hóa từ các tài liệu, văn bản, luận án tiến sĩ về GDHN và quản lí giáodục, TVHN và quản lí hoạt động TVHN cho HS THPT trong và ngoài nước để xácđịnh cơ sở lí luận về quản lí hoạt động TVHN trong các trường THPT
Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Tiến hành điều tra bằng bảng hỏi cho CBQL và GV khi xác định thực trạng Tiến hành điều tra bằng bảng hỏi cho HS khi xác định thực trạng hoạt động
Trang 8TVHN tại trường THPT.
Mục đích: Điều tra bằng bảng hỏi nhằm xác định thực trạng hoạt động
TVHN và quản lí hoạt động TVHN cho HS lớp 12 ở trường THPT thuộc 03 tỉnh BàRịa-Vũng Tàu, Bình Dương và Đồng Nai
Đối tượng: 2863 người ở 20 trường THPT công lập, bao gồm: Khảo sát
2863 người ở 20 trường THPT công lập, trong đó: 35 CBQL, 462 GV và 2366 HS.
Nội dung: Đối với CBQL và GV (gồm GVCN, GVBM, CBĐTN), trưng cầu
ý kiến về thực trạng hoạt động TVHN và quản lí hoạt động TVHN Đối với HS, trưng cầu ý kiến về thực trạng hoạt động TVHN
- Phương pháp phỏng vấn
ở THPT và các vấn đề khác từ thực tiễn được minh họa bằng lời phát biểu, lời nói củaCBQL, GV và HS THPT
THPT), những đối tượng này được chọn từ trong 2863 người
thông tin về thực trạng hoạt động TVHN cũng như thực trạng, nguyên nhân và biệnpháp quản lí hoạt động TVHN Tìm hiểu, nói chuyện với HS về thực trạng hoạt độngTVHN trong nhà trường hiện nay
- Phương pháp thực nghiệm
Tiến hành thực nghiệm nhằm đánh giá tính hiệu quả của hai biện pháp quản lí
hoạt động TVHN tại một trường THPT Các nhóm đối chứng và thực nghiệm được chọn có sự tương đương nhau
- Phương pháp chuyên gia
Phương pháp chuyên gia được sử dụng để khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi của các biện pháp đã đề xuất trong đề tài
Trang 9trưởng và 4 tổ trưởng tổ chuyên môn về lợi ích từ xác định nhu cầu TVHN của HS.
- Phương pháp hỗ trợ
Phương pháp thống kê toán học, phần mềm SPSS for Win, phiên bản 20 để xử
lí các số liệu thu được trong điều tra bằng bảng hỏi và thực nghiệm
9 Những luận điểm bảo vệ
- Quản lí hoạt động TVHN ở trường phổ thông là một quá trình và được thựchiện theo 4 chức năng của quản lí giáo dục: chức năng kế hoạch, chức năng tổ chức,chức năng chỉ đạo và chức năng kiểm tra, đánh giá Bên cạnh đó, hoạt động này có sựtác động của chủ thể quản lí đến đối tượng bị quản lí thông qua các công cụ quản lítrong phạm vi nhà trường
- Hoạt động TVHN ở trường phổ thông trong các tỉnh miền Đông Nam Bộ đã đạtđược những kết quả nhất định nhưng hiệu quả và chất lượng còn hạn chế Hiệu quả vàchất lượng hoạt động TVHN được nâng cao khi:
+ Hiệu trưởng thực hiện đầy đủ và hoàn thành 4 chức năng quản lí hoạt động TVHN ở trường THPT;
+ GVCN, GVBM, CBĐTN có năng lực về TVHN;
+ Có sự chỉ đạo sâu sát từ chủ thể quản lí (Hiệu trưởng) đến đối tượng bị quản
lí (GVCN, GVBM, CBĐTN) và đối tượng được TVHN (HS)
10 Đóng góp mới của luận án
10.1 Về lí luận
- Tổng hợp và hệ thống hóa lí luận về hoạt động TVHN và quản lí hoạt độngTVHN Trong đó, làm rõ các khái niệm như tư vấn, hướng nghiệp, TVHN, TVHN ởtrường THPT, hoạt động TVHN ở trường THPT, quản lí, quản lí hoạt động TVHN ởtrường phổ thông Đồng thời mô tả chi tiết mục đích và nhiệm vụ, nội dung, phươngpháp, hình thức, kiểm tra và đánh giá, điều kiện thực hiện hoạt động TVHN Trình bày
rõ ràng về tầm quan trọng, bốn chức năng quản lí (lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, chỉđạo thực hiện và kiểm tra, đánh giá) và các yếu tố ảnh hưởng đến quản lí hoạt độngTVHN cho HS ở trường THPT
- Vận dụng lí luận về bốn chức năng quản lí giáo dục cơ bản trong quản lí hoạt động TVHN cho HS trong trường THPT
Trang 1010.2 Về thực tiễn
- Khảo sát và đánh giá thực trạng TVHN, quản lí hoạt động TVHN trong 20 trường THPT ở các tỉnh miền Đông Nam Bộ
- Xác định được hạn chế và bất cập về TVHN và quản lí hoạt động TVHN trong
20 trường THPT ở các tỉnh miền Đông Nam Bộ Từ đó, phân tích và tìm ra những nguyên nhân cơ bản dẫn đến các hạn chế và bất cập này
- Đề xuất 04 biện pháp quản lí hoạt động TVHN nhằm giải quyết những hạnchế và bất cập trong quản lí hoạt động TVHN cho HS THPT ở các tỉnh miền ĐôngNam Bộ
Trang 12Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG TƯ VẤN HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ
THÔNG
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Nghiên cứu ở nước ngoài
1.1.1.1 Hoạt động tư vấn hướng nghiệp ở trường trung học phổ thông
Giữa thế kỉ XIX, nhu cầu hướng nghiệp, đặc biệt là tư vấn, tuyển chọn nghềnghiệp xuất hiện từ chính sự đòi hỏi của cuộc sống, khi nền sản xuất tư bản chủ nghĩangày càng phát triển Các nhà Tâm lí học làm việc trong các doanh nghiệp khi nghiêncứu sự thích ứng của người công nhân đối với công việc đã đi đến kết luận rằng, để conngười có thể làm tốt một công việc cụ thể, không chỉ phụ thuộc vào việc tổ chức dạynghề như thế nào mà còn phụ thuộc vào người đó có những năng lực phù hợp với nghềhay không Từ phát hiện này, các nhà tâm lí học đề xuất đối với các nhà tuyển dụngrằng trước khi nhận một ai đó vào một vị trí lao động cần phải tìm hiểu người ấy cónhững năng lực phù hợp hay không, sau đó mới tiến hành đào tạo
Cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX, TVHN thực sự trở thành một lĩnh vực khoahọc độc lập với những công trình nghiên cứu lí thuyết điển hình của các nhà tâm líhọc tư vấn Davis (1907), Parsons (1909), Keller và Viteles (1937), Kettell (1880),Gallton (1883)…
Năm 1907, Davis đã xây dựng cơ sở đào tạo đầu tiên về công tác hướng dẫn nghềtại Michigan Tuy nhiên, TVHN, chọn nghề thật sự lớn mạnh kể từ khi Frank Parsons,người mà sau này được coi là “cha đẻ của hướng nghiệp”, thành lập “Văn phòngTVHN” ở Boston năm 1908, (Boston’s Vocational Bureau) và xuất bản sách “Chọnnghề” (Choosing a Vocation) vào năm 1909 Parsons cho rằng công tác hướng nghiệpphải được thể hiện trong 3 quá trình sau: 1) Sự thấu hiểu một cách rõ ràng về bản thân,
về khả năng, sở thích, hoài bão, nguồn lực cũng như những hạn chế của bạn đối vớinghề; động lực thúc đẩy bạn chọn nghề; 2) Kiến thức về những yêu cầu, điều kiện củathành công, những thuận lợi và khó khăn; sự đền bù; những cơ hội và những triển vọngphát triển trong các giới hạn khác nhau của công việc; 3) Hiểu biết về mối
Trang 13liên hệ giữa đặc điểm cá nhân của bản thân và yêu cầu của công việc cụ thể.
Không phải là lí thuyết đầu tiên về TVHN, nhưng lí thuyết có sức tồn tại lâu bềnnhất và được sử dụng nhiều nhất hiện nay chính là lí thuyết của Holland Theo Holland(1986), lựa chọn nghề của cá nhân là một sự thể hiện tính cách trong thế giới nghề của
cá nhân đó, đặc điểm nhân cách của một con người cần phải được xem xét trong sựthống nhất với môi trường nghề nghiệp Mục đích chính của TVHN và cũng chính làviệc của các nhà tư vấn nghề là kết hợp giữa các kiểu loại nhân cách với những đặcđiểm môi trường công việc Xuất phát từ lí thuyết của Holland, một thang tự đo trong
định hướng nghề nghiệp có tên là Self-Directed Search (SDS)- Tự tìm kiếm nghề nghiệp- đã được xây dựng Tuy nhiên, thang SDS chỉ đo được sở thích, hứng thú, mà
không đo được năng lực thực tế của mỗi người Người làm test này sẽ tự kiểm tra xemmình thích hoặc không thích gì (Walsh & Osipow, 1986, p.55-82)
Năm 1937, trong tác phẩm Vocational guidance throughout the world, Keller
và Viteles cung cấp một tầm nhìn toàn cầu về tư vấn và hướng nghiệp Họ đã khảosát so sánh các quốc gia châu Âu, châu Á và châu Phi Suốt thế kỉ XX và đầu thậpkỉ thế kỉ XXI, tư vấn và hướng nghiệp phát triển mạnh mẽ trong môi trường giáodục, đặc biệt là cấp tiểu học và trung học HS đã được định hướng nghề ngay từ lúc
từ 15 tuổi cho đến 18 tuổi, bởi Keller và Viteles cho rằng thế giới nghề nghiệp rất đadạng, thanh thiếu niên cần ý thức ngay từ nhỏ sự lựa chọn nghề tối ưu của họ dựatrên sở thích, năng lực, môi trường cuộc sống
Lịch sử cho thấy, các nhà Tâm lí học là những chuyên gia trước tiên quan tâmtới việc xây dựng hệ thống cơ sở lí luận cũng như những phương pháp hướngnghiệp: Năm 1880, nhà Tâm lí học Mĩ, Kettell là người đầu tiên đề nghị đưaphương pháp Test (Trắc nghiệm tâm lí) vào công tác tuyển chọn nghề thì năm 1883,nhà Tâm lí học Anh, Gallton lần đầu tiên sử dụng Test để chẩn đoán nhân cáchnhằm mục đích tư vấn nghề nghiệp Năm 1895, Galton cùng với nhà Tâm lí họcPháp Binet đã thành lập Sở tư vấn nghề nghiệp đầu tiên tại Pháp Đến đầu thế kỉ XXcác cơ sở dịch vụ tư vấn, hướng nghiệp lần lượt ra đời ở Mĩ, Anh, CHLB Đức…Như vậy, ngay từ khi ngành hướng nghiệp ra đời, một nội dung quan trọng của nó
đó là hoạt động tư vấn, tuyển chọn nghề
Trang 14Lee & Ekstrom (1987); Schmidt (1996); Roger (1998); Zunker (2002) lần lượtcho ra đời những công trình nghiên cứu về tham vấn nghề cho HS trong nhà trườngphổ thông như “Counseling in school: Essential services and comprehensiveprograms”, “Counseling In schools Multicultural and Development, AmericanCounseling Association”, “Career counseling: applied concepts of life planning”.Các nghiên cứu này tập trung ở các vấn đề sau đây: 1) Xác định vai trò của thamvấn viên trong việc định hướng nghề và tham vấn nghề Họ khẳng định: Tham vấnviên giống như một nhà nghiên cứu hành vi ứng xử; tham vấn viên ở trường là tácnhân thay đổi; tham vấn viên được coi như một kĩ thuật viên 2) Xác định mục tiêu,hình thức, phương pháp định hướng nghề và tham vấn nghề cho HS từ cấp tiểu họcđến THPT 3) Cung cấp những dịch vụ nghề nghiệp cho HS 4) Xác định các tiêuchí đánh giá, phương pháp đánh giá, nội dung đánh giá kiến thức, kĩ năng, khảnăng, và các mục đích khác của chương trình GDHN và tham vấn nghề trongtrường phổ thông Các kết quả nghiên cứu trên đây cho thấy tham vấn nghề đã cómột hệ thống lí luận làm cơ sở cho việc phát triển lí luận về hoạt động TVHN ởViệt Nam (Dẫn theo Trương Thị Hoa, 2014, tr.14).
Nửa cuối thế kỉ XX, TVHN được hầu hết các quốc gia trên thế giới quan tâm
và ngày càng có nhiều nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn về hoạt động TVHNtrong nhà trường phổ thông tập trung ở các vấn đề sau đây: Vai trò của tham vấnviên trong việc định hướng nghề và tham vấn nghề; Xác định mục tiêu, hình thức,phương pháp định hướng nghề và tham vấn nghề cho HS từ cấp tiểu học đến THPT;Cung cấp những dịch vụ nghề nghiệp cho HS Bên cạnh đó các nghiên cứu cũngđưa ra các tiêu chí đánh giá, phương pháp đánh giá, nội dung đánh giá kiến thức, kĩnăng, khả năng, và các mục đích khác của chương trình GDHN và tham vấn nghềtrong trường phổ thông Cụ thể:
Dick & Rallis (1991), trong bài viết “Factors and influences on high school students' career choices” và Gati & Saka (2001) khi nói về“Counseling High school students' career-related decision-making difficulties” cũng đã chỉ ra những khó khăn
của HS trong quá trình chọn nghề, đó là: Không lựa chọn được nghề, không nhận thức
rõ ràng khả năng, sở thích và giá trị, quan niệm của bản thân phù hợp với nghề nào
Trang 15Carey & Harrington (2010); Lapan (2012); Hatch (2014); Carey & Martin(2015) đã đưa ra quan điểm chung về hoạt động tham vấn nghề với nội dung lànghiên cứu những đặc điểm của người được tư vấn như: năng lực, sở thích, năngkhiếu và những yếu tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn nghề của bản thân họ như: giáodục, gia đình, xã hội, thái độ, cảm xúc, sự hài lòng Trong quá trình tham vấn cầnxây dựng tổng thể thông tin về nghề, những công việc thiếu, đủ, cần nguồn nhân lực
và hướng dẫn HS phân tích, lựa chọn xây dựng kế hoạch nghề nghiệp và đưa raquyết định nghề nghiệp phù hợp với bản thân các em và để làm được điều đó bảnthân người được tham vấn cũng cần trang bị cho mình những hiểu biết, kiến thức, kĩnăng về thế giới công việc
Yaqoob & Samad (2017) trong công trình “Senior high school career
planning: What students want” đã nêu mục đích của nghiên cứu về TVHN ở
Pakistan nhằm: Đánh giá kiến thức tư vấn nghề nghiệp của HS; Thái độ của HS đối
với hoạt động tư vấn nghề nghiệp và sự cần thiết (hiện diện) của các cố vấn nghềnghiệp ở các lĩnh vực khác nhau ở cấp trung học, những người sẽ giúp HS trongviệc đưa ra quyết định nghề nghiệp đúng đắn
1.1.1.2 Quản lí hoạt động TVHN ở trường THPT
Ở nhiều nước, công tác hướng nghiệp được đặc biệt chú trọng bao gồm cả TVHN
và giáo dục nghề nghiệp Ngành giáo dục của mỗi quốc gia đều chủ động tổ chứchướng nghiệp ngay từ bậc THCS, thậm chí ngay cả những bậc học thấp hơn Hoạt độngTVHN đã được định hướng từ việc thiết kế chương trình giáo dục trong nhà trường củamỗi quốc gia Việc giảng dạy các môn năng khiếu, phát triển thiên hướng thuộc về ưuthế của mỗi cá nhân ở các bậc học, việc phân luồng chuyên môn,
phân ban trong giáo dục… xét về bản chất cũng là những biện pháp hướng nghiệp.Vào những năm 1960, nhà tâm lí học người Mỹ John Holland (1919-2008) đã
nghiên cứu và thừa nhận sự tồn tại của các loại nhân cách và sở thích nghề nghiệp khácnhau, ông đã chỉ ra rằng tương ứng với mỗi kiểu nhân cách nghề nghiệp khác nhau thì
có một số nghề mà cá nhân có thể chọn để có được hiệu quả làm việc cao nhất Nóicách khác, ông cho rằng khi lựa chọn một nghề nào, con người có xu hướng sẽ tìmkiếm những môi trường làm việc mà ở đó, họ được thể hiện bản thân, thể hiện
Trang 16cái tôi của mình và có xu hướng không chọn những việc không phù hợp với đặcđiểm nhân cách của mình Lý thuyết của John Holland đã và đang được các nhàquản lí sử dụng rộng rãi trong thực tiễn quản lí nhân sự cũng như quản lí TVHNtrên toàn thế giới (Dẫn theo James A Athanasou và Raoul Van Esbroeck, 2008).Hutchinson & Bottorff (1986), trong bài viết “Selected high school counselingservices: Student assessment” đã đưa ra các phương thức phối hợp, cộng tác chặtchẽ giữa trung tâm giáo dục và các trường phổ thông trong việc lập kế hoạch thực tếcho HS THPT đến các trường đại học, trung tâm thư viện, nhà máy, xí nghiệp, các
cơ sở kinh doanh, nhà hàng để HS có cái nhìn thực tế về nghề nghiệp mà họ theohọc và làm việc sau này
Kim Witko và cộng sự (2005) khi đánh giá công tác lập kế hoạch nghề nghiệpcủa 2360 HS ở 52 trường THPT ở Nam Alberta, Canada chỉ ra rằng 89% HS lớp 12bày tỏ mong muốn được TVHN trước khi lập kế hoạch nghề nghiệp Tuy nhiên, các
em chưa thật sự hài lòng với hệ thống tư vấn nghề nghiệp hiện tại và các dịch vụ mà
HS nhận được từ sự hướng dẫn của nhà trường HS phải đối mặt với những rào cảnđáng kể trong việc lập kế hoạch nghề nghiệp, cụ thể: 40% HS không biết nơi đểđược trợ giúp trong việc ra quyết định nghề nghiệp; 39,7% tin rằng họ cần phải đếnquá nhiều nơi khác nhau để biết thông tin họ yêu cầu 59,7% cảm thấy khó khăntrong việc tìm kiếm tất cả thông tin họ cần đưa ra quyết định nghề nghiệp và 37,6%không biết tìm câu trả lời ở đâu câu hỏi về tương lai của họ Vì thế, để quản líTVHN cho HS THPT, nhà trường nên trang bị cho GV và cho phụ huynh thông tin
và kiến thức thích hợp để hỗ trợ HS lập kế hoạch nghề nghiệp cũng như giúp HSđưa ra quyết định liên quan đến nghề nghiệp dựa trên nhu cầu xã hội một cách tốtnhất Đồng thời, nhà trường cần tăng cường các chương trình TVHN để HS cónhiều thông tin về thế giới nghề cũng như nhận được sự tư vấn từ chuyên gia, cốvấn nghề nhằm hỗ trợ cho việc lập kế hoạch nghề nghiệp của các em
Gao (2008) với nghiên cứu “The effective way of career guidance on college
students: Career counseling in class” đã phân tích: Thông qua hoạt động tư vấn,
người cố vấn sẽ “hướng nghiệp” HS, SV trong các trường bách khoa hoặc viện giáodục kĩ thuật khám phá những điểm mạnh, liên quan đến sở thích, nhu cầu của chính
Trang 17bản thân mình; Hướng dẫn các em và phụ huynh HS lập kế hoạch và đưa ra quyếtđịnh sáng suốt cho con đường học vấn và sự nghiệp của họ.
Anca-Olga Andronic và Răzvan-Lucian Andronicb (2011) trong nghiên cứucủa mình đã cho thấy công tác quản lí TVHN được thực hiện trong các trường học ởBrasov còn hạn chế Các trường học tại đây hầu như không có cố vấn nghề nghiệp,chuyên gia tư vấn tâm lí, các dịch vụ hỗ trợ TVHN cho HS cũng không phổ biến.Hai tác giả đề xuất giải pháp lí tưởng để tối ưu hóa công tác quản lí TVHN là cảithiện trang web, tăng cường sự hiện diện trên các phương tiện truyền thông địaphương, các chiến dịch quảng bá trong trường học, trang bị thích hợp các văn phòng
tư vấn ngay trong trường học
Bên cạnh đó, công tác quản lí hoạt động TVHN đã, đang được hình thành vàphát triển ở nhiều quốc gia trên thế giới, điển hình như:
Tại Áo, từ năm 1998 - 1999 luật của Áo đã thông qua việc áp dụng tư vấn GDHN
cho HS lớp 7 và lớp 8 ở tất cả các loại hình THCS Hướng nghiệp được xem như làmôn học phụ trợ, chiếm khoảng 32 giờ/năm, được thực hiện qua các hoạt động sau: 1)Các bài học giáo dục nghề nghiệp do GV đảm nhận với mục tiêu chính là phân tíchnhững điểm mạnh yếu của HS, giúp HS nhận thức rõ về những mối quan tâm và sởthích của bản thân và tự chuẩn bị tri thức về “thế giới nghề nghiệp”; 2) Tư vấn cá nhâncho các HS, SV do các GV đã được đào tạo về tư vấn và các nhà tư vấn trong trườnghọc đảm nhận Thông qua hoạt động này, cha mẹ HS được thông báo về Hội chợ việclàm; Phần đào tạo thực hành trong các tổ chức và ngày thông tin tại Viện phát triểnkinh tế WIFI) hoặc Viện đào tạo nghề (BIF) Ngoài ra ở Áo, còn có các trung tâmthông tin việc làm (BIZ) cũng cung cấp nhưng dịch vụ TVHN cho các đối tượng HS,
SV và các bậc cha mẹ của họ Trung tâm này có ở khắp mọi nơi trên đất Áo dướinhững tên gọi khác nhau nhưng đều cùng sự điều hành của các Phòng Kinh tế Tại đây,
HS được cung cấp các chương trình tham quan nhằm mục đích tạo cơ hội cho các emtiếp cận với bức tranh toàn cảnh về thế giới nghề nghiệp nói chung và với các mô hìnhđào tạo nghề nói riêng Bên cạnh đó các em được cung cấp những bài tập kiểm tra xuhướng và những kĩ năng nghề nghiệp… Sau khi các em đã có những thông tin sơ bộ vềbản thân và thị trường lao động, các nhà TVHN sẽ đưa ra những
Trang 18lời khuyên thích hợp giúp các em lựa chọn được cho mình một hướng nghề mà bảnthân có cơ hội phát triển cao nhất (Dẫn theo Lê Thị Thanh Hương, 2010, tr.82-83).
Tại Mĩ: Về cơ sở lí luận, có thể khẳng định rằng hầu hết những lí thuyết TVHN
nổi tiếng đều ra đời tại Mĩ Thực hành tư vấn nghề nghiệp được tiến hành ở hệ thốngtrường học Trong hệ thống trường học, nó được gọi là TVHN (vocational guidance,career guidance) TVHN trong trường học của Mĩ được xây dựng trên khuôn khổ kếthợp chặt chẽ của những lí thuyết tâm lí học phát triển và những ảnh hưởng của vănhóa, kinh tế, xã hội đến phát triển nghề nghiệp của trẻ em Chương trình TVHN được
đề cập trong rất nhiều chương trình, hoạt động cụ thể, hướng đến 3 lĩnh vực, gồm:Những kiến thức về bản thân (self-knowledge); Giáo dục và khám phá nghề nghiệp(Educational and occupational exploration); Và kế hoạch nghề nghiệp (carreerplanning) Tùy vào mức độ phát triển tâm lí, cũng như độ thuần thục về những kĩ năngphát triển, ở mỗi cấp học, HS sẽ được cung cấp một dịch vụ tư vấn nghề nghiệp phùhợp Trong chương trình có tên “Planning of life” mà các trường THPT nước này đang
áp dụng đã đưa ra 7 yếu tố quan trọng đòi hỏi phải có trong bất cứ một chương trìnhđịnh hướng nghề nghiệp và cuộc đời nào, còn được gọi là “C’7” Đó là: 1) Rõ ràng vềmục tiêu (Clarity); 2) Cam kết (Commtment); 3) Toàn diện (Comprehensive);
4) Hợp tác (Collaboration); 5) Chặt chẽ (Coherence); 6) Phối hợp (Coordination); 7)Hiệu quả (Competency) Ngoài ra, nhiệm vụ TVHN của nhà tư vấn được ghi khá rõ, họ
sẽ hỗ trợ học tập, trau dồi kĩ năng làm bài thi, thiết lập các mục tiêu và đưa ra
quyết định, nhận thức về nghề nghiệp, lên kế hoạch nghề nghiệp, giúp HS hiều vềbản thân và người khác, mối quan hệ bạn bè, các chiến lược đối phó và các kĩ năng
xã hội, giao tiếp và giải quyết khó khăn, giáo dục về lạm dụng chất kích thích, nhậnbiết được sự đa dạng văn hóa và sự khác biệt (Dẫn theo Lê Thị Thanh Hương, 2010,tr.82-83)
Tại Pháp, TVHN trong các nhà trường được tổ chức một cách chặt chẽ, chịu sự
quy định nghiêm ngặt của luật pháp, Chính phủ và ngành giáo dục trong việc bắt buộccác cơ sở giáo dục, đào tạo (nhà trường các cấp) xây dựng, triển khai các hoạt độngTVHN thông qua Bộ Luật TVHN và đào tạo nghề suốt đời (2009) và được tiếp tục ápdụng cho đến nay Các hệ thống TVHN được cung cấp các khoản kinh phí
Trang 19chính thức và thường xuyên để có thể tiến hành các họat động của mình với tư cáchcác dịch vụ “công” Nhờ đó, các nhà tư vấn có thể có vị trí chuyên môn và được trảlương thỏa đáng, thường xuyên, chính thức trong các môi trường làm việc của họ ỞPháp, tồn tại hai mô hình hoạt động của TVHN Mô hình thứ nhất trong đó TVHN
là một thành tố tích cực và sống động của tư vấn học đường Thứ hai, TVHN đứngđộc lập trong tổng thể hệ thống tham vấn học đường ở các nhà trường Các phòng tưvấn học đường được dành cho không gian với những diện tích phòng ốc có trang bịcác thiết bị chuyên môn đi kèm, mà đặc biệt trong đó là hệ thống tài liệu, tư liệu,thông tin, các thiết bị nghe nhìn và các hệ thống phần mềm chuyên môn được càiđặt trợ giúp quá trình tư vấn được diễn ra một cách có hiệu quả nhất (Dẫn theoPhạm Đăng Khoa, 2014)
Đồng thời, ở một số nước ở khu vực châu Á và châu Á - Thái Bình Dươngchịu ảnh hưởng rất lớn và áp dụng lí thuyết và mô hình nghiệp của Mĩ và châu Âusao cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh thực tế của đất nước họ Điển hình như:
Ở Malaysia, từ những năm 60 của thế kỉ XX, Bộ Giáo dục đã nhận thức rõ tầm quan
trọng của tư vấn hướng dẫn nghề trong trường học và đã thiết lập bộ phận tư
vấn và hướng dẫn tại phòng kế hoạch và nghiên cứu giáo dục (Educational Planningand Research Division) Để đảm bảo hiệu quả của công việc TVHN cho HS, GVlàm công tác hướng dẫn nghề nghiệp phải nắm qua về 25 môn học, khả năng làmviệc nhóm và nhiều hoạt động tập thể khác của HS Đến năm 1996, dịch vụ tư vấn,hướng dẫn đã áp dụng ở tất cả 3 cấp học, xuất hiện bản tin về TVHN, định hướngtrường học, khó khăn khi chuyển đổi giai đoạn học tập
Ở New Zealand, tư vấn nghề nghiệp do một tổ chức phi chính phủ có tên là
“Yongmen Christian Association YMCA” (Hiệp hội nam thanh niên theo đạo Cơ đốc giáo)khởi xướng và phát triển Trung tâm này có nhiệm vụ kiểm tra chất lượng đầu vào tronggiáo dục, tổ chức các hoạt động học tập, lên kế hoạch nghỉ ngơi cho người học… Nhữnghoạt động hướng nghiệp do YMCA sáng tạo và triển khai đã được áp dụng rộng rãi trongcác trường đào tạo kĩ thuật 20 năm sau đó Hiện nay, nhu cầu TVHN của nước này tăngcao, nhưng chi phí của Chính phủ dành cho hoạt động này lại bị cắt giảm Chính phủ cũngkhông có một quy chế cụ thể nào về hoạt động của
Trang 20các nhà tư vấn nói chung và tư vấn nghề nghiệp nói riêng, vì vậy các nhà tư vấn phảihoạt động dựa trên những nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp, phải tự đặt ra những mứcphí có thể chấp nhận được (Dẫn theo Lê Thị Thanh Hương, 2010, tr.84-87).
Ở Singapore, với mục tiêu giáo dục hướng đến thị trường lao động toàn cầu, vì
vậy, GDHN ở Singapore được chú trọng và đầu tư phát triển dưới nhiều hình thức
đa dạng và phong phú, tạo điều kiện để HS có thể tiếp cận nghề một cách dễ dàng
Từ năm 1989 đến 1993, nước này đã phát triển một “phần mềm hướng dẫn nghềnghiệp” với mục tiêu là hỗ trợ GV với vai trò là nhà cố vấn cung cấp thông tin về
300 nghề nghiệp theo xu hướng phát triển của xã hội, nhằm định hướng cho HStrong việc đưa ra quyết định chọn nghề Năm 2009, cổng thông tin điện tử về giáodục và hướng nghiệp (http://ecareers.sg) được chính thức đưa vào sử dụng tạiSingapore như một công cụ hỗ trợ HS bước vào thế giới công việc, duy trì năng lựccạnh tranh trong nền kinh tế toàn cầu (Yeo, Tan, & Neihart, 2013, p.7-9)
Ở Trung Quốc, bắt đầu từ những năm 80 của thế kỉ XX, người Trung Quốc bắt
đầu đặt vấn đề về áp lực học tập cũng như định hướng tương lai mà họ đặt ra chotrẻ em Chính thời gian này, Chính phủ đã nhận thấy vai trò quan trọng của việcchăm sóc không chỉ thể chất mà còn phải cả tinh thần cho các em Song song vớiviệc cải thiện các phương pháp giảng dạy, giảm tải học tập, xem lại các chươngtrình, các trường học đã xây dựng các trung tâm tham vấn sức khỏe tinh thần vàTVHN, giúp HS có những khó khăn trong học tập, các vấn đề lo âu, hoặc những dựđịnh nghề nghiệp tương lai (Gao, 2008, p.37-39)
Tóm lại, qua phân tích một số công trình nghiên cứu về hoạt động TVHN và
quản lí hoạt động TVHN ở trường THPT đã chỉ ra rằng: 1) Việc triển khai hoạt độngTVHN trong hệ thống giáo dục phổ thông ở mỗi nước là khác nhau Trong những nướcphát triển, hoạt động này được tất cả các cấp quản lí từ cấp chính phủ đến địa
phương coi trọng và được triển khai rộng khắp với sự tham gia không chỉ của nhàtrường mà còn nhiều tổ chức xã hội khác nhau, tạo thành một hệ thống liên hoàn chặtchẽ 2) Từ lí thuyết của Holland, xây dựng thang tự đo trong định hướng nghề nghiệp
có tên là Self-Directed Search (SDS) (Tạm dịch: Tự tìm kiếm nghề nghiệp), thang đo về
sở thích và hứng thú 3) Qua khảo sát, khẳng định rằng lứa tuổi thích hợp để định
Trang 21hướng nghề là từ 15 đến 18 tuổi 4) Những phương pháp hướng nghiệp đầu tiên đềnghị đưa vào công tác tuyển chọn nghề nghiệp là Test 5) Hoạt động TVHN là mộtnội dung quan trọng của ngành hướng nghiệp 6) Những khó khăn của HS trong quátrình chọn nghề đó là: Không lựa chọn được nghề, không nhận thức rõ ràng khảnăng, sở thích và giá trị, quan niệm của bản thân phù hợp với nghề nào 7) Đặc điểmcủa người được tư vấn như: năng lực, sở thích, năng khiếu và những yếu tố ảnhhưởng đến sự lựa chọn nghề của bản thân họ như: giáo dục, gia đình, xã hội, thái
độ, cảm xúc, sự hài lòng 8) Mục đích của nghiên cứu về TVHN nhằm đánh giákiến thức tư vấn nghề nghiệp của HS; Thái độ của HS đối với hoạt động tư vấnnghề nghiệp và sự cần thiết (hiện diện) của các cố vấn nghề nghiệp ở các lĩnh vựckhác nhau ở cấp trung học, những người sẽ giúp HS trong việc đưa ra quyết địnhnghề nghiệp đúng đắn 9) Các công trình nghiên cứu về quản lí hoạt động TVHNcòn mờ nhạt: cả về lí thuyết lẫn thực tiễn, một số công trình nghiên cứu chỉ đề cậpchức năng lập kế hoạch và chỉ đạo
1.1.2 Nghiên cứu ở Việt Nam
1.1.2.1 Hoạt động tư vấn hướng nghiệp ở trường trung học phổ thông
TVHN ở nước ta đã được nghiên cứu từ những năm 80 của thế kỉ XX, công trìnhnghiên cứu tiêu biểu như đề tài “Mô tả các nghề đào tạo nhằm mục đích hướng nghiệp”
là kết quả nghiên cứu của 5 tác giả Đặng Danh Ánh, Phạm Đức Quang, Phạm NgọcAnh, Đỗ Thị Hòa và Nguyễn Viết Sự Các tác giả trình bày việc xây dựng các phònghướng nghiệp và việc tư vấn nghề trong trường nghề và trường phổ thông, tuy nhiên nócũng là tư liệu quý giá cho hoạt động TVHN ở các trường phổ thông trung học Songhành thời gian này, còn xuất hiện tài liệu sinh hoạt hướng nghiệp cho HS cuối cấp phổthông cơ sở và các lớp phổ thông trung học của Phạm Huy Thụ, Phạm Tất Dong vàNguyễn Thế Trường Tài liệu này trình bày rõ về vấn đề tư vấn nghề và xây dựng đượcnhiều bản họa đồ nghề có giá trị thực tiễn phục vụ tư vấn nghề Từ năm 1996 đến 2005nhiều công trình nghiên cứu về hướng nghiệp và tư vấn nghề cho HS, các nghiên cứu
đã tập trung vào các đặc điểm của bản thân trong quá trình chọn nghề, tư vấn nghề đãđược công bố của các tác giả: Phạm Tất Dong, Nguyễn Như Ất, Đặng Danh Ánh,Hoàng Kiện, Nguyễn Thế Trường, Nguyễn Đức Trí, Nguyễn Văn
Trang 22Hộ, Lê Đức Phúc, Nguyễn Văn Lê (Dẫn theo Trương Thị Hoa, 2014, tr.16).
Năm 2007, Đặng Danh Ánh tiếp tục nghiên cứu về TVHN và đăng tải kết quảtrên Tạp chí Giáo dục với bài “Cần đặt đúng vị trí của tư vấn hướng học và TVHNtrong trường phổ thông”, tác giả đã khẳng định: “Mục đích cuối cùng cần đạt được củaGDHN cho HS phổ thông là: Tiến hành TVHN cho HS nhằm giúp các em chọn đượcnghề, chọn được ngành và chọn được trường” Trong cùng tạp chí này ở số 156 (kì 2-2/2007), tác giả Nguyễn Thị Thanh Huyền (2007) đăng bài “Làm tốt công tác tư vấnnghề góp phần nâng cao hiệu quả GDHN trong trường phổ thông” Bài báo trình bày
về khái niệm tư vấn nghề, 04 nhiệm vụ của tư vấn nghề và 05 bước thực hiện tư vấnnghề Sau hai năm, tác giả công bố, Luận án tiến sĩ Giáo dục “Xây dựng mô hình tưvấn nghề trong nhà trường THPT khu vực miền núi Đông Bắc Việt Nam”, trong đó, đãkhái quát lí luận và thực tiễn về tư vấn nghề, thực trạng tư vấn nghề ở trường THPTkhu vực miền núi Đông Bắc Việt Nam Tác giả đã xây dựng thí điểm mô hình “Tổ tưvấn nghề trong trường phổ thông khu vực miền núi Đông Bắc” Theo mô hình này, tổ
tư vấn nghề có chức năng, nhiệm vụ: Cung cấp thông tin nghề; Chẩn đoán hứng thú,năng lực nghề nghiệp của HS; Lập hồ sơ hướng nghiệp; Tư vấn hiệu chỉnh và đưa ranhững lời khuyên cho HS Về cơ cấu tổ chức của mô hình bao gồm các bộ phận: Bộphận lãnh đạo quản lí; bộ phận nghiệp vụ Tổ tư vấn nghề được thiết kế theo kiểu cơcấu trực tuyến, có sự phối hợp chặt chẽ và thống nhất Cùng năm 2009, bài báo về
“TVHN cho HS phổ thông” của Đặng Danh Ánh (2009, tr.44-46) đã trình bày các loại
tư vấn và TVHN Tác giả cho rằng tư vấn chọn nghề gồm TVHN và tư vấn nghề Theotác giả, TVHN và tư vấn nghề có điểm “giống nhau cả về hình thức lẫn nội dung kháiniệm, bởi lẽ mục tiêu chung nhất, cao cả nhất của tư vấn nghề và TVHN đều là giúp
HS chọn được ngành nghề học, học nghề và trường học sao cho phù hợp với yêu cầucủa nghề, của xã hội và đặc điểm bản thân các em”; điểm khác biệt “đôi chút về đốitượng, phạm vi và mức độ” Nội dung của bài báo còn đề cập về vị trí mới của TVHNtrong chủ trương của Bộ Giáo dục và Đào tạo (Bộ GD&ĐT) Sau đó một năm, tác giảĐặng Danh Ánh (2010) trong nghiên cứu về GDHN đã đưa ra quy trình tư vấn nghềbao gồm bảy bước Cùng thời gian, Lê Thị Thanh Hương (2010, tr.64-90) chủ biên tàiliệu trình bày kết quả nghiên cứu về
Trang 23“TVHN cho HS THPT thực trạng ở Việt Nam và kinh nghiệm quốc tế” xuất bản tạiNhà xuất bản Khoa học Xã hội đã làm rõ các khái niệm: Tư vấn, hướng nghiệp,TVHN (tư vấn chọn nghề) Đồng thời, một số lí thuyết và mô hình TVHN cũngđược trình bày khá chi tiết trong 23 trang Trong tài liệu này, TVHN ở Mĩ, Pháp,
Áo, Malaysia, New zealand, Hàn Quốc và Ấn Độ được các tác giả tổng hợp khá súctích Đồng thời, các tác giả cũng đã nghiên cứu về nhu cầu TVHN, thực trạngGDHN và TVHN tại 3 trung tâm giáo dục lớn nhất: Hà Nội, Đà Nẵng và TP Hồ ChíMinh Những nội dung như đã trình bày về TVHN được các tác giả nghiên cứu vớicách tiếp cận tâm lí học là chủ yếu Cùng năm này, bài báo khoa học “Tổ chứcTVHN nghề cho HS trong dạy nghề” của tác giả Hoàng Văn Bình (2010) đăng tảitrên Tạp chí Giáo dục số 273(kì 1-5/2010) khẳng định: “Tư vấn nghề là một kháiniệm thu hẹp của khái niệm TVHN ” Trong bài viết, tác giả đã trình bày nhữngvấn đề chung về tư vấn nghề và quy trình tư vấn nghề theo bốn bước
Từ năm 2011, số công trình nghiên cứu và bài báo khoa học về đề tài này đượccông bố khá nhiều, tiêu biểu là: “Thực trạng công tác TVHN ở một số trường THPT tạiThành phố Hồ Chí Minh” đăng trên Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm TP HồChí Minh, số 25 của tác giả Nguyễn Thị Trường Hân Bài báo trình bày khái quát vềcông tác TVHN ở trường THPT, thực trạng công tác TVHN ở một số trường THPT tại
TP Hồ Chí Minh và một số biện pháp nâng cao hiệu quả của công tác TVHN
ở một số trường THPT tại Thành phố Hồ Chí Minh Các biện pháp cụ thể: 1) Xây dựngđội ngũ GV làm công tác hướng nghiệp để phụ trách hoạt động GDHN, đồng thời hỗtrợ, hướng dẫn, tư vấn cho HS trong quá trình lựa chọn nghề nghiệp tương
lai; 2) Tổ chức tốt công tác thông tin nghề nghiệp để giúp HS định hướng và lựa chọnnghề; 3) Tăng cường kinh phí, cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ hoạt động hướngnghiệp; 4) Đẩy mạnh hoạt động TVHN cho HS Đồng thời, tác giả khẳng định:
“GDHN, trong đó có TVHN, phải được đặt trong quan điểm phát triển toàn diện, theohướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa” Nghiên cứu về TVHN cũng cần quan tâm đếnngười làm công tác hướng nghiệp, và kết quả nghiên cứu theo hướng này được NguyễnThị Thanh Huyền trình bày trong bài báo “Những yêu cầu về năng lực của GV làm
công tác hướng nghiệp ở trường phổ thông” đăng trên Tạp chí Giáo dục, số
Trang 24260 (Kì 2-4/2011) Tác giả đã khẳng định GV làm công tác hướng nghiệp cần phải thỏa mãn ba năng lực: Năng lực chuyên môn, năng lực dạy học và năng lực tư vấn.
Nhằm hỗ trợ năng lực cần thiết cho đội ngũ tham gia TVHN, Phạm Văn Sơn(2012) đăng tải bài báo “Xây dựng và sử dụng bản mô tả nghề trong TVHN cho HS
phổ thông” trên Tạp chí Tâm lí học số 6 (159), 6/2012 Bài viết đã đề cập đến mục
đích sử dụng bản mô tả nghề trong tư vấn, tác giả khẳng định: “Bản mô tả nghềcung cấp những yêu cầu về phẩm chất, năng lực cần thiết giúp cán bộ tư vấn có cơ
sở đối chiếu với từng HS để xác định sự phù hợp nghề”, “Bản mô tả nghề còn là tàiliệu hữu ích giúp GV, nhà giáo dục, phụ huynh HS muốn tìm hiểu về nghề nghiệpphục vụ cho công tác tư vấn, chọn nghề tương lai” Đồng thời, tác giả cũng nhậnđịnh: “Bản mô tả nghề trong hoạt động TVHN là một trong những giải pháp thiếtthực góp phần đẩy mạnh tuyên truyền định hướng nghề cho HS THPT.”
Luận án tiến sĩ “TVHN cho HS THPT” của Phạm Ngọc Linh công bố năm
2013 đã làm rõ các khái niệm tư vấn, TVHN, TVHN cho HS THPT; chỉ ra nhữngnội dung tâm lí của hoạt động TVHN và các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt độngTVHN cho HS THPT Đồng thời, luận án cũng đã khái quát thực trạng TVHN ởmột số trường THPT, các biểu hiện tâm lí trong TVHN
Luận án tiến sĩ Khoa học giáo dục “GDHN cho HSTHPT khu vực Hà Nội quatham vấn nghề” của Trương Thị Hoa công bố vào năm 2014 đã trình bày cơ sở líluận của GDHN qua tham vấn nghề ở THPT Trong đó, tác giả đã trình bày khá chitiết về tư vấn nghề trên thế giới và tư vấn nghề, tham vấn nghề ở Việt Nam Đồngthời tác giả cũng so sánh hai khái niệm tư vấn nghề và tham vấn nghề là:
Giống nhau: Tham vấn nghề và tư vấn nghề đều là hoạt động trợ giúp cá
nhân giải quyết những khó khăn, vướng mắc trong công việc, trong lựa chọn nghề”
Khác nhau: Về mục tiêu: Tư vấn nghề chủ yếu hướng tới đưa ra lời khuyên
chọn nghề, chọn công việc, còn hoạt động tham vấn nghề hướng tới mục tiêu là trợgiúp cá nhân nâng cao năng lực giải quyết những khó khăn trong quá trình chọn nghề;
Về tiến trình: Tư vấn nghề thường diễn ra trong một thời gian ngắn hơn, giải quyết vấn
đề tức thời, còn tham vấn nghề có thể diễn ra trong thời gian dài hơn, có thể kéo dài vàibuổi, hoặc hàng tuần; Về cách thức tương tác: Trong tư vấn nghề cách thức
Trang 25thực hiện chính là cung cấp thông tin và lời khuyên bổ ích từ người tư vấn với đầy kiếnthức chuyên sâu về vấn đề cần tư vấn Đây là hình thức mà nhà tư vấn là chuyên gia, làngười chủ động, tích cực, còn người được tư vấn thì thụ động nghe theo sự phân tích vàkhuyên bảo của nhà tư vấn Trong tham vấn nghề có sự tương tác chặt chẽ giữa nhàtham vấn và thân chủ, vai trò của nhà tham vấn chỉ là người trợ giúp còn thân chủ ởđây là trọng tâm Tác giả cũng trình bày rõ GDHN qua tham vấn nghề
ở THPT: mục tiêu, nội dung, hình thức và định hướng quy trình hoạt động tham vấn.Luận án còn trình bày kết quả nghiên cứu về thực trạng, trên cơ sở của lí luận và kếtquả của thực trạng, tác giả đã xây dựng quy trình hoạt động tham vấn nghề trongGDHN ở THPT Mặc dù như tác giả đã phân biệt tư vấn nghề và tham vấn nghề nhưnghai khái niệm vẫn có điểm tương đồng, nên kết quả trong luận án này vẫn chắt lọc đểlàm cơ sở lí luận cho công trình nghiên cứu của mình
Bài báo “TVHN học đường thực trạng và giải pháp” được đăng trên Tạp chí
Thiết bị Giáo dục số 123 tháng 11/2015, trong đó, tác giả Đỗ Thị Bích Loan trình
bày về: khái niệm “tư vấn học đường”, “TVHN học đường”; Vai trò của TVHN họcđường; thực trạng TVHN trong nhà trường; và một số các giải pháp tăng cườngTVHN học đường Trong số các giải pháp, đáng chú ý là giải pháp 4: Trách nhiệmcủa hiệu trưởng và GVCN trong quản lí tổ chức tư vấn nghề
Bài báo “TVHN và tuyển sinh cho HS – kinh nghiệm ở Trường THCS &
THPT Nguyễn Tất Thành” trên Tạp chí Giáo dục, số Đặc biệt (Kì 1 tháng 6/2016)
đã được tác giả Nguyễn Thị Thu Anh tập trung vào ba nội dung: TVHN và tuyểnsinh ở Trường Nguyễn Tất Thành – Những vấn đề đặt ra; Tổ chức hoạt động TVHN
và tuyển sinh ở Trường Nguyễn Tất Thành; Bài học kinh nghiệm Trong đó, đángchú ý về ý nghĩa của hoạt động TVHN và tuyển sinh
Bài báo “Thực trạng nhu cầu về các hình thức TVHN của HS một số trườngTHPT tại Thành phố Hồ Chí Minh” của tác giả Lê Duy Hùng (2018, tr.15-18) đã nhấnmạnh rằng “nhu cầu của HS THPT về hình thức TVHN là những nhu cầu cần được trợgiúp bởi các hình thức TVHN trực tiếp hoặc gián tiếp để thỏa mãn nhu cầu TVHN củabản thân” Tác giả đã đưa ra 8 hình thức để tìm hiểu thực trạng nhu cầu về hình thứcTVHN của HS THPT, đó là: 1) Gián tiếp qua thư, email; đài truyền hình;
Trang 26điện thoại 2) Các nhà chuyên môn làm việc trực tiếp cho cá nhân hoặc nhóm HS tạiphòng tư vấn 3) Tổ chức các buổi hội thảo với HS theo quy mô nhỏ (từ 10-20 HS).4) Học tập, tham quan thực tế tại các trường cao đẳng, đại học (CĐ, ĐH), cơ sở dạynghề hoặc nhà máy 5) Được học và thực hành một nghề nào đó trong quá trình họcphổ thông 6) Các thầy/cô lồng ghép giáo dục nghề trong quá trình dạy môn cơ bản.7) Tổ chức cho HS nghe những người đang làm các ngành nghề nói về công việc của họ 8) Các nhà chuyên môn làm việc với phụ huynh HS.
Nghiên cứu về TVHN không chỉ công bố kết quả qua các công trình nghiêncứu, các bài báo khoa học, còn thể hiện trong tài liệu “Tổ chức hoạt động GDHNtrong nhà trường phổ thông” do Nhà xuất bản Đại học Thái Nguyên năm 2015 củatác giả Nguyễn Thị Thanh Huyền Nội dung của tài liệu đã trình bày về cơ sở lí luậncủa GDHN, tổ chức hoạt động GDHN và tư vấn nghề trong trường phổ thông Cácnội dung như: các giai đoạn hướng nghiệp; các thành phần tham gia tổ chức thựchiện hoạt động GDHN trong trường phổ thông; tổ chức hoạt động GDHN trongtrường phổ thông; các khái niệm “tư vấn” và “tư vấn nghề”; chức năng, nhiệm vụ,nội dung, phương pháp và quy trình tư vấn nghề
Vậy, nghiên cứu về hoạt động TVHN ở nước ta đã xuất hiện vào những năm 80
của thế kỉ XX và đã thu được kết quả đáng khích lệ Kết quả nghiên cứu về hoạt độngnày đã được trình bày rõ, như: một số lí thuyết và mô hình TVHN, vấn đề tư vấn nghề;các đặc điểm của bản thân trong quá trình chọn nghề, tư vấn nghề Làm rõ các kháiniệm: Tư vấn, hướng nghiệp, TVHN, TVHN (tư vấn chọn nghề), tư vấn nghề và thamvấn nghề, ý nghĩa của hoạt động TVHN và tuyển sinh, tám hình thức để tìm hiểu thựctrạng nhu cầu TVHN của HS THPT Xây dựng: Các phòng hướng nghiệp và việc tưvấn nghề trong trường nghề và trường phổ thông; mô hình “Tổ tư vấn nghề trongtrường phổ thông khu vực miền núi Đông Bắc”; quy trình tư vấn nghề bao gồm bảybước; và sử dụng bản mô tả nghề trong TVHN cho HS phổ thông; nhiều bản họa đồnghề có giá trị thực tiễn phục vụ tư vấn nghề Xác định thực trạng và đề xuất một sốgiải pháp/biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động TVHN ở trường THPT Chỉ ra nhữngnội dung tâm lí của hoạt động TVHN và các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động TVHNcho HS THPT Làm rõ cơ sở lí luận của GDHN qua tham vấn nghề ở THPT
Trang 271.1.2.2 Quản lí hoạt động TVHN ở trường THPT
Quản lí hoạt động TVHN ở trường THPT có ý nghĩa và tầm quan trọng trongviệc định hướng, lựa chọn nghề, lựa chọn trường phù hợp cho HS tốt nghiệp THPTtrong tương lai Nhưng kết quả nghiên cứu được công bố hay đăng tải trong cácluận án tiến sĩ và các bài báo khoa học nghiên cứu còn khiêm tốn Cụ thể:
Luận án tiến sĩ “Quản lý GDHN ở trường trung học phổ thông theo địnhhướng phát triển nhân lực thành phố Hồ Chí Minh” (Phạm Đặng Khoa, 2016), làm
rõ cơ sở lí luận về GDHN và quản lí GDHN ở trường phổ thông theo định hướngphát triển nhân lực, trên nền tảng xác định thực trạng về GDHN và quản lí GDHN ởtrường THPT tại thành phố Hồ Chí Minh, tác giả đã xác định nguyên nhân và đềxuất 6 giải pháp quản lí GDHN
Bài báo khoa học “Một số giải pháp quản lí công tác hướng nghiệp cho HS
THPT huyện Châu Thành, tỉnh An Giang” trong Tạp chí Khoa học Trường Đại học
Đồng Tháp, số 24 (2-2007) của tác giả Trần Phú Hào đã xác định hai nguyên nhân
lớn dẫn đến tình trạng lựa chọn sai ngành nghề của HS THPT là: Ở trường THPTvẫn chú trọng việc dạy chữ mà thiếu định hướng tương lai cho HS, chưa phối hợptốt với các trường CĐ, ĐH, trung cấp để tư vấn cho HS; Hình thức tổ chức các hoạtđộng hướng nghiệp còn nghèo nàn, rập khuôn chưa có nhiều thông tin mới nênkhông thu hút sự chú ý của HS Từ những nguyên nhân này, tác giả đã đề xuất nămgiải pháp quản lí công tác hướng nghiệp cho HS THPT huyện Châu Thành, tỉnh AnGiang Năm giải pháp này tập trung vào các nội dung của quản lí như: nội dung,phương pháp và hình thức, kiểm tra và đánh giá kết quả, phối hợp với gia đình và xãhội, điều kiện cho hoạt động GDHN trong trường THPT
Bài báo “Quản lí hoạt động tư vấn học đường ở các trường THPT tỉnh HậuGiang” của Nguyễn Quang Nhơn (2016), trong đó tác giả trình bày thực trạng tưvấn học đường và quản lí tư vấn học đường, và sáu biện pháp quản lí tư vấn họcđường Mặc dù tác giả không sử dụng khái niệm TVHN, nhưng nội hàm như tác giảtrình bày cũng tương đồng với khái niệm này
Phần lớn việc nghiên cứu còn tập trung ở trình độ thạc sĩ: “Quản lí GDHN ở cáctrường THPT tại thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương” của Nguyễn Thị Thanh
Trang 28Trang (2014); “Quản lí hoạt động TVHN theo hướng phân luồng HS sau THCS ởthành phố Việt Trì tỉnh Phú Thọ” của Nguyễn Ngọc Thảo (2016); “Quản lí hoạt độngGDHN cho HS THPT trên địa bàn Hà Nội” của Lê Thị Thu Trà (2016); “Quản lí hoạtđộng tham vấn học đường ở các trường THCS Quận 11 Thành phố Hồ Chí Minh” củaĐặng Thị Bích Nga (2018) Đáng chú ý là luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lí Giáodục có tên gần như tên đề tài của tác giả luận án (chỉ khác địa bàn nghiên cứu) “Quản líhoạt động TVHN cho HS trường THPT tỉnh Thái Bình” đã công bố vào năm 2014 củatác giả Nguyễn Quốc Tuấn Luận văn đã trình bày cơ sở lí luận về quản lí hoạt độngTVHN cho HS trường THPT Trên cơ sở này, tác giả đã xác định thực trạng qua khảosát về các đối tượng: CBQL, GV, HS và cha mẹ HS trong hoạt động TVHN với HS lớp
11 và 12 ở các trường THPT huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình Kết quả thực trạng tậptrung vào: nhận thức về hoạt động TVHN và quản lí hoạt động TVHN cho HS ở trườngTHPT; hoạt động TVHN cho HS ở trường THPT tỉnh Thái Bình; quản lí hoạt độngTVHN cho HS ở trường THPT tỉnh Thái Bình Trong cơ sở lí luận tác giả nghiên cứuquản lí trên quan điểm quản lí về mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức và điều
kiện thực hiện công tác TVHN Do đó, 08 biện pháp: 1) Đẩy mạnh tuyên truyền về TVHN cho GV và HS, phụ huynh HS; 2) Xây dựng kế hoạch TVHN phù hợp với điều kiện tổ chức của nhà trường, điều kiện địa phương và nhu cầu của HS; 3) Chỉ đạo đổi mới nội dung hoạt động TVHN theo hướng đáp ứng yêu cầu thực tiễn; 4) Tăng cường đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động TVHN; 5) Phối hợp và huy động hiệu quả các lực lượng giáo dục ngoài nhà trường tham gia hoạt động TVHN cho HS; 6) Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, kinh phí cho hoạt động TVHN; 7) Bồi dưỡng năng lực TVHN cho GV, tư vấn viên; 8) Xây dựng và sử dụng hiệu quả các địa chỉ TVHN cho HS cũng chỉ tập trung chủ yếu vào mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình
thức và điều kiện thực hiện công tác TVHN Như vậy, mặc dù đề tài của tác giảNguyễn Quốc Tuấn có tên gọi gần như đề tài của tác giả luận án, nhưng khi nghiên cứukhông xét theo chức năng của quản lí giáo dục
Bên cạnh những công trình nghiên cứu, còn xuất hiện các tài liệu liên quan đến hoạt động TVHN và quản lí hoạt động TVHN như: Tài liệu tập huấn về “đổi
mới GDHN trong trường trung học” năm 2015 được nhóm các tác giả Vũ Đình
Trang 29Chuẩn, Lê Trần Tuấn, Trần Thị Thu, Nguyễn Thị Châu, Hồ Phụng Hoàng Phoenix biênsoạn trên cơ sở nội dung của hoạt động GDHN trong trường trung học do Vụ Giáo dụcTrung học, Bộ GD&ĐT phối hợp với Tổ chức Hợp tác phát triển và hỗ trợ kĩ thuậtvùng Flamăng, Vương quốc Bỉ (VVOB) nhằm hỗ trợ GV dạy tại các trường phổ thông
có tư liệu tham khảo trong quá trình tổ chức dạy học trong nhà trường Tài liệu đã đượcHội đồng thẩm định của Bộ GD&ĐT thẩm định về nội dung và đã được thực hiện tạihai tỉnh Nghệ An, Quảng Nam. Tài liệu này tập trung vào 4 nội dung:
+ Những vấn đề đổi mới GDHN ở cấp trung học theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 (khóa XI);
+ Một số cơ sở lí thuyết của GDHN ở trường trung học;
+ Tổ chức phát triển chương trình, nội dung, phương pháp và hình thức GDHN
ở trường trung học trong giai đoạn tới;
+ Tổ chức, quản lí công tác GDHN ở trường trung học trong giai đoạn tới Và
được trình bày trong 3 phần
Trong đó, phần 2 các tác giả đã đưa ra quá trình TVHN gồm 3 bước: “Bước 1:
Tư vấn viên giúp HS khám phá bản thân qua tư vấn cá nhân, những bài tập suyngẫm và các bài trắc nghiệm; Bước 2: Tư vấn viên giúp HS tìm hiểu thông tin nghềnghiệp qua tư vấn cá nhân, những bài tập tìm hiểu cổng thông tin và các bài tậpphỏng vấn thông tin về nghề nghiệp; Bước 3: Tư vấn viên giúp HS lập kế hoạchnghề nghiệp, trong đó nêu rõ mục tiêu nghề nghiệp, những bước thực hiện, thời gianthực hiện và phương pháp tự đánh giá xem kế hoạch có tốt hay không
Phần 3 của tài liệu trình bày đầy đủ về tổ chức, quản lí công tác GDHN ởtrường trung học Đây là cơ sở lí luận để tác giả luận án xây dựng cơ sở lí luận quản
lí hoạt động TVHN
Từ phân tích các công trình nghiên cứu trên, cho thấy việc nghiên cứu về quản líhoạt động TVHN chỉ được đề cập còn rất ít trong nghiên cứu về quản lí giáo dục hướngnghiệp và chỉ được một vài học viên cao học thực hiện Các kết quả nghiên cứu của cáccông trình này là: Xây dựng lí luận về quản lí hoạt động TVHN theo quan điểm quản lí
về mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức và điều kiện thực hiện; tổ chức, quản lícông tác GDHN ở trường trung học Trình bày thực trạng quản
Trang 30lí tư vấn học đường, thực trạng hoạt động TVHN qua khảo sát về các đối tượng:CBQL, GV, HS và cha mẹ HS Tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến tình trạng lựa chọn saingành nghề của HS THPT Đề xuất biện pháp/ giải pháp nâng cao hiệu quả quản lí hoạtđộng TVHN như: 1) Đẩy mạnh tuyên truyền về TVHN cho GV và HS, phụ huynh HS;2) Xây dựng kế hoạch TVHN phù hợp với điều kiện tổ chức của nhà trường, điều kiệnđịa phương và nhu cầu của HS; 3) Chỉ đạo đổi mới nội dung hoạt động TVHN theohướng đáp ứng yêu cầu thực tiễn; 4) Tăng cường đổi mới phương pháp và hình thức tổchức hoạt động TVHN; 5) Phối hợp và huy động hiệu quả các lực lượng giáo dục ngoàinhà trường tham gia hoạt động TVHN cho HS; 6) Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất,kinh phí cho hoạt động TVHN; 7) Bồi dưỡng năng lực TVHN cho GV, tư vấn viên; 8)Xây dựng và sử dụng hiệu quả các địa chỉ TVHN cho HS Nội dung trong các tài liệutập huấn, chuyên đề đã trình bày quá trình TVHN.
Nhìn chung: Qua tìm hiểu các công trình nghiên cứu về hoạt động TVHN và
quản lí hoạt động TVHN trên thế giới đã xuất hiện từ rất lâu và ở nước ta mới chỉ gần
40 năm nhưng đã thu được kết quả đáng trân trọng Kết quả nghiên cứu về hoạt độngTVHN làm rõ về cơ sở lí luận TVHN vấn đề tư vấn nghề TVHN, tham vấn nghề Đặc biệtđược quan tâm về: khái niệm, lí thuyết của Holland, quy trình tư vấn nghề, tám hình thức
để tìm hiểu thực trạng nhu cầu TVHN của HS THPT; mô hình “Tổ tư vấn nghề trongtrường phổ thông” Xác định thực trạng và đề xuất giải pháp/biện pháp nâng cao hiệu quảhoạt động TVHN ở trường THPT Về kết quả nghiên cứu quản lí hoạt động TVHN chưalàm rõ và đầy đủ cơ sở lí luận Chỉ hệ thống cơ sở lí luận về
quản lí hoạt động TVHN theo quan điểm quản lí về mục tiêu, nội dung, phươngpháp, hình thức và điều kiện thực hiện Trình bày thực trạng quản lí tư vấn họcđường, thực trạng hoạt động TVHN qua khảo sát về các đối tượng: CBQL, GV, HS
và cha mẹ HS Đề xuất biện pháp/ giải pháp tập trung vào các nội dung của quản línhư: nội dung, phương pháp và hình thức, kiểm tra và đánh giá kết quả, phối hợpvới gia đình và xã hội, điều kiện cho hoạt động GDHN trong trường THPT, biệnpháp quản lí tư vấn học đường Như vậy xác định nội dung quản lí hoạt độngTVHN cho HS các trường THPT theo tiếp cận lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo vàkiểm tra việc thực hiện hoạt động TVHN còn bị bỏ ngỏ
Trang 311.2 Các khái niệm công cụ của đề tài
1.2.1 Khái niệm tư vấn
Thuật ngữ “couseling” trong tiếng Anh được chuyển sang tiếng Việt chủ yếuthành hai thuật ngữ “tư vấn” và “tham vấn” Hiện nay, giữa các nhà chuyên môncòn chưa có sự thống nhất trong việc sử dụng những thuật ngữ này Một số nhànghiên cứu cho rằng thuật ngữ “tham vấn” được sử dụng trong lĩnh vực tâm lí họcbởi tham vấn tâm lí khác với tư vấn ở chỗ nhà tham vấn không được phép chokhách hàng những lời khuyên (như trong tư vấn), mà chủ yếu bằng các thủ phápchuyên môn khác nhau, khích lệ khách hàng để họ tự tìm ra cách giải quyết vấn đềcủa mình một cách phù hợp nhất Thuật ngữ “tư vấn” với nội hàm chung, bao gồm
cả tham vấn tâm lí thường được sử dụng trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống
xã hội mà trong quá trình làm việc nhà TVHN vừa có thể sử dụng các biện pháp tâm
lí làm cho khách hàng hiểu rõ bản thân, những mặt mạnh mặt yếu của họ vừa cungcấp cho khách hàng những thông tin cần thiết liên quan đến ngành nghề khác nhautrong xã hội, từ đó hướng dẫn hoặc đề xuất cho khách hàng những cáchthức/phương án lựa chọn ngành nghề trên cơ sở phân tích sự phù hợp giữa năng lực,
sở thích điều kiện cá nhân và những yêu cầu của nghề, yêu cầu của thị trường laođộng… (Lê Thị Thanh Hương, 2010, tr.24 - 25)
Từ điển Tiếng Việt của tác giả Hoàng Phê (2002,tr.5) cho rằng tư vấn là “phát
biểu ý kiến về một vấn đề gì đó nhưng không có quyền quyết định” Hiệu quả của tưvấn chính là tính thuyết phục trong lí lẽ, cách luận giải phù hợp với tâm lí, nhu cầutìm nhiều của đối tượng cần giúp đối tượng tư vấn quyết định cách giải quyết tìnhhuống, vấn đề gặp phải Hoạt động tư vấn thường gần với hoạt động giáo dục
Trong bài viết “TVHN cho HS phổ thông”, tác giả Đặng Danh Ánh (2009, tr.1)nhận định: Tư vấn là việc đưa ra lời khuyên hoặc giải pháp kĩ thuật được tiến hành bởichuyên gia giúp cho người có nhu cầu (khách hàng) thực hiện một công việc hay mụcđích chuyên môn cho trước hay tư vấn là một dịch vụ “chất xám” (trong đó các chuyêngia có đủ năng lực và phẩm chất thích hợp) tiến hành một cách độc lập, khách quantheo thỏa thuận các vấn đề: cập nhật, xử lí thông tin, kiến thức, phát hiện phân tích vấnđề; lựa chọn giải pháp tối ưu cho từng trường hợp cụ thể nhằm chuyển giao chúng đếnngười có nhu cầu vào đúng lúc, theo đúng cách để đạt mục tiêu, hiệu quả
Trang 32Cũng theo tác giả, tư vấn chọn nghề bao gồm TVHN cho HS THPT và tư vấn nghềcho HS, SV các trường dạy nghề, TCCN, CĐ, ĐH khi các em mới nhập trường.Phạm Ngọc Linh (2013, tr.21) đã định nghĩa tư vấn là “quá trình tương tác tíchcực giữa người tư vấn với người có nhu cầu tư vấn nhằm giúp cho người có nhu cầu
tư vấn tự giải quyết vấn đề của chính mình”
Từ những nghiên cứu trên, có thể hiểu tư vấn là hoạt động có sự tác động của chủ thể tư vấn và khách thể được tư vấn nhằm giúp người được tư vấn đưa ra quyết định cho một vấn đề nào đó Chủ thể tư vấn là người có trình độ chuyên môn, có kinh
nghiệm, được đạo tạo chuyên nghiệp, có kiến thức, kĩ năng và các phẩm chất đạo đứcphù hợp với hoạt động tư vấn Khách thể được tư vấn là người đang gặp khó khăn vềcác vấn đề liên quan đến tâm lí hay các mối quan hệ xã hội mà không tự giải quyếtđược và có nhu cầu được giúp đỡ Kết quả của hoạt động tư vấn là khách thể được tưvấn lớn mạnh về nhận thức và tự giải quyết được vấn đề khó khăn của mình
1.2.2 Khái niệm hướng nghiệp
Khái niệm “Hướng nghiệp” truyền bá rộng rãi sau Hội nghị Quốc tế về Tâm líhọc năm 1938 ở Barcelona, Tây Ban Nha Sau đó, ở các nước phương Tây đã ứngdụng những thành tựu nghiên cứu về lĩnh vực hướng nghiệp vào thực tế cuộc sống
Ở Việt Nam, thuật ngữ “Hướng nghiệp” (Carreer guidance) được các nhà giáo dục Việt Nam định nghĩa như sau:
Dưới góc độ tâm lí học, Đặng Danh Ánh (2002) quan niệm: “Hướng nghiệp làmột hoạt động của các tập thể sư phạm, của các cán bộ thuộc các cơ quan, nhà máykhác nhau, được tiến hành với mục đích giúp cho HS chọn nghề đúng đắn phù hợp vớinăng lực, hứng thú, thể lực và tâm lí của cá nhân, với nhu cầu nhân lực của xã hội.Hướng nghiệp là một bộ phận cấu thành của quá trình giáo dục - học tập trong nhà
trường” Hướng nghiệp không chỉ gắn với khâu chọn nghề của HS phổ thông mà còn gắn với khâu thích ứng nghề ở bất kì trường chuyên nghiệp nào (doanh nghiệp, THCN,
CĐ, ĐH) và tại các cơ sở sản xuất kinh doanh- nơi các em đến làm việc sau khi tốtnghiệp Nói cách khác, hướng nghiệp được bắt đầu từ khi HS đến trường (trọng tâm làtrường THCS, THPT) đến khi các em có một nghề trong tay Trong cách tiếp cận này,
ông cho rằng mục tiêu chủ yếu của hướng nghiệp là phát hiện và bồi dưỡng tiềm năng
sáng tạo của cá nhân, giúp họ hiểu mình, hiểu yêu cầu của nghề, chuẩn bị
Trang 33cho thanh thiếu niên sự sẵn sàng tâm lí đi vào những nghề mà có thành phần kinh tế đang cần nhân lực, trên cơ sở bảo đảm sự phù hợp nghề.
Phạm Văn Sơn (2009, tr.15-16): Hướng nghiệp là thuật ngữ dùng để chỉnhững dịch vụ hoặc hoạt động với mục đích hỗ trợ các cá nhân ở mọi lứa tuổi vàvào mọi thời gian trong cuộc đời, đưa ra những lựa chọn về đào tạo, học tập vànghề nghiệp và quản lí sự nghiệp của mình Những dịch vụ này có thể ở các trườnghọc, các trường CĐ, ĐH, các tổ chức đào tạo dịch vụ tuyển dụng công, ở nơi làmviệc, ở khu vực tư nhân, tình nguyện hoặc cộng đồng Những hoạt động này có thểđược tiến hành cho một cá nhân hoặc một nhóm cá nhân, có thể là qua tiếp xúc từ
xa như qua điện thoại, qua website Những hoạt động này bao gồm cung cấp thôngtin nghề nghiệp (bằng ấn bản, trên mạng hoặc các hình thức khác), các công cụđánh giá và tự đánh giá, phỏng vấn, TV, những chương trình giáo dục nghề nghiệp
để giúp các cá nhân phát triển nhận thức về bản thân, nhận biết cơ hội và những kĩnăng quản lí sự nghiệp), chương trình thử (lựa chọn mẫu trước khi lựa chọn chínhthức), chương trình tìm kiếm việc làm và những dịch vụ chuyển tiếp
Quan điểm của tổ chức Khoa học giáo dục văn hóa Liên Hiệp Quốc(UNESCO) năm 1970 định nghĩa: “Hướng nghiệp là làm cho cá nhân nhận thứcđược các đặc tính của mình và phát triển những đặc tính đó để chọn ngành học vàcác hoạt động chuyên môn trong mọi hoàn cảnh của đời sống với mong muốn đượcphục vụ xã hội và phát triển trách nhiệm của mình” Theo định nghĩa này, con người
là chủ thể của định hướng cá nhân, hướng nghiệp chỉ tạo điều kiện để con người mởrộng khả năng hoà nhập xã hội và hòa nhập nghề nghiệp
Thông tư số 31-TT/17/11/1981 về việc hướng dẫn thực hiện Quyết định của Hội đồng Chính phủ về công tác hướng nghiệp trong nhà trường phổ thông và sử dụng hợp
lí HS phổ thông tốt nghiệp quy định “Hướng nghiệp là một yêu cầu cần thiết của cải
cách giáo dục nhằm thực hiện mục tiêu, nguyên lí và nội dung giáo dục của Đảng; gópphần tích cực và có hiệu quả vào việc phân công và sử dụng hợp lí HS sau khi tốtnghiệp Công tác hướng nghiệp trong nhà trường phổ thông nhằm mục đích bồi dưỡng,hướng dẫn HS chọn nghề phù hợp với yêu cầu phát triển của xã hội, đồng thời phù hợpvới thể lực và năng khiếu của cá nhân Hướng nghiệp phải dựa trên cơ sở
Trang 34giáo dục kĩ thuật tổng hợp và giáo dục toàn diện; Hướng nghiệp phải căn cứ vàophương hướng phát triển kinh tế, văn hóa và nhu cầu sử dụng nguồn lao động dự trữcủa đất nước và địa phương; Mức độ nội dung, hình thức và phương pháp hướngnghiệp phải phù hợp với đặc điểm của HS (sức khỏe, lứa tuổi, trình độ học tập, xuhướng )”.
Theo Điều 3 Nghị định của Chính phủ số 75/2006/NĐ-CP ngày 02/8/2006 quy
định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giáo dục thì hướng
nghiệp là hoạt động “giúp đỡ lựa chọn ngành nghề”, “Hướng nghiệp trong giáo dục
là hệ thống các biện pháp tiến hành trong và ngoài nhà trường để giúp HS có kiếnthức về nghề nghiệp và có khả năng lựa chọn nghề nghiệp trên cơ sở kết hợpnguyện vọng, sở trường của cá nhân với nhu cầu sử dụng lao động của xã hội”.Nhìn chung, các quan điểm trên đều xem hướng nghiệp là một hoạt động trợgiúp cá nhân lựa chọn được một nghề không chỉ phù hợp với năng lực, nguyệnvọng cá nhân mà còn phù hợp với nhu cầu của xã hội Như vậy, khái niệm hướngnghiệp trong đề tài này được hiểu là một hệ thống các biện pháp tác động của giađình, nhà trường và toàn xã hội vào quá trình định hướng nghề nghiệp của cá nhânbằng cách giúp họ lựa chọn và xác định được vị trí nghề nghiệp của mình trongcuộc sống trên cơ sở kết hợp năng lực, sở trường, nguyện vọng của cá nhân với điềukiện gia đình và nhu cầu thị trường lao động, qua đó cá nhân tự quyết định chọn lấymột nghề phù hợp trong lao động nghề nghiệp sau này
1.2.3 Khái niệm tư vấn hướng nghiệp
Thuật ngữ “tư vấn hướng nghiệp” đã được đề cập trong nhiều tài liệu nhưngchưa có tác giả hay công trình nào chỉ ra thật rõ ràng sự giống nhau và khác nhaugiữa tư vấn nghề, TVHN và tư vấn nghề nghiệp (Career counseling) nhưng theo cáctác giả Đặng Danh Ánh (2009, tr.3-4); Lê Thị Thanh Hương (2010, tr.32-33), bathuật ngữ trên có:
Điểm giống nhau: Về hình thức lẫn nội dung thì tư vấn nghề, TVHN và tư vấn
nghề nghiệp đều có mục tiêu chung nhất, cao nhất là giúp HS chọn được ngành học,nghề học và trường học sao cho phù hợp với yêu cầu của nghề, của xã hội và đặcđiểm của bản thân các em
Trang 35Điểm khác nhau cơ bản: Xét về đối tượng, phạm vi và mức độ thì tư vấn nghề là
tư vấn diện hẹp, phạm vi diễn ra trong trường dạy nghề, trường TCCN, nó gắn với mộtngành, một nghề cụ thể và đặc biệt gắn với khâu tuyển chọn nghề Tư vấn nghề nghiệpbao gồm tất cả những hoạt động tư vấn gắn với những lựa chọn nghề nghiệp trải dàitrong toàn bộ cuộc đời của cá nhân, trong khi đó TVHN quan tâm chủ yếu đến việc tưvấn định hướng nghề nghiệp cho HS trong các trường thuộc hệ thống giáo dục phổthông TVHN là tư vấn diện rộng, đối tượng của TVHN là HS phổ thông, phạm vi diễn
ra trong nhà trường phổ thông và trong trung tâm kĩ thuật tổng hợp - hướng nghiệp.Như vậy, nội hàm khái niệm tư vấn nghề nghiệp bao hàm cả nội hàm khái niệm TVHN.TVHN được xem như là giai đoạn đầu của tư vấn nghề nghiệp
Hiện nay, ở nước ta vẫn sử dụng khái niệm tham vấn hướng nghiệp và TVHN.Trong đó, TVHN là “quá trình tương tác tích cực giữa nhà tham vấn - người có trình
độ chuyên môn nghề nghiệp, kĩ năng tham vấn, có các phẩm chất đạo đức của nghềtham vấn với thân chủ đang có vấn đề khó khăn về lựa chọn nghề nghiệp cần đượcgiúp đỡ Thông qua các kĩ năng trao đổi, chia sẻ thân mật, tâm tình giúp thân chủkhơi dậy tiềm năng để họ có thể tự giải quyết vấn đề đang gặp phải, đồng thời nângcao được khả năng đối phó với vấn đề trong cuộc sống.” (Nguyễn Thị Cẩm, 2018,tr.166) Như vậy, tham vấn hướng nghiệp không cho HS lời khuyên Theo tác giảNguyễn Thị Cẩm, nội dung tham vấn hướng nghiệp cho HS gồm: 1) Giúp HS: tìmhiểu yêu cầu và đặc điểm nghề; tự đánh giá năng lực, tính cách, hứng thú, sở thíchnghề nghiệp của bản thân; phân tích, đánh giá thị hiếu về nghề của xã hội một cáchkhách quan, đúng đắn 2) Xây dựng mối quan hệ phù hợp với cha mẹ nhằm thúc đẩy
sự thành công của việc lựa chọn nghề nghiệp 3) Kết nối HS với các nguồn hỗ trợtrong việc lựa chọn nghề Còn khái niệm TVHN được hiểu:
Theo Đỗ Thị Bích Loan (2015, tr.2) thì TVHN là các hoạt động nhằm hỗ trợ
cá nhân chọn lựa và phát triển chuyên môn nghề nghiệp phù hợp nhất với khả năngcủa cá nhân đồng thời thỏa mãn nhu cầu nhân lực cho tất cả lĩnh vực nghề nghiệp ởcấp độ địa phương và quốc gia TVHN giúp HS nắm bắt được khái niệm nghề, nhucầu của xã hội về nguồn lao động, sự phù hợp của những đặc điểm tâm lí cá nhânđối với nghề mà các em định chọn
Trang 36Theo Hồ Phụng Hoàng Pheonix và Trần Thị Thu (2015, tr.43): TVHN đượchiểu là hệ thống những biện pháp tâm lí, giáo dục và một số biện pháp khác đượccác chuyên viên TVHN, các thầy/cô giáo làm nhiệm vụ TVHN…(gọi chung là tưvấn viên - TVV) sử dụng nhằm phát hiện, đánh giá sở thích nghề nghiệp, khả năng
về thể chất, trí tuệ của HS, sinh viên, thanh, thiếu niên… (gọi chung là người được
tư vấn - NĐTV); đối chiếu các khả năng thực có của HS với những yêu cầu của bậchọc cao hơn hoặc những yêu cầu của nghề đặt ra đối với người lao động, có cânnhắc đến nhu cầu nhân lực của địa phương và xã hội Từ đó, giúp cho NĐTV tự tìm
ra giải pháp và từng bước giải quyết vấn đề để chọn được hướng học hoặc chọnnghề phù hợp Tùy theo đối tượng và nhu cầu, TVHN có thể là: tư vấn hướng học
để giúp các em lựa chọn ban, ngành học, trường học phù hợp ở bậc học cao hơn,hoặc tư vấn chọn nghề để giúp các em lựa chọn ngành nghề và cơ sở đào tạo nghềvừa phù hợp với nguyện vọng, sở thích, khả năng nghề nghiệp của các em, vừa phùhợp với hoàn cảnh gia đình và nhu cầu nhân lực của địa phương, xã hội
Theo Phạm Ngọc Linh (2013, tr.26): TVHN là một hoạt động nhằm giúp chocác cá nhân nâng cao nhận thức về đặc điểm nghề, nhu cầu xã hội đối với nghề vàhiểu biết về đặc điểm tâm lí bản thân để lựa chọn nghề phù hợp” Trong định nghĩanày, TVHN có những đặc điểm cụ thể sau: Mục đích của TVHN là giúp cá nhânnâng cao nhận thức để tự chọn được nghề phù hợp nhất với bản thân Giữa người tưvấn và người được TVHN có mối quan hệ tương tác, tin cậy; Nội dung tâm lí củahoạt động tư vấn: Nâng cao nhận thức về đặc điểm nghề, nhu cầu xã hội đối vớinghề và hiểu biết đặc điểm tâm lí bản thân để lựa chọn nghề phù hợp
Tổng hợp các định nghĩa trên, trong đề tài này sử dụng khái niệm TVHN là hệthống những biện pháp tâm lí, giáo dục, một số biện pháp khác và lời khuyên đượcđội ngũ TVHN sử dụng giúp HS nắm bắt được khái niệm nghề, nhu cầu của xã hội
về nguồn lao động, sự phù hợp của những đặc điểm tâm lí cá nhân đối với nghề.Trên cơ sở đó, giúp HS nâng cao nhận thức về đặc điểm nghề, nhu cầu xã hội đốivới nghề và hiểu biết về đặc điểm tâm lí bản thân; phát hiện, đánh giá sở thích nghềnghiệp, khả năng về thể chất, trí tuệ và đối chiếu các khả năng thực có của chínhmình với những yêu cầu xã hội đối với nghề mà các em định chọn
Trang 371.2.4 Khái niệm tư vấn hướng nghiệp ở trường trung học phổ thông
Tác giả Phạm Văn Sơn (2011, tr.1) quan niệm: TVHN trong giáo dục phổthông là sự định hướng hoạt động của HS nhằm hình thành ở các em khuynh hướngnghề nghiệp trên cơ sở nghiên cứu một quá trình lâu dài hoặc một thời gian vềnhững đặc điểm cá nhân của mỗi HS Mục đích cuối cùng cần đạt của TVHN cho
HS phổ thông là tiến hành tư vấn nhằm giúp HS chọn được nghề, được ngành học,được trường học thích hợp
Phạm Ngọc Linh (2012, tr.1) trong bài viết “Đặc điểm nhận thức của HS từ
góc nhìn TVHN” đánh giá: TVHN cho HS THPT là một hoạt động mà hiệu quả của
công việc này không chỉ có ý nghĩa quan trọng với mỗi cá nhân mà còn là điều kiện
cần thiết đối với sự phát triển bền vững của nền kinh tế xã hội Mục đích cuối cùngcủa TVHN là dưới sự trợ giúp của người tư vấn, người được tư vấn nâng cao nhậnthức về thế giới nghề và đặc điểm nghề định chọn, hiểu đúng thông tin về thị trườnglao động, phân tích được đặc điểm tâm lí bản thân rồi từ đó có hành vi chọn nghềphù hợp
Trong luận án có tên “TVHN cho HS THPT”, tác giả Phạm Ngọc Linh (2013,
tr.35) đã đề xuất khái niệm TVHN cho HS phổ thông như sau: “TVHN cho HS phổthông được hiểu là hoạt động nhằm nâng cao nhận thức cho HS về nghề, về nhu cầu xãhội đối với nghề và nâng cao hiểu biết cho HS về tâm lí bản thân, qua đó HS có thể lựachọn được một nghề phù hợp” Từ khái niệm này, TVHN cho HS THPT có những đặcđiểm cụ thể là: Mục đích của TVHN là tư vấn nâng cao hiểu biết của HS về nghề, nhucầu xã hội với nghề và hiểu biết về đặc điểm tâm lí của bản thân phù hợp với nghề.Trên cơ sở HS có hiểu biết đúng, đủ, chính xác về “ba cạnh” nói trên, HS sẽ có hành vi
tự quyết định lựa chọn được nghề phù hợp với đặc điểm tâm lí của bản thân và nhu cầu
xã hội; Tư vấn nâng cao nhận thức cá nhân về thế giới nghề nói chung và tìm hiểu vềđặc điểm, yêu cầu của nghề sẽ chọn; Tư vấn nâng cao hiểu biết của HS về đặc điểmtâm lí cá nhân, xét xem mình thật sự hứng thú với nghề nào, năng lực và tính cách cánhân phù hợp với nghề nào trong xã hội Tư vấn để HS có hiểu biết đúng, đầy đủ nhucầu xã hội về nghề, từ đó có lựa chọn nghề phù hợp Trong quá trình tư vấn, nhà tư vấn
và HS THPT tích cực, cởi mở trao đổi, thảo luận, phân tích ,
Trang 38sau khi phân tích đặc điểm tâm sinh lí cá nhân, HS sẽ đối chiếu với yêu cầu củanghề để tìm ra sự phù hợp nghề, từ đó các em tự quyết định lựa chọn nghề nào đó
1.2.6 Khái niệm quản lí
Khái niệm quản lí đã hình thành cùng với sự xuất hiện của hợp tác và phâncông lao động Mọi hoạt động của xã hội đều cần tới quản lí Quản lí vừa là khoahọc, vừa là nghệ thuật trong việc điều khiển một hệ thống xã hội cả tầm vĩ mô và vi
mô Thuật ngữ quản lí được nhiều nhà nghiên cứu đề cập:
Theo Harold Koontz, Cyril O’Donnell, Heinz Weihrich (1998, p.29) trong tác
phẩm Những vấn đề cốt yếu của quản lí: Quản lí là một hoạt động thiết yếu, nó đảm
bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được mục đích của nhóm Mục tiêucủa mọi nhà quản lí là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người cóthể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn
cá nhân ít nhất Với tư cách thực hành cách quản lí là một nghệ thuật; còn kiến thức
có tổ chức về quản lí là một khoa học”
Tác giả Thái Duy Tuyên (2010, tr.574) cho rằng: “Quản lí là quá trình tácđộng có mục đích, có tổ chức của chủ thể quản lí lên khách thể quản lí bằng việcvận dụng các chức năng và phương tiện quản lí, nhằm sử dụng có hiệu quả nhất cáctiềm năng và cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ra”
Theo Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê (2002, tr.1030): Quản lí là sự trông coi,
Trang 39giữ gìn theo những yêu cầu nhất định, là tổ chức và điều khiển các hoạt động theonhững yêu cầu nhất định”.
Theo tác giả Nguyễn Lộc (2010, tr.16): “Quản lí là quá trình lập kế hoạch, tổchức, chỉ đạo, kiểm tra công việc của các thành viên trong tổ chức và sử dụng mọinguồn lực sẵn có của tổ chức để đạt những mục tiêu của tổ chức”
Theo Trần Kiểm và Nguyễn Xuân Thức (2012, tr.32): “Quản lí là những tácđộng của chủ thể quản lí trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điềuchỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức(chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt được mục đích của tổ chức với hiệuquả cao nhất
Quản lí bao gồm các yếu tố cơ bản sau đây:
- Chủ thể quản lí (có thể là một người hoặc nhiều người)
- Đối tượng bị quản lí (có thể là một người hoặc nhiều người, sự vật, sự việc…)
- Mục tiêu quản lí nhằm thay đổi hoạt động của tổ chức, trạng thái hoạt động và nâng cao hiệu quả hoạt động
- Chủ thể tiến hành các tác động quản lí bằng các công cụ quản lí và phươngpháp quản lí
Đề tài này sử dụng khái niệm quản lí là sự tác động có tổ chức, có kế hoạch,
có hướng đích của chủ thể quản lí đến khách thể quản lí, thông qua thông qua cáchoạt động lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra đánh giá để đạt được mục tiêuquản lí Bản chất của quản lí là sự tác động có mục đích của chủ thể quản lí đến đốitượng quản lí, nhằm đạt được mục tiêu đề ra Giữa chủ thể quản lí và khách thểquản lí có mối quan hệ tác động qua lại tương hỗ nhau Chủ thể quản lí nảy sinh cácđộng lực quản lí, còn khách thể quản lí làm nảy sinh các giá trị vật chất và tinh thần,đáp ứng nhu cầu của con người, thỏa mãn mục đích của chủ thể quản lí
1.2.7 Khái niệm quản lí hoạt động tư vấn hướng nghiệp ở trường trung học phổ thông
Từ khái niệm “quản lí” và những khái niệm về “hướng nghiệp”, “TVHN”, chothấy công tác quản lí hoạt động TVHN trong nhà trường chính là một bộ phận khôngthể thiếu của quản lí giáo dục Quản lí hoạt động TVHN cho HS THPT là hệ thống
Trang 40những tác động có ý thức của chủ thể quản lí lên đối tượng quản lí bằng các phươngpháp và công cụ nhất định thông qua việc thực hiện các chức năng quản lí (lập kếhoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra, đánh giá) hoạt động TVHN và sử dụng mọinguồn lực sẵn có của nhà trường nhằm đạt mục tiêu của hoạt động này cho HStrong trường THPT.
1.3 Hoạt động tư vấn hướng nghiệp cho học sinh ở trường trung học phổ thông
1.3.1 Mục đích
Quyết định 522/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về “GDHN và định hướngphân luồng HS trong giáo dục phổ thông giai đoạn 2018 - 2025” phê duyệt đề ánngày 14 tháng 5 năm 2018 đã khẳng định: Mục tiêu chung là: “Tạo bước đột phá vềchất lượng GDHN trong giáo dục phổ thông, góp phần chuyển biến mạnh mẽ côngtác phân luồng HS sau THCS và THPT vào học các trình độ giáo dục nghề nghiệpphù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và địa phương, đáp ứngnhu cầu nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực quốc gia, hội nhập khu vực vàquốc tế” Mục tiêu cụ thể đến năm 2025 là: Phấn đấu 100% trường THCS và THPT
có chương trình GDHN gắn với sản xuất, kinh doanh, dịch vụ của địa phương; đốivới các trường ở địa phương có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn đạt ítnhất 80%; Phấn đấu 100% trường THCS và THPT có GV kiêm nhiệm làm nhiệm
vụ TVHN đáp ứng yêu cầu về chuyên môn, nghiệp vụ Trong Quyết định đã xácđịnh 7 nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu Nhằm thi hành quyết định này, mục đích củahoạt động TVHN cho HS ở trường THPT cho từng đối tượng cụ thể như sau:
Giúp HS khám phá “mình là ai” về năng lực/ kĩ năng/ điểm mạnh của bản thân.Các em tìm hiểu được các cơ sở lao động của địa phương và quốc gia, bao gồm thịtrường lao động, nhu cầu của xã hội, các đặc tính của nghề, quy mô và cơ cấu nhân lựctại địa phương Điều quan trọng nhất là HS hiểu rõ ràng các tác động từ xã hội, giađình và các tác động khác ảnh hưởng tới sự lập kế hoạch về nghề nghiệp/ ra quyết địnhnghề nghiệp của bản thân mình HS dần dần có thể xác định được các mục tiêu nghềnghiệp của mình, đưa ra các quyết định về nghề nghiệp một cách hợp lí, và cuối cùng
là đánh giá và thực hiện kế hoạch nghề nghiệp của bản thân