1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quản lí hoạt động tư vấn hướng nghiệp cho học sinh trường trung học phổ thông ở các tỉnh miền đông nam bộ

267 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 267
Dung lượng 6,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Về đối tượng nghiên cứu: Có nhiều cấp cùng tham gia quản lí hoạt động TVHN cho HS THPT, đề tài tập trung nghiên cứu quản lí của Hiệu trưởng trong mối tương tác phân cấp quản lí đối vớ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN TRẦN VĨNH LINH

QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG TƯ VẤN

HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH

TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

Ở CÁC TỈNH MIỀN ĐÔNG NAM BỘ

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Thành phố Hồ Chí Minh- 2021

Trang 3

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN TRẦN VĨNH LINH

QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG TƯ VẤN

HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH

TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Ở CÁC

TỈNH MIỀN ĐÔNG NAM BỘ

Chuyên ngành : Quản lí giáo dục

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng bản thân tôi Các số liệu trong luận án là trung thực

Kết quả của luận án chưa từng được ai công bố trong bất kì công trình nào

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 04 tháng 04 năm 2021

Tác giả luận án

Nguyễn Trần Vĩnh Linh

Trang 7

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục kí hiệu và chữ viết tắt

Danh mục hình

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG TƯ VẤN HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 11

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 11

1.1.1 Nghiên cứu ở nước ngoài 11

1.1.2 Nghiên cứu ở Việt Nam 20

1.2 Các khái niệm công cụ của đề tài 30

1.2.1 Khái niệm tư vấn 30

1.2.2 Khái niệm hướng nghiệp 31

1.2.3 Khái niệm tư vấn hướng nghiệp 33

1.2.4 Khái niệm tư vấn hướng nghiệp ở trường trung học phổ thông 36

1.2.5 Khái niệm hoạt động tư vấn hướng nghiệp ở trường trung học phổ thông 37

1.2.6 Khái niệm quản lí 37

1.2.7 Khái niệm quản lí hoạt động tư vấn hướng nghiệp ở trường trung học phổ thông 38

1.3 Hoạt động tư vấn hướng nghiệp cho học sinh ở trường trung học phổ thông 39

1.3.1 Mục đích 39

1.3.2 Nhiệm vụ 41

1.3.3 Nội dung 42

1.3.4 Phương pháp 45

1.3.5 Hình thức 47

Trang 8

1.3.6 Kiểm tra, đánh giá 49

1.3.7 Điều kiện thực hiện 50

1.4 Quản lí hoạt động tư vấn hướng nghiệp cho học sinh ở trường trung học phổ thông 52

1.4.1 Phân cấp quản lí hoạt động tư vấn hướng nghiệp ở trường trung học phổ thông 52

1.4.2 Tầm quan trọng của quản lí hoạt động tư vấn hướng nghiệp cho học sinh ở trường trung học phổ thông 53

1.4.3 Nội dung quản lí hoạt động tư vấn hướng nghiệp cho học sinh ở trường trung học phổ thông 54

1.4.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lí hoạt động tư vấn hướng nghiệp cho học sinh ở trường trung học phổ thông 62

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 67

Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG TƯ VẤN HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Ở MIỀN ĐÔNG NAM BỘ 69

2.1 Tình hình phát triển kinh tế - xã hội và giáo dục ở miền Đông Nam bộ 69

2.1.1 Về phát triển kinh tế - xã hội và giáo dục ở các tỉnh vùng Đông Nam Bộ 69

2.1.2 Về giáo dục trung học phổ thông ở các tỉnh miền Đông Nam Bộ 72

2.2 Tổ chức điều tra thực trạng quản lí hoạt động tư vấn hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông ở miền Đông Nam Bộ 75

2.2.1 Mục tiêu điều tra 75

2.2.2 Nội dung điều tra 75

2.2.3 Công cụ điều tra 76

2.2.4 Phương pháp điều tra 77

2.2.5 Tiến hành điều tra 77

2.2.6 Cách xử lí và đánh giá kết quả điều tra 79

2.3 Kết quả điều tra 81

Trang 9

2.3.1 Thực trạng hoạt động tư vấn hướng nghiệp cho học sinh trung học

phổ thông miền Đông Nam Bộ 81

2.3.2 Thực trạng quản lí hoạt động tư vấn hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông miền Đông Nam Bộ 100

2.4 Đánh giá chung 115

2.4.1 Những kết quả đã đạt được 115

2.4.2 Hạn chế 117

2.4.3 Nguyên nhân 119

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 122

Chương 3 ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG TƯ VẤN HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Ở MIỀN ĐÔNG NAM BỘ 125

3.1 Cơ sở xây dựng và nguyên tắc đề xuất biện pháp 125

3.1.1 Cơ sở đề xuất biện pháp 125

3.1.2 Nguyên tắc đề xuất các biện pháp 126

3.2 Một số biện pháp quản lí hoạt động tư vấn hướng nghiệp cho học sinh trường trung học phổ thông ở các tỉnh miền Đông Nam Bộ 128

3.2.1 Biện pháp 1 Tăng cường sự tổ chức và chỉ đạo của Hiệu trưởng về việc thực hiện hoạt động tư vấn hướng nghiệp theo nhu cầu tư vấn hướng nghiệp của học sinh trung học phổ thông 129

3.2.2 Biện pháp 2 Xây dựng và triển khai kế hoạch bồi dưỡng năng lực tư vấn hướng nghiệp cho đội ngũ tư vấn hướng nghiệp trong trường trung học phổ thông 135

3.2.3 Biện pháp 3 Hoàn thiện chức năng chỉ đạo của hiệu trưởng về kiểm tra, đánh giá hoạt động tư vấn hướng nghiệp trường trung học phổ thông 142

3.2.4 Biện pháp 4 Bổ sung quy chế về quản lí hoạt động tư vấn hướng nghiệp cho đội ngũ tham gia hoạt động tư vấn hướng nghiệp của trường trung học phổ thông 145

3.3 Mối liên hệ giữa các biện pháp 149

Trang 10

3.4 Khảo nghiệm các biện pháp quản lí hoạt động tư vấn hướng nghiệp cho

học sinh trường trung học phổ thông ở miền Đông Nam bộ 150

3.4.1 Mục đích khảo nghiệm 150

3.4.2 Nội dung khảo nghiệm 150

3.4.3 Phương pháp, công cụ khảo nghiệm 150

3.4.4 Tổ chức khảo nghiệm 151

3.4.5 Kết quả khảo nghiệm 151

3.5 Thực nghiệm biện pháp 1 Tăng cường sự tổ chức và chỉ đạo của Hiệu trưởng về việc thực hiện hoạt động tư vấn hướng nghiệp theo nhu cầu tư vấn hướng nghiệp của học sinh trung học phổ thông ở miền Đông Nam Bộ 154

3.5.1 Mục đích thực nghiệm 154

3.5.2 Nội dung thực nghiệm 155

3.5.3 Phương pháp, công cụ thực nghiệm 155

3.5.4 Tiêu chuẩn và thang đánh giá thực nghiệm 156

3.5.5 Cách thức tiến hành thực nghiệm 157

3.5.6 Kết quả thực nghiệm 161

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 171

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 173

DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 181

TÀI LIỆU THAM KHẢO 183 PHỤ LỤC

Trang 11

DANH MỤC KÍ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

1 CBĐTN Cán bộ Đoàn thanh niên

2 CBQL Cán bộ quản lí

3 CĐ, ĐH Cao đẳng và đại học

4 ĐLC Độ lệch chuẩn

5 ĐTB Điểm trung bình

6 GD&ĐT Giáo dục và Đào tạo

7 GDHN Giáo dục hướng nghiệp

9 GVBM Giáo viên bộ môn

10 GVCN Giáo viên chủ nhiệm

11 GVGDKT Giáo viên giảng dạy kĩ thuật

13 Nxb Nhà xuất bản

14 THCS Trung học cơ sở

15 TTCN Trung cấp chuyên nghiệp

16 TVHN Tư vấn hướng nghiệp

18 THPT Trung học phổ thông

Trang 12

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Một số chỉ tiêu phát triển kinh tế vùng Đông Nam Bộ 70 Bảng 2.2 Quy mô của các trường THPT các tỉnh miền Đông Nam Bộ 72 Bảng 2.3 Số lượng và thành phần mẫu trưng cầu ý kiến của các trường

THPT miền Đông Nam Bộ 78 Bảng 2.4 Thực trạng nhận thức về tầm quan trọng của hoạt động TVHN 82 Bảng 2.5 Mức độ hiểu biết của HS về thị trường lao động và nghề nghiệp

dự định chọn 83 Bảng 2.6 Mức độ ảnh hưởng của các đối tượng đến việc chọn nghề của HS 85 Bảng 2.7 Mức độ và kết quả thực hiện mô hình hoạt động TVHN cho HS ở

các trường THPT miền Đông Nam Bộ 88 Bảng 2.8 Mức độ và kết quả thực hiện nhiệm vụ TVHN cho HS ở các

trường THPT miền Đông Nam Bộ 89 Bảng 2.9 Mức độ và kết quả thực hiện nội dung TVHN cho HS ở các

trườngTHPT miền Đông Nam Bộ 90 Bảng 2.10 Mức độ và kết quả thực hiện phương pháp TVHN cho HS ở các

trường THPT miền Đông Nam Bộ 91 Bảng 2.11 Mức độ và kết quả thực hiện hình thức TVHN cho HS ở các

trường THPT miền Đông Nam Bộ 92 Bảng 2.12 Kết quả đạt được của hoạt động TVHN cho HS trường THPT

miền Đông Nam Bộ 94 Bảng 2.13 Kết quả đạt được từ hoạt động TVHN của trường thông qua sự tự

tin của HS 96 Bảng 2.14 Kết quả đạt được của quản lí hoạt động TVHN tại trường THPT

miền Đông Nam Bộ 100 Bảng 2.15 Mức độ và kết quả thực hiện việc lập kế hoạch TVHN cho HS ở

các trường THPT miền Đông Nam Bộ 103 Bảng 2.16 Mức độ và kết quả thực hiện việc tổ chức hoạt động TVHN cho

HS ở các trường THPT miền Đông Nam Bộ 105

Trang 13

Bảng 2.17 Mức độ và kết quả thực hiện chỉ đạo hoạt động TVHN cho HS ở

các trường THPT miền Đông Nam Bộ 107

Bảng 2.18 Mức độ và kết quả thực hiện việc kiểm tra đánh giá hoạt động TVHN cho HS ở các trường THPT miền Đông Nam Bộ 111

Bảng 2.19 Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến quản lí hoạt động TVHN cho HS ở các trường THPT miền Đông Nam Bộ 113

Bảng 3.1 Quy ước các mức thang đo dùng trong khảo nghiệm 151

Bảng 3.2 Đánh giá sự cần thiết của các biện pháp đề xuất 152

Bảng 3.3 Đánh giá tính khả thi của các biện pháp đề xuất 153

Bảng 3.4 Tiêu chí đánh giá kết quả TVHN qua thực nghiệm 156

Bảng 3.5 Mức độ quan tâm đến hoạt động TVHN của nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng 162

Bảng 3.6 Sự hiểu biết của HS về nghề định chọn 163

Bảng 3.7 So sánh căn cứ chọn nghề của HS 164

Bảng 3.8 Sự cần thiết của việc trang bị các phẩm chất, kĩ năng của nghề 165

Trang 15

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Thế giới trong thế kỉ XXI đang tiến hành cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, thời

kì của kĩ thuật số, công nghệ sinh học và Robot thế hệ mới, do đó, cũng mang đến những thách thức đối với nguồn nhân lực Việt Nam Theo Tổ chức Lao động quốc

tế, nước ta là một trong những nước chịu ảnh hưởng nhiều nhất từ cách mạng công nghiệp 4.0 Những ngành sử dụng nhiều lao động phổ thông sẽ chịu tác động lớn, nguy cơ thất nghiệp cao do sự phát triển của công nghệ tự động và trí tuệ nhân tạo Việt Nam sẽ phải đối mặt với nhiều thách thức về chất lượng nguồn nhân lực như trình độ chuyên môn kĩ thuật của lao động còn thấp cũng như năng suất lao động thấp hơn nhiều nước trong khu vực ASEAN… Mặc dù chúng ta có dân số hơn 96 triệu người, đứng thứ 14 thế giới, thứ 3 trong khu vực Đông Nam Á và đang trong thời kì dân số vàng Nhưng trình độ chuyên môn kĩ thuật vào quý 4 năm 2017 (ước tính) còn thấp, người có trình độ đại học trở lên chỉ là 5.264.480; 1.567.030 người tốt nghiệp cao đẳng chuyên nghiệp; 2.110.850 người trình độ trung cấp chuyên nghiệp (TCCN); 2.957.680 người kết thúc dạy nghề từ 3 tháng trở lên; người không có trình độ chuyên môn kĩ thuật là 42.867.230 Nguồn nhân lực chưa qua đào tạo chiếm 78,3%, một tỉ lệ khá cao; 5,4% qua dạy nghề từ 3 tháng trở lên; 3,9% qua TCCN; 2,9% qua cao đẳng chuyên nghiệp; và 9,6% qua đại học trở lên (Trung tâm Thông tin - Tư liệu, Viện Nghiên cứu quản lí kinh tế Trung ương, 2018) Giải quyết được những thách thức trên không thể không qua con đường giáo dục Vì giáo dục và đào tạo có vị trí và vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển mỗi quốc gia và dân tộc, nó thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa, là điều kiện phát huy nguồn lực của con người

Ở Việt Nam, Đảng và Nhà nước nhận thức về tầm quan trọng của giáo dục từ rất lâu, Luật Giáo dục của Quốc hội số 11/1998/QH 10 ngày 01 tháng 12 năm 1998

đã khẳng định “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu” và Nghị quyết 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 Hội nghị Trung ương 8 khóa XI xác định quan điểm chỉ đạo “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn

Trang 16

dân Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội” Nghị quyết này cũng xác định rõ mục tiêu

cụ thể về giáo dục phổ thông “tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho HS” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2014) Từ nhiều năm nay, quán triệt các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về giáo dục nói chung và giáo dục hướng nghiệp (GDHN) nói riêng với “mục đích chủ yếu của GDHN là phát hiện, bồi dưỡng tiềm năng sáng tạo của cá nhân, giúp họ hiểu mình và hiểu yêu cầu của nghề, chuẩn

bị cho họ sự sẵn sàng tâm lí đi vào những nghề mà các thành phần kinh tế trong xã hội đang cần nhân lực, trên cơ sở đó đảm bảo sự phù hợp nghề cho mỗi cá nhân” Đồng thời thực hiện “nhiệm vụ của GDHN cho HS phổ thông là: Giáo dục thái độ lao động và ý thức đúng đắn với nghề nghiệp; cho HS làm quen với một số nghề phổ biến trong xã hội và các nghề truyền thống của địa phương; tìm hiểu năng khiếu, khuynh hướng nghề nghiệp của từng HS để khuyến khích, hướng dẫn và bồi dưỡng khả năng nghề nghiệp thích hợp nhất; động viên HS đi vào những nghề, những nơi đang cần.” (Bộ GD&ĐT, 2013, trang (tr.) 11-12) Vào tháng 5 năm 2018, Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định phê duyệt đề án “GDHN và định hướng phân luồng HS trong giáo dục phổ thông giai đoạn 2018 - 2025”, đây là một định hướng mới cho GDHN nói chung và hoạt động tư vấn hướng nghiệp (TVHN) nói chung Trong đó

đã xác định rõ về TVHN ở mục tiêu cụ thể đến năm 2020 là: “Khoảng 55% trường trung học cơ sở (THCS), 60% trường trung học phổ thông (THPT) có giáo viên (GV) kiêm nhiệm làm nhiệm vụ TVHN đáp ứng yêu cầu về chuyên môn, nghiệp vụ; đối với các địa phương có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn đạt ít nhất 50% đối với cả hai cấp học trên.” (Thủ tướng Chính phủ, 2018)

Công tác GDHN bước đầu đã thu được những kết quả đáng khích lệ Nhưng vẫn còn tỉ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi năm 2016 là 2,30%, trong đó khu vực thành thị là 3, 18%; khu vực nông thôn là 1,86% Tỉ lệ thất nghiệp của thanh niên (từ 15-24 tuổi) cùng năm là 7,34%, trong đó khu vực thành thị là 11,30%; khu vực nông thôn là 5, 74% Tỉ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi lao động năm

2016 là 1,64%, thấp hơn mức 1,89% của năm 2015 và 2,40% của năm 2014 (Dẫn theo Tổng cục Thống kê về tình hình kinh tế xã hội năm 2016) Vào quý III năm

Trang 17

2017, số người thất nghiệp có trình độ đại học trở lên là 237 nghìn người, tăng 53, 9 nghìn người so với quý II Bên cạnh đó, với mục đích cuối cùng của GDHN là “tiến hành TVHN cho HS nhằm giúp các em chọn được nghề, chọn được ngành và chọn được trường” (Đặng Danh Ánh, 2007, tr.7) Một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm trong thanh niên, thậm chí sinh viên tốt nghiệp đại học là do hoạt động TVHN chưa mang lại hiệu quả

Trong 05 tỉnh miền Đông Nam Bộ có tổng cộng 164 trường THPT với khoảng

68596 HS lớp 12 (Theo bảng tổng hợp số liệu thí sinh đăng khí dự tuyển kì thi THPT

quốc gia 2017 của 5 tỉnh), cho thấy nhu cầu TVHN của HS rất cao Hoạt động TVHN

đã và đang được tăng cường thông qua nhiều hình thức, với nội dung GDHN theo xu hướng đổi mới Nhưng phần lớn những hoạt động này chỉ theo phong trào, diễn ra ở một thời gian nhất định, nhàm chán nên chưa thu hút được sự tham gia của HS Hoạt động TVHN chưa tạo được hứng thú và mang lại niềm tin trong việc chọn nghề, chọn trường cho HS sau khi tốt nghiệp THPT Một trong những nguyên nhân dẫn đến hoạt động TVHN chưa mang lại hiệu quả là do hạn chế trong quản lí hoạt động này quản lí hoạt động này còn nhiều bất cập, chưa mang lại hiệu quả thiết thực Nghiên cứu quản

lí hoạt động TVHN cho HS THPT chưa làm rõ và đầy đủ cơ sở lí luận, chỉ hệ thống

cơ sở lí luận về quản lí hoạt động TVHN theo quan điểm quản lí về mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức và điều kiện thực hiện

Từ những lí do trên, có thể thấy việc thực hiện luận án “Quản lí hoạt động TVHN cho HS THPT ở các tỉnh miền Đông Nam Bộ” theo tiếp cận chức năng

quản lí: Lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra có ý nghĩa thiết thực Kết quả của luận án là những biện pháp quản lí hoạt động TVHN nhằm góp phần nâng cao chất lượng GDHN nói chung và chất lượng THVN nói riêng

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lí luận và đánh giá thực trạng, luận án đề xuất một số biện pháp quản lí hoạt động TVHN trong các trường THPT nhằm quản lí hoạt động

và nâng cao chất lượng TVHN cho HS THPT ở miền Đông Nam Bộ

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Căn cứ vào mục đích nghiên cứu trên, luận án đề ra những nhiệm vụ cụ thể sau đây:

Trang 18

- Xác định cơ sở lí luận về quản lí hoạt động TVHN trong các trường THPT;

- Khảo sát, đánh giá thực trạng quản lí hoạt động TVHN trong các trường THPT ở miền Đông Nam Bộ;

- Đề xuất một số biện pháp quản lí hoạt động TVHN trong các trường THPT

ở miền Đông Nam Bộ

4 Câu hỏi nghiên cứu

Luận án tập trung vào giải quyết các câu hỏi nghiên cứu sau:

- Nghiên cứu hoạt động TVHN và quản lí hoạt động TVHN được dựa trên nền tảng lí thuyết nào?

- Thực trạng hoạt động TVHN và quản lí hoạt động TVHN trong các trường THPT ở miền Đông Nam Bộ hiện nay như thế nào?

- Những yếu tố cơ bản/chính nào ảnh hưởng đến quản lí hoạt động TVHN trong các trường THPT ở miền Đông Nam Bộ?

- Vì sao kết quả quản lí hoạt động TVHN trong các trường THPT ở miền Đông Nam Bộ còn yếu?

- Những biện pháp quản lí hoạt động TVHN nào cần thực hiện để nâng cao chất lượng hoạt động TVHN trong các trường THPT ở miền Đông Nam Bộ?

5 Giả thuyết khoa học

Hoạt động TVHN trong các trường THPT ở miền Đông Nam Bộ đã đạt được một số kết quả khả quan, tuy nhiên vẫn tồn tại những hạn chế như chưa xác định được nhu cầu TVHN của HS, năng lực TVHN của đội ngũ tư vấn còn yếu Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên, trong đó, nguyên nhân cơ bản là do thực hiện quản lí hoạt động TVHN còn yếu Nếu áp dụng các biện pháp quản lí theo chức năng quản

lí và phù hợp với những điểm đặc thù của hoạt động TVHN thì sẽ góp phần nâng cao hiệu quả quản lí hoạt động TVHN cho HS THPT tại các tỉnh miền Đông Nam Bộ

Trang 19

6 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

- Khách thể nghiên cứu: Công tác quản lí hoạt động TVHN cho HS THPT

- Đối tượng nghiên cứu: Quản lí hoạt động TVHN trong các trường THPT ở

các tỉnh miền Đông Nam Bộ

7 Giới hạn nghiên cứu

- Về địa bàn nghiên cứu: Luận án này chỉ tập trung nghiên cứu 20 trường ở

03 tỉnh, trong đó:

+ Bà Rịa - Vũng Tàu gồm 06 trường là: THPT Châu Thành, THPT Nguyễn

Trãi, THPT Nguyễn Văn Cừ, THPT Nguyễn Bỉnh Khiêm, THPT Ngô Quyền, THPT Phú Mỹ;

+ Bình Dương gồm 04 trường: THPT Võ Minh Đức, THPT Bình An, THPT

Bình Phú, THPT Phan Bội Châu;

+ Đồng Nai gồm 10 trường: THPT Thanh Bình, THPT Ngọc Lâm, THPT Chu

Văn An, THPT Xuân Lộc, THPT Đắc Lua, THPT Nguyễn Đình Chiểu, THPT Nhơn Trạch, THPT Phước Thiền, THPT Tôn Đức Thắng và THPT Vĩnh Cửu

- Về đối tượng nghiên cứu: Có nhiều cấp cùng tham gia quản lí hoạt động

TVHN cho HS THPT, đề tài tập trung nghiên cứu quản lí của Hiệu trưởng trong mối tương tác phân cấp quản lí đối với TVHN ở các trường THPT

- Về đối tượng khảo sát: Khảo sát 2863 người ở 20 trường THPT công lập,

trong đó:35 Cán bộ quản lí (CBQL), 462 GV và 2366 HS

- Về thời gian điều tra, thực nghiệm

+ Thời gian điều tra thực trạng: Từ tháng 09 năm 2016 đến tháng 4 năm 2017 + Thời gian thực nghiệm: Từ tháng 09 năm 2017 đến tháng 2 năm 2018

8 Các cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

8.1 Cách tiếp cận

- Tiếp cận theo chức năng quản lí: Về căn bản có bốn chức năng chính mà

các nhà quản lí phải thực hiện Đó là các công việc lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, và kiểm tra; và chúng có thể được dùng như là một cách phân loại cơ bản về kiến thức quản lí Bản chất của quản lí là phối hợp các nỗ lực của con người thông qua bốn chức năng nói trên để đạt các mục tiêu đề ra Nói một cách khác, các chức năng quản

Trang 20

lí là bộ khung để tổ chức các kiến thức quản lí trong nó Với tinh thần đó, luận án sẽ nghiên cứu việc quản lí hoạt động TVHN bằng cách tiếp cận bốn chức năng chủ yếu này

- Tiếp cận theo lí thuyết hoạt động: Việc nghiên cứu quản lí TVHN cho HS

THPT được thực hiện theo nguyên tắc thông qua hoạt động và bằng hoạt động Trong quá trình nghiên cứu, cần tập trung vào các hoạt động TVHN của GV ở THPT, hoạt động tự nhận thức và đánh giá bản thân của HS, quá trình lựa chọn nghề của HS, các hoạt động quản lí hoạt động TVHN của hiệu trưởng liên quan đến giáo viên chủ nhiệm (GVCN), giáo viên bộ môn (GVBM) và cán bộ Đoàn thanh niên (CBĐTN) ở THPT

- Tiếp cận theo hệ thống - cấu trúc: Bản thân hoạt động GDHN là một hệ

thống cấu trúc trọn vẹn được thực hiện thông qua nhiều con đường khác nhau, trong

đó TVHN là một khâu trong GDHN chứ không phải là một hoạt động độc lập Do

đó, khi nghiên cứu quản lí hoạt động TVHN cần phải đặt trong mối quan hệ thống nhất giữa GDHN, TVHN và quản lí hoạt động TVHN phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện thực tế trong các trường THPT ở nước ta trong giai đoạn hiện nay

- Tiếp cận theo lịch sử- logic: Hoạt động TVHN của nước ta đã có từ lâu Nó

chịu sự tác động và ảnh hưởng bởi những yếu tố nhất định trong quá trình lịch sử xã hội Việt Nam, đôi khi rất được chú trọng nhưng cũng có lúc bị thờ ơ Vì thế, khi nghiên cứu cần chú ý về các giai đoạn phát triển kinh tế, xã hội và giáo dục Để đề xuất các biện pháp có tính khả thi và thực sự cần thiết

8.2 Phương pháp nghiên cứu

 Phương pháp nghiên cứu lí luận

Phương pháp nghiên cứu tài liệu, phương pháp phân tích- tổng hợp và phương pháp hệ thống hóa từ các tài liệu, văn bản, luận án tiến sĩ về GDHN và quản lí giáo dục, TVHN và quản lí hoạt động TVHN cho HS THPT trong và ngoài nước để xác định cơ sở lí luận về quản lí hoạt động TVHN trong các trường THPT

 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Tiến hành điều tra bằng bảng hỏi cho CBQL và GV khi xác định thực trạng Tiến hành điều tra bằng bảng hỏi cho HS khi xác định thực trạng hoạt động

Trang 21

TVHN tại trường THPT

Mục đích: Điều tra bằng bảng hỏi nhằm xác định thực trạng hoạt động

TVHN và quản lí hoạt động TVHN cho HS lớp 12 ở trường THPT thuộc 03 tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, Bình Dương và Đồng Nai

 Đối tượng: 2863 người ở 20 trường THPT công lập, bao gồm: Khảo sát 2863

người ở 20 trường THPT công lập, trong đó: 35 CBQL, 462 GV và 2366 HS

 Nội dung: Đối với CBQL và GV (gồm GVCN, GVBM, CBĐTN), trưng cầu

ý kiến về thực trạng hoạt động TVHN và quản lí hoạt động TVHN Đối với HS, trưng cầu ý kiến về thực trạng hoạt động TVHN

- Phương pháp phỏng vấn

 Mục đích: Nhằm làm rõ hơn những thông tin thu được về hoạt động TVHN

ở THPT và các vấn đề khác từ thực tiễn được minh họa bằng lời phát biểu, lời nói của CBQL, GV và HS THPT

 Đối tượng phỏng vấn: 10 CBQL, 15 GV và với 44 HS (04 HS/nhóm thuộc THPT), những đối tượng này được chọn từ trong 2863 người

 Nội dung phỏng vấn: Trò chuyện với CBQL và GVCN nhằm thu thập thêm thông tin về thực trạng hoạt động TVHN cũng như thực trạng, nguyên nhân và biện pháp quản lí hoạt động TVHN Tìm hiểu, nói chuyện với HS về thực trạng hoạt động TVHN trong nhà trường hiện nay

- Phương pháp thực nghiệm

Tiến hành thực nghiệm nhằm đánh giá tính hiệu quả của hai biện pháp quản lí hoạt động TVHN tại một trường THPT Các nhóm đối chứng và thực nghiệm được chọn có sự tương đương nhau

- Phương pháp chuyên gia

Phương pháp chuyên gia được sử dụng để khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi của các biện pháp đã đề xuất trong đề tài

- Đối tượng khảo nghiệm: 30 CBQL và GV cốt cán của 20 trường THPT miền

Đông Nam Bộ

- Nội dung khảo nghiệm: Khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi của các biện

pháp quản lí hoạt động TVHN trong các trường THPT miền Đông Nam Bộ

Bên cạnh đó, phương pháp này còn được dùng khi trao đổi với 2 phó hiệu

Trang 22

trưởng và 4 tổ trưởng tổ chuyên môn về lợi ích từ xác định nhu cầu TVHN của HS

- Phương pháp hỗ trợ

Phương pháp thống kê toán học, phần mềm SPSS for Win, phiên bản 20 để xử

lí các số liệu thu được trong điều tra bằng bảng hỏi và thực nghiệm

9 Những luận điểm bảo vệ

- Quản lí hoạt động TVHN ở trường phổ thông là một quá trình và được thực hiện theo 4 chức năng của quản lí giáo dục: chức năng kế hoạch, chức năng tổ chức, chức năng chỉ đạo và chức năng kiểm tra, đánh giá Bên cạnh đó, hoạt động này có

sự tác động của chủ thể quản lí đến đối tượng bị quản lí thông qua các công cụ quản

lí trong phạm vi nhà trường

- Hoạt động TVHN ở trường phổ thông trong các tỉnh miền Đông Nam Bộ đã đạt được những kết quả nhất định nhưng hiệu quả và chất lượng còn hạn chế Hiệu quả và chất lượng hoạt động TVHN được nâng cao khi:

+ Hiệu trưởng thực hiện đầy đủ và hoàn thành 4 chức năng quản lí hoạt động TVHN ở trường THPT;

- Tổng hợp và hệ thống hóa lí luận về hoạt động TVHN và quản lí hoạt động

TVHN Trong đó, làm rõ các khái niệm như tư vấn, hướng nghiệp, TVHN, TVHN ở trường THPT, hoạt động TVHN ở trường THPT, quản lí, quản lí hoạt động TVHN ở trường phổ thông Đồng thời mô tả chi tiết mục đích và nhiệm vụ, nội dung, phương pháp, hình thức, kiểm tra và đánh giá, điều kiện thực hiện hoạt động TVHN Trình bày rõ ràng về tầm quan trọng, bốn chức năng quản lí (lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, chỉ đạo thực hiện và kiểm tra, đánh giá) và các yếu tố ảnh hưởng đến quản lí hoạt động TVHN cho HS ở trường THPT

- Vận dụng lí luận về bốn chức năng quản lí giáo dục cơ bản trong quản lí hoạt

động TVHN cho HS trong trường THPT

Trang 23

10.2 Về thực tiễn

- Khảo sát và đánh giá thực trạng TVHN, quản lí hoạt động TVHN trong 20

trường THPT ở các tỉnh miền Đông Nam Bộ

- Xác định được hạn chế và bất cập về TVHN và quản lí hoạt động TVHN trong

20 trường THPT ở các tỉnh miền Đông Nam Bộ Từ đó, phân tích và tìm ra những nguyên nhân cơ bản dẫn đến các hạn chế và bất cập này

- Đề xuất 04 biện pháp quản lí hoạt động TVHN nhằm giải quyết những hạn chế

và bất cập trong quản lí hoạt động TVHN cho HS THPT ở các tỉnh miền Đông Nam

Trang 25

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG

TƯ VẤN HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH

TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Nghiên cứu ở nước ngoài

1.1.1.1 Hoạt động tư vấn hướng nghiệp ở trường trung học phổ thông

Giữa thế kỉ XIX, nhu cầu hướng nghiệp, đặc biệt là tư vấn, tuyển chọn nghề nghiệp xuất hiện từ chính sự đòi hỏi của cuộc sống, khi nền sản xuất tư bản chủ nghĩa ngày càng phát triển Các nhà Tâm lí học làm việc trong các doanh nghiệp khi nghiên cứu sự thích ứng của người công nhân đối với công việc đã đi đến kết luận rằng, để con người có thể làm tốt một công việc cụ thể, không chỉ phụ thuộc vào việc tổ chức dạy nghề như thế nào mà còn phụ thuộc vào người đó có những năng lực phù hợp với nghề hay không Từ phát hiện này, các nhà tâm lí học đề xuất đối với các nhà tuyển dụng rằng trước khi nhận một ai đó vào một vị trí lao động cần phải tìm hiểu người

ấy có những năng lực phù hợp hay không, sau đó mới tiến hành đào tạo

Cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX, TVHN thực sự trở thành một lĩnh vực khoa học độc lập với những công trình nghiên cứu lí thuyết điển hình của các nhà tâm lí học tư vấn Davis (1907), Parsons (1909), Keller và Viteles (1937), Kettell (1880), Gallton (1883)…

Năm 1907, Davis đã xây dựng cơ sở đào tạo đầu tiên về công tác hướng dẫn nghề tại Michigan Tuy nhiên, TVHN, chọn nghề thật sự lớn mạnh kể từ khi Frank Parsons, người mà sau này được coi là “cha đẻ của hướng nghiệp”, thành lập “Văn phòng TVHN” ở Boston năm 1908, (Boston’s Vocational Bureau) và xuất bản sách

“Chọn nghề” (Choosing a Vocation) vào năm 1909 Parsons cho rằng công tác hướng nghiệp phải được thể hiện trong 3 quá trình sau: 1) Sự thấu hiểu một cách rõ ràng về bản thân, về khả năng, sở thích, hoài bão, nguồn lực cũng như những hạn chế của bạn đối với nghề; động lực thúc đẩy bạn chọn nghề; 2) Kiến thức về những yêu cầu, điều kiện của thành công, những thuận lợi và khó khăn; sự đền bù; những cơ hội và những triển vọng phát triển trong các giới hạn khác nhau của công việc; 3) Hiểu biết về mối

Trang 26

liên hệ giữa đặc điểm cá nhân của bản thân và yêu cầu của công việc cụ thể

Không phải là lí thuyết đầu tiên về TVHN, nhưng lí thuyết có sức tồn tại lâu bền nhất và được sử dụng nhiều nhất hiện nay chính là lí thuyết của Holland Theo Holland (1986), lựa chọn nghề của cá nhân là một sự thể hiện tính cách trong thế giới nghề của cá nhân đó, đặc điểm nhân cách của một con người cần phải được xem xét trong sự thống nhất với môi trường nghề nghiệp Mục đích chính của TVHN và cũng chính là việc của các nhà tư vấn nghề là kết hợp giữa các kiểu loại nhân cách với những đặc điểm môi trường công việc Xuất phát từ lí thuyết của Holland, một thang

tự đo trong định hướng nghề nghiệp có tên là Self-Directed Search (SDS)- Tự tìm kiếm nghề nghiệp- đã được xây dựng Tuy nhiên, thang SDS chỉ đo được sở thích,

hứng thú, mà không đo được năng lực thực tế của mỗi người Người làm test này sẽ

tự kiểm tra xem mình thích hoặc không thích gì (Walsh & Osipow, 1986, p.55-82)

Năm 1937, trong tác phẩm Vocational guidance throughout the world, Keller

và Viteles cung cấp một tầm nhìn toàn cầu về tư vấn và hướng nghiệp Họ đã khảo sát so sánh các quốc gia châu Âu, châu Á và châu Phi Suốt thế kỉ XX và đầu thập kỉ thế kỉ XXI, tư vấn và hướng nghiệp phát triển mạnh mẽ trong môi trường giáo dục, đặc biệt là cấp tiểu học và trung học HS đã được định hướng nghề ngay từ lúc từ 15 tuổi cho đến 18 tuổi, bởi Keller và Viteles cho rằng thế giới nghề nghiệp rất đa dạng, thanh thiếu niên cần ý thức ngay từ nhỏ sự lựa chọn nghề tối ưu của họ dựa trên sở thích, năng lực, môi trường cuộc sống

Lịch sử cho thấy, các nhà Tâm lí học là những chuyên gia trước tiên quan tâm tới việc xây dựng hệ thống cơ sở lí luận cũng như những phương pháp hướng nghiệp: Năm 1880, nhà Tâm lí học Mĩ, Kettell là người đầu tiên đề nghị đưa phương pháp Test (Trắc nghiệm tâm lí) vào công tác tuyển chọn nghề thì năm 1883, nhà Tâm lí học Anh, Gallton lần đầu tiên sử dụng Test để chẩn đoán nhân cách nhằm mục đích

tư vấn nghề nghiệp Năm 1895, Galton cùng với nhà Tâm lí học Pháp Binet đã thành lập Sở tư vấn nghề nghiệp đầu tiên tại Pháp Đến đầu thế kỉ XX các cơ sở dịch vụ tư vấn, hướng nghiệp lần lượt ra đời ở Mĩ, Anh, CHLB Đức… Như vậy, ngay từ khi ngành hướng nghiệp ra đời, một nội dung quan trọng của nó đó là hoạt động tư vấn, tuyển chọn nghề

Trang 27

Lee & Ekstrom (1987); Schmidt (1996); Roger (1998); Zunker (2002) lần lượt cho ra đời những công trình nghiên cứu về tham vấn nghề cho HS trong nhà trường phổ thông như “Counseling in school: Essential services and comprehensive programs”, “Counseling In schools Multicultural and Development, American Counseling Association”, “Career counseling: applied concepts of life planning” Các nghiên cứu này tập trung ở các vấn đề sau đây: 1) Xác định vai trò của tham vấn viên trong việc định hướng nghề và tham vấn nghề Họ khẳng định: Tham vấn viên giống như một nhà nghiên cứu hành vi ứng xử; tham vấn viên ở trường là tác nhân thay đổi; tham vấn viên được coi như một kĩ thuật viên 2) Xác định mục tiêu, hình thức, phương pháp định hướng nghề và tham vấn nghề cho HS từ cấp tiểu học đến THPT 3) Cung cấp những dịch vụ nghề nghiệp cho HS 4) Xác định các tiêu chí đánh giá, phương pháp đánh giá, nội dung đánh giá kiến thức, kĩ năng, khả năng, và các mục đích khác của chương trình GDHN và tham vấn nghề trong trường phổ thông Các kết quả nghiên cứu trên đây cho thấy tham vấn nghề đã có một hệ thống lí luận làm

cơ sở cho việc phát triển lí luận về hoạt động TVHN ở Việt Nam (Dẫn theo Trương Thị Hoa, 2014, tr.14)

Nửa cuối thế kỉ XX, TVHN được hầu hết các quốc gia trên thế giới quan tâm

và ngày càng có nhiều nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn về hoạt động TVHN trong nhà trường phổ thông tập trung ở các vấn đề sau đây: Vai trò của tham vấn viên trong việc định hướng nghề và tham vấn nghề; Xác định mục tiêu, hình thức, phương pháp định hướng nghề và tham vấn nghề cho HS từ cấp tiểu học đến THPT; Cung cấp những dịch vụ nghề nghiệp cho HS Bên cạnh đó các nghiên cứu cũng đưa ra các tiêu chí đánh giá, phương pháp đánh giá, nội dung đánh giá kiến thức, kĩ năng, khả năng,

và các mục đích khác của chương trình GDHN và tham vấn nghề trong trường phổ thông Cụ thể:

Dick & Rallis (1991), trong bài viết “Factors and influences on high school students' career choices” và Gati & Saka (2001) khi nói về“Counseling High school students' career-related decision-making difficulties” cũng đã chỉ ra những khó khăn

của HS trong quá trình chọn nghề, đó là: Không lựa chọn được nghề, không nhận thức

rõ ràng khả năng, sở thích và giá trị, quan niệm của bản thân phù hợp với nghề nào

Trang 28

Carey & Harrington (2010); Lapan (2012); Hatch (2014); Carey & Martin (2015) đã đưa ra quan điểm chung về hoạt động tham vấn nghề với nội dung là nghiên cứu những đặc điểm của người được tư vấn như: năng lực, sở thích, năng khiếu và những yếu tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn nghề của bản thân họ như: giáo dục, gia đình, xã hội, thái độ, cảm xúc, sự hài lòng Trong quá trình tham vấn cần xây dựng tổng thể thông tin về nghề, những công việc thiếu, đủ, cần nguồn nhân lực và hướng dẫn HS phân tích, lựa chọn xây dựng kế hoạch nghề nghiệp và đưa ra quyết định nghề nghiệp phù hợp với bản thân các em và để làm được điều đó bản thân người được tham vấn cũng cần trang bị cho mình những hiểu biết, kiến thức, kĩ năng về thế giới công việc

Yaqoob & Samad (2017) trong công trình “Senior high school career planning: What students want” đã nêu mục đích của nghiên cứu về TVHN ở Pakistan nhằm:

Đánh giá kiến thức tư vấn nghề nghiệp của HS; Thái độ của HS đối với hoạt động tư vấn nghề nghiệp và sự cần thiết (hiện diện) của các cố vấn nghề nghiệp ở các lĩnh vực khác nhau ở cấp trung học, những người sẽ giúp HS trong việc đưa ra quyết định nghề nghiệp đúng đắn

1.1.1.2 Quản lí hoạt động TVHN ở trường THPT

Ở nhiều nước, công tác hướng nghiệp được đặc biệt chú trọng bao gồm cả TVHN và giáo dục nghề nghiệp Ngành giáo dục của mỗi quốc gia đều chủ động tổ chức hướng nghiệp ngay từ bậc THCS, thậm chí ngay cả những bậc học thấp hơn Hoạt động TVHN đã được định hướng từ việc thiết kế chương trình giáo dục trong nhà trường của mỗi quốc gia Việc giảng dạy các môn năng khiếu, phát triển thiên hướng thuộc về ưu thế của mỗi cá nhân ở các bậc học, việc phân luồng chuyên môn, phân ban trong giáo dục… xét về bản chất cũng là những biện pháp hướng nghiệp Vào những năm 1960, nhà tâm lí học người Mỹ John Holland (1919-2008) đã nghiên cứu và thừa nhận sự tồn tại của các loại nhân cách và sở thích nghề nghiệp khác nhau, ông đã chỉ ra rằng tương ứng với mỗi kiểu nhân cách nghề nghiệp khác nhau thì có một số nghề mà cá nhân có thể chọn để có được hiệu quả làm việc cao nhất Nói cách khác, ông cho rằng khi lựa chọn một nghề nào, con người có xu hướng

sẽ tìm kiếm những môi trường làm việc mà ở đó, họ được thể hiện bản thân, thể hiện

Trang 29

cái tôi của mình và có xu hướng không chọn những việc không phù hợp với đặc điểm nhân cách của mình Lý thuyết của John Holland đã và đang được các nhà quản lí sử dụng rộng rãi trong thực tiễn quản lí nhân sự cũng như quản lí TVHN trên toàn thế giới (Dẫn theo James A Athanasou và Raoul Van Esbroeck, 2008)

Hutchinson & Bottorff (1986), trong bài viết “Selected high school counseling services: Student assessment” đã đưa ra các phương thức phối hợp, cộng tác chặt chẽ giữa trung tâm giáo dục và các trường phổ thông trong việc lập kế hoạch thực tế cho

HS THPT đến các trường đại học, trung tâm thư viện, nhà máy, xí nghiệp, các cơ sở kinh doanh, nhà hàng để HS có cái nhìn thực tế về nghề nghiệp mà họ theo học và làm việc sau này

Kim Witko và cộng sự (2005) khi đánh giá công tác lập kế hoạch nghề nghiệp của 2360 HS ở 52 trường THPT ở Nam Alberta, Canada chỉ ra rằng 89% HS lớp 12 bày tỏ mong muốn được TVHN trước khi lập kế hoạch nghề nghiệp Tuy nhiên, các

em chưa thật sự hài lòng với hệ thống tư vấn nghề nghiệp hiện tại và các dịch vụ mà

HS nhận được từ sự hướng dẫn của nhà trường HS phải đối mặt với những rào cản đáng kể trong việc lập kế hoạch nghề nghiệp, cụ thể: 40% HS không biết nơi để được trợ giúp trong việc ra quyết định nghề nghiệp; 39,7% tin rằng họ cần phải đến quá nhiều nơi khác nhau để biết thông tin họ yêu cầu 59,7% cảm thấy khó khăn trong việc tìm kiếm tất cả thông tin họ cần đưa ra quyết định nghề nghiệp và 37,6% không biết tìm câu trả lời ở đâu câu hỏi về tương lai của họ Vì thế, để quản lí TVHN cho HS THPT, nhà trường nên trang bị cho GV và cho phụ huynh thông tin và kiến thức thích hợp để hỗ trợ HS lập kế hoạch nghề nghiệp cũng như giúp HS đưa ra quyết định liên quan đến nghề nghiệp dựa trên nhu cầu xã hội một cách tốt nhất Đồng thời, nhà trường cần tăng cường các chương trình TVHN để HS có nhiều thông tin về thế giới nghề cũng như nhận được sự tư vấn từ chuyên gia, cố vấn nghề nhằm hỗ trợ cho việc lập kế hoạch nghề nghiệp của các em

Gao (2008) với nghiên cứu “The effective way of career guidance on college students: Career counseling in class” đã phân tích: Thông qua hoạt động tư vấn,

người cố vấn sẽ “hướng nghiệp” HS, SV trong các trường bách khoa hoặc viện giáo dục kĩ thuật khám phá những điểm mạnh, liên quan đến sở thích, nhu cầu của chính

Trang 30

bản thân mình; Hướng dẫn các em và phụ huynh HS lập kế hoạch và đưa ra quyết định sáng suốt cho con đường học vấn và sự nghiệp của họ

Anca-Olga Andronic và Răzvan-Lucian Andronicb (2011) trong nghiên cứu của mình đã cho thấy công tác quản lí TVHN được thực hiện trong các trường học ở Brasov còn hạn chế Các trường học tại đây hầu như không có cố vấn nghề nghiệp, chuyên gia tư vấn tâm lí, các dịch vụ hỗ trợ TVHN cho HS cũng không phổ biến Hai tác giả đề xuất giải pháp lí tưởng để tối ưu hóa công tác quản lí TVHN là cải thiện trang web, tăng cường sự hiện diện trên các phương tiện truyền thông địa phương, các chiến dịch quảng bá trong trường học, trang bị thích hợp các văn phòng tư vấn ngay trong trường học

Bên cạnh đó, công tác quản lí hoạt động TVHN đã, đang được hình thành và phát triển ở nhiều quốc gia trên thế giới, điển hình như:

Tại Áo, từ năm 1998 - 1999 luật của Áo đã thông qua việc áp dụng tư vấn

GDHN cho HS lớp 7 và lớp 8 ở tất cả các loại hình THCS Hướng nghiệp được xem như là môn học phụ trợ, chiếm khoảng 32 giờ/năm, được thực hiện qua các hoạt động sau: 1) Các bài học giáo dục nghề nghiệp do GV đảm nhận với mục tiêu chính là phân tích những điểm mạnh yếu của HS, giúp HS nhận thức rõ về những mối quan tâm và

sở thích của bản thân và tự chuẩn bị tri thức về “thế giới nghề nghiệp”; 2) Tư vấn cá nhân cho các HS, SV do các GV đã được đào tạo về tư vấn và các nhà tư vấn trong trường học đảm nhận Thông qua hoạt động này, cha mẹ HS được thông báo về Hội chợ việc làm; Phần đào tạo thực hành trong các tổ chức và ngày thông tin tại Viện phát triển kinh tế WIFI) hoặc Viện đào tạo nghề (BIF) Ngoài ra ở Áo, còn có các trung tâm thông tin việc làm (BIZ) cũng cung cấp nhưng dịch vụ TVHN cho các đối tượng HS, SV và các bậc cha mẹ của họ Trung tâm này có ở khắp mọi nơi trên đất

Áo dưới những tên gọi khác nhau nhưng đều cùng sự điều hành của các Phòng Kinh

tế Tại đây, HS được cung cấp các chương trình tham quan nhằm mục đích tạo cơ hội cho các em tiếp cận với bức tranh toàn cảnh về thế giới nghề nghiệp nói chung và với các mô hình đào tạo nghề nói riêng Bên cạnh đó các em được cung cấp những bài tập kiểm tra xu hướng và những kĩ năng nghề nghiệp… Sau khi các em đã có những thông tin sơ bộ về bản thân và thị trường lao động, các nhà TVHN sẽ đưa ra những

Trang 31

lời khuyên thích hợp giúp các em lựa chọn được cho mình một hướng nghề mà bản thân có cơ hội phát triển cao nhất (Dẫn theo Lê Thị Thanh Hương, 2010, tr.82-83)

Tại Mĩ: Về cơ sở lí luận, có thể khẳng định rằng hầu hết những lí thuyết TVHN

nổi tiếng đều ra đời tại Mĩ Thực hành tư vấn nghề nghiệp được tiến hành ở hệ thống trường học Trong hệ thống trường học, nó được gọi là TVHN (vocational guidance, career guidance) TVHN trong trường học của Mĩ được xây dựng trên khuôn khổ kết hợp chặt chẽ của những lí thuyết tâm lí học phát triển và những ảnh hưởng của văn hóa, kinh tế, xã hội đến phát triển nghề nghiệp của trẻ em Chương trình TVHN được đề cập trong rất nhiều chương trình, hoạt động cụ thể, hướng đến 3 lĩnh vực, gồm: Những kiến thức về bản thân (self-knowledge); Giáo dục và khám phá nghề nghiệp (Educational and occupational exploration); Và kế hoạch nghề nghiệp (carreer planning) Tùy vào mức độ phát triển tâm lí, cũng như độ thuần thục về những kĩ năng phát triển, ở mỗi cấp học, HS sẽ được cung cấp một dịch vụ tư vấn nghề nghiệp phù hợp Trong chương trình có tên “Planning of life” mà các trường THPT nước này đang áp dụng đã đưa ra 7 yếu tố quan trọng đòi hỏi phải có trong bất cứ một chương trình định hướng nghề nghiệp và cuộc đời nào, còn được gọi là “C’7” Đó là: 1) Rõ ràng về mục tiêu (Clarity); 2) Cam kết (Commtment); 3) Toàn diện (Comprehensive); 4) Hợp tác (Collaboration); 5) Chặt chẽ (Coherence); 6) Phối hợp (Coordination); 7) Hiệu quả (Competency) Ngoài ra, nhiệm vụ TVHN của nhà tư vấn được ghi khá rõ,

họ sẽ hỗ trợ học tập, trau dồi kĩ năng làm bài thi, thiết lập các mục tiêu và đưa ra quyết định, nhận thức về nghề nghiệp, lên kế hoạch nghề nghiệp, giúp HS hiều về bản thân và người khác, mối quan hệ bạn bè, các chiến lược đối phó và các kĩ năng

xã hội, giao tiếp và giải quyết khó khăn, giáo dục về lạm dụng chất kích thích, nhận biết được sự đa dạng văn hóa và sự khác biệt (Dẫn theo Lê Thị Thanh Hương, 2010, tr.82-83)

Tại Pháp, TVHN trong các nhà trường được tổ chức một cách chặt chẽ, chịu

sự quy định nghiêm ngặt của luật pháp, Chính phủ và ngành giáo dục trong việc bắt buộc các cơ sở giáo dục, đào tạo (nhà trường các cấp) xây dựng, triển khai các hoạt động TVHN thông qua Bộ Luật TVHN và đào tạo nghề suốt đời (2009) và được tiếp tục áp dụng cho đến nay Các hệ thống TVHN được cung cấp các khoản kinh phí

Trang 32

chính thức và thường xuyên để có thể tiến hành các họat động của mình với tư cách các dịch vụ “công” Nhờ đó, các nhà tư vấn có thể có vị trí chuyên môn và được trả lương thỏa đáng, thường xuyên, chính thức trong các môi trường làm việc của họ Ở Pháp, tồn tại hai mô hình hoạt động của TVHN Mô hình thứ nhất trong đó TVHN là một thành tố tích cực và sống động của tư vấn học đường Thứ hai, TVHN đứng độc lập trong tổng thể hệ thống tham vấn học đường ở các nhà trường Các phòng tư vấn học đường được dành cho không gian với những diện tích phòng ốc có trang bị các thiết bị chuyên môn đi kèm, mà đặc biệt trong đó là hệ thống tài liệu, tư liệu, thông tin, các thiết bị nghe nhìn và các hệ thống phần mềm chuyên môn được cài đặt trợ giúp quá trình tư vấn được diễn ra một cách có hiệu quả nhất (Dẫn theo Phạm Đăng Khoa, 2014)

Đồng thời, ở một số nước ở khu vực châu Á và châu Á - Thái Bình Dương chịu ảnh hưởng rất lớn và áp dụng lí thuyết và mô hình nghiệp của Mĩ và châu Âu sao cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh thực tế của đất nước họ Điển hình như:

Ở Malaysia, từ những năm 60 của thế kỉ XX, Bộ Giáo dục đã nhận thức rõ tầm

quan trọng của tư vấn hướng dẫn nghề trong trường học và đã thiết lập bộ phận tư vấn và hướng dẫn tại phòng kế hoạch và nghiên cứu giáo dục (Educational Planning and Research Division) Để đảm bảo hiệu quả của công việc TVHN cho HS, GV làm công tác hướng dẫn nghề nghiệp phải nắm qua về 25 môn học, khả năng làm việc nhóm và nhiều hoạt động tập thể khác của HS Đến năm 1996, dịch vụ tư vấn, hướng dẫn đã áp dụng ở tất cả 3 cấp học, xuất hiện bản tin về TVHN, định hướng trường học, khó khăn khi chuyển đổi giai đoạn học tập

Ở New Zealand, tư vấn nghề nghiệp do một tổ chức phi chính phủ có tên là

“Yongmen Christian Association YMCA” (Hiệp hội nam thanh niên theo đạo Cơ đốc giáo) khởi xướng và phát triển Trung tâm này có nhiệm vụ kiểm tra chất lượng đầu vào trong giáo dục, tổ chức các hoạt động học tập, lên kế hoạch nghỉ ngơi cho người học… Những hoạt động hướng nghiệp do YMCA sáng tạo và triển khai đã được áp dụng rộng rãi trong các trường đào tạo kĩ thuật 20 năm sau đó Hiện nay, nhu cầu TVHN của nước này tăng cao, nhưng chi phí của Chính phủ dành cho hoạt động này lại bị cắt giảm Chính phủ cũng không có một quy chế cụ thể nào về hoạt động của

Trang 33

các nhà tư vấn nói chung và tư vấn nghề nghiệp nói riêng, vì vậy các nhà tư vấn phải hoạt động dựa trên những nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp, phải tự đặt ra những mức phí có thể chấp nhận được (Dẫn theo Lê Thị Thanh Hương, 2010, tr.84-87)

Ở Singapore, với mục tiêu giáo dục hướng đến thị trường lao động toàn cầu,

vì vậy, GDHN ở Singapore được chú trọng và đầu tư phát triển dưới nhiều hình thức

đa dạng và phong phú, tạo điều kiện để HS có thể tiếp cận nghề một cách dễ dàng

Từ năm 1989 đến 1993, nước này đã phát triển một “phần mềm hướng dẫn nghề nghiệp” với mục tiêu là hỗ trợ GV với vai trò là nhà cố vấn cung cấp thông tin về 300 nghề nghiệp theo xu hướng phát triển của xã hội, nhằm định hướng cho HS trong việc đưa ra quyết định chọn nghề Năm 2009, cổng thông tin điện tử về giáo dục và hướng nghiệp (http://ecareers.sg) được chính thức đưa vào sử dụng tại Singapore như một công cụ hỗ trợ HS bước vào thế giới công việc, duy trì năng lực cạnh tranh trong nền kinh tế toàn cầu (Yeo, Tan, & Neihart, 2013, p.7-9)

Ở Trung Quốc, bắt đầu từ những năm 80 của thế kỉ XX, người Trung Quốc bắt

đầu đặt vấn đề về áp lực học tập cũng như định hướng tương lai mà họ đặt ra cho trẻ

em Chính thời gian này, Chính phủ đã nhận thấy vai trò quan trọng của việc chăm sóc không chỉ thể chất mà còn phải cả tinh thần cho các em Song song với việc cải thiện các phương pháp giảng dạy, giảm tải học tập, xem lại các chương trình, các trường học đã xây dựng các trung tâm tham vấn sức khỏe tinh thần và TVHN, giúp

HS có những khó khăn trong học tập, các vấn đề lo âu, hoặc những dự định nghề nghiệp tương lai (Gao, 2008, p.37-39)

Tóm lại, qua phân tích một số công trình nghiên cứu về hoạt động TVHN và

quản lí hoạt động TVHN ở trường THPT đã chỉ ra rằng: 1) Việc triển khai hoạt động TVHN trong hệ thống giáo dục phổ thông ở mỗi nước là khác nhau Trong những nước phát triển, hoạt động này được tất cả các cấp quản lí từ cấp chính phủ đến địa phương coi trọng và được triển khai rộng khắp với sự tham gia không chỉ của nhà trường mà còn nhiều tổ chức xã hội khác nhau, tạo thành một hệ thống liên hoàn chặt chẽ 2) Từ lí thuyết của Holland, xây dựng thang tự đo trong định hướng nghề nghiệp

có tên là Self-Directed Search (SDS) (Tạm dịch: Tự tìm kiếm nghề nghiệp), thang đo

về sở thích và hứng thú 3) Qua khảo sát, khẳng định rằng lứa tuổi thích hợp để định

Trang 34

hướng nghề là từ 15 đến 18 tuổi 4) Những phương pháp hướng nghiệp đầu tiên đề nghị đưa vào công tác tuyển chọn nghề nghiệp là Test 5) Hoạt động TVHN là một nội dung quan trọng của ngành hướng nghiệp 6) Những khó khăn của HS trong quá trình chọn nghề đó là: Không lựa chọn được nghề, không nhận thức rõ ràng khả năng,

sở thích và giá trị, quan niệm của bản thân phù hợp với nghề nào 7) Đặc điểm của người được tư vấn như: năng lực, sở thích, năng khiếu và những yếu tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn nghề của bản thân họ như: giáo dục, gia đình, xã hội, thái độ, cảm xúc, sự hài lòng 8) Mục đích của nghiên cứu về TVHN nhằm đánh giá kiến thức tư vấn nghề nghiệp của HS; Thái độ của HS đối với hoạt động tư vấn nghề nghiệp và sự cần thiết (hiện diện) của các cố vấn nghề nghiệp ở các lĩnh vực khác nhau ở cấp trung học, những người sẽ giúp HS trong việc đưa ra quyết định nghề nghiệp đúng đắn 9) Các công trình nghiên cứu về quản lí hoạt động TVHN còn mờ nhạt: cả về lí thuyết lẫn thực tiễn, một số công trình nghiên cứu chỉ đề cập chức năng lập kế hoạch và chỉ đạo

1.1.2 Nghiên cứu ở Việt Nam

1.1.2.1 Hoạt động tư vấn hướng nghiệp ở trường trung học phổ thông

TVHN ở nước ta đã được nghiên cứu từ những năm 80 của thế kỉ XX, công trình nghiên cứu tiêu biểu như đề tài “Mô tả các nghề đào tạo nhằm mục đích hướng nghiệp” là kết quả nghiên cứu của 5 tác giả Đặng Danh Ánh, Phạm Đức Quang, Phạm Ngọc Anh, Đỗ Thị Hòa và Nguyễn Viết Sự Các tác giả trình bày việc xây dựng các phòng hướng nghiệp và việc tư vấn nghề trong trường nghề và trường phổ thông, tuy nhiên nó cũng là tư liệu quý giá cho hoạt động TVHN ở các trường phổ thông trung học Song hành thời gian này, còn xuất hiện tài liệu sinh hoạt hướng nghiệp cho HS cuối cấp phổ thông cơ sở và các lớp phổ thông trung học của Phạm Huy Thụ, Phạm Tất Dong và Nguyễn Thế Trường Tài liệu này trình bày rõ về vấn đề tư vấn nghề và xây dựng được nhiều bản họa đồ nghề có giá trị thực tiễn phục vụ tư vấn nghề Từ năm 1996 đến 2005 nhiều công trình nghiên cứu về hướng nghiệp và tư vấn nghề cho

HS, các nghiên cứu đã tập trung vào các đặc điểm của bản thân trong quá trình chọn nghề, tư vấn nghề đã được công bố của các tác giả: Phạm Tất Dong, Nguyễn Như Ất, Đặng Danh Ánh, Hoàng Kiện, Nguyễn Thế Trường, Nguyễn Đức Trí, Nguyễn Văn

Trang 35

Hộ, Lê Đức Phúc, Nguyễn Văn Lê (Dẫn theo Trương Thị Hoa, 2014, tr.16)

Năm 2007, Đặng Danh Ánh tiếp tục nghiên cứu về TVHN và đăng tải kết quả trên Tạp chí Giáo dục với bài “Cần đặt đúng vị trí của tư vấn hướng học và TVHN trong trường phổ thông”, tác giả đã khẳng định: “Mục đích cuối cùng cần đạt được của GDHN cho HS phổ thông là: Tiến hành TVHN cho HS nhằm giúp các em chọn được nghề, chọn được ngành và chọn được trường” Trong cùng tạp chí này ở số 156 (kì 2-2/2007), tác giả Nguyễn Thị Thanh Huyền (2007) đăng bài “Làm tốt công tác

tư vấn nghề góp phần nâng cao hiệu quả GDHN trong trường phổ thông” Bài báo trình bày về khái niệm tư vấn nghề, 04 nhiệm vụ của tư vấn nghề và 05 bước thực hiện tư vấn nghề Sau hai năm, tác giả công bố, Luận án tiến sĩ Giáo dục “Xây dựng

mô hình tư vấn nghề trong nhà trường THPT khu vực miền núi Đông Bắc Việt Nam”, trong đó, đã khái quát lí luận và thực tiễn về tư vấn nghề, thực trạng tư vấn nghề ở trường THPT khu vực miền núi Đông Bắc Việt Nam Tác giả đã xây dựng thí điểm

mô hình “Tổ tư vấn nghề trong trường phổ thông khu vực miền núi Đông Bắc” Theo

mô hình này, tổ tư vấn nghề có chức năng, nhiệm vụ: Cung cấp thông tin nghề; Chẩn đoán hứng thú, năng lực nghề nghiệp của HS; Lập hồ sơ hướng nghiệp; Tư vấn hiệu chỉnh và đưa ra những lời khuyên cho HS Về cơ cấu tổ chức của mô hình bao gồm các bộ phận: Bộ phận lãnh đạo quản lí; bộ phận nghiệp vụ Tổ tư vấn nghề được thiết

kế theo kiểu cơ cấu trực tuyến, có sự phối hợp chặt chẽ và thống nhất Cùng năm

2009, bài báo về “TVHN cho HS phổ thông” của Đặng Danh Ánh (2009, tr.44-46)

đã trình bày các loại tư vấn và TVHN Tác giả cho rằng tư vấn chọn nghề gồm TVHN

và tư vấn nghề Theo tác giả, TVHN và tư vấn nghề có điểm “giống nhau cả về hình thức lẫn nội dung khái niệm, bởi lẽ mục tiêu chung nhất, cao cả nhất của tư vấn nghề

và TVHN đều là giúp HS chọn được ngành nghề học, học nghề và trường học sao cho phù hợp với yêu cầu của nghề, của xã hội và đặc điểm bản thân các em”; điểm khác biệt “đôi chút về đối tượng, phạm vi và mức độ” Nội dung của bài báo còn đề cập về vị trí mới của TVHN trong chủ trương của Bộ Giáo dục và Đào tạo (Bộ GD&ĐT) Sau đó một năm, tác giả Đặng Danh Ánh (2010) trong nghiên cứu về GDHN đã đưa ra quy trình tư vấn nghề bao gồm bảy bước Cùng thời gian, Lê Thị Thanh Hương (2010, tr.64-90) chủ biên tài liệu trình bày kết quả nghiên cứu về

Trang 36

“TVHN cho HS THPT thực trạng ở Việt Nam và kinh nghiệm quốc tế” xuất bản tại Nhà xuất bản Khoa học Xã hội đã làm rõ các khái niệm: Tư vấn, hướng nghiệp, TVHN (tư vấn chọn nghề) Đồng thời, một số lí thuyết và mô hình TVHN cũng được trình bày khá chi tiết trong 23 trang Trong tài liệu này, TVHN ở Mĩ, Pháp, Áo, Malaysia, New zealand, Hàn Quốc và Ấn Độ được các tác giả tổng hợp khá súc tích Đồng thời, các tác giả cũng đã nghiên cứu về nhu cầu TVHN, thực trạng GDHN và TVHN tại 3 trung tâm giáo dục lớn nhất: Hà Nội, Đà Nẵng và TP Hồ Chí Minh Những nội dung như đã trình bày về TVHN được các tác giả nghiên cứu với cách tiếp cận tâm lí học là chủ yếu Cùng năm này, bài báo khoa học “Tổ chức TVHN nghề cho HS trong dạy nghề” của tác giả Hoàng Văn Bình (2010) đăng tải trên Tạp chí Giáo dục số 273(kì 1-5/2010) khẳng định: “Tư vấn nghề là một khái niệm thu hẹp của khái niệm TVHN ” Trong bài viết, tác giả đã trình bày những vấn đề chung về

tư vấn nghề và quy trình tư vấn nghề theo bốn bước

Từ năm 2011, số công trình nghiên cứu và bài báo khoa học về đề tài này được công bố khá nhiều, tiêu biểu là: “Thực trạng công tác TVHN ở một số trường THPT tại Thành phố Hồ Chí Minh” đăng trên Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm

TP Hồ Chí Minh, số 25 của tác giả Nguyễn Thị Trường Hân Bài báo trình bày khái quát về công tác TVHN ở trường THPT, thực trạng công tác TVHN ở một số trường THPT tại TP Hồ Chí Minh và một số biện pháp nâng cao hiệu quả của công tác TVHN

ở một số trường THPT tại Thành phố Hồ Chí Minh Các biện pháp cụ thể: 1) Xây dựng đội ngũ GV làm công tác hướng nghiệp để phụ trách hoạt động GDHN, đồng thời hỗ trợ, hướng dẫn, tư vấn cho HS trong quá trình lựa chọn nghề nghiệp tương lai; 2) Tổ chức tốt công tác thông tin nghề nghiệp để giúp HS định hướng và lựa chọn nghề; 3) Tăng cường kinh phí, cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ hoạt động hướng nghiệp; 4) Đẩy mạnh hoạt động TVHN cho HS Đồng thời, tác giả khẳng định:

“GDHN, trong đó có TVHN, phải được đặt trong quan điểm phát triển toàn diện, theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa” Nghiên cứu về TVHN cũng cần quan tâm đến người làm công tác hướng nghiệp, và kết quả nghiên cứu theo hướng này được Nguyễn Thị Thanh Huyền trình bày trong bài báo “Những yêu cầu về năng lực của

GV làm công tác hướng nghiệp ở trường phổ thông” đăng trên Tạp chí Giáo dục, số

Trang 37

260 (Kì 2-4/2011) Tác giả đã khẳng định GV làm công tác hướng nghiệp cần phải thỏa mãn ba năng lực: Năng lực chuyên môn, năng lực dạy học và năng lực tư vấn Nhằm hỗ trợ năng lực cần thiết cho đội ngũ tham gia TVHN, Phạm Văn Sơn (2012) đăng tải bài báo “Xây dựng và sử dụng bản mô tả nghề trong TVHN cho HS

phổ thông” trên Tạp chí Tâm lí học số 6 (159), 6/2012 Bài viết đã đề cập đến mục

đích sử dụng bản mô tả nghề trong tư vấn, tác giả khẳng định: “Bản mô tả nghề cung cấp những yêu cầu về phẩm chất, năng lực cần thiết giúp cán bộ tư vấn có cơ sở đối chiếu với từng HS để xác định sự phù hợp nghề”, “Bản mô tả nghề còn là tài liệu hữu ích giúp GV, nhà giáo dục, phụ huynh HS muốn tìm hiểu về nghề nghiệp phục vụ cho công tác tư vấn, chọn nghề tương lai” Đồng thời, tác giả cũng nhận định: “Bản

mô tả nghề trong hoạt động TVHN là một trong những giải pháp thiết thực góp phần đẩy mạnh tuyên truyền định hướng nghề cho HS THPT.”

Luận án tiến sĩ “TVHN cho HS THPT” của Phạm Ngọc Linh công bố năm 2013

đã làm rõ các khái niệm tư vấn, TVHN, TVHN cho HS THPT; chỉ ra những nội dung tâm lí của hoạt động TVHN và các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động TVHN cho HS THPT Đồng thời, luận án cũng đã khái quát thực trạng TVHN ở một số trường

THPT, các biểu hiện tâm lí trong TVHN

Luận án tiến sĩ Khoa học giáo dục “GDHN cho HSTHPT khu vực Hà Nội qua tham vấn nghề” của Trương Thị Hoa công bố vào năm 2014 đã trình bày cơ sở lí luận của GDHN qua tham vấn nghề ở THPT Trong đó, tác giả đã trình bày khá chi tiết về

tư vấn nghề trên thế giới và tư vấn nghề, tham vấn nghề ở Việt Nam Đồng thời tác

giả cũng so sánh hai khái niệm tư vấn nghề và tham vấn nghề là:

Giống nhau: Tham vấn nghề và tư vấn nghề đều là hoạt động trợ giúp cá nhân

giải quyết những khó khăn, vướng mắc trong công việc, trong lựa chọn nghề”

Khác nhau: Về mục tiêu: Tư vấn nghề chủ yếu hướng tới đưa ra lời khuyên

chọn nghề, chọn công việc, còn hoạt động tham vấn nghề hướng tới mục tiêu là trợ giúp cá nhân nâng cao năng lực giải quyết những khó khăn trong quá trình chọn nghề;

Về tiến trình: Tư vấn nghề thường diễn ra trong một thời gian ngắn hơn, giải quyết

vấn đề tức thời, còn tham vấn nghề có thể diễn ra trong thời gian dài hơn, có thể kéo dài vài buổi, hoặc hàng tuần; Về cách thức tương tác: Trong tư vấn nghề cách thức

Trang 38

thực hiện chính là cung cấp thông tin và lời khuyên bổ ích từ người tư vấn với đầy kiến thức chuyên sâu về vấn đề cần tư vấn Đây là hình thức mà nhà tư vấn là chuyên gia, là người chủ động, tích cực, còn người được tư vấn thì thụ động nghe theo sự phân tích và khuyên bảo của nhà tư vấn Trong tham vấn nghề có sự tương tác chặt chẽ giữa nhà tham vấn và thân chủ, vai trò của nhà tham vấn chỉ là người trợ giúp còn thân chủ ở đây là trọng tâm Tác giả cũng trình bày rõ GDHN qua tham vấn nghề

ở THPT: mục tiêu, nội dung, hình thức và định hướng quy trình hoạt động tham vấn Luận án còn trình bày kết quả nghiên cứu về thực trạng, trên cơ sở của lí luận và kết quả của thực trạng, tác giả đã xây dựng quy trình hoạt động tham vấn nghề trong GDHN ở THPT Mặc dù như tác giả đã phân biệt tư vấn nghề và tham vấn nghề nhưng hai khái niệm vẫn có điểm tương đồng, nên kết quả trong luận án này vẫn chắt lọc để làm cơ sở lí luận cho công trình nghiên cứu của mình

Bài báo “TVHN học đường thực trạng và giải pháp” được đăng trên Tạp chí Thiết bị Giáo dục số 123 tháng 11/2015, trong đó, tác giả Đỗ Thị Bích Loan trình bày

về: khái niệm “tư vấn học đường”, “TVHN học đường”; Vai trò của TVHN học đường; thực trạng TVHN trong nhà trường; và một số các giải pháp tăng cường TVHN học đường Trong số các giải pháp, đáng chú ý là giải pháp 4: Trách nhiệm của hiệu trưởng và GVCN trong quản lí tổ chức tư vấn nghề

Bài báo “TVHN và tuyển sinh cho HS – kinh nghiệm ở Trường THCS & THPT

Nguyễn Tất Thành” trên Tạp chí Giáo dục, số Đặc biệt (Kì 1 tháng 6/2016) đã được

tác giả Nguyễn Thị Thu Anh tập trung vào ba nội dung: TVHN và tuyển sinh ở Trường Nguyễn Tất Thành – Những vấn đề đặt ra; Tổ chức hoạt động TVHN và tuyển sinh ở Trường Nguyễn Tất Thành; Bài học kinh nghiệm Trong đó, đáng chú ý

về ý nghĩa của hoạt động TVHN và tuyển sinh

Bài báo “Thực trạng nhu cầu về các hình thức TVHN của HS một số trường THPT tại Thành phố Hồ Chí Minh” của tác giả Lê Duy Hùng (2018, tr.15-18) đã nhấn mạnh rằng “nhu cầu của HS THPT về hình thức TVHN là những nhu cầu cần được trợ giúp bởi các hình thức TVHN trực tiếp hoặc gián tiếp để thỏa mãn nhu cầu TVHN của bản thân” Tác giả đã đưa ra 8 hình thức để tìm hiểu thực trạng nhu cầu

về hình thức TVHN của HS THPT, đó là: 1) Gián tiếp qua thư, email; đài truyền hình;

Trang 39

điện thoại 2) Các nhà chuyên môn làm việc trực tiếp cho cá nhân hoặc nhóm HS tại phòng tư vấn 3) Tổ chức các buổi hội thảo với HS theo quy mô nhỏ (từ 10-20 HS) 4) Học tập, tham quan thực tế tại các trường cao đẳng, đại học (CĐ, ĐH), cơ sở dạy nghề hoặc nhà máy 5) Được học và thực hành một nghề nào đó trong quá trình học phổ thông 6) Các thầy/cô lồng ghép giáo dục nghề trong quá trình dạy môn cơ bản 7) Tổ chức cho HS nghe những người đang làm các ngành nghề nói về công việc của

họ 8) Các nhà chuyên môn làm việc với phụ huynh HS

Nghiên cứu về TVHN không chỉ công bố kết quả qua các công trình nghiên cứu, các bài báo khoa học, còn thể hiện trong tài liệu “Tổ chức hoạt động GDHN trong nhà trường phổ thông” do Nhà xuất bản Đại học Thái Nguyên năm 2015 của tác giả Nguyễn Thị Thanh Huyền Nội dung của tài liệu đã trình bày về cơ sở lí luận của GDHN, tổ chức hoạt động GDHN và tư vấn nghề trong trường phổ thông Các nội dung như: các giai đoạn hướng nghiệp; các thành phần tham gia tổ chức thực hiện hoạt động GDHN trong trường phổ thông; tổ chức hoạt động GDHN trong trường phổ thông; các khái niệm “tư vấn” và “tư vấn nghề”; chức năng, nhiệm vụ, nội dung, phương pháp và quy trình tư vấn nghề

Vậy, nghiên cứu về hoạt động TVHN ở nước ta đã xuất hiện vào những năm

80 của thế kỉ XX và đã thu được kết quả đáng khích lệ Kết quả nghiên cứu về hoạt động này đã được trình bày rõ, như: một số lí thuyết và mô hình TVHN, vấn đề tư vấn nghề; các đặc điểm của bản thân trong quá trình chọn nghề, tư vấn nghề Làm rõ các khái niệm: Tư vấn, hướng nghiệp, TVHN, TVHN (tư vấn chọn nghề), tư vấn nghề

và tham vấn nghề, ý nghĩa của hoạt động TVHN và tuyển sinh, tám hình thức để tìm hiểu thực trạng nhu cầu TVHN của HS THPT Xây dựng: Các phòng hướng nghiệp

và việc tư vấn nghề trong trường nghề và trường phổ thông; mô hình “Tổ tư vấn nghề trong trường phổ thông khu vực miền núi Đông Bắc”; quy trình tư vấn nghề bao gồm bảy bước; và sử dụng bản mô tả nghề trong TVHN cho HS phổ thông; nhiều bản họa

đồ nghề có giá trị thực tiễn phục vụ tư vấn nghề Xác định thực trạng và đề xuất một

số giải pháp/biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động TVHN ở trường THPT Chỉ ra những nội dung tâm lí của hoạt động TVHN và các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động TVHN cho HS THPT Làm rõ cơ sở lí luận của GDHN qua tham vấn nghề ở THPT

Trang 40

1.1.2.2 Quản lí hoạt động TVHN ở trường THPT

Quản lí hoạt động TVHN ở trường THPT có ý nghĩa và tầm quan trọng trong việc định hướng, lựa chọn nghề, lựa chọn trường phù hợp cho HS tốt nghiệp THPT trong tương lai Nhưng kết quả nghiên cứu được công bố hay đăng tải trong các luận

án tiến sĩ và các bài báo khoa học nghiên cứu còn khiêm tốn Cụ thể:

Luận án tiến sĩ “Quản lý GDHN ở trường trung học phổ thông theo định hướng phát triển nhân lực thành phố Hồ Chí Minh” (Phạm Đặng Khoa, 2016), làm rõ cơ sở

lí luận về GDHN và quản lí GDHN ở trường phổ thông theo định hướng phát triển nhân lực, trên nền tảng xác định thực trạng về GDHN và quản lí GDHN ở trường THPT tại thành phố Hồ Chí Minh, tác giả đã xác định nguyên nhân và đề xuất 6 giải pháp quản lí GDHN

Bài báo khoa học “Một số giải pháp quản lí công tác hướng nghiệp cho HS

THPT huyện Châu Thành, tỉnh An Giang” trong Tạp chí Khoa học Trường Đại học Đồng Tháp, số 24 (2-2007) của tác giả Trần Phú Hào đã xác định hai nguyên nhân

lớn dẫn đến tình trạng lựa chọn sai ngành nghề của HS THPT là: Ở trường THPT vẫn chú trọng việc dạy chữ mà thiếu định hướng tương lai cho HS, chưa phối hợp tốt với các trường CĐ, ĐH, trung cấp để tư vấn cho HS; Hình thức tổ chức các hoạt động hướng nghiệp còn nghèo nàn, rập khuôn chưa có nhiều thông tin mới nên không thu hút sự chú ý của HS Từ những nguyên nhân này, tác giả đã đề xuất năm giải pháp quản lí công tác hướng nghiệp cho HS THPT huyện Châu Thành, tỉnh An Giang Năm giải pháp này tập trung vào các nội dung của quản lí như: nội dung, phương pháp và hình thức, kiểm tra và đánh giá kết quả, phối hợp với gia đình và xã hội, điều kiện cho hoạt động GDHN trong trường THPT

Bài báo “Quản lí hoạt động tư vấn học đường ở các trường THPT tỉnh Hậu Giang” của Nguyễn Quang Nhơn (2016), trong đó tác giả trình bày thực trạng tư vấn học đường và quản lí tư vấn học đường, và sáu biện pháp quản lí tư vấn học đường Mặc dù tác giả không sử dụng khái niệm TVHN, nhưng nội hàm như tác giả trình bày cũng tương đồng với khái niệm này

Phần lớn việc nghiên cứu còn tập trung ở trình độ thạc sĩ: “Quản lí GDHN ở các trường THPT tại thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương” của Nguyễn Thị Thanh

Ngày đăng: 17/10/2021, 06:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
6. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2013). Tài liệu Đổi mới GDHN trong trường THPT. Hà Nội. Em xem lai có tì liệu này không nhé Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu Đổi mới GDHN trong trường THPT
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2013
7. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2013). Tài liệu bổ sung sách GV Hoạt động GDHN lớp 10, 11 và 12. Hà Nội: Đại học Quốc gia Hà Nội. trùng với số 19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu bổ sung sách GV Hoạt động GDHN lớp 10, 11 và 12
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2013
8. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Tổ chức hợp tác phát triển và Hỗ trợ kĩ thuật vùng Flamăng, Vương quốc Bỉ (VVOB) (2013). Tổ chức TVHN và tư vấn tuyển sinh cho nhóm lớn HS cấp THPT. Trùng với Sô 26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức TVHN và tư vấn tuyển sinh cho nhóm lớn HS cấp THPT
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo, Tổ chức hợp tác phát triển và Hỗ trợ kĩ thuật vùng Flamăng, Vương quốc Bỉ (VVOB)
Năm: 2013
9. Bùi Minh Hiền (chủ biên), Vũ Ngọc Hải và Đặng Quốc Bảo (2006), Quản lí giáo dục, Nxb Đại học sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lí giáo dục
Tác giả: Bùi Minh Hiền (chủ biên), Vũ Ngọc Hải và Đặng Quốc Bảo
Nhà XB: Nxb Đại học sư phạm
Năm: 2006
11. Đặng Danh Ánh (2002). “Quan điểm mới về giáo dục hướng nghiệp”. Tạp chí Giáo dục, số 38, 36-37 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan điểm mới về giáo dục hướng nghiệp”. "Tạp chí Giáo dục
Tác giả: Đặng Danh Ánh
Năm: 2002
12. Đặng Danh Ánh (2007). “Cần đặt đúng vị trí của tư vấn hướng học và tư vấn hướng nghiệp trong trường phổ thông”. Tạp chí Giáo dục, số 163 (Kì 2-5/2007), 7-8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cần đặt đúng vị trí của tư vấn hướng học và tư vấn hướng nghiệp trong trường phổ thông”. "Tạp chí Giáo dục
Tác giả: Đặng Danh Ánh
Năm: 2007
13. Đặng Danh Ánh (2009). “Tư vấn hướng nghiệp cho học sinh phổ thông”. Tạp chí Khoa học giáo dục, số 44, 3-4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư vấn hướng nghiệp cho học sinh phổ thông”. "Tạp chí Khoa học giáo dục
Tác giả: Đặng Danh Ánh
Năm: 2009
14. Đặng Danh Ánh (2010). Giáo dục hướng nghiệp ở Việt Nam. Hà Nội: NXB Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục hướng nghiệp ở Việt Nam
Tác giả: Đặng Danh Ánh
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
Năm: 2010
15. Đỗ Thị Bích Loan (2015). “Tư vấn hướng nghiệp học đường: Thực trạng và giải pháp”. Tạp chí Nghiên cứu và ứng dụng, số 123, 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư vấn hướng nghiệp học đường: Thực trạng và giải pháp”. "Tạp chí Nghiên cứu và ứng dụng
Tác giả: Đỗ Thị Bích Loan
Năm: 2015
16. Đỗ Thị Bích Loan (2015). “Tư vấn hướng nghiệp học đường - thực trạng và giải pháp”. Tạp chí Thiết bị Giáo dục, số 123(11), 47-49; 80 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư vấn hướng nghiệp học đường - thực trạng và giải pháp”. "Tạp chí Thiết bị Giáo dục
Tác giả: Đỗ Thị Bích Loan
Năm: 2015
17. Harold Koontz, Cyril ODonnell, Heinz Weihrich (1998). Những vấn đề cốt yếu của quản lí (Vũ Thiều dịch). Hà Nội: NXB Khoa học và Kĩ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cốt yếu của quản lí (Vũ Thiều dịch)
Tác giả: Harold Koontz, Cyril ODonnell, Heinz Weihrich
Nhà XB: NXB Khoa học và Kĩ thuật
Năm: 1998
18. Hồ Phụng Hoàng Phoenix, Trần Thị Thu (2015). Tài liệu chuyên đề Kĩ năng tư vấn cá nhân về khám phá, lựa chọn và phát triển nghề nghiệp cho học sinh trung học. Hà Nội: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu chuyên đề Kĩ năng tư vấn cá nhân về khám phá, lựa chọn và phát triển nghề nghiệp cho học sinh trung học
Tác giả: Hồ Phụng Hoàng Phoenix, Trần Thị Thu
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2015
22. Hoàng Văn Bình (2010). Tổ chức tư vấn hướng nghiệp nghề cho học sinh trong dạy nghề. Tạp chí Giáo dục, số 273 (kì 1 -5/2010), 7-8; 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Giáo dục
Tác giả: Hoàng Văn Bình
Năm: 2010
23. Lê Duy Hùng (2018). Thực trạng nhu cầu về các hình thức tư vấn hướng nghiệp của học sinh một số trường trung học phổ thông tại Thành phố Hồ Chí Minh.Tạp chí Giáo dục, số 427 (Kì 1 - 4/2018), 15-18; 55 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Giáo dục
Tác giả: Lê Duy Hùng
Năm: 2018
24. Lê Thị Thanh Hương (chủ biên) (2010). Tư vấn hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông: Thực trạng ở Việt Nam và kinh nghiệm quốc tế. Hà Nội:NXB Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ). Tư vấn hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông: Thực trạng ở Việt Nam và kinh nghiệm quốc tế
Tác giả: Lê Thị Thanh Hương (chủ biên)
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2010
25. Nguyễn Lộc (2010). Lí luận về quản lí. Hà Nội: NXB Đại học sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận về quản lí
Tác giả: Nguyễn Lộc
Nhà XB: NXB Đại học sư phạm
Năm: 2010
26. Nguyễn Ngọc Tài, Hồ Phụng Hoàng Phoenix (2013). Tổ chức tư vấn hướng nghiệp và tư vấn tuyển sinh cho nhóm lớn học sinh cấp trung học phổ thông. Hà Nội: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức tư vấn hướng nghiệp và tư vấn tuyển sinh cho nhóm lớn học sinh cấp trung học phổ thông
Tác giả: Nguyễn Ngọc Tài, Hồ Phụng Hoàng Phoenix
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2013
27. Nguyễn Quang Nhơn (2016). “Quản lí hoạt động tư vấn học đường ở các trường trung học phổ thông tỉnh Hậu Giang”. Tạp chí Thiết bị Giáo dục, số 133, 85-88 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lí hoạt động tư vấn học đường ở các trường trung học phổ thông tỉnh Hậu Giang”. "Tạp chí Thiết bị Giáo dục
Tác giả: Nguyễn Quang Nhơn
Năm: 2016
28. Nguyễn Thanh Bình (chủ biên) (2010). Một số vấn đề trong công tác chủ nhiệm lớp ở trường trung học phổ thông hiện nay. Hà Nội: NXB Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề trong công tác chủ nhiệm lớp ở trường trung học phổ thông hiện nay
Tác giả: Nguyễn Thanh Bình (chủ biên)
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm Hà Nội
Năm: 2010
29. Nguyễn Thị Thanh Huyền (2007). Làm tốt công tác tư vấn nghề góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục hướng nghiệp trong trường phổ thông. Tạp chí Giáo dục, số 156 (Kì 2-2/2007), 10-11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Giáo dục
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Huyền
Năm: 2007

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w