- Số liệu sơ cấp: Điều tra 60 hộ dân 30 hộ sản xuất RAT và 30 hộ sản xuất RTT trên địa bàn xã Quảng Thành, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế tập trung chủ yếu ở 2 thôn có diện tích t
Trang 11 Trường Đại học Kinh tế, Đại học Huế, email:baochau1989@gmail.com
SO SÁNH HIỆU QUẢ KINH TẾ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT RAU AN TOÀN VÀ TRUYỀN THỐNG Ở XÃ QUẢNG THÀNH, HUYỆN
QUẢNG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
Trần Huỳnh Bảo Châu 1 , Trần Huỳnh Quang Minh
Ngày nhận bài: 25/05/2018 Ngày nhận bản sửa: 01/06/2018
Ngày duyệt đăng: 25/06/2018
Tóm tắt: Nghiên cứu này tập trung vào so sánh hiệu quả kinh tế hoạt động sản
xuất rau an toàn (RAT) và rau truyền thống (RTT) trên địa bàn xã Quảng Thành, huyện Quảng Điền Kết quả điều tra cho thấy: hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất rau tương đối cao Lợi nhuận của nhóm hộ trồng RAT là 15.310.800 đồng/sào/năm, trong khi RTT là 15.330.200 đồng/sào/năm Phần chênh lệch giữa hai nhóm trồng rau không quá lớn Nguyên nhân là do giá bán RAT cao nhưng chưa có thị trường tiêu thụ ổn định
và chưa có quy định nào giúp phân biệt RAT và RTT Do vậy, cần nâng cao hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất và chuỗi cung ứng sản phẩm RAT trong thời gian tới Chính quyền địa phương cần khuyến khích người dân chuyển đổi dần từ mô hình RTT sang RAT nhằm góp phần bảo vệ môi trường và đảm bảo sức khỏe cho người tiêu dùng
Từ khóa: Rau an toàn; Rau truyền thống; Xã Quảng Thành
1 Đặt vấn đề
Rau xanh là một thực phẩm không thể thiếu trong các bữa ăn hàng ngày của con người Sản xuất rau ở tỉnh Thừa Thiên Huế nói chung và xã Quảng Thành nói riêng ngày một phát triển, không những đem lại hiệu quả kinh tế cao mà góp phần tạo công ăn việc làm, cải thiện môi trường và tận dụng tốt nguồn lợi tự nhiên hiện có Tuy nhiên, hoạt động sản xuất rau cũng gặp rất nhiều khó khăn từ ảnh hưởng của biến đổi khí hậu Bên cạnh đó, việc sản xuất rau theo phương pháp truyền thống đang đối mặt với vấn đề lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật, dẫn đến ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng
Trang 2Sản xuất RAT mang lại nhiều lợi ích kinh tế cũng như môi trường, tuy nhiên mô hình này chưa được áp dụng rộng rãi và hiệu quả kinh tế chưa cao Xuất phát từ thực tế
đó, tôi đã chọn đề tài “So sánh hiệu quả kinh tế hoạt động sản xuất rau an toàn và
truyền thống ở xã Quảng Thành, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế” làm đề tài
nghiên cứu
2 Phương pháp nghiên cứu
2.1 Cách tiếp cận
Nghiên cứu được thực hiện theo 3 bước:
- Bước 1: Tiến hành phỏng vấn chuyên sâu 6 hộ dân bằng bảng hỏi bán cấu trúc
để nắm thông tin về tình hình sản xuất rau an toàn và rau truyền thống trên địa bàn xã Quảng Thành
- Bước 2: Điều tra 60 hộ dân ở khu vực nghiên cứu bằng bảng hỏi cấu trúc
- Bước 3: Xác định hiệu quả kinh tế hoạt động sản xuất rau an toàn và truyền
thống; tìm hiểu kênh phân phối sản phẩm rau ở khu vực điều tra
2.2 Phương pháp điều tra, thu thập số liệu
- Số liệu thứ cấp: Thu thập những thông tin chung về số liệu thống kê hoạt động sản xuất rau trên địa bàn xã Quảng Thành, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế
- Số liệu sơ cấp: Điều tra 60 hộ dân (30 hộ sản xuất RAT và 30 hộ sản xuất RTT) trên địa bàn xã Quảng Thành, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế (tập trung chủ yếu ở 2 thôn có diện tích trồng rau lớn nhất là thôn Thành Trung và thôn Tây Thành)
2.3 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
Số liệu điều tra được xử lý bằng phần mềm Excel 2007 để phân tích và so sánh
sự biến động về chi phí, thu nhập của hoạt động trồng rau người dân xã Quảng Thành
3 Kết quả nghiên cứu
3.1 Tình hình sản xuất RAT trên địa bàn xã Quảng Thành
Xã Quảng Thành, huyện Quảng Điền là vùng sản xuất rau trọng điểm của tỉnh Thừa Thiên Huế Nhằm đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng, địa phương đã nhân rộng
mô hình RAT trên địa bàn xã Được sự giúp đỡ của trường Đại học Nông Lâm Huế, sau nhiều năm thực hiện các mô hình trồng RAT đã đạt được kết quả nhất định
Trang 3Bảng 1: Diện tích, năng suất, sản lượng rau an toàn qua 3 năm 2014 – 2016
Chỉ tiêu ĐVT 2014 2015 2016
2015/2014 2016/2015
Diện tích Ha 1,60 11,60 11,60 10,00 625 0,00 0,00
Năng suất Tạ/ha 79,50 93,66 95,54 14,16 17,8 1,88 2,01
Sản lượng Tạ 127,20 1.086,46 1.108,26 959,26 7,54 21,80 2,01
(Nguồn: UBND xã Quảng Thành, 2017)
Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng diện tích, năng suất và sản lượng RAT ở xã Quảng Thành không ngừng tăng lên qua các năm Năm 2014, diện tích sản xuất RAT chỉ đạt 1,60 ha nhưng đến năm 2015, con số này đã tăng lên 11,60 ha và tiếp tục duy trì đến năm 2016 Điều này là do nguồn vốn hỗ trợ phát triển sản xuất của chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới đã thúc đẩy sự phát triển vượt trội của diện tích sản xuất RAT
3.2 Năng lực sản xuất của các hộ điều tra
Lao động là một trong những yếu tố cần thiết trong sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất rau nói riêng, nguồn lao động hợp lí sẽ dẫn đến việc sử dụng hợp lí các yếu tố đầu vào khác làm cho sản xuất nông nghiệp đạt được hiệu quả tối đa
Bảng 2: Tình hình nhân khẩu và lao động của các hộ điều tra
quân
1 Tuổi chủ hộ tuổi 46,93 55,37 8,44 17,98 51,15
2
Tổng nhân khẩu khẩu 4,65 4,37 -0,28 -6,02 4,51
3
4 Số năm kinh nghiệm năm 9,98 12,57 2,59 25,95 11,28
(Nguồn: Số liệu điều tra và tính toán của tác giả, 2017)
Trang 4Về độ tuổi của chủ hộ: tuổi bình quân chung là 51,15 tuổi, đây là độ tuổi có nhiều kinh nghiệm trong sản xuất nông nghiệp Tuổi bình quân/hộ của hộ trồng RAT là 46,93 tuổi, nhỏ hơn nhóm hộ trồng RTT Điều này lý giải là do những người lớn tuổi thường không muốn thay đổi tập quan canh tác lâu đời của mình, trong khi những nông dân trẻ tuổi, có khả năng học hỏi và mong muốn áp dụng kỹ thuật canh tác mới nhằm tăng thu nhập cho hộ gia đình
Ở nông thôn nên số nhân khẩu bình quân mỗi hộ có 4,51 khẩu, trong đó lao động
nữ chiếm tỷ trọng lớn nhất Sản xuất rau yêu cầu độ tỉ mỉ, cần cù, chịu khó nên rất phù hợp với lao động nữ Ngoài ra, kinh nghiệm là một yếu tố ảnh hưởng không nhỏ đến năng suất cây trồng Số liệu điều tra cho thấy các hộ trồng RAT có số năm kinh nghiệm
ít hơn RTT
Bảng 3: Tình hình trang bị tư liệu sản xuất của các hộ điều tra (tính bình quân/hộ)
STT Tư liệu sản xuất ĐVT
Số lượng
Giá trị
(1.000đ)
Số lượng
Giá trị
(1.000đ) +/- %
1 Bình phun thuốc trừ
2 Bình tưới nước cái 1,50 120,00 1,00 80,00 -40,00 -33,33
3 Máy bơm nước cái 1,00 400,00 0,43 172,00 -228,00 -57,00
Tổng cộng 1.000đ 1.354,50 1.033,00 -321,50 35,20
(Nguồn: Số liệu điều tra và tính toán của tác giả, 2017)
Tổng chi phí trang bị tư liệu sản xuất của các hộ trồng RAT là 1.354,50 nghìn đồng/hộ, lớn hơn các hộ trồng RTT là 1.033,00 nghìn đồng/hộ Trong đó:
- Bình phun thuốc trừ sâu, bình tưới nước là công cụ không thể thiếu cho hoạt động sản xuất rau nên được các hộ mua sắm bình quân từ 1 đến 2 cái Trong đó, số hộ trồng RAT trung bình chỉ có 1,00 bình trong khi đó số hộ trồng RTT trung bình mỗi hộ
có 1,50 bình Nguyên nhân là do các hộ trồng RTT có thói quen bơm thuốc trừ sâu nhiều hơn RAT
- Trong hoạt động trồng rau thì công việc tưới tiêu cực kì quan trọng Hầu hết mỗi
Trang 5hộ trồng RAT đều trang bị 1 máy bơm nước Đối với hộ có quy mô sản xuất lớn có thể đầu tư từ 1 - 2 máy, giá mỗi máy bơm nước khoảng 400 – 700 nghìn đồng/máy
- Ngoài các tư liệu sản xuất trên, người dân còn phải trang bị thêm một số tư liệu sản xuất khác như cào, cuốc Với giá cuốc khoảng 70 nghìn đồng và cào là 40 nghìn đồng Tổng chi phí khoảng 110 nghìn đồng/hộ Hoạt động trồng RAT đòi hỏi người trồng rau cần phải tuân theo những quy định cụ thể và phải trang bị đầy đủ các tư liệu sản xuất Vì vậy, làm cho chi phí của hoạt động trồng RAT lớn hơn RTT
3.3 Tình hình sản xuất của các hộ điều tra
Người dân xã Quảng Thành chủ yếu trồng các loại rau: xà lách, cải xanh, ngò, cần tây, dền và rau tần ô Mặc dù mô hình trồng RAT đã được áp dụng một thời gian dài, tuy nhiên người dân địa phương vẫn có thói quen trồng rau theo phương pháp truyền thống, chính vì vậy mà tổng diện tích RAT vẫn nhỏ hơn RTT Cụ thể:
Bảng 4: Cơ cấu diện tích gieo trồng một số loại rau chủ yếu
(Tính bình quân/sào/hộ)
STT Loại rau
Diện tích Cơ cấu Diện tích Cơ cấu Diện tích Cơ cấu
(Nguồn: Số liệu điều tra và tính toán của tác giả, 2017)
- Tổng diện tích gieo trồng của nhóm hộ sản xuất RAT là 4,03 sào/hộ, RTT là 4,39 sào/hộ Diện tích trồng RTT lớn hơn không đáng kể so với diện tích RAT là 0,36 sào Loại rau được trồng nhiều nhất là xà lách và cải Điều này xuất phát từ thị hiếu và
sở thích của người tiêu dùng Ngoài ra, đây là loại rau dễ trồng và được người dân ưa chuộng
Nhóm hộ RAT thì diện tích trồng xà lách là 1,78 sào/hộ chiếm 44,17%, cải xanh
Trang 6chiếm 1,15 sào/hộ tương ứng với 28,54 % Nhóm hộ RTT diện tích gieo trồng của xà lách, cải chiếm lần lượt là 1,84 sào/hộ và 1,26 sào/hộ Rau ngò chiếm diện tích ít nhất ở
cả 2 nhóm hộ (nhóm RAT là 3,47% và nhóm RTT là 3,64%)
Tóm lại, diện tích gieo trồng bình quân/hộ/ nhóm hộ RAT nhỏ hơn RTT, tuy nhiên để đánh giá kết quả và hiệu quả hoạt động sản xuất thì cần phải dựa trên nhiều chỉ tiêu như năng suất, sản lượng mới biết được liệu phương thức nào đem lại hiệu quả kinh
tế cao hơn
Bảng 5: Năng suất, sản lượng rau của các hộ điều tra (Tính bình quân/sào/hộ)
STT Loại rau
Năng suất Sản lượng Năng suất Sản lượng Năng suất Sản lượng
(Kg/sào) (Kg) (Kg/sào) (Kg) (Kg/sào) (Kg)
(Nguồn: Số liệu điều tra và tính toán của tác giả, 2017)
- Năng suất bình quân các loại rau của nhóm hộ RAT là 539,33 kg/sào, RTT là 552,36 kg/sào Nhìn chung tất cả các loại rau của nhóm hộ RAT đều có năng suất nhỏ hơn các hộ sản xuất RTT nhưng chênh lệch không đáng kể Nguyên nhân là do đặc điểm sản xuất RAT chỉ sử dụng phân hữu cơ là chủ yếu, ít sử dụng phân hóa học, hạn chế tối đa thuốc bảo vệ thực vật nên cây rau không phát triển tốt bằng RTT
- RAT có diện tích nhỏ hơn RTT, năng suất thấp hơn nên sản lượng của RAT dĩ nhiên sẽ nhỏ hơn RTT Sản lượng của RTT là 442,90 kg/sào và RAT là 401,86 kg/sào
- Xét về từng loại rau thì xà lách cho sản lượng cao nhất, nguyên nhân là do xà lách
có diện tích gieo trồng lớn hơn rất nhiều lần so với các loại rau khác Ngò có sản lượng thấp nhất ở cả 2 nhóm hộ (RAT là 60,06 kg và RTT là 72,37 kg) Lý giải cho vấn đề này
là do ngò chỉ trồng được từ tháng 4 đến tháng 6 và tháng 11 – 12 với diện tích gieo trồng
Trang 7nhỏ nhất Như vậy, năng suất và sản lượng thì nhóm hộ trồng RAT nhỏ hơn nhóm hộ RTT, tuy nhiên phần chênh lệch này không đáng kể Do RAT sử dụng ít phân bón vô cơ
và thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) hơn so với RTT nhưng nhờ áp dụng khoa học kỹ thuật đã góp phần nâng cao năng suất và sản lượng rau
Mỗi loại cây trồng có một chu kỳ sinh trưởng và phát triển riêng, người dân sẽ chọn những loại cây thích nghi với từng thời gian khác nhau Thời gian gieo trồng tính theo âm lịch
- Vụ Đông Xuân (bắt đầu từ đầu tháng 11 đến tháng 3 năm sau) là vụ có diện tích gieo trồng lớn nhất, đây là khoảng thời gian thuận lợi cho sự sinh trưởng và phát triển của cây rau
- Vụ Hè Thu (bắt đầu từ đầu tháng 4 đến cuối tháng 8) là khoảng thời gian có khí hậu nóng bức, khô hanh, … Một số loại rau phù hợp với chịu nhiệt như: xà lách, cải, rau dền, …
- Thời tiết xã Quảng Thành có mùa mưa kéo dài, lũ lụt thường xảy ra vào tháng 9, 10 Các nông hộ chỉ sản xuất trong 10 tháng đầu năm, tháng 9, 10 hầu như không sản xuất
Cây xà lách và cải xanh được các hộ gia đình ở đây hầu như trồng quanh năm, chỉ trừ 2 tháng mưa bão Cây xà lách thường phát triển mạnh, cho năng suất tốt nhất là từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm sau, cây cải xanh cho năng suất cao từ tháng 4 đến tháng 8
Những tháng hè từ tháng 4 đến tháng 8, tần ô, rau dền phát triển mạnh cho năng suất cao do phù hợp với thời tiết Người dân thường trồng rau dền và tần ô thường là 5
lứa/năm
3.4 Tình hình đầu tư sản xuất rau của các hộ điều tra
Cây rau muốn sinh trưởng và phát triển ngoài yếu tố dinh dưỡng có sẵn trong đất thì cần phải bổ sung những loại dinh dưỡng bên ngoài thông qua phân bón, thuốc BVTV,
Trang 8Bảng 6: Các khoản chi phí sản xuất RAT và RTT (Tính bình quân/sào/năm)
(ĐVT: 1.000 đồng)
1
Chi phí bằng tiền 1.224,16 1.604,79 380,63 131,09 1.414,48
Lao động thuê ngoài 300,00 225,00 -75,00 75,00 262,50
2
Chi phí tự có 5.430,45 4.788,30 -642,15 88,18 5.109,38
Lao động tự có 4.950,00 4.500,00 -450,00 90,91 4.725,00
3 Khấu hao TSCĐ 135,45 103,30 -32,15 76,26 119,38
Tổng cộng 6.654,61 6.393,09 -261,52 96,07 6.523,85
(Nguồn: Số liệu điều tra và tính toán của tác giả, 2017)
Mức độ đầu tư có ảnh hưởng rất lớn đến năng suất và chất lượng của cây rau Nhìn chung, tổng chi phí đầu tư cho hoạt động trồng RAT và RTT có sự chênh lệch không đáng kể
- Trồng rau theo phương thức nào thì yếu tố đầu vào quan trọng nhất chính là giống So sánh chi phí giống của hai nhóm hộ ta thấy RAT có chi phí lớn hơn, cụ thể: + Chi phí giống của RAT là 375,91 nghìn đồng/sào cao hơn 16,63 nghìn đồng so với RTT Sở dĩ có sự chênh lệch này là do đặc điểm sản xuất RAT phải hạn chế tối đa
sử dụng phân vô cơ, thuốc BVTV, chỉ sử dụng phân chuồng nên muốn đạt được năng suất cao thì người dân cần lựa chọn những loại giống tốt, có khả năng chống chịu hơn
so với RTT
+ Bên cạnh giống thì phân bón cũng là một yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất cây rau Điểm khác biệt giữa hai nhóm hộ RAT và RTT là ở những hộ sản xuất RAT thì sử dụng nhiều phân bón hữu cơ nhưng lại sử dụng ít phân vô cơ và ngược lại + Chi phí thuốc BVTV các hộ trồng RTT đầu tư nhiều hơn RAT Sở dĩ như vậy là
Trang 9do đặc điểm sản xuất của RAT là không được sử dụng thuốc BVTV có độc tố cao + Các hộ trồng rau trang bị thêm hệ thống lưới che chống nắng cho rau vào mùa nắng nóng Các hộ RAT tốn 4 - 5 kg/sào với giá 50 nghìn đồng/kg và RTT từ 1,5 – 2 kg/sào nhằm hạn chế ánh nắng trực tiếp ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng và phát triển của cây rau
- Trồng rau cần rất nhiều công lao động, các hộ trồng RAT cần 35 công lao động/sào/năm (trong đó 33 công lao động gia đình và 2 công lao động thuê ngoài), còn RTT chỉ cần 31,5 công/sào/năm (30 công lao động gia đình và 1,5 công lao động thuê ngoài) Chi phí để thuê lao động tương đối cao, 1 công có giá khoảng 150 nghìn đồng
- Chi phí khấu hao TSCĐ được khấu hao theo phương pháp đường thẳng trong vòng 10 năm Hoạt động sản xuất RAT đòi hỏi người nông dân phải trang bị nhiều TLSX hơn hoạt động sản xuất RTT nên chi phí khấu hao TSCĐ của RAT lớn hơn RTT Qua phân tích, so sánh giữa 2 phương thức sản xuất ta thấy sản xuất RAT có chi phí lớn hơn so với RTT (RAT là 6.654,61 nghìn đồng/sào/năm và RTT là 6.393,09 nghìn đồng/sào/năm) nhưng nó đem lại cho con người sự an tâm về việc sử dụng
3.5 Kết quả và hiệu quả sản xuất rau của các hộ điều tra
Qua một quá trình sản xuất, sản phẩm đầu ra của các hộ nông dân chính là các loại rau phục vụ nhu cầu của người tiêu dùng Tùy thuộc vào các giống rau khác nhau sẽ cho
ra các loại rau khác nhau, mỗi phương thức canh tác khác nhau sẽ cho ra mức sản lượng khác nhau Kết quả sản xuất của các hộ nông dân được thể hiện cụ thể như sau:
Trang 10Bảng 7: Tổng giá trị sản xuất rau của nhóm hộ điều tra (Tính bình quân/sào/năm)
STT Loại rau
Sản lượng
(kg)
Đơn giá
(1.000
đồng/kg)
Giá trị sản xuất
(1.000 đồng)
Sản lượng
(kg)
Đơn giá
(1.000
đồng/kg)
Giá trị sản xuất
(1.000 đồng)
Tổng 2.411,16 21.965,41 2.657,38 21.723,29
(Nguồn: Số liệu điều tra và tính toán của tác giá, 2017)
Dựa vào kết quả của hoạt động sản xuất rau, ta thấy: Doanh thu của các hộ trồng RAT lớn hơn RTT: hộ trồng RAT là 21.965,41 nghìn đồng/sào và RTT là 21.723,29 nghìn/sào
Trong những năm gần đây, vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm và sức khỏe được người tiêu dùng rất chú trọng, người dân sẵn sàng bỏ ra nhiều tiền hơn để có thể mua được những loại thực phẩm sạch Chính vì vậy mà giá thành của RAT luôn cao hơn RTT từ 5 – 10%
Mặc dù sản lượng của các hộ trồng RAT nhỏ hơn RTT nhưng giá bán của RAT lại cao hơn so với RTT chính điểu này đã đem lại doanh thu đáng kể cho các hộ trồng RAT
Từ số liệu thu thập được trong quá trình điều tra trên địa bàn xã Quảng Thành, nhóm tác giả đã tiến hành phân tích, các loại chi phi, khấu hao, sản lượng thu hoạch, giá bán… Tổng hợp và đưa ra bảng kết quả hoạt động sản xuất RAT và RTT: