KHÁI NIỆM CƠ CHẾ ĐIỀU HÀNH LÃI SUẤT: Cơ chế điều hành lãi suất là hệ thống các nguyên tắc, cách thức quản lý và điều hành lãisuất của ngân hàng trung ương của một nước hay nhóm các nước
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU 1
Chương I TỔNG QUAN VỀ CƠ CHẾ ĐIỀU HÀNH LÃI SUẤT 2
I KHÁI NIỆM CƠ CHẾ ĐIỀU HÀNH LÃI SUẤT: 2
II CÁCH THỨC ĐIỀU HÀNH LÃI SUẤT Ở CÁC NƯỚC VÀ Ở VIỆT NAM 2
1 Cách thức điều hành lãi suất ở các nước phát triển 2
2 Cơ chế điều hành lãi suất ở Việt Nam 5
Chương II THỰC TRẠNG ĐIỀU HÀNH LÃI SUẤT Ở CÁC NƯỚC PHÁT TRIỂN VÀ Ở VIỆT NAM 6
I ĐẶC ĐIỂM CHUNG CƠ CHẾ ĐIỀU HÀNH LÃI SUẤT Ở CÁC NƯỚC PHÁT TRIỂN VÀ Ở VIỆT NAM 6
1 Đặc điểm chung cơ chế điều hành lãi suất ở các nước phát triển 6
2 Đặc điểm cơ chế điều hành lãi suất ở Việt Nam 9
II THỰC TRẠNG ĐIỀU CHỈNH LÃI SUẤT Ở CÁC NƯỚC VÀ Ở VIỆT NAM THỜI GIAN QUA 10
1 Thực trạng điều hành lãi suất ở các nước phát triển 10
2 Thực trạng điều hành lãi suất ở Việt Nam 14
Chương III ĐÁNH GIÁ CƠ CHẾ ĐIỀU HÀNH LÃI SUẤT VIỆT NAM THỜI GIAN QUA 16
I ƯU ĐIỂM: 16
II HẠN CHẾ: 16
III VIỆT NAM CÓ NÊN GIỮ LÃI SUẤT CƠ BẢN 17
KẾT LUẬN 19
Trang 2CƠ CHẾ ĐIỀU HÀNH LÃI SUẤT CỦA CÁC NGÂN HÀNG TRUNG
ƯƠNG Ở CÁC NƯỚC PHÁT TRIỂN VÀ Ở VIỆT NAM.
LỜI MỞ ĐẦU
Thế giới đã và đang trải qua cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu hết sức phức tạp vớisức công phá nặng nề, là nỗi ám ảnh đối với nền kinh tế của nhiều nước Tất cả các quốcgia đều đang nỗ lực chèo chống con thuyền của mình vượt bão lớn và Việt Nam cũngnằm trong số đó Hàng loạt chính sách và biện pháp đã được đưa ra nhằm tăng trưởngkinh tế, kìm chế lạm phát, củng cố thị trường, ổn định nền kinh tế vĩ mô Lãi suất là mộttrong những công cụ quan trọng mà Ngân hàng trung ương (NHTW) sử dụng để điềuhành thị trường tiền tệ, thực hiện mục tiêu chính sách tiền tệ quốc gia Nhưng sự tác độngcủa công cụ này ở mỗi quốc gia luôn khác nhau bởi nó phụ thuộc vào các yếu tố như thựctrạng nền kinh tế, mức phát triển thị trường tiền tệ
Trước đây đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu về lãi suất, trong đề tài nghiên cứu lần nàychúng tôi chủ yếu đi sâu vào nghiên cứu các cơ chế điều hành lãi suất của các quốc giaphát triển trên thế giới cũng như tại Việt Nam, qua đó thấy được sự điều hành khác nhaugiữa các quốc gia và những hạn chế trong cơ chế tại Việt Nam Để hiểu rõ hơn về cơ chếđiều hành lãi suất trước tiên ta tìm hiểu những khái niệm cơ bản về cơ chế điều hành lãisuất và hình thức điều hành lãi suất ở các quôc gia
Thông qua phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, cũng như thu thập vàphân tích số liệu, chúng tôi sẽ trình bày nội dung đề tài trong ba chương:
Chương I : Lý luận cơ bản về cơ chế điều chỉnh lãi suất
Chương II: Thực trạng điều hành lãi suất ở các nước và Việt Nam
Chương III: Nhận xét và một số kiến nghị
Trang 3Chương I TỔNG QUAN VỀ CƠ CHẾ ĐIỀU HÀNH LÃI SUẤT
I KHÁI NIỆM CƠ CHẾ ĐIỀU HÀNH LÃI SUẤT:
Cơ chế điều hành lãi suất là hệ thống các nguyên tắc, cách thức quản lý và điều hành lãisuất của ngân hàng trung ương của một nước hay nhóm các nước liên minh nhằm hướnglãi suất thị trường về lãi suất mục tiêu để thực hiện chính sách tiền tệ
II CÁCH THỨC ĐIỀU HÀNH LÃI SUẤT Ở CÁC NƯỚC VÀ Ở VIỆT NAM.
1 Cách thức điều hành lãi suất ở các nước phát triển
Ở Mỹ.
Hệ thống lãi suất Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED) gồm hai hình thức lãi suất sau:
- Lãi suất chiết khấu (Discount Rate): Trong đó bao gồm Lãi suất tín dụng chính(Primary credit), Lãi suất tín dụng mở (Secondary credit) và Lãi suất thời vụ(Seasonal credit)
- Lãi suất quỹ dự trữ liên bang (Federal Funds Rate)
Các NHTM của Mỹ, giống như ở các nước, bị buộc phải giữ một lượng tiền mặt nhấtđịnh tại Cục Dự trữ Liên bang (tức là ngân hàng trung ương của Mỹ thường được gọi tắt
là FED) Lượng tiền này, trên tổng số tiền gửi không kỳ hạn, ít nhất phải bằng tỷ lệ dự trữbắt buộc mà FED đặt ra Vì số tiền dự trữ bắt buộc không được trả lãi suất nên cácNHTM Mỹ luôn giữ ở mức sát với tỷ lệ dự trữ bắt buộc Khi một NHTM có nguy cơkhông đảm bảo được tỷ lệ dự trữ bắt buộc thì ngân hàng đó phải vay trên thị trường liênngân hàng lượng dự trữ bắt buộc còn thừa của các ngân hàng khác Lãi suất cho vay dựtrữ bắt buộc giữa các NHTM được FED ấn định và gọi là Lãi suất quỹ dự trữ liên bang(Fed funds rate)
Nếu vì lý do nào đó mà cung quỹ dự trữ liên bang trên thị trường không đủ cầu và lãi suấtliên ngân hàng cho quỹ dự trữ có nguy cơ vượt lãi suất quỹ dự trữ liên bang thì FED sẽcan thiệp ngay lập tức qua hoạt động thị trường mở (OMO) mua lại trái phiếu chính phủ
Trang 4Mỹ để bơm thêm tiền dự trữ vào hệ thống ngân hàng Vì FED mua lại trái phiếu chínhphủ với lãi suất tái chiết khấu đúng bằng lãi suất quỹ dự trữ liên bang được công bố trước
đó nên không NHTM nào lại đi vay liên ngân hàng với lãi suất cao hơn lãi suất quỹ dựtrữ liên bang để đảm bảo tỷ lệ dự trữ bắt buộc cả Bởi vậy lãi suất quỹ dự trữ liên bang sẽ
là lãi suất trần trên thị trường liên ngân hàng nếu các NHTM tham gia vào thị trường nàychỉ để đảm bảo tỷ lệ dự trữ bắt buộc
Bên cạnh nhu cầu đảm bảo lượng dự trữ tối thiểu, các NHTM còn có nhu cầu quản lýthanh khoản của mình, tức là đảm bảo khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn trong
đó bao gồm nhu cầu rút tiền của những người gửi tiền không thời hạn Khi các NHTM
Mỹ có nguy cơ thiếu thanh khoản, họ có thể vay tiền từ hai nguồn: cửa sổ chiết khấu củaFED (discount window) hoặc trên thị trường liên ngân hàng Về cơ bản, FED ấn định lãisuất cho vay tại các cửa sổ chiết khấu gọi là lãi suất chiết khấu (discount rate) thông thườngcao hơn lãi suất quỹ dự trữ liên bang khoảng 0.5% đến 1% Đây chính là chức năng “ngườicho vay cuối cùng” (lender of last resort - LOLS) của một ngân hàng trung ương
Nếu vay trên thị trường liên ngân hàng, lãi suất sẽ do hai bên thỏa thuận và lãi suất trungbình trên thị trường này hàng ngày sẽ được 16 NHTM lớn nhất Mỹ báo cáo cho BBA(British Bankers Association) để tổ chức này tính lãi suất liên ngân hàng trung bình chongày hôm đó rồi công bố trên thị trường tài chính với cái tên LIBOR Về mặt lý thuyết,LIBOR cho thị trường liên ngân hàng của Mỹ sẽ phải thấp hơn lãi suất chiết khấu củaFED vì nếu cao hơn thì các NHTM sẽ quay về vay tiền của FED từ cửa sổ chiết khấu.Trên thực tế các NHTM thường tránh không vay từ cửa sổ chiết khấu vì họ không muốn
bị mang tiếng là tình hình thanh khoản và mức độ rủi ro tín dụng quá xấu đến mức khôngvay được trên thị trường liên ngân hàng nữa mà buộc phải quay về “người cho vay cuốicùng” cầu cứu Bởi vậy trong những giai đoạn khủng hoảng tài chính đôi khi LIBOR caohơn discount rate, nhưng nhìn chung lãi suất này thường thấp hơn discount rate và có thểcoi discount rate là lãi suất trần của LIBOR trên thị trường liên ngân hàng
Ngược lại LIBOR thường cao hơn lãi suất dự trữ liên bang khoảng 0.1% (tuy cũng cólúc tăng lên đến 0.7%) vì các NHTM khi cho vay lẫn nhau trên thị trường liên ngân hàngluôn tính đến rủi ro tín dụng khi đối tác của mình không trả được nợ Chính cái khoảngchênh lệch 0.1% giữa LIBOR và lãi suất dự trữ liên bang là rủi ro tín dụng mà các
Trang 5NHTM cộng thêm vào khi cho các NHTM khác vay liên ngân hàng để quản lý rủi rothanh khoản Sở dĩ khi cho vay quỹ dự trữ (sẽ được giữ trên tài khoản tại FED) cácNHTM không tính đến rủi ro tính dụng vì đối tác không được rút quỹ dự trữ về cho cácmục đích thanh khoản nên kể cả khi đối tác phá sản số tiền cho vay dưới dạng quỹ dự trữcũng không bị mất Điều đó có nghĩa là lãi suất quỹ dự trữ liên bang là lãi suất sàn choLIBOR trên thị trường liên ngân hàng.
Như vậy, trong hệ thống ngân hàng của Mỹ, lãi suất liên ngân hàng LIBOR mà cácNHTM vay để quản lý thanh khoản thường dao động trong khoảng giữa lãi suất dự trữ vàlãi suất chiết khấu là hai công cụ chính sách mà FED quản lý được trực tiếp Vì gần nhưtất cả các loại lãi suất thương mại khác đều lấy LIBOR làm chuẩn nên khi FED thay đổilãi suất dự trữ và lãi suất chiết khấu thì về bản chất FED đã làm thay đổi lãi suất thương mạitrên toàn bộ thị trường vốn của Mỹ Tức là FED thực thi các chính sách tiền tệ của mìnhthông qua việc điều hành hai lãi suất cơ bản nói trên hoàn toàn qua cơ chế thị trường
Cơ chế điều hành lãi suất ở Anh.
Tại đất nước Anh Ngân hàng trung ương điều hành lãi suất dựa trên lãi suất chính thức(Official Rate) Lãi suất chính thức này có biên độ giao động lên xuống 1% , biên độ này
áp dụng cho tất cả trong tháng Tuy nhiên tại kỳ duy trừ lượng dự trữ lại Ngân hàng trungương thì sự giao động giảm xuống chỉ còn lên xuống 0,25% áp dụng cho lãi suất liênngân hàng kỳ hạn dưới 3 tháng Sự quy định này buộc các NHTM ở Anh phải điều chỉnhcác hoạt động của mình sao cho vừa đủ lượng dự trữ bắt buộc tại NHTW vừa có đủ khảnăng thanh toán mà vẫn hoạt động hiệu quả
Cơ chế điều hành lãi suất ở Nhật.
Ngân hàng trung ương Nhật Bản điều hành chính sách lãi suất thông qua lãi suất đồngYên Nhật, nó bao gồm lãi suất cho vay cơ bản và lãi suất chiết khấu cơ bản (Basicdiscount rate và Basic loan rate)
Cơ chế điều hành lãi suất của Ngân hàng trung ương Châu Âu
Các công cụ để Ngân hàng trung ương Châu Âu thực hiện để thi hành chính sách lãi suấtcủa mình bao gồm:
Trang 6- Lãi suất cho hoạt động tái cấp vốn chính (Main refinancing operations – MRO)
- Lãi suất cho các phương tiện tiền gửi thường xuyên (Deposit Facility)
- Lãi suất cho các phương tiện vay giới hạn (Marginal Lending Facility)
2 Cơ chế điều hành lãi suất ở Việt Nam
Không giống như lãi suất ở các nước phát triển khác, lãi suất Việt nam bao gồm ba loạilãi suất sau:
- Lãi suất cơ bản: do Ngân hàng Nhà nước công bố, làm cơ sở cho các tổ chức tín
dụng ấn định lãi suất kinh doanh Lãi suất cơ bản được xác định dựa trên cơ sở lãisuất thị trường liên ngân hàng, lãi suất nghiệp vụ thị trường mở của Ngân hàng Nhànước, lãi suất huy động đầu vào của tổ chức tín dụng và xu hướng biến động cung-cầu vốn
- Lãi suất tái chiết khấu: lãi suất tái chiết khấu là lãi suất thực hiện trên cơ sở đốitượng là các giấy tờ có giá VD: Hối phiếu, lệnh phiếu, Trái phiếu , Các ngân hàng
sẽ chấp nhận trả tiền cho người cầm (hoặc sở hữu các giấy đó để đổi lại một khoảnlời mà ta gọi là lãi suất chiết khấu và thu lại khoản tiền của họ đối với người thanhtoán ghi trên đó khi đến hạn Các ngân hàng này lại cần tiền nhưng các giấy tờ đóchưa đến hạn thanh toán họ bán lại các khoản sẽ thu này cho NH TW để đổi lấy tiềnmặt và bớt lại cho NHTW một khoản, ta gọi đó là lãi suất tái chiết khấu
- Lãi suất tái cấp vốn: Cũng gần giống như hình thức của lãi suất tái chiếu khấu đối
tượng ở đây là các khoản cho vay của các NH TM, và sau đó họ bán lại các khoảnnày cho NH TW để đổi lấy lương tiền mặt gọi là lãi suất tái cấp vốn
Thông qua ba loại lãi suất trên Ngân hàng nhà nước Việt Nam điều hành sẽ tác động trựctiếp đến lãi suất vay mượn trên thị trường Luật Ngân hàng quy định lãi suất cho vay củacác NHTM và các tổ chức tín dụng không được vượt quá 150% so với lãi suất cơ bản màNgân hàng nhà nước công bố Do đó với một mức thay đổi lãi suất cơ bản bất kỳ củaNgân hàng nhà nước sẽ tác động trực tiếp và ngay lập tức đến các lãi suất trên thị trường
Trang 7Chương II THỰC TRẠNG ĐIỀU HÀNH LÃI SUẤT Ở CÁC NƯỚC PHÁT TRIỂN
VÀ Ở VIỆT NAM.
I ĐẶC ĐIỂM CHUNG CƠ CHẾ ĐIỀU HÀNH LÃI SUẤT Ở CÁC NƯỚC PHÁT TRIỂN VÀ Ở VIỆT NAM.
1 Đặc điểm chung cơ chế điều hành lãi suất ở các nước phát triển
Mỗi nước có một tên gọi khác nhau đặt cho lãi suất của NHTW
Căn cứ vào mục tiêu chính sách tiền tệ, căn cứ vào thực trạng hoạt động của hệ thống tàichính và thực trạng hoạt động của nền kinh tế Ngân hàng Trung ương các nước đưa ramột mức lãi suất được gọi là lãi suất cơ bản để các lãi suất khác tham chiếu vào tự điềuchỉnh theo Mỗi nước có một tên gọi khách nhau về lãi suất cơ bản để Ngân hàng trungương nước đó công bố (ví dụ ở Mỹ đó là lãi suất quỹ dự trữ liên bang, ở Anh đó là lãisuất chính thức, ở Nhật đó là lãi suất đồng Yên ) tuy nhiên tất cả đều là công cụ để cácNHTW thực hiện các chính sách điều hành lãi suất
Lãi suất ở đây được gọi là lãi suất cơ bản vì nó là căn cứ để các loại hình lãi suất kháctrên thị trường tự điều chỉnh theo, sao cho phù hợp và đây cũng là lãi suất cho kháchhàng vay với độ rủi ro bằng không, vì nó được đảm bảo bởi Ngân hàng trung ương chínhnước đó
Lãi suất do NHTW công bố chỉ mang tính chất mục tiêu, không mang tính áp đặt hành chính.
Ở Mỹ, khi công bố lãi suất cục dự trữ liên bang, FED không có một quy định, quy chếnào bắt buộc các tổ chức tín dụng khác phải áp dụng đúng theo mức lãi suất đó, cũng nhưkhông có bất cứ hình phạt náp để buộc một tổ chức không vi phạm Ví dụ vào ngày 18tháng 03 năm 2008, FED công bố thực hiện cắt giảm lãi suất cơ bản từ 3% xuống 2,25%,tuy nhiên các ngân hàng hoàng toàn tự quyết định lãi suất đi vay và cho vay của mình đốivới khác hàng Các ngân hàng thương mại có thể đi vay với mức cao hơn 2,25%, và cũng cóthể cho vay với mức dưới 2,25% hoặc ngược lại, FED không cam thiệt Tuy nhiên tất cả cácngân hàng lại luôn theo dõi sát sao việc lãi suất quỹ dự trữ liên bang mà FED công bố Vìsao vậy? trong khi họ có toàn quyền quyết định trong việc cho vay và đi vay bao nhiêu
Trang 8Nguyên nhân ở chỗ mỗi mức lãi suất FED công bố ra mang trong đó rất nhiều tín hiệucủa nền kinh tế cũng như chưa đựng nhiều dự báo cho các chính sách tiền tệ tiếp theo sau
mà FED sẽ thực thi Xét thời điểm tháng 03 năm 2008 Cuộc khủng hoảng kinh tế có dấuhiệu trầm trọng hơn nhiều so với dự báo của các chuyên gia, tiêu biểu là Bear Stearns -investment bank lớn thứ 5 của Mỹ đang đứng trước nguy cơ phá sản Trước tình hình đóFED công bố giảm lãi suất cục dự trữ liên bang từ 3% xuống còn 2,25%, cùng lúc đóFED mở thêm cả nghiệp vụ TSLF, PDCF và tăng giới hạn các swap lines đã được mở từtháng 12/2007, đây là những tín hiệu cho thấy nền kinh tế Mỹ thực sự cần những chínhsách mạnh tay hơn để thực thi chính sách nới lỏng tiền tệ Với những chính sách nàybuộc các NHTM phải chiều chính ngay lập tức chính sách hoạt động của mình cho phùhợp với tình hình mới
NHTW sau khi công bố lãi suất sẽ dùng nghiệp vụ thị trường mở để điều tiết nhằm hướng lãi suất cho vay qua đêm sao cho gần sát với lãi suất công bố.
Tại Mỹ, tuy không công bố ra nhưng nhìn trên thị trường ta dễ dàng nhận ra rằng lãi suấtquỹ dự trữ liên bang đóng vai trò là lãi suất trần, còn lãi suất chiết khấu đóng vai trò là lãisuất sàn
Một điểm rất quan trọng cần lưu ý là để hệ thống này hoạt động trơn chu, FED phải camkết bảo vệ lãi suất quỹ dự trữ liên bang và lãi suất chiết khấu thông qua thị trường mở vàcửa triết khấu bất kỳ khi nào lãi suất cho quỹ dự trữ hoặc LIBOR có xu hướng phá vỡtrần trên thị trường liên ngân hàng Điều này tương đương với việc FED cam kết thựchiện chức năng người cho vay cuối cùng cho các NHTM trong mọi trường hợp Khôngchỉ trong những lúc các NHTM lâm vào tình trạng khủng hoảng thanh khoản mà ngay cảkhi hệ thống ngân hàng đang hoạt động bình thường FED vẫn phải thực hiện chức năngngười cho vay cuối cùng cung cấp quỹ dự trữ và thanh khoản cho những NHTM nào cónhu cầu Tuy nhiên cơ chế này cần một điều kiện nữa là các NHTM phải nắm giữ mộtlượng trái phiếu chính phủ đủ lớn để tham gia vào thị trường mở hoặc vay tiền mặt từ cửa
sổ triếu khấu
Trong giai đoạn đỉnh điểm của cuộc khủng hoảng cho vay bất động sản dưới chuẩn(subprime mortgage) vào những tháng cuối năm 2007 và đầu năm 2008, nhiều NHTMgặp khó khăn về thanh khoản và bắt đầu cạn kiệt trái phiếu chính phủ Đồng thời rủi ro
Trang 9tín dụng trên thị trường tăng cao dẫn đến nguy cơ LIBOR vượt ra ngoài giới hạn thôngthường, Đối phó với tình trạng này, FED đã tung ra hai công cụ điều hành tiền tệ hoàntoàn mới là TAF (Term Auction Facility) và TSLF (Term Securities Lending Facility), vềbản chất là cho phép các NHTM và một số tổ chức tài chính lớn (primary dealers) đượcphép dùng các loại trái phiếu thương mại để vay tiền mặt hoặc trao đổi (swap) trái phiếuthương mại lấy trái phiếu chính phủ từ FED Mục tiêu cuối cùng của việc đưa ra hai công
cụ tiền tệ mới này là để ổn định tính thanh khoản trong hệ thống tài chính và bảo vệ lãisuất quỹ dự trữ liên bang và lãi suất chiết khấu trên thị trường liên ngân hàng khi hệthống bị khủng hoảng Cho đến thời điểm này, TAF và TSLF đã có những thành côngnhất định trong việc ổn định thị trường nên FED dự tính sẽ giữ hai công cụ mới này lâudài chứ không phải chỉ hạn chế trong khoảng 600 tỷ USD ban đầu
Việc điều chỉnh lãi suất của NHTW có tác động trực tiếp đến các trung gian tài chính, không tác động trực tiếp đến người tiêu dùng và doanh nghiệp.
Hai công cụ lãi suất mà cục dự trữ liên bang Mỹ sử dụng điều chỉnh để thực thi chínhsách tiền tệ là Lãi suất cục dự trữ liên bang (Fed funds rate) và Lãi suất chiết khấu(discount rate), nhưng về bản chất FED làm thay đổi lãi suất thương mại trên toàn bộ thịtrường vốn của Mỹ1
Thời điểm công bố lãi suất được ấn định cụ thể, rõ ràng và công khai.
Mỗi khi Quỹ dự trữ liên bang của Mỹ cắt giảm hay nâng lãi suất, đó là lãi suất qua đêm,lãi suất các ngân hàng tính cho nhau khi vay qua đêm để bảo đảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc.Quyết định nâng, giảm lãi suất chính ra là do Ủy ban Thị trường Mở Liên bang (FEDeralOpen Market Committee) đưa ra Cứ 45 ngày (ngoại trừ những trường hợp bất thường),
Ủy ban này họp một lần để đánh giá chính sách tiền tệ Ngay cả khi không có bất kỳ sựđiều chỉnh lãi suất nào thì Ủy ban này vẫn họp và công bố lại lãi suất Thông tin về cáclần họp này được công bố công khai tai website của FED và mọi người có thể theo dõi
Hầu hết ở các nước lãi suất được ấn định bởi một hội đồng (hay ủy ban).
Hội đồng này ở Mỹ được gọi là Ủy ban thị trường mở Liên bang Ủy ban này gồm 7thành viên của Hội đồng Thống đốc của Hệ thống Dự trữ Liên bang, và 5 trong số 12
1 Như đã đề cập tại mục I.1 trên
Trang 10thống đốc của các ngân hàng dự trữ khu vực Chủ tịch của Hệ thống Dự trữ Liên bangcũng là chủ tịch của Ủy ban thị trường mở Liên bang Tại các phiên họp các thành viêntham dự có quyền bỏ phiếu theo nguyên tắc bình đẳng ngang nhau, không ai có quyềnlớn hơn ai ngay cả là chủ tịch ngân hàng trung ương hay bất kỳ thành viên nào khác thamgia Kết quả bỏ phiếu được công bố công khai sau đó (theo từng thành viên tham gia), lấymức lãi suất thống kê trên số đông người tham mà không lấy bình quân Chính quy địnhnày ở các nước phát triển buộc các thành viên tham gia bỏ phiếu phải có trách nhiệm về
lá phiếu của mình, họ có thể phải giải thích cho quyết định của mình trước công chúngcũng như chính phủ
2 Đặc điểm cơ chế điều hành lãi suất ở Việt Nam
Sự điều hành lãi suất cơ bản của Ngân hàng nhà nước Việt Nam mang tích áp đặt hành chính và ảnh hưởng trực tiếp đến người tiêu dùng cũng như các doanh nghiệp.
Cụ thể như ngày 19/5/2008, Ngân hàng Nhà nước chính thức áp cơ chế cho vay đối vớiVND theo lãi suất tối đa 150% lãi suất cơ bản, do đó các Ngân hàng thương mại hoạtđộng cho vay không được vượt quá mức 150% lãi suất cơ bản mà Ngân hàng nhà nướcquy định Như vậy là khi ngân hàng nhà nước công bố lãi suất cơ bản điều chỉnh từ 12%lên 14% vào tháng 06 năm 2008 thì cùng với đó mức lãi suất tối đa mà các ngân hàngthương mại có thể cho vay cũng tăng từ 18% lên đến 21%
Thay vì đặt ra lãi suất mục tiêu cho nền kinh tế và sau đó tiến hành các chính sách để bảo
vệ lãi suất mục tiêu đó thông qua nghiệp vụ thị trường mở để điều hành lãi suất tái chiếtkhấu và lãi suất tái cấp vồn, từ đó sẽ tác động ngược trở lại lãi suất vay và cho vay trênthị trường Thì ngân hàng nhà nước lại đưa ra lãi suất cơ bản và gần như ấn định luôn cảlãi suất vay và cho vay trên thị trường Hơn nữa khi đưa ra mức lãi suất cơ bản ngân hàngnhà nước cũng không hề bảo vệ mức lãi suất đấy, có thể thay đổi bất cứ lúc nào nếu cảmthấy cần thiết Mức quy định cho vay không được vượt qua 150% lãi suất cơ bản đưa racũng không có luận chứng khoa học xác thực, gần như đây chỉ là con số ngẫu nhiên.Ngân hàng nhà nước căn cứ vào đấy buộc các Ngân hàng thương mại và các tổ chức tíndụng khác phải tuân theo Và cũng chỉ có các hình phạt hành chính áp dụng khi vi phạm.Tuy nhiên thực tế cho thấy hầu hết các quan hệ vay mượn tại các NHTM đề không tuân