1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

PHÁP LUẬT VỀ CHẾ ĐỘ HƯU TRÍ TRONG BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

94 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 1,32 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy, khóa luận này sẽ tập trung giải quyết có hệ thống các vấn đề mà các công trình nghiên cứu có liên quan chưa làm rõ, bao gồm tổng thể các vấn đề chung, so sánh với pháp luật quốc

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

DƯƠNG THỊ THÙY TRANG

PHÁP LUẬT VỀ CHẾ ĐỘ HƯU TRÍ

TRONG BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2016

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

DƯƠNG THỊ THÙY TRANG

PHÁP LUẬT VỀ CHẾ ĐỘ HƯU TRÍ TRONG BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Chuyên ngành: LUẬT DÂN SỰ VÀ TỐ TỤNG DÂN SỰ

Mã số: 60380103

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS TRẦN HOÀNG HẢI

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2016

Trang 3

MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2

3 Mục đích, đối tượng nghiên cứu của đề tài 5

4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài và phương pháp nghiên cứu 6

5 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài 7

6 Bố cục của luận văn 7

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG CỦA PHÁP LUẬT VỀ CHẾ ĐỘ HƯU TRÍ TRONG BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN 8

1.1 Khái niệm về pháp luật về chế độ hưu trí trong bảo hiểm xã hội tự nguyện 8

1.1.1 Khái niệm về chế độ hưu trí trong bảo hiểm xã hội 8

1.1.2 Khái niệm về pháp luật về chế độ hưu trí trong bảo hiểm xã hội tự nguyện 13

1.2 Đặc điểm của pháp luật về chế độ hưu trí trong bảo hiểm xã hội tự nguyện 14

1.2.1 Mang đặc điểm của pháp luật về chế độ hưu trí trong bảo hiểm xã hội nói chung 14

1.2.2 Đối tượng áp dụng là người không thuộc đối tượng áp dụng của bảo hiểm xã hội bắt buộc 15

1.2.3 Chế độ hưu trí được thực hiện trên sự tự nguyện tham gia của đối tượng áp dụng bảo hiểm xã hội tự nguyện 16

1.2.4 Trợ cấp hưu trí trong bảo hiểm xã hội tự nguyện được hình thành từ sự đóng góp của người tham gia là người lao động, có sự hỗ trợ tiền đóng bảo hiểm xã hội của Nhà nước 17

1.3 Vai trò của pháp luật về chế độ hưu trí trong bảo hiểm xã hội tự nguyện 18

1.3.1 Góp phần bảo đảm quyền con người 18

1.3.2 Góp phần bảo đảm thu nhập và các lợi ích khác cho người già 19

1.3.3 Góp phần bảo đảm nhu cầu kinh tế và xã hội vì sự phát triển toàn diện và tiến bộ 19

Trang 4

1.3.4 Góp phần vào việc phòng chống và giảm đói nghèo, thúc đẩy công bằng,

bình đẳng xã hội 20

1.3.5 Góp phần thiết lập sàn an sinh xã hội bền vững 21

1.4 Các nguyên tắc cơ bản trong việc xây dựng pháp luật về chế độ hưu trí trong bảo hiểm xã hội tự nguyện 22

1.4.1 Nguyên tắc Nhà nước chịu trách nhiệm chung 22

1.4.2 Nguyên tắc tự nguyện 24

1.4.3 Nguyên tắc đoàn kết và tương trợ 24

1.4.4 Nguyên tắc đóng – hưởng cân đối 25

1.4.5 Nguyên tắc bền vững về mặt tài chính cùng với bảo đảm công bằng và bình đẳng xã hội 26

1.4.6 Nguyên tắc kết nối với các chương trình hưu trí khác trong an sinh xã hội 27 1.5 Định hướng xây dựng pháp luật về chế độ hưu trí trong bảo hiểm xã hội tự nguyện ở Việt Nam 27

1.5.1 Đường lối của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong việc xây dựng pháp luật về chế độ hưu trí trong bảo hiểm xã hội tự nguyện 27

1.5.2 Quan điểm xây dựng quy định của pháp luật về chế độ hưu trí trong bảo hiểm xã hội tự nguyện tại Việt Nam 29

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 30

CHƯƠNG 2 PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VÀ PHÁP LUẬT CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI LIÊN QUAN CHẾ ĐỘ HƯU TRÍ TRONG BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN 30

2.1 Quy định của pháp luật quốc tế liên quan đến chế độ hưu trí trong bảo hiểm xã hội tự nguyện 31

2.1.1 Khái quát chung về thực tiễn thực hiện chế độ hưu trí trên toàn thế giới 31

2.1.2 Quy định của pháp luật quốc tế liên quan đến chế độ hưu trí trong bảo hiểm xã hội tự nguyện 32

2.2 Quy định của pháp luật của một số quốc gia trên thế giới liên quan đến chế độ hưu trí trong bảo hiểm xã hội tự nguyện 39

2.2.1 Philippines 39

2.2.2 Ecuador 44

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 48

Trang 5

CHƯƠNG 3 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ CHẾ ĐỘ HƯU TRÍ TRONG BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN HẠN CHẾ TRONG VIỆC ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH NÀY VÀ ĐỀ XUẤT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG 49 3.1 Quy định của pháp luật về chế độ hưu trí trong bảo hiểm xã hội tự nguyện 49

3.1.1 Về đối tượng áp dụng bảo hiểm xã hội tự nguyện để được hưởng chế độ hưu trí

49

3.1.2 Về quỹ bảo hiểm xã hội để thực hiện chế độ hưu trí trong bảo hiểm xã hội

tự nguyện 51 3.1.3 Về điều kiện hưởng trợ cấp hưu trí trong bảo hiểm xã hội tự nguyện 56 3.1.4 Về việc thực hiện hưởng trợ cấp hưu trí trong bảo hiểm xã hội tự nguyện 57 3.1.5 Về trình tự, thủ tục tham gia và giải quyết chế độ hưu trí trong bảo hiểm xã hội tự nguyện 62 3.1.6 Về khiếu nại, tố cáo liên quan đến chế độ hưu trí trong bảo hiểm xã hội

tự nguyện 65

3.2 Hạn chế trong việc áp dụng các quy định của pháp luật về chế độ hưu trí trong bảo hiểm xã hội tự nguyện và đề xuất sửa đổi, bổ sung 67

3.2.1 Về giải thích từ ngữ 69 3.2.2 Về nguyên tắc bảo hiểm xã hội 70 3.2.3 Về nội dung quy định tại Điều 110 Luật bảo hiểm xã hội năm 2014 về giải quyết hưởng lương hưu, bảo hiểm xã hội một lần và nội dung quy định tại khoản 5 Điều 109 về hồ sơ hưởng trợ cấp một lần trong trường hợp người tham gia BHXH

tự nguyện đang hưởng lương hưu ra nước ngoài để định cư 73 3.2.4 Về nội dung quy định tại Điều 64 Luật bảo hiểm xã hội năm 2014 về tạm dừng, hưởng tiếp lương hưu 76 3.2.5 Về nội dung quy định về mức hưởng lương hưu thấp nhất trong trường hợp

có thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc 77 3.2.6 Về xây dựng bảng đóng tiền bảo hiểm xã hội tự nguyện và tiền lương hưu tương ứng 79

KẾT LUẬN 82 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các kết quả nêu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được ai công

bố trong bất kỳ công trình nào

Tác giả

Dương Thị Thùy Trang

Trang 7

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

ASXH An sinh xã hội

BHXH Bảo hiểm xã hội

CYS Số năm ghi nhận dịch vụ ở Philippines (Credited Years of Service)

GSIS Hệ thống Dịch vụ Bảo hiểm Chính phủ của Philippines (the

Government Service Insurance System)

IESS Viện An sinh xã hội của Ecuador (Ecuadorian Institute of Social

Security) ILO Tổ chức Lao động Quốc tế (International Labour Organization) ISSA Hiệp hội An sinh xã hội Quốc tế (International Social Security

Association)

ISSFA Viện Quân lực An sinh xã hội của Ecuador (Armed Forces Social

Security Institute)

ISSPOL Viện Cảnh sát Quốc gia An sinh xã hội của Ecuador (Nation Police

Social Security Institute)

OFWs Người lao động Philippines ở nước ngoài (Overseas Filipino

System)

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Ngày 22/11/2012, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI ban hành Nghị quyết số 21-NQ/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế giai đoạn 2012-2020 với mục tiêu đề ra là: “Thực hiện

có hiệu quả các chính sách, chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, tăng nhanh diện bao phủ đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội, nhất là bảo hiểm xã hội tự nguyện” Như vậy, Đảng và Nhà nước ta đang đặc biệt chú trọng phát triển loại hình bảo hiểm

xã hội tự nguyện trong tiến trình phát triển kinh tế, xã hội Tuy nhiên, thực tiễn thực hiện loại hình bảo hiểm xã hội tự nguyện lại chưa đạt kết quả như mong muốn Năm

2013, đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện chỉ đạt 173.462 người1, chiếm khoảng 0,3% đối tượng thuộc diện tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện2

xã hội tự nguyện, góp phần tăng số người được hưởng chế độ hưu trí, từ đó đạt được mục tiêu về an sinh xã hội ở nước ta

Với mong muốn nghiên cứu về chế độ hưu trí trong loại hình bảo hiểm xã hội tự nguyện để tổng hợp kiến thức về mặt lý luận và thực tiễn của vấn đề, qua đó chỉ ra những điểm hạn chế và có kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề này, góp phần bảo đảm quyền lợi của người lao động khi về hưu và nâng cao tính khả thi của

loại hình bảo hiểm xã hội tự nguyện, tác giả chọn đề tài nghiên cứu là: “Pháp luật về chế độ hưu trí trong bảo hiểm xã hội tự nguyện”

1 Lê Bạch Hồng (2014), “Thực hiện tốt các chính sách BHXH, bảo hiểm y tế, góp phần bảo đảm an sinh xã hội”, Tạp chí bảo hiểm xã hội, (243), tr 5

2

Bùi Sĩ Lợi (2014), “Những quan điểm lớn và sự cần thiết sửa đổi Luật BHXH”, Tạp chí bảo hiểm xã hội, (244), tr 20

3Hà Văn Sỹ, (2015), “Giải pháp phát triển BHXH tự nguyện”, Tạp chí bảo hiểm xã hội, (270)

4 Điều Bá Dược (2016), “Tình hình quản lý và sử dụng quỹ BHXH năm 2015”,

http://www.baohiemxahoi.gov.vn/?u=nws&su=d&cid=384&id=14571, truy cập lần cuối vào lúc 9h ngày 14/4/2016

Trang 9

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Liên quan đến đề tài “Pháp luật về chế độ hưu trí trong bảo hiểm xã hội tự nguyện” thì có các công trình nghiên cứu như sau:

1 Dương Thị Thùy Trang (2012), Bảo hiểm xã hội tự nguyện Việt Nam, đề tài

cử nhân, Trường đại học Luật Tp Hồ Chí Minh Công trình nghiên cứu các nội dung liên quan đến bảo hiểm xã hội tự nguyện, gồm các vấn đề lý luận cơ bản, quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật ở Việt Nam, từ đó phân tích hạn chế khi áp dụng pháp luật và đề xuất hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm xã hội tự nguyện ở Việt Nam Tuy nhiên, công trình chưa phân tích khái niệm, đặc điểm, vai trò cũng như chưa làm rõ tầm quan trọng của chế độ hưu trí trong bảo hiểm xã hội tự nguyện, chưa

có sự so sánh với pháp luật thế giới để rút kinh nghiệm xây dựng pháp luật về chế độ hưu trí trong bảo hiểm xã hội tự nguyện tại Việt Nam Mặt khác, công trình này phân tích quy định của pháp luật dựa trên Luật bảo hiểm xã hội năm 2006, nên chưa cập nhật được các điểm mới của Luật bảo hiểm xã hội năm 2014

2 Nguyễn Hiền Phương (2010), Pháp luật an sinh xã hội – Những vấn đề lý

luận và thực tiễn, Nxb Tư pháp, Hà Nội Trong mục 2 chương II về pháp luật an sinh

xã hội và thực tiễn hoạt động, tác giả đề cập đến loại hình bảo hiểm xã hội tự nguyện với các nội dung: đối tượng áp dụng, các chế độ và quỹ bảo hiểm xã hội tự nguyện Tuy nhiên, nội dung nghiên cứu chỉ giới thiệu ngắn gọn, tổng quát các nội dung cơ bản của bảo hiểm xã hội tự nguyện mà chưa nghiên cứu cụ thể về chế độ hưu trí trong bảo hiểm xã hội tự nguyện

3 Nguyễn Viết Vượng (Chủ biên) (2006), Giáo trình kinh tế bảo hiểm, Nxb

Lao động, Hà Nội Công trình nghiên cứu về bảo hiểm và kinh tế bảo hiểm nói chung, về bảo hiểm xã hội và bảo hiểm thương mại nói riêng Nội dung về bảo hiểm

xã hội nêu tổng quát về các vấn đề: chức năng, chính sách và tổ chức bảo hiểm xã hội; các chế độ bảo và quỹ hiểm xã hội, bảo hiểm xã hội ở Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường Tuy công trình chưa phân tích cụ thể về chế độ hưu trí trong bảo hiểm xã hội tự nguyện, nhưng do công trình nghiên cứu tổng quát về bảo hiểm xã hội nên mỗi nội dung đều có giá trị tham khảo khi nghiên cứu về chế độ hưu trí trong bảo hiểm xã hội tự nguyện

4 Trần Hoàng Hải – Lê Thị Thúy Hương (2011), Pháp luật an sinh xã hội:

kinh nghiệm một số nước đối với Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội

Công trình nghiên cứu gồm bốn phần: thứ nhất, phân tích một số vấn đề lý luận tổng

quan về an sinh xã hội như: khái niệm, các nguyên tắc cơ bản, vai trò, các nhánh chính của an sinh xã hội; một số vấn đề và xu hướng cải cách của hệ thống an sinh xã

Trang 10

hội Thứ hai, nghiên cứu, phân tích hệ thống an sinh xã hội ở một số nước như Hoa

Kỳ, Đức, Nga theo hướng: khái quát lịch sử hình thành và đặc điểm hệ thống an sinh

xã hội của mỗi nước; phân tích cụ thể các chế độ an sinh xã hội của mỗi nước, trong

đó có đề cập đến loại hình bảo hiểm xã hội tự nguyện khi pháp luật quốc gia có quy

định Thứ ba, phân tích các vấn đề lý luận cơ bản và nội dung quy định của pháp luật

về hệ thống an sinh xã hội ở Việt Nam Thứ tư, nhận định, đánh giá chung về ưu

điểm, bất cập của pháp luật Việt Nam; đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam trong lĩnh vực an sinh xã hội nói chung, liên quan đến bảo hiểm xã hội tự nguyện nói riêng Tuy công trình nghiên cứu có đề cập đến pháp luật

về bảo hiểm xã hội tự nguyện cùng các chế độ trợ cấp của loại hình bảo hiểm xã hội này nhưng phần nghiên cứu là tổng quát, chưa làm rõ khái niệm về bảo hiểm xã hội

tự nguyện, đặc trưng của chế độ hưu trí trong loại hình bảo hiểm xã hội này so với loại hình bảo hiểm xã hội khác, các kiến nghị góp phần hoàn thiện quy định của pháp luật còn khái quát, mang tính định hướng và chưa cụ thể

Ngoài ra, trên báo, tạp chí có các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài như sau:

1 Dương Văn Thắng (2013), “Nội dung cơ bản của Nghị Quyết số NQ/TW về tăng cường lãnh đạo đối với công tác bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế”,

21-Tạp chí bảo hiểm xã hội, (156), tr 27 – 32 Công trình phân tích quan điểm, mục tiêu,

nhiệm vụ và giải pháp của Đảng trong việc phát triển bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế giai đoạn 2012 – 2020, trong đó có nội dung về bảo hiểm xã hội tự nguyện Do đó, công trình có giá trị về mặt lý luận, tư tưởng chỉ đạo nhưng chưa cụ thể hóa các vấn

đề của pháp luật về chế độ hưu trí trong bảo hiểm xã hội tự nguyện

2 Lê Thị Hoài Thu (2007), “Bàn về bảo hiểm xã hội tự nguyện ở Việt Nam”,

Tạp chí Nhà nước và pháp luật, kỳ tháng 7/2007, tr 65 – 69 Công trình đề cập đến

năm nội dung liên quan đến bảo hiểm xã hội tự nguyện gồm: đối tượng tham gia; các chế độ; mức đóng và phương thức đóng; điều kiện và mức hưởng; tổ chức thực hiện

Ở mỗi nội dung, tác giả đề cập đến quy định của pháp luật sau đó đề xuất hoàn thiện các quy định này Tuy nhiên, công trình chưa làm rõ các vấn đề lý luận về chế độ hưu trí trong bảo hiểm xã hội tự nguyện cũng như chưa có tính cập nhật so với các quy định của Luật bảo hiểm xã hội năm 2014

3 Phạm Đình Thành (2014), “Bàn về nghĩa vụ bảo hiểm xã hội và một số đề

xuất”, Tạp chí bảo hiểm xã hội, (256), tr 18 – 21 Tác giả đề cập đến mối quan hệ

giữa “nghĩa vụ bảo hiểm xã hội” với loại hình bảo hiểm xã hội tự nguyện để làm rõ đặc điểm của loại hình bảo hiểm xã hội này, từ đó đề xuất sửa đổi Luật bảo hiểm xã hội hiện hành Tuy nhiên, công trình chỉ phân tích được một phần nội dung liên quan

Trang 11

đến chế độ hưu trí trong bảo hiểm xã hội tự nguyện, chứ chưa nghiên cứu tổng thể các vấn đề của chế độ hưu trí trong bảo hiểm xã hội tự nguyện

Bên cạnh đó, còn có các công trình nghiên cứu bằng tiếng nước ngoài có liên quan đến đề tài như sau:

1 International Labour Organization (1984), Introduction to social security,

Geneva Đây là công trình nghiên cứu tổng thể của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO)

về an sinh xã hội Công trình có sự phân tích, đánh giá cụ thể về các thành phần và các chế độ của an sinh xã hội, về tài chính và quản trị an sinh xã hội, cũng như về mối quan hệ giữa an sinh xã hội với nền kinh tế quốc gia và các vấn đề khác, các quy định của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) về an sinh xã hội Bảo hiểm xã hội tự nguyện được nhắc tới như một loại hình bảo hiểm xã hội bổ sung cho bảo hiểm xã hội bắt buộc, làm tăng độ bao phủ của bảo hiểm xã hội nói riêng, an sinh xã hội nói chung, còn chế độ hưu trí là chế độ cơ bản mà các quốc gia quy định trong pháp luật về bảo hiểm xã hội tự nguyện Tuy nhiên, công trình không đi sâu vào phân tích các vấn đề

lý luận về chế độ hưu trí trong bảo hiểm xã hội tự nguyện Đồng thời, nền an sinh xã hội trên toàn thế giới và của từng quốc gia hiện nay đang đối mặt với các vấn đề mới phát sinh, do đó công trình này chưa mang tính cập nhật so với tình hình hiện nay

2 Fabio Durán Valverde (2013), Innovations in extending social insurance

coverage to independent workers: experiences from Brazil, Cape Verde, Colombia, Costa Rica, Ecuador, Philippines, France and Uruguay, International Labour Office,

Geneva Đây là công trình nghiên cứu về những kinh nghiệm tương đối thành công trong việc mở rộng phạm vi bảo hiểm cho người lao động độc lập tại bảy nước đang phát triển (Brazil, Cape Verde, Colombia, Costa Rica, Ecuador, Philippines, Uruguay) và một nước phát triển (Pháp) Công trình có giá trị trong việc so sánh pháp luật để rút ra kinh nghiệm trong việc hoàn thiện quy định của pháp luật về chế độ hưu trí trong bảo hiểm xã hội tự nguyện ở Việt Nam

3 Social Security Administration (SSA) and the International Social Security

Association (ISSA) (2014), Social Security Programs Throughout the World: The

Americas, 2013, Washington Công trình này tập hợp thông tin tổng quan, nổi bật về

chương trình an sinh xã hội dựa trên pháp luật tại các quốc gia thuộc khu vực châu

Mỹ, trong đó có quy định pháp luật về chế độ hưu trí Các quy định của pháp luật của các quốc gia được dùng trong báo cáo có hiệu lực đến tháng 7 năm 2013 hoặc là đến ngày cuối cùng thông tin được nhận bởi SSA và ISSA Do đó, đây là công trình có giá trị việc so sánh pháp luật để rút ra kinh nghiệm trong việc hoàn thiện pháp luật về chế độ hưu trí trong bảo hiểm xã hội tự nguyện ở Việt Nam

Trang 12

4 Social Security Administration (SSA) and the International Social Security

Association (ISSA) (2015), Social Security Programs Throughout the World: Asia

and the Pacific, 2014, Washington Tương tự như công trình nghiên cứu được nêu tại

phần trên, công trình này cung cấp thông tin tổng quan về pháp luật của chương trình

an sinh xã hội tại các quốc gia thuộc khu vực châu Á và Thái Bình Dương Các quy định của pháp luật của các quốc gia được dùng trong báo cáo có hiệu lực đến tháng 7 năm 2014 hoặc là đến ngày cuối cùng thông tin được nhận bởi SSA và ISSA

Qua các công trình nghiên cứu đã nêu, thấy rằng chưa có công trình nào đề cập

cụ thể về các vấn đề liên quan đến chế độ hưu trí trong bảo hiểm xã hội tự nguyện, phân tích quy định của pháp luật quốc tế và quy định của pháp luật một số nước trên thế giới liên quan đến chế độ hưu trí trong bảo hiểm xã hội tự nguyện Vì vậy, khóa luận này sẽ tập trung giải quyết có hệ thống các vấn đề mà các công trình nghiên cứu

có liên quan chưa làm rõ, bao gồm tổng thể các vấn đề chung, so sánh với pháp luật quốc tế và pháp luật của một số quốc gia, nội dung quy định và thực trạng áp dụng pháp luật tại Việt Nam cho đến thời điểm hiện tại, qua đó đề xuất một số kiến nghị

góp phần hoàn thiện pháp luật về chế độ hưu trí trong bảo hiểm xã hội tự nguyện

3 Mục đích, đối tượng nghiên cứu của đề tài

Việc nghiên cứu đề tài nhằm hướng đến những mục đích sau đây:

Đầu tiên, nghiên cứu nhằm hệ thống các vấn đề cơ bản về mặt lý luận của chế

độ hưu trí trong bảo hiểm xã hội tự nguyện, bao gồm: khái niệm, đặc điểm, vai trò của chế độ hưu trí trong bảo hiểm xã hội tự nguyện, nguyên tắc cơ bản trong việc xây dựng pháp luật về chế độ hưu trí trong bảo hiểm xã hội tự nguyện Qua đó làm rõ nội hàm khái niệm “chế độ hưu trí trong bảo hiểm xã hội”, “pháp luật về chế độ hưu trí trong bảo hiểm xã hội tự nguyện” và các khái niệm khác có liên quan Từ đó, phân tích, đánh giá vai trò của chế độ hưu trí trong bảo hiểm xã hội tự nguyện, cho thấy sự cần thiết phải duy trì, phát triển, hoàn thiện loại hình bảo hiểm xã hội tự nguyện và chế độ hưu trí trong loại hình bảo hiểm xã hội này;

Tiếp theo, nghiên cứu nhằm phân tích có hệ thống quy định của pháp luật Việt Nam về chế độ hưu trí trong bảo hiểm xã hội tự nguyện Đồng thời, nghiên cứu quy định pháp luật quốc tế và pháp luật của một số quốc gia trên thế giới có liên quan đến chế độ hưu trí trong bảo hiểm xã hội tự nguyện để so sánh với pháp luật Việt Nam; Cuối cùng, nghiên cứu việc áp dụng quy định của pháp luật về chế độ hưu trí trong bảo hiểm xã hội tự nguyện tại Việt Nam, từ đó chỉ ra những hạn chế còn tồn tại nhằm đề xuất một số kiến nghị sửa đổi, bổ sung góp phần hoàn thiện quy định của pháp luật

Trang 13

Đối tượng nghiên cứu của đề tài bao gồm:

Thứ nhất là các vấn đề lý luận chung của pháp luật về chế độ hưu trí trong bảo hiểm xã hội tự nguyện, bao gồm: khái niệm, đặc điểm, vai trò của pháp luật về chế độ hưu trí trong bảo hiểm xã hội tự nguyện; nguyên tắc cơ bản và định hướng trong việc xây dựng pháp luật về chế độ hưu trí trong bảo hiểm xã hội tự nguyện ở Việt Nam; Thứ hai là quy định của pháp luật quốc tế và pháp luật của một số quốc gia trên thế giới liên quan đến chế độ hưu trí trong bảo hiểm xã hội tự nguyện;

Thứ ba là quy định của pháp luật Việt Nam về chế độ hưu trí trong bảo hiểm xã hội tự nguyện, thực tế áp dụng pháp luật, hạn chế trong việc áp dụng pháp luật và đề xuất sửa đổi, bổ sung quy định của pháp luật

4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài và phương pháp nghiên cứu

Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài gồm: thứ nhất, nghiên cứu những vấn đề

lý luận chung về chế độ hưu trí trong bảo hiểm xã hội tự nguyện Thứ hai, nghiên cứu

quy định của pháp luật quốc tế và và pháp luật của một số quốc gia trên thế giới liên quan đến chế độ hưu trí trong bảo hiểm xã hội tự nguyện Cụ thể là nghiên cứu quy định liên quan đến an sinh xã hội và bảo hiểm xã hội nói chung, chế độ hưu trí trong bảo hiểm xã hội tự nguyện nói riêng của các tổ chức quốc tế như: Liên Hợp Quốc, Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) Việc nghiên cứu tập trung vào các nội dung sau của chế độ hưu trí: trường hợp bảo vệ, người được bảo vệ, trợ cấp được cung cấp, điều kiện hưởng trợ cấp, thời hạn hưởng trợ cấp Quốc gia được chọn để nghiên cứu là Philippines, Ecuador Các quốc gia này có pháp luật về chế độ hưu trí trong bảo hiểm

xã hội tự nguyện được đánh giá là phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội của nước sở

tại và việc thực hiện quy định của pháp luật được đánh giá là có tính khả thi Thứ ba,

nghiên cứu quy định của pháp luật về chế độ hưu trí trong bảo hiểm xã hội tự nguyện

ở Việt Nam và kết quả áp dụng pháp luật trong thực tiễn Các vấn đề được nghiên cứu bao gồm: đối tượng áp dụng; quỹ bảo hiểm xã hội; điều kiện hưởng trợ cấp hưu trí; thực hiện hưởng trợ cấp hưu trí; trình tự, thủ tục tham gia và giải quyết chế độ

hưu trí; khiếu nại, tố cáo về chế độ hưu trí Thứ tư, nghiên cứu các vấn đề còn hạn chế

trong quy định của pháp luật và đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện quy định của pháp luật về chế độ hưu trí trong bảo hiểm xã hội tự nguyện ở Việt Nam Cụ thể là kiến nghị về giải thích các thuật ngữ pháp lý có liên quan đến chế độ hưu trí trong bảo hiểm xã hội tự nguyện; các nguyên tắc thực hiện bảo hiểm xã hội; nội dung của quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục để giải quyết hưởng lương hưu, bảo hiểm xã hội một lần, hồ sơ hưởng trợ cấp một lần trong trường hợp người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện đang hưởng lương hưu ra nước ngoài để định cư; tạm

Trang 14

dừng, hưởng tiếp lương hưu; xây dựng bảng đóng tiền bảo hiểm xã hội tự nguyện và mức hưởng lương hưu tương ứng

Phương pháp nghiên cứu: để hoàn thành luận văn, tác giả sử dụng phương pháp phân tích, chứng minh, tổng hợp trong tất cả các phần của luận văn để làm rõ các vấn

đề cần nghiên cứu Ngoài ra, tác giả còn sử dụng phương pháp lịch sử, phương pháp

so sánh để làm rõ sự phát triển qua các thời kỳ lịch sử của vấn đề cần nghiên cứu cũng như dùng để so sánh quy định của pháp luật Việt Nam với quy định của pháp luật quốc tế và pháp luật của một số quốc gia trên thế giới có liên quan đến đề tài Bên cạnh đó, phương pháp liệt kê cũng được sử dụng để trình bày các số liệu có liên quan đến đề tài

5 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài

Nghiên cứu đề tài có ý nghĩa khoa học như sau: Hệ thống lại và làm rõ thêm các vấn đề chung của pháp luật về chế độ hưu trí trong bảo hiểm xã hội tự nguyện, bao gồm các vấn đề: khái niệm, đặc điểm, vai trò, nguyên tắc và định hướng xây dựng pháp luật ở Việt Nam Qua đó làm rõ vai trò quan trọng của pháp luật về chế độ hưu trí trong bảo hiểm xã hội tự nguyện Đề tài có nghiên cứu pháp luật quốc tế và pháp luật một số quốc gia trên thế giới, từ đó có những đánh giá, kết luận có giá trị ứng dụng đối với việc xây dựng pháp luật ở Việt Nam

Giá trị ứng dụng của đề tài: Đề tài chỉ ra những hạn chế của pháp luật Việt Nam

về chế độ hưu trí trong bảo hiểm xã hội tự nguyện, từ đó có những đề xuất sửa đổi, bổ sung quy định của pháp luật cho phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của Việt Nam

6 Bố cục của luận văn

Luận văn có bố cục gồm các nội dung chính như sau:

- Lời nói đầu

- Phần nội dung, bao gồm:

 Chương 1: Những vấn đề chung của pháp luật về chế độ hưu trí trong bảo hiểm xã hội tự nguyện

 Chương 2: Pháp luật quốc tế và pháp luật của một số quốc gia trên thế giới liên quan đến chế độ hưu trí trong bảo hiểm xã hội tự nguyện

 Chương 3: Quy định của pháp luật Việt Nam về chế độ hưu trí trong bảo hiểm xã hội tự nguyện Hạn chế trong việc áp dụng các quy định này và đề xuất sửa đổi, bổ sung

- Kết luận

Trang 15

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG CỦA PHÁP LUẬT VỀ CHẾ ĐỘ HƯU TRÍ TRONG BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN

1.1 Khái niệm về pháp luật về chế độ hưu trí trong bảo hiểm xã hội tự nguyện

1.1.1 Khái niệm về chế độ hưu trí trong bảo hiểm xã hội

Chế độ hưu trí là một trong những vấn đề sớm nhất được con người quan tâm thực hiện nhằm đảm bảo cuộc sống ổn định cho người sống lâu hơn một độ tuổi nhất định Chế độ này đã trở thành một trong những nội dung của an sinh xã hội (viết tắt là ASXH) được pháp luật quốc tế ghi nhận là quyền con người, là một trong những chế

độ cơ bản, quan trọng của bảo hiểm xã hội (viết tắt là BHXH) nói riêng, ASXH nói chung, luôn được các quốc gia xây dựng, hoàn thiện về quy định của pháp luật

Sự hỗ trợ của Nhà nước và xã hội đối với người già đã tồn tại bằng các hình thức khác nhau từ thời đế chế La Mã cổ đại Nước Anh vào năm 1601 đã ban hành một luật gọi là “Poor Law”, thừa nhận trách nhiệm của Nhà nước đối với người già mặc dù chương trình này được thực hiện bởi các giáo xứ nhà thờ địa phương Một sự sửa đổi của luật này vào năm 1834 đã cho thành lập những “work house” cho người nghèo và người già Năm 1880, Thủ tướng Bismarck của Đức đã giới thiệu chương trình lương hưu tuổi già mà sau đó đã trở thành mô hình được hầu hết các nước châu

Âu tiếp thu thực hiện Năm 1935, Hoa Kỳ thông qua đạo luật về ASXH, đây là văn bản pháp luật đầu tiên trên thế giới xây dựng khái niệm về “an sinh xã hội”, trong đó

có quy định về chương trình hưu trí tuổi già Đến nay hầu hết các nước trên thế giới

đã xây dựng pháp luật về chế độ hưu trí cho người già5

Hiện nay, có nhiều cách hiểu khác nhau về ASXH Tuy nhiên, định nghĩa của

Tổ chức Lao động Quốc tế (viết tắt là ILO) về ASXH vẫn được nhiều nhà nghiên cứu ủng hộ Nhưng theo thời gian, cách hiểu của ILO về ASXH vẫn có sự thay đổi Trong

ấn phẩm “Introduction to social security” được xuất bản vào năm 1984 tại Geneva,

ILO nêu định nghĩa về ASXH như sau:

ASXH là sự bảo vệ mà xã hội thực hiện đối với các thành viên của mình thông qua một loạt các biện pháp công cộng để chống lại sự cùng quẫn về kinh

tế và xã hội dẫn đến sự chấm dứt hay giảm sút đáng kể về thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, tàn tật, tuổi già hoặc cái chết; những dịch

vụ về chăm sóc y tế và quy định về hỗ trợ đối với những gia đình đông con6

5 “Internatinal Standards on Social Security Lessons from the past for a better implementation”,

http://islssl.org/wp-content/uploads/2014/12/Servais_2014_Asian_Conf.pdf, truy cập lần cuối vào ngày 29/3/2016

6

ILO (1984), Introduction to social security, Geneva, p 3

Trang 16

Sau này, trong ấn phẩm “Extending social security to all: A guide through

challenges and options” được xuất bản năm 2010 tại Geneva, ILO đã đưa ra khái

niệm về ASXH trong phần thuật ngữ của ấn phẩm như sau:

Khái niệm về ASXH được thông qua ở đây bao gồm tất cả các biện pháp mang lại lợi ích, để bảo đảm sự bảo vệ, từ:

(a) Thiếu thu nhập từ công việc liên quan (hoặc thu nhập không đủ) gây ra bởi ốm đau, khuyết tật, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, tuổi già, hoặc cái chết của một thành viên trong gia đình;

(b) Sự thiếu hụt của việc tiếp cận hoặc của việc tiếp cận khả năng chi trả cho dịch vụ chăm sóc sức khỏe;

(c) Hỗ trợ gia đình không đủ, đặc biệt là cho trẻ em và người già phụ thuộc;

(d) Nghèo nói chung và loại trừ xã hội7

Theo khái niệm trên, ASXH quy định khái quát hơn về các trường hợp được ASXH bảo vệ, hướng đến các biện pháp mang lại lợi ích cho người được bảo vệ chứ không chỉ hướng đến các biện pháp bảo đảm thu nhập cho người được bảo vệ như trước đây Nhấn mạnh đối tượng cần được bảo đảm sự bảo vệ là trẻ em và người già, bởi họ là người khó có thể tự bảo đảm cho cuộc sống của mình và dễ bị tổn thương ASXH có các thành phần để thực hiện các nội dung mà ASXH hướng tới, gồm: bảo hiểm xã hội; trợ giúp xã hội; lợi ích tài trợ bởi nguồn thu nói chung; lợi ích gia đình; các quỹ dự phòng; các chế độ bổ sung do người sử dụng lao động cung cấp và các chương trình khác liên quan đến ASXH8

Trong đó, các thành phần sau có thể cung cấp lợi ích tuổi già: chương trình lợi ích phổ quát (thuộc thành phần lợi ích tài trợ bởi nguồn thu nói chung); trợ giúp xã hội; bảo hiểm xã hội; quỹ dự phòng9 Mỗi thành phần vừa nêu lại xây dựng các chương trình hưu trí để phù hợp với từng đối tượng, từng hoàn cảnh nên xuất hiện các chương trình hưu trí với các đặc điểm khác nhau như: đóng góp hoặc không đóng góp; xác định lợi ích hoặc xác định đóng góp; bắt buộc hoặc tự nguyện; cơ bản hoặc bổ sung10 Trong đó, chương trình hưu trí thuộc thành phần BHXH thường được gọi là chế độ hưu trí Trong khuôn khổ của luận văn, thuật ngữ “chế độ hưu trí” được dùng để chỉ một chế độ thuộc về thành phần BHXH của ASXH, chứ không thuộc về các thành phần khác trong hệ thống ASXH

Sri Wening Handayani and Babken Babajanian (2012), Social protection for older persons: Social pensions in Asia,

Asian Development Bank, Mandaluyong City, Philippines, p 138

Trang 17

Cũng như khái niệm về ASXH, hiện nay cũng có nhiều cách hiểu khác nhau về BHXH Nhưng nhìn chung, các nhà nghiên cứu thường giải thích khái niệm BHXH dựa trên việc nhấn mạnh các trường hợp mà BHXH bảo vệ hoặc dựa trên chức năng, cách thức hình thành và sử dụng nguồn tài chính của BHXH

Khi dựa trên các trường hợp bảo vệ, BHXH được hiểu là sự bảo đảm bù đắp một phần hoặc thay thế thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do

ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng góp vào quỹ BHXH do Nhà nước tổ chức thực hiện11

Còn khi dựa trên chức năng, cách thức hình thành và sử dụng nguồn tài chính, BHXH được hiểu là sự tổ chức bảo đảm bù đắp hoặc thay thế một phần thu nhập cho người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập từ nghề nghiệp do bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc sức lao động không được sử dụng, thông qua việc hình thành và

sử dụng một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH và các nguồn thu hợp pháp khác, nhằm góp phần đảm bảo an toàn kinh tế cho người lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần bảo đảm an toàn xã hội12

Trong các nội dung về BHXH nêu trên, việc bảo đảm thay thế thu nhập cho người lao động khi họ hết tuổi lao động là nội dung cơ bản, quan trọng Nội dung này trở thành chế độ hưu trí mà ILO khuyến nghị các quốc gia cần phải thực hiện Chế độ hưu trí trong BHXH có những đặc trưng sau, giúp phân biệt với các chương trình hưu trí trong các thành phần khác của ASXH: i Tài chính thực hiện chế độ hưu trí được hình thành bởi sự đóng góp của người tham gia và có thể có sự đóng góp bổ sung hoặc trợ cấp của Nhà nước; ii Sự tham gia là bắt buộc (trừ một số trường hợp ngoại lệ); iii Sự đóng góp được tích lũy tạo thành quỹ, để thanh toán các khoản trợ cấp; iv Quỹ thặng dư khi chưa được dùng để chi trả trợ cấp thì được dùng để đầu tư sinh lời;

v Mức trợ cấp được xác định dựa vào quá trình đóng góp của người tham gia; vi Tỷ

lệ đóng góp và trợ cấp thường tỷ lệ thuận với thu nhập của người đóng góp13

Như vậy, thông qua việc hiểu các khái niệm về ASXH, BHXH, cùng với các điểm đặc trưng nêu trên thì có thể đặt ra các nội dung cơ bản tạo thành khái niệm về chế độ hưu trí trong BHXH, bao gồm: trường hợp bảo vệ; người được bảo vệ; trợ cấp được cung cấp; điều kiện hưởng trợ cấp Khi đó, chế độ hưu trí trong BHXH được

hiểu là việc cung cấp khoản trợ cấp nhằm thay thế thu nhập cho người sống lâu hơn

một độ tuổi được quy định khi họ tham gia bảo hiểm xã hội và đủ điều kiện để hưởng trợ cấp theo quy định về bảo hiểm xã hội

Trang 18

Việc cung cấp khoản trợ cấp có thể thực hiện định kỳ, có thể thực hiện một lần Tuy nhiên, việc thực hiện định kỳ chính là mục đích cũng như là cách thức thực hiện chế độ hưu trí trong BHXH hiệu quả nhất, bởi có như vậy thì sự bảo vệ đối với người già mới có ý nghĩa và được duy trì cho tới khi họ chết Đây cũng chính là nội dung được ILO quy định trong các Công ước của ILO liên quan đến trợ cấp tuổi già Còn trợ cấp một lần không thể hiện bản chất của chế độ hưu trí và không được khuyến khích thực hiện do không thể bảo đảm cuộc sống của người được bảo vệ cho tới khi

họ chết, không đáp ứng được yêu cầu của các tiêu chuẩn quốc tế về trợ cấp tuổi già Trong quá trình tham gia BHXH, khi người tham gia không đáp ứng điều kiện về độ tuổi hoặc về thời gian đóng góp BHXH hoặc trong một số trường hợp do pháp luật quy định dẫn đến không đủ điều kiện hưởng trợ cấp của chế độ hưu trí thì người tham gia được hưởng một khoản tiền tương ứng với thời gian đã đóng BHXH Về bản chất, đây không phải là khoản trợ cấp của chế độ hưu trí vì người tham gia chưa hoàn thành điều kiện để hưởng trợ cấp theo quy định, mà đây là tiền BHXH được trả lại sau thời gian đóng góp BHXH để bảo đảm quyền lợi cho người đã đóng góp vào quỹ BHXH Mức độ trợ cấp tùy thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội của từng quốc gia nên có sự khác nhau Thời hạn để người bảo vệ được hưởng trợ cấp định kỳ là kể từ lúc họ đáp ứng được các điều kiện để hưởng trợ cấp cho tới lúc họ chết Bên cạnh đó, một số quốc gia còn quy định thêm việc cung cấp các khoản lợi ích khác cho người hưởng trợ cấp hưu trí, ví dụ như cung cấp dịch vụ về chăm sóc sức khỏe, nhà ở… nhằm bảo đảm cuộc sống tốt hơn, toàn diện hơn cho người hưởng trợ cấp Khi đó, có

thể hiểu chế độ hưu trí trong BHXH theo nghĩa rộng hơn là việc cung cấp khoản trợ

cấp nhằm thay thế thu nhập và lợi ích khác cho người sống lâu hơn một độ tuổi được quy định khi họ tham gia bảo hiểm xã hội và đủ điều kiện để hưởng trợ cấp và lợi ích theo quy định về bảo hiểm xã hội Tuy nhiên, việc cung cấp khoản trợ cấp nhằm thay

thế thu nhập cho người sống lâu hơn một độ tuổi được quy định vẫn là nội dung cơ bản, thể hiện bản chất, mục đích của chế độ hưu trí trong BHXH

Trường hợp bảo vệ mà chế độ hưu trí trong BHXH hướng đến là tình trạng một người đã sống lâu hơn một độ tuổi quy định, khiến họ bị ảnh hưởng về sức khỏe dẫn đến không còn khả năng kiếm được thu nhập ổn định từ việc làm Khi tới độ tuổi này thì người được bảo vệ thường được gọi là “người già”, cuộc sống chuyển từ giai đoạn

“làm việc” sang giai đoạn “nghỉ hưu” Tuy nhiên, định nghĩa về “người già” không đồng nhất giữa các lĩnh vực: sinh học, nhân khẩu học, hưu trí, cũng như có sự khác biệt giữa các quốc gia với nhau Bởi căn cứ để xác định yếu tố “người già” của từng lĩnh vực, từng quốc gia là khác nhau, phụ thuộc vào mục đích, tính chất của từng lĩnh vực, điều kiện kinh tế – xã hội của từng quốc gia Liên Hợp Quốc thì xác định độ tuổi

Trang 19

“từ 60 năm trở lên để chỉ về người già”14 và dùng độ tuổi này để xác định dân số già trong các công trình nghiên cứu, thống kê của mình Trong khi đó, nhiều quốc gia và các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực ASXH lại dùng độ tuổi được bảo vệ bởi chế độ hưu trí được pháp luật quy định để xác định yếu tố “người già” Ở các nước phát triển, độ tuổi 65 hoặc cao hơn được sử dụng như một điểm mốc để tính thời gian bắt đầu hưởng chế độ hưu trí, khi đến điểm mốc này thì người lao động được gọi là

“người già”, và họ chính thức chuyển từ giai đoạn “làm việc” sang giai đoạn “nghỉ hưu” “Nghỉ hưu” có thể hiểu là một sự chuyển tiếp trong cuộc đời của mỗi con người

từ trạng thái làm việc (có giờ giấc, có những quy định cho mỗi loại công việc, nghề nghiệp) sang trạng thái không phải làm việc như vậy nữa Nghỉ hưu không có nghĩa

là không làm bất cứ việc gì, không phải là “nghỉ” hoàn toàn Về mặt pháp luật và chính sách, nghỉ hưu là quyền của người lao động sau một thời gian dài làm việc trong các lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế15 Như vậy, “tuổi nghỉ hưu là độ tuổi

mà người lao động quyết định tự rút lui khỏi công việc kiếm sống toàn thời gian hoặc buộc phải rời bỏ công việc của họ”16 Còn ở các nước đang phát triển, độ tuổi để xác định tuổi nghỉ hưu thường thấp hơn, có thể là 60 tuổi đối với nam, 55 tuổi đối với nữ Tùy theo điều kiện kinh tế - xã hội, tuổi nghỉ hưu ở các nước là khác nhau và có sự khác nhau về tuổi nghỉ hưu giữa nam và nữ trong cùng một nước

Như đã nêu trong phần khái niệm về “chế độ hưu trí trong BHXH” thì chế độ này được cung cấp khi người được bảo vệ đã đủ điều kiện theo quy định về BHXH Các điều kiện này là về độ tuổi, thời gian đóng góp BHXH và một số điều kiện khác trong một số trường hợp riêng biệt Trong đó, điều kiện về độ tuổi và thời gian đóng góp BHXH là điều kiện cơ bản “Ở hầu hết các nước, điều kiện để được hưởng trợ cấp hưu trí phụ thuộc vào hai yếu tố là tuổi đời và số năm đóng phí BHXH”17 Độ tuổi để xác định thời điểm được hưởng trợ cấp trong chế độ hưu trí thường gọi là tuổi nghỉ hưu, nội dung này đã được phân tích ở phần trên Còn số năm đóng phí BHXH

và các điều kiện khác để được hưởng trợ cấp hưu trí thì tùy thuộc vào điều kiện kinh

tế - xã hội ở mỗi quốc gia mà có các quy định khác nhau

Ngoài cách hiểu nêu trên, còn một số cách hiểu khác về chế độ hưu trí trong BHXH như: “Chế độ hưu trí là chế độ trợ cấp dài hạn cho người lao động khi già yếu, hết tuổi lao động, nhằm cung cấp một khoản trợ cấp thay thế cho phần thu nhập

Trang 20

không được nhận từ nghề nghiệp do phải nghỉ hưu”18; hoặc “Dưới góc độ pháp luật, bảo hiểm hưu trí là tổng hợp các quy phạm pháp luật quy định về đối tượng, điều kiện

và mức đóng, mức hưởng cho những người tham gia BHXH, khi đã hết tuổi lao động hoặc không còn tham gia lao động”19 Tuy nhiên, các cách hiểu này chưa làm rõ được các nội dung cụ thể của chế độ hưu trí mà chỉ đưa ra được các tiêu chí để xác định nội dung của chế độ hưu trí

1.1.2 Khái niệm về pháp luật về chế độ hưu trí trong bảo hiểm xã hội tự nguyện

BHXH là trụ cột chính của hệ thống ASXH trong hầu hết các quốc gia, “nhưng

nó có xu hướng tập trung vào những người làm việc trong khu vực chính thức”20

Do

đó, việc mở rộng phạm vi BHXH đến những loại hình lao động khác trong xã hội như lao động trong khu vực phi chính thức, lao động trong lĩnh vực nông nghiệp luôn là vấn đề mà các quốc gia quan tâm thực hiện Hiện nay, chương trình bảo hiểm bắt buộc thường bao gồm ít hơn 25% của lực lượng lao động ở các nước có thu nhập thấp

và từ 25%-50% ở các nước có thu nhập trung bình Ngoài ra, ở các nước có thu nhập cao, một số bộ phận dân số cũng có thể không được bảo hiểm21 Trong khi đó, sự bảo

vệ từ BHXH cần phải được mở rộng tới cộng đồng quốc gia Bởi BHXH không chỉ là nguyện vọng của một tầng lớp xã hội, mà đây còn là quyền con người, sự bảo vệ của BHXH cần phải đáp ứng nhu cầu của tất cả mọi người lao động Do đó, để bảo đảm mọi người đều có cơ hội được hưởng chế độ hưu trí, bên cạnh BHXH bắt buộc, các quốc gia còn quy định thêm loại hình BHXH tự nguyện

Loại hình BHXH tự nguyện tôn trọng quyền tự do lựa chọn của người tham gia Yếu tố “tự nguyện” trước hết thể hiện ở việc người lao động có quyền quyết định tham gia loại hình BHXH này hay không Khi đã tham gia, họ có quyền lựa chọn một mức đóng, một phương thức đóng phù hợp với thu nhập, hoàn cảnh Do đó, có thể hiểu BHXH tự nguyện là “loại hình BHXH mà người lao động tự nguyện tham gia, được lựa chọn mức đóng và phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình để hưởng BHXH”22 Chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện được thực hiện trên cơ sở người lao động tự nguyện tham gia loại hình BHXH tự nguyện do Nhà nước tổ chức thực hiện, căn cứ vào quy định của pháp luật về BHXH tự nguyện do Nhà nước ban hành

18

Mai Đức Chính (2014), “Một số ý kiến và phương án cải cách bảo hiểm hưu trí từ quan điểm đại diện người lao động”,

Tạp chí bảo hiểm xã hội, (242), tr 12

Trang 21

Như vậy, pháp luật về chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện là tập hợp các quy

định của pháp luật do Nhà nước ban hành để người tham gia BHXH tự nguyện được hưởng chế độ hưu trí Cụ thể hơn, đây là các quy định của pháp luật về việc cung cấp

khoản trợ cấp nhằm thay thế thu nhập cho người đã sống lâu hơn một độ tuổi được quy định khi người đó tham gia BHXH tự nguyện và có đủ điều kiện để hưởng khoản trợ cấp này theo quy định của pháp luật về BHXH tự nguyện Ngoài ra, tùy theo điều kiện kinh tế - xã hội mà một số quốc gia quy định thêm việc cung cấp các lợi ích khác, ví dụ như cung cấp dịch vụ về chăm sóc sức khỏe Như vậy, có thể hiểu pháp luật về chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện theo nghĩa rộng là các quy định của pháp luật về việc cung cấp khoản trợ cấp nhằm thay thế thu nhập và lợi ích khác cho người đã sống lâu hơn một độ tuổi được quy định khi người đó tham gia BHXH tự nguyện và có đủ điều kiện để hưởng khoản trợ cấp và lợi ích theo quy định của pháp luật về BHXH tự nguyện

1.2 Đặc điểm của pháp luật về chế độ hưu trí trong bảo hiểm xã hội tự nguyện

1.2.1 Mang đặc điểm của pháp luật về chế độ hưu trí trong bảo hiểm xã hội nói chung

Chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện ngoài việc có những đặc điểm riêng thì vẫn có những đặc điểm chung của chế độ hưu trí trong BHXH nói chung Các đặc điểm chung đó là:

Thứ nhất, tài chính thực hiện chế độ hưu trí hình thành bởi sự đóng góp của

người tham gia và có thể có sự đóng góp bổ sung hoặc trợ cấp của Nhà nước;

Thứ hai, sự đóng góp được tích lũy tạo thành quỹ hưu trí được dùng để thanh

toán các khoản lợi ích cho người về hưu và cho các hoạt động về BHXH; Thứ

ba, quỹ BHXH thặng dư khi chưa được dùng để chi trả trợ cấp hưu trí thì được

dùng để đầu tư sinh lời; Thứ tư, chế độ hưu trí có quá trình đóng góp và thụ hưởng lâu dài; Thứ năm, trợ cấp của chế độ hưu trí được xác định dựa vào quá

trình đóng góp của người tham gia, không liên quan đến tài sản của người

hưởng BHXH; Thứ sáu, tỷ lệ đóng góp và trợ cấp thường tỷ lệ thuận với thu

Trang 22

vai trò của Nhà nước Nhà nước tham gia BHXH để bảo hộ cho các hoạt động của quỹ BHXH, bảo đảm giá trị đồng vốn, hỗ trợ cho quỹ BHXH trong những trường hợp cần thiết Ngoài ra, Nhà nước tham gia BHXH còn với tư cách chủ thể quản lý, định

ra những chế độ, chính sách, định hướng hoạt động của BHXH Đối với chương trình hưu trí trong bảo hiểm thương mại, Nhà nước chỉ ban hành những quy định mang tính định hướng, còn nội dung cụ thể là do các công ty bảo hiểm xây dựng Do đó, chương trình hưu trí trong bảo hiểm thương mại có sự cạnh tranh giữa các công ty bảo hiểm trong và ngoài nước, còn chế độ hưu trí trong BHXH nói chung, trong BHXH tự nguyện nói riêng lại chịu sự quản lý thống nhất của Nhà nước

Còn sự khác biệt giữa chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện nói riêng, trong BHXH nói chung so với chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội là người già là ở nguồn hình thành quỹ tài chính và mối quan hệ giữa mức đóng góp, thời gian đóng góp với mức trợ cấp Đối với chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội là người già thì quỹ tài chính do Nhà nước cung cấp, để trợ cấp cho người già đủ điều kiện về độ tuổi hoặc thu nhập Người hưởng trợ cấp hoàn toàn không có đóng góp vào quỹ, không có mối liên hệ giữa tỷ lệ trợ cấp với thu nhập của người hưởng trợ cấp Còn nguồn hình thành quỹ tài chính của chế độ hưu trí trong BHXH là do những người tham gia đóng góp, có sự bổ sung hoặc hỗ trợ của Nhà nước trong trường hợp cần thiết, mức trợ cấp của người tham gia tỷ lệ thuận với mức đóng góp và thời gian đóng góp của họ

Tuy rằng có sự khác nhau giữa chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện với các chương trình hưu trí khác thuộc ASXH và bảo hiểm thương mại nhưng tất cả các chương trình hưu trí đều có vai trò nhất định, góp phần tạo nên sàn ASXH bền vững

để bảo đảm cuộc sống cho người già

1.2.2 Đối tượng áp dụng là người không thuộc đối tượng áp dụng của bảo hiểm xã hội bắt buộc

Trên thế giới hiện nay, khi cần mở rộng BHXH trong phạm vi toàn lãnh thổ, tạo

cơ sở pháp lý để những người không là đối tượng áp dụng của BHXH bắt buộc cũng

có điều kiện được hưởng chế độ hưu trí thì các quốc gia xây dựng thêm loại hình BHXH tự nguyện Khi đó, đối tượng áp dụng của BHXH tự nguyện là người không thuộc đối tượng áp dụng của BHXH bắt buộc Các đối tượng này thường là người lao động thuộc trong khu vực phi chính thức và trong lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp (gọi chung là nông nghiệp), do họ không đáp ứng điều kiện theo quy định của pháp luật để tham gia BHXH bắt buộc Hiện nay, có một số quốc gia đã từng bước đưa từng nhóm người lao động với những đặc điểm xác định thuộc khu vực phi chính thức, nông

Trang 23

nghiệp tham gia BHXH bắt buộc nhưng trường hợp này là không nhiều Đa phần các quốc gia khi quy định về BHXH tự nguyện thì vẫn đưa người lao động trong khu vực phi chính thức, nông nghiệp là đối tượng áp dụng của BHXH tự nguyện, trong đó có Việt Nam Hiện nay, ILO đưa ra cách hiểu về khu vực phi chính thức như sau:

Khu vực phi chính thức được xác định dựa trên cơ sở những quy định của từng quốc gia, thường là những doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh không

có tư cách pháp nhân, thuộc sở hữu của hộ gia đình, sản xuất ít nhất là một số sản phẩm cung cấp ra thị trường, có thể có quy định giới hạn hoặc không giới hạn về số lượng người lao động, và (hoặc) không cần đăng ký theo các quy định pháp luật liên quan của quốc gia, ví dụ như các quy định về nghĩa vụ thuế, ASXH, hoặc các quy định theo đạo luật khác24

Như vậy, khu vực phi chính thức được xác định dựa trên hệ thống pháp luật tương ứng của mỗi quốc gia Pháp luật càng cụ thể thì việc xác định khu vực phi chính thức càng rõ ràng Tại Việt Nam, khu vực phi chính thức được hiểu là các doanh nghiệp không có tư cách pháp nhân, sản xuất ít nhất một hoặc một vài sản phẩm và dịch vụ để bán hoặc trao đổi, không đăng ký kinh doanh (không có giấy phép kinh doanh) và không thuộc ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản (gọi tắt là ngành nông nghiệp)25 Định nghĩa này có tiêu chí tương ứng với cách hiểu của ILO nêu trên nhưng được phát biểu phù hợp với tình hình thực tế và quy định của pháp luật tại Việt Nam Lĩnh vực nông nghiệp không được xếp vào khu vực phi chính thức

vì đặc điểm về mùa vụ, tổ chức lao động, mức tạo thu nhập và tính pháp lý của các lĩnh vực này khác với khu vực phi chính thức

Như vậy, để mở rộng đối tượng tham gia BHXH, bảo đảm cho càng có nhiều người được hưởng chế độ hưu trí, các quốc gia quy định thêm loại hình BHXH tự nguyện bên cạnh loại hình BHXH bắt buộc Đối tượng áp dụng của BHXH tự nguyện là người không thuộc đối tượng áp dụng của BHXH bắt buộc Đây cũng chính là một trong các đặc điểm để phân biệt chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện với BHXH bắt buộc

1.2.3 Chế độ hưu trí được thực hiện trên sự tự nguyện tham gia của đối tượng

áp dụng bảo hiểm xã hội tự nguyện

Đây là đặc điểm quan trọng, đặc trưng của chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện Bởi lẽ, chế độ hưu trí trong BHXH bắt buộc được thực hiện gắn liền với ý

24 Hanns Seidel Foundation và Viện Khoa học Lao động và Xã hội thuộc Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội của Việt

Nam (2012), “An sinh xã hội cho khu vực phi chính thức và người lao động phi chính thức ở Việt Nam Kết quả rà soát tài liệu và cơ sở dữ liệu”, Hà Nội, tr 4 – tr 5

25

Lý Quỳnh Anh, “Vài nét về nền kinh tế phi chính thức”, http://ncif.gov.vn/Pages/NewsDetail.aspx?newid=16603, truy cập lần cuối vào lúc 9h ngày 08/4/2016

Trang 24

chí áp đặt của Nhà nước, các đối tượng áp dụng phải tham gia BHXH khi họ thuộc trường hợp được pháp luật quy định, từ đó họ được hưởng chế độ hưu trí khi đủ điều kiện Ngược lại, ý chí áp đặt của Nhà nước không thể thực hiện được trong BHXH tự nguyện Nhà nước không thể dùng quyền lực của mình để bắt buộc người lao động tham gia loại hình BHXH tự nguyện để sau này họ được hưởng trợ cấp Số lượng người hưởng chế độ hưu trí trong BHXH bắt buộc có thể tỉ lệ thuận với số lượng người lao động là đối tượng áp dụng theo quy định của pháp luật Nhưng trong BHXH tự nguyện, số lượng người hưởng chế độ hưu trí lại phụ thuộc vào ý chí chủ quan của người lao động khi họ tự nguyện tham gia, bởi vì không phải mọi người lao động là đối tượng áp dụng của BHXH tự nguyện thì sẽ tham gia BHXH tự nguyện, quyền quyết định có tham gia hay không của họ được tôn trọng Như vậy, trong việc tham gia BHXH tự nguyện để từ đó được hưởng chế độ hưu trí thì yếu tố người lao động thuộc đối tượng áp dụng là điều kiện cần, còn điều kiện đủ là yếu tố tự nguyện Trong việc thực hiện BHXH, nếu yếu tố bắt buộc là sự bảo đảm cho việc duy trì lâu dài, ổn định thì yếu tố tự nguyện là sự mở rộng, nâng cao tầm ảnh hưởng của chính sách BHXH, đây cũng là cơ sở để phân biệt và gọi tên hai loại hình BHXH26

Từ đó, chế độ hưu trí trong hai loại hình BHXH này sẽ bổ sung cho nhau, góp phần hoàn thiện chính sách BHXH nói riêng, chính sách ASXH nói chung

1.2.4 Trợ cấp hưu trí trong bảo hiểm xã hội tự nguyện được hình từ sự đóng góp của người tham gia là người lao động, có sự hỗ trợ tiền đóng bảo hiểm xã hội của Nhà nước

Khoản 1 Điều 71 Công ước số 102 năm 1952 của ILO quy định về nguồn hình thành các loại trợ cấp trong ASXH như sau:

Chi phí cho các loại trợ cấp được áp dụng theo Công ước này và kinh phí quản lý các loại trợ cấp đó phải được tài trợ tập thể bằng cách đóng góp hay bằng thuế, hoặc bằng cả hai cách đó, theo những thể thức để tránh tình trạng khó khăn cho người thiếu thốn phương tiện sinh sống và có lưu ý tới tình hình kinh

tế của Nước thành viên và của những loại người được bảo vệ

Trợ cấp hưu trí là một trong các loại trợ cấp của ASXH nên có ba cách tạo nguồn tài chính theo quy định như trên là không phải đóng góp (Nhà nước tài trợ thông qua thuế), đóng góp (các bên tham gia BHXH đóng góp nên, bao gồm: người lao động, người sử dụng lao động) và đóng góp kết hợp với sự tài trợ của Nhà nước Đối với BHXH bắt buộc, phần lớn các quốc gia đều chọn phương thức ba bên là người lao động và người sử dụng lao động đóng góp vào quỹ BHXH, có sự hỗ trợ của

26

Phạm Đình Thành (2005), “Về khái niệm liên quan đến BHXH”, Tạp chí bảo hiểm xã hội, (76)

Trang 25

Nhà nước Tuy nhiên, đối với BHXH tự nguyện thì việc đóng góp vào quỹ BHXH lại không có vai trò của người sử dụng lao động vì họ không phải là đối tượng áp dụng của loại hình BHXH này Do đó, để được hưởng các chế độ của BHXH tự nguyện, trong đó có chế độ hưu trí, thì trách nhiệm đóng BHXH thuộc về người lao động Tuy nhiên, nếu chỉ có người lao động đóng góp thì loại hình BHXH tự nguyện

sẽ không thu hút được nhiều người tham gia, vì để bảo đảm tính liên kết với các nội dung khác trong ASXH thì tỷ lệ đóng góp của họ sẽ bằng tổng tỷ lệ đóng góp của người lao động và người sử dụng lao động trong BHXH bắt buộc, điều này vượt quá khả năng đóng góp của một bộ phận người lao động Do đó, nhiều quốc gia quy định việc hỗ trợ tiền đóng BHXH tự nguyện của Nhà nước, cũng như khuyến khích cá nhân, tổ chức trong xã hội hỗ trợ tiền đóng BHXH tự nguyện, nhằm làm tăng tính hấp dẫn, tính khả thi của loại hình BHXH này Từ đặc điểm hình thành quỹ tài chính vừa nêu, có thể phân biệt giữa cách thức hình thành nguồn tài chính giữa hai loại hình BHXH trong việc thực hiện chế độ hưu trí

1.3 Vai trò của pháp luật về chế độ hưu trí trong bảo hiểm xã hội tự nguyện

1.3.1 Góp phần bảo đảm quyền con người

Quyền được hưởng ASXH, trong đó có quyền được hưởng chế độ hưu trí là quyền con người được các văn bản pháp luật quốc tế ghi nhận và tôn trọng Tuyên ngôn Nhân quyền Quốc tế được Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua và công bố theo Nghị quyết số 217A (III) ngày 10/12/1948 đã nêu: “Với tư cách là một thành viên của xã hội, mọi người đều có quyền được hưởng ASXH” (Điều 22) và “Mọi người đều có quyền hưởng một mức sống thích đáng, đủ để đảm bảo sức khỏe và phúc lợi của bản thân và gia đình, về các khía cạnh ăn, mặc, ở, chăm sóc y tế và các dịch vụ xã hội cần thiết, cũng như có quyền được hưởng bảo hiểm trong trường hợp già nua…” (Điều 25) Công ước quốc tế về các quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa năm 1966 được Đại hội đồng Liên Hợp quốc thông qua theo Nghị quyết số 2200A (XXI) ngày 16/12/1966 cũng quy định27: “Các quốc gia thành viên Công ước này thừa nhận quyền của mọi người được hưởng ASXH, kể cả BHXH” (Điều 9) Nội dung các quy định vừa nêu hiện đang được các tổ chức quốc tế nỗ lực thực hiện bằng các quy định cụ thể và các chương trình, chính sách thực tế, được các quốc gia quy định trong hệ thống pháp luật của mỗi nước

Tuy nhiên, việc thực hiện chế độ hưu trí trong loại hình BHXH bắt buộc và trong các chương trình hưu trí khác của ASXH vẫn chưa thể bảo đảm tất cả mọi người trong xã hội được quyền tham gia và hưởng chế độ hưu trí Do đó, việc các

27

Việt Nam gia nhập công ước này vào ngày 24/9/1982

Trang 26

quốc gia quy định việc thực hiện chế độ hưu trí trong loại hình BHXH tự nguyện đã góp phần hiện thực hóa và bảo đảm quyền con người nêu trên, cung cấp thêm một cách thức để mọi người thực hiện quyền ASXH của mình

1.3.2 Góp phần bảo đảm thu nhập và các lợi ích khác cho người già

Trên thế giới hiện nay, gần một nửa (48%) của những người trên tuổi nghỉ hưu không được nhận lương hưu Đối với nhiều người trong số những người nhận lương hưu thì mức lương hưu không đủ Kết quả là đa số phụ nữ và đàn ông lớn tuổi trên thế giới không có sự bảo đảm thu nhập, không có quyền nghỉ hưu và phải tiếp tục làm việc miễn là họ có thể - khi đó họ thường được trả công thấp và trong điều kiện bấp bênh28 Tại Việt Nam, trong nghiên cứu của trường Đại học Kinh tế Quốc dân, phúc lợi hưu trí chiếm hơn một phần ba thu nhập hộ gia đình của những người về hưu, để cho nguồn thu nhập này cạn kiệt sẽ gia tăng tỷ lệ người già nghèo đói29 Do đó, việc bảo đảm thu nhập đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với cuộc sống của người già Khi họ có nguồn thu nhập thì cuộc sống sinh hoạt sẽ ổn định, không còn là gánh nặng

xã hội, thậm chí có thể giúp đỡ các thành viên khác trong gia đình Vì vậy, chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện là một phương thức góp phần bảo đảm thu nhập cho người già Quan trọng hơn nữa, đối tượng áp dụng của BHXH tự nguyện đa phần là người thuộc khu vực kinh tế phi chính thức và nông nghiệp, nên họ thường là những người có thu nhập không ổn định, dễ bị ảnh hưởng bởi các thay đổi về kinh tế - xã hội, nên việc thực hiện hiệu quả chế độ hưu trí cho các đối tượng này sẽ có vai trò to lớn trong việc bảo đảm cho họ một cuộc sống ổn định và đóng vai trò tích cực đối với

sự phát triển kinh tế - xã hội Ngoài ra, pháp luật về BHXH tự nguyện ở một số quốc gia còn quy định thêm về việc về việc cung cấp các lợi ích khác, như về chăm sóc y

tế cho những người được hưởng chế độ hưu trí Điều này góp phần tạo nên sự kết hợp toàn diện trong việc bảo đảm thu nhập và cuộc sống cho người già

1.3.3 Góp phần bảo đảm nhu cầu kinh tế và xã hội vì sự phát triển toàn diện và tiến bộ

BHXH tự nguyện một loại hình BHXH nên các chế độ, trong đó có chế độ hưu trí phản ánh đầy đủ bản chất của BHXH là sự bảo đảm của xã hội đối với yếu tố lao động của sản xuất – nhìn từ góc độ kinh tế - hoặc là hoạt động nhằm bảo đảm ổn định đời sống cho người lao động trước những rủi ro xã hội – nhìn từ giác độ xã hội.30

Trang 27

Đối với xã hội, khoản trợ cấp của chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện sẽ bảo đảm cuộc sống ổn định cho chính những người thụ hưởng và gia đình của họ, từ đó góp phần vào sự ổn định chung và phát triển của toàn xã hội

Đối với kinh tế, chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện là đầu tư cho con người, giúp người già thích ứng với những thay đổi của nền kinh tế và thị trường lao động, đóng vai trò bình ổn kinh tế và xã hội, hỗ trợ phát triển sang một nền kinh tế bền vững hơn Mặt khác, phần quỹ BHXH tự nguyện khi chưa được dùng để chi trả chế

độ hưu trí sẽ được đầu tư vào các hoạt động sản xuất, kinh doanh để bảo tồn và tăng trưởng quỹ Đây cũng là một nguồn tài chính góp phần thúc đẩy sự tăng trưởng kinh

tế Thêm vào đó, càng có thêm người già được hưởng chế độ hưu trí từ BHXH tự nguyện thì càng góp phần giảm được tỷ lệ nguồn lực mà Nhà nước phải dành ra để hỗ trợ những người già rơi vào hoàn cảnh nghèo khó, thay vào đó, Nhà nước có thể sử dụng những nguồn lực này để phát triển kinh tế - xã hội

1.3.4 Góp phần vào việc phòng chống và giảm đói nghèo, thúc đẩy công bằng, bình đẳng xã hội

Hệ thống ASXH hiệu quả là công cụ mạnh mẽ bảo đảm thu nhập, ngăn chặn và làm giảm đói nghèo, giảm sự bất bình đẳng, từ đó thúc đẩy hòa nhập xã hội và nâng cao phẩm cách con người “ASXH có vai trò tăng cường sự gắn kết xã hội và do đó góp phần xây dựng xã hội hòa bình, xã hội hòa nhập và một nền toàn cầu hóa công bằng với tiêu chuẩn sống phù hợp cho tất cả”31

Là một nội dung trong hệ thống ASXH nên khi thực hiện có hiệu quả thì chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện đã góp phần vào các vai trò vừa nêu của ASXH

Người già là một trong những đối tượng thuộc nhóm “dễ bị tổn thương nhất” cũng như thuộc nhóm “có nguy cơ cao nhất” cần được bảo vệ, bởi vì họ dễ bị bỏ rơi,

bị lạm dụng, bị tổn thương trong khi sức khỏe họ kém và không thể tiếp cận được các dịch vụ chăm sóc sức khỏe và các tiện nghi của xã hội32 Nhiều người già ở các nước đang phát triển đã không thể thoát khỏi đói nghèo và thường bị đói nghèo kinh niên33, trong khi phần lớn họ không được bảo vệ bởi BHXH bắt buộc Do đó, để chống đói nghèo một cách hiệu quả và đáp ứng nhu cầu ASXH của dân số thế giới, các gói lợi ích cơ bản có thể được thực hiện dần dần, trong đó có yếu tố sau: tất cả các cư dân trong tuổi già được hưởng an sinh thu nhập ít nhất là ở mức nghèo thông qua trợ cấp

Trang 28

hưu trí tuổi già34 Như vậy, việc bảo đảm quyền được tiếp cận với chế độ hưu trí cho những người không thuộc đối tượng áp dụng của BHXH bắt buộc bằng loại hình BHXH tự nguyện là biện pháp quan trọng cho phép người già có khả năng đương đầu với các rủi ro do việc nghỉ hưu mang lại

Bên cạnh đó, với tư cách là thành viên của xã hội nên mọi người, không phân biệt hoạt động theo thành phần kinh tế nào đều là bộ phận của lao động xã hội, đều phải được bảo đảm cơ hội được hưởng ASXH, trong đó có chế độ hưu trí Đó là cơ sở đảm bảo sự bình đẳng cho mọi người lao động trước những chính sách xã hội, trong

đó có chính sách BHXH Sự phân biệt các thành phần kinh tế, loại hình công việc… nhằm để có các chính sách quản lý cho phù hợp chứ không phải là căn cứ phân biệt

về chính sách, chế độ về quyền lợi đối với người lao động35 Vì vậy, chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện đã góp phần vào việc bảo đảm công bằng, bình đẳng xã hội

1.3.5 Góp phần thiết lập sàn an sinh xã hội bền vững

Thực tế các chương trình hưu trí trên thế giới cho thấy: không có mô hình nào tối ưu để đáp ứng được tất cả các nhu cầu về an sinh tuổi già Mỗi mô hình có hiệu quả ở khía cạnh nhất định, đối với nhóm dân cư nhất định, vì mỗi nhóm có các đặc điểm và hoàn cảnh riêng biệt, đòi hỏi phải có quy định về chế độ hưu trí phù hợp Đó

là lý do mà nhiều quốc gia đã quy định về chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện để thực hiện song song với chế độ hưu trí trong BHXH bắt buộc cũng như với các chương trình hưu trí khác Việc thực hiện chế độ hưu trí cho từng nhóm dân số càng đạt hiệu quả thì sẽ càng tiến tới việc đạt được mục tiêu về bảo đảm cuộc sống cho đa

số, thậm chí là toàn bộ người già, cùng với việc đạt được những mục tiêu khác trong ASXH thì sẽ góp phần tạo nên một sàn ASXH toàn diện, bền vững Việc thực hiện chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện không chỉ có ý nghĩa đối với trường hợp bảo

vệ mà chế độ này hướng tới, mà còn có ý nghĩa đối với toàn bộ chính sách về ASXH

Ở khía cạnh khác, việc mỗi nội dung của ASXH được thực hiện hiệu quả không chỉ do chính quy định về nội dung đó có tính phù hợp, khả thi mà còn do nội dung đó trong quá trình thực hiện có sự liên kết, hỗ trợ với các nội dung khác của ASXH “Tất

cả các chương trình ASXH và các tổ chức trong quốc gia được liên kết với nhau và

bổ sung trong thực hiện mục tiêu, chức năng và tài chính của nhau, và do đó tạo thành một hệ thống ASXH quốc gia”36

Với đối tượng áp dụng có phần riêng biệt của mình, chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện cùng với các chương trình hưu trí khác

Trang 29

trong chính sách ASXH đã bổ sung, hỗ trợ lẫn nhau tạo nên sàn ASXH đáp ứng quyền hưởng an sinh tuổi già của mọi người trong xã hội, đồng thời liên kết với các nội dung khác của ASXH, thiết lập nên sàn ASXH bền vững

1.4 Các nguyên tắc cơ bản trong việc xây dựng pháp luật về chế độ hưu trí trong bảo hiểm xã hội tự nguyện

Những nguyên tắc được trình bày dưới đây đóng vai trò hướng dẫn đối với chính sách quốc gia và quyết định chiến lược trong việc xây dựng quy định của pháp luật về chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện Các nguyên tắc này được nêu trong các Công ước sau: Công ước số 102 năm 1952 của ILO về Quy phạm tối thiểu về ASXH; Công ước số 128 năm 1967 của ILO về Trợ cấp tàn tật, tuổi già và tiền tuất Các nguyên tắc này cũng được trình bày trong các Khuyến nghị của ILO như: Khuyến nghị số 131 năm 1967 của ILO về Trợ cấp cho người khuyết tật, người già và người sống sót, Khuyến nghị số 202 năm 2012 của ILO về Sàn ASXH quốc gia Các nguyên tắc được đề cập trong các văn bản trên gồm: 1 Nguyên tắc Nhà nước chịu trách nhiệm chung; 2 Nguyên tắc tự nguyện; 3 Nguyên tắc đoàn kết và tương trợ;

4 Nguyên tắc đóng – hưởng cân đối; 5 Nguyên tắc quyền lợi đầy đủ và có thể dự báo được theo quy định của pháp luật; 6 Nguyên tắc tài chính hài hòa, hướng đến sự cân bằng tối ưu giữa trách nhiệm và lợi ích giữa các bên tham gia đóng và hưởng chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện; 7 Nguyên tắc bền vững về mặt tài chính cùng với bảo đảm công bằng và bình đẳng xã hội; 8 Nguyên tắc điều chỉnh lương hưu khi thanh toán; 9 Nguyên tắc minh bạch, trách nhiệm, quản lý chặt chẽ; 10 Nguyên tắc tiếp cận các thủ tục khiếu nại và tố cáo dễ dàng, hiệu quả; 11 Nguyên tắc giám sát thường xuyên và đánh giá định kỳ; 12 Nguyên tắc kết nối với các chương trình hưu trí khác trong chính sách ASXH và với các chính sách việc làm, kinh tế và xã hội

Mỗi nguyên tắc vừa nêu đều có vai trò nhất định, tuy nhiên, phần trình bày dưới đây sẽ tập trung vào các nguyên tắc có vai trò quan trọng khi xây dựng quy định của pháp luật về chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện Đó là các nguyên tắc: Nguyên tắc Nhà nước chịu trách nhiệm chung; Nguyên tắc tự nguyện; Nguyên tắc đoàn kết và tương trợ; Nguyên tắc đóng – hưởng cân đối; Nguyên tắc bền vững về mặt tài chính cùng với bảo đảm công bằng và bình đẳng xã hội; Nguyên tắc kết nối với các chương trình hưu trí khác trong chính sách ASXH và với các chính sách việc làm, kinh tế và xã hội

1.4.1 Nguyên tắc Nhà nước chịu trách nhiệm chung

Nguyên tắc này được xem là nguyên tắc quan trọng, cơ bản, mang tính nền tảng, định hướng trực tiếp, bởi vì Nhà nước là yếu tố cốt lõi, quyết định tính khả thi trong

Trang 30

việc xây dựng quy định của pháp luật về chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện Nguyên tắc này được quy định tại Khoản 3 Điều 71 Công ước số 102 năm 1952 của ILO và khoản 1 Điều 35 Công ước số 128 năm 1967 của ILO như sau: “Nước thành viên phải chịu trách nhiệm chung về dịch vụ trợ cấp được áp dụng theo Công ước này

và phải sử dụng mọi biện pháp cần thiết nhằm đạt mục tiêu đó” Gần đây nhất, Khuyến nghị số 202 năm 2012 của ILO cũng xem trách nhiệm chung và cơ bản của Nhà nước là điều cần thiết để thực hiện sàn ASXH quốc gia (khoản 3 Phần I)

Lý luận và thực tiễn trên thế giới đều khẳng định: “thực hiện ASXH là trách nhiệm của mọi Nhà nước”37

Theo đó, Nhà nước có trách nhiệm chung trong việc tạo

ra các cam kết chính trị để thiết lập các chính sách, khuôn khổ pháp lý phù hợp, điều tiết và giám sát kịp thời nhằm bảo đảm mức lợi ích đầy đủ, quản trị tốt và quản lý hiệu quả để bảo vệ quyền và lợi ích của người tham gia Đồng thời, Nhà nước tham gia BHXH với tư cách là người bảo hộ cho các hoạt động của quỹ BHXH, bảo đảm giá trị đồng vốn, và hỗ trợ cho quỹ BHXH trong những trường hợp cần thiết, trong đó

có trường hợp hỗ trợ thực hiện loại hình BHXH tự nguyện Để cụ thể hóa những trách nhiệm vừa nêu, Nhà nước cần thực hiện những nội dung sau:

Thứ nhất, cung cấp chính sách phù hợp, khuôn khổ pháp lý và cơ chế quản

lý hiệu quả, trong đó có một khuôn khổ pháp lý đủ khả năng để bảo mật và bảo

vệ thông tin cá nhân chứa trong hệ thống dữ liệu ASXH; Thứ hai, thúc đẩy sự

gắn kết của các chính sách ASXH với nhau và giữa chính sách ASXH với chính sách việc làm, kinh tế vĩ mô và các chính sách xã hội khác trong khuôn khổ việc

làm bền vững; Thứ ba, bảo đảm rằng các chính sách ASXH có tính đến sự thay

đổi vai trò của phụ nữ và nam giới đối với việc làm và chăm sóc trách nhiệm,

thúc đẩy bình đẳng giới; Thứ tư, đảm bảo rằng các chính sách ASXH đáp ứng nhu cầu của phụ nữ, nam giới ở cả khu vực thành thị và nông thôn; Thứ năm, ký

kết các hiệp định song phương, khu vực hoặc đa phương để cung cấp sự bình đẳng đối với ASXH, cũng như sự tiếp cận và duy trì tính linh hoạt của các

quyền lợi về ASXH; Thứ sáu, bảo đảm sự bền vững của tài chính, ngân sách và

kinh tế của hệ thống ASXH thông qua các chính sách phù hợp và cơ chế tài

chính khác nhau; Thứ bảy, thúc đẩy đối thoại hiệu quả để xác định các chính sách ASXH quốc gia thích hợp; Thứ tám, trao đổi thông tin, kinh nghiệm và

chuyên môn về chính sách ASXH và thực tiễn giữa các quốc gia trên thế giới38

Các nội dung nêu trên về trách nhiệm của Nhà nước cũng được áp dụng đối với chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện Nhà nước khi hoàn thành trách nhiệm thì đã

Trang 31

tạo điều kiện tiên quyết trong việc làm tăng tính khả thi để thu hút ngày càng nhiều người lao động tham gia BHXH tự nguyện, từ đó nâng cao tỷ lệ người được hưởng chế độ hưu trí khi về già, góp phần thực hiện mục tiêu chung của ASXH

1.4.2 Nguyên tắc tự nguyện

Đây là nguyên tắc cơ bản trong việc xây dựng quy định của pháp luật về chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện Tuy rằng, điều khoản chung của Khuyến nghị số 67 năm 1944 của ILO về bảo đảm thu nhập cho rằng: việc bảo đảm thu nhập (trong đó

có việc khôi phục thu nhập đã bị mất đến một mức hợp lý gây ra bởi việc mất khả năng lao động, bao gồm cả yếu tố tuổi già) cần phải được tổ chức trên cơ sở BHXH bắt buộc, thế nhưng việc bắt buộc tham gia BHXH để được hưởng chế độ hưu trí là điều không dễ dàng thực hiện, đặc biệt là đối với các nước có thu nhập thấp và trung bình do sự khó khăn trong việc quản lý một số loại lao động, như lao động trong khu vực phi chính thức, nông nghiệp Vì vậy, giải pháp được đặt ra là quy định về BHXH

tự nguyện để những người lao động này có cơ sở tham gia và hưởng chế độ hưu trí Tính tự nguyện của chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện thể hiện ở chỗ: trong giới hạn pháp luật cho phép thì người lao động tự nguyện tham gia BHXH, tự đăng

ký mức thu nhập làm căn cứ đóng BHXH, tự lựa chọn cách đóng phù hợp với điều kiện làm việc và tính chất thu nhập để được hưởng chế độ hưu trí sau này Tuy rằng pháp luật có giới hạn về các nội dung vừa nêu nhưng các giới hạn này luôn được quy định theo hướng mở rộng, linh hoạt, phù hợp cho người lao động

Nguyên tắc này có vai trò quan trọng trong việc định hướng xây dựng quy định của pháp luật về chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện sao cho khả thi, hấp dẫn để thu hút ngày càng nhiều người dân tự nguyện tham gia, làm tăng mức độ bao phủ của chế độ hưu trí trong BHXH nói chung đối với người già

1.4.3 Nguyên tắc đoàn kết và tương trợ

Đây là nguyên tắc được ghi nhận tại khoản 3 Phần I của Khuyến nghị số 202 năm 2012 của ILO Nguyên tắc đoàn kết khẳng định hệ thống ASXH là một trong những hình thức thể hiện sự đoàn kết mạnh mẽ của toàn thể xã hội Việc đặt ra các tiêu chuẩn lao động quốc tế trong lĩnh vực ASXH cũng nhằm mục đích tăng cường sự gắn kết xã hội bằng cách thúc đẩy tình đoàn kết giữa các thành viên tích cực và không tích cực của xã hội, giữa người giàu và người nghèo, giữa các thế hệ hiện tại

và tương lai “Lương hưu tuổi già chính là một ví dụ tiêu biểu Lương hưu ASXH đã

Trang 32

đi sâu vào trong các giá trị lâu dài của sự đoàn kết giữa các thế hệ”39 Hoạt động BHXH tự nguyện không chỉ giữ vai trò điều tiết xã hội trong từng thế hệ mà còn gắn kết giữa các thế hệ với nhau cả về nghĩa vụ, trách nhiệm và quyền lợi Người lao động hướng đến chế độ hưu trí thì sự đóng góp của họ hôm nay là để được hưởng trợ cấp cho nhiều năm về sau, khi họ đã đến tuổi nghỉ hưu Chính hoạt động BHXH này

đã liên kết lợi ích của các thành viên trong xã hội từ thế hệ này sang thế hệ khác và các thế hệ kế tiếp phải có trách nhiệm bảo vệ thể chế chính trị đó thì mới bảo vệ được lợi ích riêng của họ kể cả hiện tại và tương lai40

Bên cạnh đó, pháp luật về chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện cũng phải bảo đảm tính tương trợ giữa những người tham gia, hay còn gọi là “lấy số đông bù cho số ít”, nghĩa là “dùng tiền đóng góp nhỏ của nhiều người tham gia đóng góp BHXH để

bù đắp cho một số ít người với số tiền lớn hơn so với số đóng góp của từng người”41

Sự tương trợ này thể hiện rõ tính tương hỗ giữa các thành viên trong cộng đồng xã hội, tính nhân đạo và nhân văn sâu sắc của xã hội trước rủi ro của mỗi thành viên42 Việc tuân thủ nguyên tắc đoàn kết, tương trợ khi thực hiện chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện sẽ bảo đảm tính bền vững về mặt tài chính một cách lâu dài, bảo đảm an sinh tuổi già tốt hơn cho người tham gia trong hiện tại và tương lai

1.4.4 Nguyên tắc đóng – hưởng cân đối

Nguyên tắc này được đề cập đến tại điểm b khoản 1 Điều 29 Công ước số 102 năm 1952 của ILO Theo đó, khi xảy ra trường hợp bảo vệ là tình trạng sống lâu hơn

độ tuổi quy định thì: “về nguyên tắc mọi hoạt động đều được bảo vệ, thì bảo đảm cho người được bảo vệ đã có thâm niên đóng góp theo quy định”

Theo nguyên tắc này – theo nghĩa tương đối: người lao động đóng góp BHXH nhiều năm hơn, với mức đóng cao hơn thì đương nhiên sẽ được nhận mức hưởng cao hơn khi hưu trí (mức hưởng phụ thuộc rất nhiều vào mức đóng

và thời gian đóng góp) – theo nghĩa tuyệt đối: quan hệ đóng – hưởng bình quân chung của toàn xã hội43

Chế độ hưu trí trong BHXH nói chung có sự tương quan giữa mức đóng và mức hưởng, đồng thời mức hưởng sẽ được xem xét trong mối quan hệ với mức sống tại thời điểm nhận lương hưu Tùy điều kiện kinh tế - xã hội mà tỷ lệ tương quan này ở

39

“International Standards on Social Security Lessons from the past for a better implementation” (2014), p 8,

http://islssl.org/wp-content/uploads/2014/12/Servais_2014_Asian_Conf.pdf, truy cập lần cuối vào lúc 16h ngày 29/7/2015

40 Phạm Đình Thành (2007), “Một số vấn đề về BHXH tự nguyện ở nước ta”, Tạp chí bảo hiểm xã hội, (104)

Trang 33

mỗi nước là khác nhau, nhưng các nước đều quy định sao cho cân đối để bảo đảm quyền lợi cho người được bảo vệ Tuy nhiên, về mặt định tính cho thấy mối tương quan giữa đóng và hưởng của chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện có vẻ “sòng phẳng” hơn so với chế độ hưu trí trong BHXH bắt buộc, nghĩa là đối với từng người

cụ thể thì đóng góp được đến đâu sẽ thụ hưởng đến đó trong phần đóng góp của mình44 Dù vậy do việc làm và thu nhập của người tham gia BHXH tự nguyện thường không ổn định, nên nguyên tắc đóng – hưởng cân đối được vận dụng linh hoạt hơn Theo đó, Nhà nước sẽ hỗ trợ việc đóng góp của người tham gia BHXH tự nguyện để bảo đảm tính khả thi, nhưng việc hỗ trợ của Nhà nước cũng phải dựa trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc đóng – hưởng cân đối, nghĩa là chỉ những trường hợp cần thiết mới được hỗ trợ để bảo đảm mức hưởng phù hợp của người tham gia

Trước các yêu cầu mà nguyên tắc này đặt ra, pháp luật sẽ được xây dựng theo hướng vừa bảo đảm sự cân đối giữa việc đóng góp và việc thụ hưởng chế độ hưu trí của người tham gia BHXH tự nguyện, vừa dự tính đến các khả năng hỗ trợ tài chính cho các đối tượng này để bảo đảm tính khả thi, phù hợp của quy định của pháp luật

1.4.5 Nguyên tắc bền vững về mặt tài chính cùng với bảo đảm công bằng và bình đẳng xã hội

Nguyên tắc được quy định tại điểm k khoản 3 Phần I Khuyến nghị số 202 năm

2012 của ILO, đề cập đến hai vấn đề đặc biệt quan trọng trong cải cách hưu trí là thực hiện tài chính bền vững, đồng thời phải bảo đảm công bằng và bình đẳng xã hội Hiện nay, nguyên nhân chính dẫn đến việc nhiều quốc gia tiến hành cải cách hưu trí là do sự thiếu hụt của quỹ tài chính thực hiện chế độ hưu trí Việc duy trì quỹ tài chính được lâu dài, bền vững theo thời gian là yếu tố sống còn đối với các chính sách về hưu trí trên thế giới Đây là đòi hỏi cấp thiết mà thực tiễn đặt ra đối với các nhà hoạch định chính sách ở phương diện quốc tế và quốc gia Do đó, sự sửa đổi, bổ sung về mặt pháp luật liên quan đến chế độ hưu trí, trong đó có chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện phải chú trọng đến sự bền vững lâu dài về mặt tài chính

Ngoài ra, thúc đẩy sự công bằng trong hệ thống lương hưu là vấn đề rất quan trọng vì nó giúp xây dựng sự đồng thuận trong quốc gia một cách mạnh mẽ để hỗ trợ cho thu nhập tuổi già Hưu trí suy cho cùng là lời hứa của một lợi ích trong tương lai

để đổi lấy một sự đóng góp ở hiện tại Vì vậy, một hệ thống lương hưu có hiệu quả đòi hỏi sự tin tưởng của cộng đồng rằng lời hứa sẽ được thực hiện Một sự thiếu công

44

Phạm Đình Thành (2005), “Bàn về mô hình BHXH ở Việt Nam”, Tạp chí bảo hiểm xã hội, (82)

Trang 34

bằng và bền vững sẽ làm xói mòn niềm tin công cộng này, trong khi đó sự đồng thuận quốc gia là cần thiết cho việc xây dựng một hệ thống lương hưu vững mạnh.45

Mặt khác, yếu tố bình đẳng cũng phải được cân nhắc trong việc xây dựng quy định pháp luật về chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện Không chỉ là bình đẳng về giới, nghĩa là sự bình đẳng giữa lao động nam và lao động nữ, mà còn là sự bình đẳng giữa các khu vực có điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau Điều này góp phần bảo đảm cho mọi người đều có quyền và nghĩa vụ như nhau, tạo sự an tâm, tin tưởng trong việc tham gia và thực hiện chế độ hưu trí

Thực hiện nguyên tắc này sẽ vừa bảo đảm khả năng tồn tại lâu dài, bền vững của quỹ tài chính, vừa bảo đảm sự công bằng và bình đẳng cho người tham gia trong việc thực hiện chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện

1.4.6 Nguyên tắc kết nối với các chương trình hưu trí khác trong an sinh xã hội

Khác với các chương trình hưu trí khác, chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện hướng đến đối tượng là người không được áp dụng bởi BHXH bắt buộc nhằm mở rộng diện bao phủ của BHXH Điều quan trọng là tất cả các chương trình khác nhau được thiết lập để đóng vai trò bổ sung cho nhau nhằm cung cấp bảo hiểm toàn diện đến các nhóm dân cư khác nhau và đáp ứng các mục tiêu khác nhau Bằng cách này, chúng tạo thành một hệ thống lương hưu quốc gia Sự kết hợp của các chương trình trong hệ thống lương hưu thường phản ánh hoàn cảnh quốc gia cũng như chính sách của đất nước và quá trình phát triển kinh tế46

Đồng thời, chúng cũng góp phần xây dựng một hệ thống ASXH đa tầng, linh hoạt, không loại trừ và có thể hỗ trợ lẫn nhau, nhằm bảo đảm an toàn cho người dân, nhất là người lao động trong các trường hợp rủi ro kinh tế và rủi ro xã hội Đây là cơ sở thực tiễn vững chắc của nguyên tắc này

Do đó, khi xây dựng quy định của pháp luật về chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện thì phải xem xét đến tính thống nhất và bổ sung lẫn nhau giữa các quy định pháp luật khác nhau nhưng có liên quan trong lĩnh vực BHXH nói riêng, ASXH nói chung

1.5 Định hướng xây dựng pháp luật về chế độ hưu trí trong bảo hiểm xã hội tự nguyện ở Việt Nam

1.5.1 Đường lối của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong việc xây dựng pháp luật về chế độ hưu trí trong bảo hiểm xã hội tự nguyện

Hiến pháp năm 2013 của Việt Nam khẳng định tại Điều 34 như sau: “Công dân

có quyền được hưởng bảo đảm ASXH” và tại Điều 59: “Nhà nước tạo điều kiện bình

45 Park, Donghyun (ed.) (2012), Pension systems in East and Southeast Asia: Promoting fairness and sustainability, Asian

Development Bank, Mandaluyong City, Philippines, p.2-3

46

Sri Wening Handayani and Babken Babajanian, tlđd 10, p 138

Trang 35

đẳng về cơ hội để công dân thụ hưởng phúc lợi xã hội, phát triển hệ thống ASXH” Đây là cơ sở pháp lý cao nhất công nhận quyền được hưởng ASXH của công dân và khẳng định trách nhiệm của Nhà nước trong việc phát triển hệ thống ASXH nói chung, trong đó có hoàn thiện pháp luật về chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện nói riêng Ngoài Hiến pháp năm 2013, Đảng và Nhà nước cũng chú trọng đến việc phát triển chính sách BHXH cùng với các chế độ BHXH thông qua một loạt các văn bản quan trọng, mang tính định hướng, chỉ đạo

Đầu tiên là Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 30/01/2008 của Hội nghị lần thứ sáu Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X đã xác định:

Xây dựng hệ thống BHXH đa dạng và linh hoạt phù hợp với kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Mở rộng các hình thức bảo hiểm bắt buộc

và bảo hiểm tự nguyện; bổ sung, sửa đổi các chế độ BHXH còn bất hợp lý, bảo đảm quyền lợi của người tham gia BHXH; Điều chỉnh lương hưu và trợ cấp BHXH theo cơ chế tạo nguồn, độc lập tương đối với chính sách tiền lương, giảm dần phần hỗ trợ từ ngân sách nhà nước; từng bước cải thiện đời sống của người

về hưu theo trình độ phát triển của nền kinh tế

Ngoài ra, Đại hội Đảng lần thứ XI cũng khẳng định: “Bảo đảm ASXH; tiếp tục sửa đổi, hoàn thiện hệ thống BHXH, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp… đa dạng, linh hoạt, có khả năng bảo vệ, giúp đỡ mọi thành viên trong xã hội nhất là những đối tượng yếu thế dễ bị tổn thương”

Tiếp đó, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam giai đoạn

2011-2020 đã đặt ra mục tiêu:

Phát triển hệ thống ASXH đa dạng, ngày càng mở rộng và hiệu quả Phát triển mạnh mẽ hệ thống bảo hiểm như BHXH, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn và bệnh nghề nghiệp… Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để người lao động tiếp cận và tham gia các loại hình bảo hiểm

Nghị quyết số 15-NQ-TW ngày 01/6/2012 của Ban chấp hành Trung ương khóa

XI về mội số vấn đề chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020 khẳng định quan điểm chỉ đạo: “Hệ thống ASXH phải đa dạng, toàn diện, có tính chia sẻ giữa Nhà nước, xã hội với người dân, giữa các nhóm dân cư trong một thế hệ và giữa các thế hệ; bảo đảm bền vững, công bằng” và đặt mục tiêu:

Nghiên cứu, sửa đổi Luật BHXH theo hướng mở rộng đối tượng BHXH Hoàn thiện chính sách, pháp luật và cơ chế quản lý Quỹ BHXH để bảo đảm yêu cầu cân đối và tăng trưởng của Quỹ BHXH Nghiên cứu xây dựng chính sách khuyến khích nông dân, lao động trong khu vực phi chính thức tham gia BHXH

Trang 36

tự nguyện Rà soát, bổ sung quy định buộc người sử dụng lao động phải đóng BHXH cho người lao động theo quy định của pháp luật Phấn đấu đến năm 2020

có khoảng 50% lực lượng lao động tham gia BHXH; 35% lực lượng lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp

Gần đây nhất, Nghị quyết số 21-NQ-TW ngày 22/11/2012 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác BHXH, bảo hiểm y tế giai đoạn 2012-2020 tiếp tục khẳng định: Mở rộng đối tượng tham gia BHXH; xây dựng chính sách khuyến khích nông dân, lao động trong khu vực phi chính thức tham gia BHXH

tự nguyện; phấn đấu đến năm 2020 có 50% lực lượng lao động tham gia BHXH Nội dung các văn bản nêu trên vừa định hướng đường lối phát triển của chính sách liên quan đến chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện, vừa cho thấy quyết tâm mạnh mẽ của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong việc thực hiện chính sách ASXH, BHXH nói chung, loại hình BHXH tự nguyện nói riêng Việc hoàn thiện pháp luật về chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện là nhằm cụ thể hóa định hướng và quyết tâm này

1.5.2 Quan điểm xây dựng quy định của pháp luật về chế độ hưu trí trong bảo hiểm xã hội tự nguyện tại Việt Nam

Với phạm vi đối tượng áp dụng rộng lớn của BHXH tự nguyện, nếu thực hiện có hiệu quả loại hình BHXH này sẽ góp phần rất lớn vào thành công của BHXH nói riêng, chính sách ASXH nói chung Do đó, khi xây dựng quy định của pháp luật về chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện thì cần tuân thủ, quán triệt các quan điểm sau:

Thứ nhất, tiếp tục thể chế hoá đường lối, quan điểm của Đảng và Nhà nước

trong: Hiến pháp năm 2013; Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày 01 tháng 6 năm 2012 của Hội nghị lần thứ V Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020; Kết luận số 63-KL/TW tại Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI một số vấn đề về cải cách chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội, trợ cấp ưu đãi người có công và định hướng cải cách đến năm 2020; Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 và Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 22 tháng 11 năm 2012 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế giai đoạn 2012 - 2020 Cụ thể trên các phương diện sau: Tiếp tục hoàn thiện hệ thống BHXH đa dạng và linh hoạt;

Mở rộng đối tượng tham gia BHXH; xây dựng chính sách khuyến khích nông dân, lao động trong khu vực phi chính thức tham gia BHXH tự nguyện; phấn đấu đến năm

2020 có 50% lực lượng lao động tham gia BHXH; Tuân thủ nguyên tắc đóng - hưởng

và bảo đảm khả năng cân đối quỹ BHXH; Hoàn thiện các chế độ chính sách BHXH, bảo đảm sự bình đẳng trong tham gia và thụ hưởng BHXH

Trang 37

Thứ hai, xây dựng quy định của pháp luật về chế độ hưu trí trong BHXH tự

nguyện trên cơ sở kế thừa, phát triển những quy định hiện hành phù hợp, sửa đổi các quy định chưa phù hợp, bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật; bổ sung những quy định mới phù hợp với thực tiễn kinh tế - xã hội của đất nước và yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế

Thứ ba, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng, tạo điều kiện thuận lợi để người

tham gia BHXH tự nguyện được đóng góp và hưởng chế độ hưu trí

Thứ tư, xây dựng chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện tuân thủ theo nguyên

tắc về BHXH nhằm bảo đảm công bằng và bền vững của hệ thống BHXH

Thứ năm, tham khảo, tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm xây dựng quy định của pháp

luật liên quan chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện của các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là quốc gia có điều kiện phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của Việt Nam

Chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện có những điểm phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội ở Việt Nam, là một trong những nội dung trọng tâm của đường lối, quan điểm của Đảng và Nhà nước trong công cuộc xây dựng hệ thống BHXH nói riêng, ASXH nói chung Điều quan trọng là cần xây dựng các quy định của pháp luật

về chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện một cách phù hợp, có tính khả thi trong thực tế, mang lại hiệu quả cao để góp phần bảo đảm cuộc sống ổn định khi về già cho một bộ phận lớn người lao động ở Việt Nam

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Các nội dung được nêu tại chương 1 đã khái quát những nội dung cơ bản liên quan đến chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện, bao gồm khái niệm về chế độ hưu trí trong BHXH, khái niệm về pháp luật về chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện; vai trò của pháp luật về chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện; các nguyên tắc cơ bản trong việc xây dựng pháp luật về chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện; định hướng trong việc xây dựng pháp luật về chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện ở Việt Nam Việc nghiên cứu các nội dung vừa nêu đã cung cấp những vấn đề lý luận chung

về chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện, giúp hiểu và nhận diện được vấn đề đang nghiên cứu, tầm quan trọng và sự cần thiết phải nghiên cứu đề tài và tạo tiền đề, phương hướng để tác giả nghiên cứu các nội dung tiếp theo Trong đó, việc phân tích quy định của pháp luật quốc tế về các nguyên tắc cơ bản trong việc xây dựng pháp luật liên quan đến chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện đã tạo cơ sở hình thành nên một số đề xuất sửa đổi, bổ sung quy định của pháp luật Việt Nam về các nguyên tắc trong BHXH sẽ được nêu cụ thể ở chương 3 của luận văn này

Trang 38

CHƯƠNG 2 PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VÀ PHÁP LUẬT CỦA MỘT

SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI LIÊN QUAN CHẾ ĐỘ HƯU TRÍ TRONG BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN

2.1 Quy định của pháp luật quốc tế liên quan đến chế độ hưu trí trong bảo hiểm xã hội tự nguyện

2.1.1 Khái quát chung về thực tiễn thực hiện chế độ hưu trí trên toàn thế giới

Hiện nay, đa số người già trên thế giới đang sống ở các nước đang phát triển, nơi mà việc hưởng lương hưu là một đặc quyền của người lao động trong nền kinh tế chính thức ở khu vực công và tư nhân Trên toàn cầu, phần lớn những người lớn tuổi không được hưởng lợi từ việc cung cấp thu nhập tối thiểu, để tồn tại, họ vẫn phải làm việc cho đến khi nào họ vẫn còn khả năng về thể chất, và họ phải dựa trên quan hệ họ hàng hoặc các tổ chức từ thiện để có nguồn thu nhập mà những nơi này thường không

đủ cung cấp thu nhập, thậm chí là thu nhập tối thiểu Tình trạng này hoàn toàn trái ngược với các nội dung được thể hiện trong các văn bản pháp luật quốc tế về nhân quyền và tiêu chuẩn lao động quốc tế, theo đó tất cả mọi người đều có quyền được hưởng ít nhất là an sinh thu nhập tối thiểu trong tuổi già

Theo thống kê trong khoảng thời gian gần đây, trên toàn thế giới, có khoảng 42,2% dân số trong độ tuổi lao động có khả năng được bao phủ bởi pháp luật trong việc cung cấp bảo hiểm hưu trí tuổi già thông qua chương trình đóng góp hoặc không đóng góp hiện có (bao gồm cả bảo hiểm tự nguyện) Số dân số này dự kiến có thể được nhận lương hưu khi đến tuổi quy định nếu các quy định của pháp luật được thực hiện và thi hành đúng cách Tỷ lệ bảo hiểm hưu trí cho phụ nữ so với nam giới là thấp hơn: chỉ có một phần ba số phụ nữ trong độ tuổi lao động là đối tượng tham gia các hình thức bảo hiểm được pháp luật quy định47

Trên quy mô toàn cầu, chỉ có hơn một nửa số người già trên tuổi hưu theo luật định (51,5%) nhận được lương hưu tuổi già bằng lợi ích tiền mặt định kỳ Mặc dù bảo hiểm hưu trí ở nhiều nước đã có sự mở rộng đáng kể nhưng bất bình đẳng vẫn tồn tại Tại tiểu vùng châu Phi Sahara, ít hơn một trong năm người (16,9%) được nhận lương hưu ở mức độ nhất định khi về già Tại Trung Đông, 29,5% của số người cao tuổi được nhận lương hưu; con số này là 36,7% ở Bắc Phi, 47,0% ở châu Á và Thái Bình Dương, 56,1% ở châu Mỹ Latinh và vùng Caribê, chỉ có ở Bắc Mỹ và châu Âu thì tỷ lệ này mới đạt hơn 90%48

Có nhiều cách để hướng tới bảo hiểm hưu trí phổ quát Hầu hết các nước đang phát triển thường kết hợp hệ thống lương hưu đóng góp với lương hưu xã hội tối

Trang 39

thiểu cho những người già không có lương hưu đóng góp (ví dụ như Lesotho, Thái Lan), các nước khác cung cấp tiền trợ cấp xã hội cho tất cả (ví dụ như Botswana, Timor-Leste) Một số quốc gia chọn cách thực hiện dần dần và tiến bộ (ví dụ như Brazil, Nam Phi) và những nước khác nhanh chóng phổ cập lương hưu tức thời (ví dụ như Bolivia, Trung Quốc, Kiribati) Có những con đường khác nhau và không đồng nhất trong việc thiết kế và thực hiện đề án phổ cập lương hưu, các quốc gia đã thiết lập rộng rãi các tùy chọn để đạt được bảo hiểm xã hội phổ quát49

Trong những hình thức nêu trên thì việc thực hiện chế độ hưu trí bằng loại hình BHXH tự nguyện là một cách thức góp phần nâng cao tỷ lệ người già được hưởng lương hưu, cho thấy chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện vẫn có vai trò nhất định, cần được pháp luật quốc tế và pháp luật các quốc gia quan tâm xây dựng và hoàn thiện

2.1.2 Quy định của pháp luật quốc tế liên quan đến chế độ hưu trí trong bảo hiểm xã hội tự nguyện

Quyền ASXH của người già được quy định trong các văn bản pháp luật quốc tế như: Tuyên ngôn Nhân quyền Quốc tế được Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua

và công bố theo Nghị quyết số 217 (III) ngày 10/12/1948; Công ước quốc tế về các quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa năm 1966 được Đại hội đồng Liên Hợp quốc thông qua theo Nghị quyết số 2200A (XXI) ngày 16/12/1966 Nội dung quyền này được Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) cụ thể hóa thành các tiêu chuẩn được quy định tại các Công ước và Khuyến nghị gồm: Công ước số 102 năm 1952 về Quy phạm tối thiểu

về ASXH; Công ước số 128 năm 1967 về Trợ cấp tàn tật, tuổi già và tiền tuất; Khuyến nghị số 131 năm 1967 về Trợ cấp cho người khuyết tật, người già và người sống sót; Khuyến nghị số 202 năm 2012 về Sàn ASXH Các văn bản này đã cung cấp

sự hướng dẫn cho các quốc gia thực hiện trợ cấp tuổi già từ cấp độ cơ bản cho đến cấp độ đầy đủ, toàn diện Việc thực hiện chế độ hưu trí trong BHXH tự nguyện cũng tuân theo các nguyên tắc, các tiêu chuẩn tối thiểu được quy định tại các văn bản này Tuyên ngôn Nhân quyền Quốc tế năm 1948 đã quy định quyền được hưởng ASXH của mọi người, trong đó có người già như sau: “Với tư cách là một thành viên của xã hội, mọi người đều có quyền được hưởng ASXH” (Điều 22) Quyền này biểu hiện thành các nội dung cụ thể như sau: “quyền hưởng một mức sống thích đáng, đủ

để đảm bảo sức khỏe và phúc lợi của bản thân và gia đình, về các khía cạnh ăn, mặc,

ở, chăm sóc y tế và các dịch vụ xã hội cần thiết, cũng như có quyền được hưởng bảo hiểm trong trường hợp già nua…” (Điều 25) Cho đến nay, các nội dung được quy định tại Điều 25 vừa nêu vẫn là cơ sở quan trọng để xây dựng các loại trợ cấp trong

49

ILO, Social Protection Department, tlđd 28, p 16

Trang 40

chế độ hưu trí dành cho người già, đặc biệt là việc được hưởng một mức sống thích đáng và được chăm sóc y tế Những nội dung này đều được pháp luật các quốc gia trên thế giới ghi nhận, quy định cho chế độ hưu trí trong BHXH nói chung, BHXH tự nguyện nói riêng Tiếp sau đó, Công ước quốc tế về các quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa năm 1966 cũng ghi nhận quyền được hưởng ASXH, BHXH của mọi người nói chung, người già nói riêng: “Các quốc gia thành viên công ước này thừa nhận quyền của mọi người được hưởng ASXH, kể cả BHXH” (Điều 9)

Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) với tư cách là tổ chức quy định các tiêu chuẩn lao động quốc tế ghi nhận trong Hiến pháp năm 1919 của mình trách nhiệm thực hiện các quyền ASXH, trong đó có quyền của người già như sau: “bảo vệ người lao động chống lại bệnh tật, dịch bệnh và chấn thương phát sinh từ việc làm của mình, bảo vệ trẻ

em, thanh thiếu niên và phụ nữ, cung cấp cho tuổi già và thương tật” Từ đó, ILO đã cụ thể hóa quyền ASXH của người già thành các quy định tại các Công ước và Khuyến nghị như đã nêu Trong đó, Công ước số 102 năm 1952 quy định ở mức độ tối thiểu việc thiết lập các tiêu chuẩn cho trợ cấp tuổi già; Công ước số 128 năm 1967 và Khuyến nghị số 131 năm 1967 quy định ở mức độ cao hơn; còn Khuyến nghị số 202 năm 2012 quy định mức độ bảo trợ cơ bản, phổ quát đối với toàn thể người già trong

xã hội Các Công ước khi được các quốc gia phê chuẩn sẽ tạo ra nghĩa vụ nghĩa vụ ràng buộc về mặt pháp lý từ việc phê chuẩn của quốc gia Các Khuyến nghị thì không đặt ra cho việc phê chuẩn mà chỉ cung cấp hướng dẫn hoặc kỹ thuật và thường xuyên

bổ sung cho Công ước tương ứng Do vậy, việc phân tích quy định quốc tế liên quan đến chế độ hưu trí cũng phân tích cả các nội dung của các Khuyến nghị của ILO, để thấy được nội dung hướng dẫn, bổ sung của ILO cho các Công ước có liên quan

Các văn bản trên của ILO đã xây dựng một khung tham chiếu quốc tế về phạm

vi và mức độ lợi ích ASXH một cách cần thiết và phù hợp để bảo đảm duy trì an sinh thu nhập cũng như tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho người già Việc

mở rộng vùng phủ sóng đến tất cả người già trong xã hội là mục tiêu cơ bản của các tiêu chuẩn này Các quy định liên quan đến chế độ hưu trí có thể phân tích ở năm khía cạnh sau: trường hợp bảo vệ; người được bảo vệ; trợ cấp được cung cấp; điều kiện hưởng trợ cấp; thời hạn hưởng trợ cấp

 Thứ nhất, trường hợp bảo vệ:

Trường hợp được bảo vệ trong trợ cấp tuổi già nói chung là sự sống của con người lâu hơn một độ tuổi được quy định Các Công ước, Khuyến nghị của ILO có sự quy định khác nhau về độ tuổi này

Ngày đăng: 16/10/2021, 23:36

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
17. Mạc Tiến Anh (2005), “Bảo hiểm xã hội – Khái niệm và bản chất”, Tạp chí bảo hiểm xã hội, (77) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo hiểm xã hội – Khái niệm và bản chất”", Tạp chí bảo hiểm xã hội
Tác giả: Mạc Tiến Anh
Năm: 2005
18. Mạc Tiến Anh (2006), “Một số vấn đề về đầu tư tăng trưởng quỹ bảo hiểm xã hội”, Tạp chí bảo hiểm xã hội, (88) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về đầu tư tăng trưởng quỹ bảo hiểm xã hội”, "Tạp chí bảo hiểm xã hội
Tác giả: Mạc Tiến Anh
Năm: 2006
19. Mạc Tiến Anh (2010), “Rủi ro và quản lý rủi ro trong hoạt động bảo hiểm”, Tạp chí bảo hiểm xã hội, (154) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rủi ro và quản lý rủi ro trong hoạt động bảo hiểm”, "Tạp chí bảo hiểm xã hội
Tác giả: Mạc Tiến Anh
Năm: 2010
20. Mai Đức Chính (2014), “Một số ý kiến và phương án cải cách bảo hiểm hưu trí từ quan điểm đại diện người lao động”, Tạp chí bảo hiểm xã hội, (242) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số ý kiến và phương án cải cách bảo hiểm hưu trí từ quan điểm đại diện người lao động”, "Tạp chí bảo hiểm xã hội
Tác giả: Mai Đức Chính
Năm: 2014
21. Minh Đức (2014), “Nâng cao hiệu lực, hiệu quả tổ chức thực hiện chính sách pháp luật bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế”, Tạp chí bảo hiểm xã hội, (260) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao hiệu lực, hiệu quả tổ chức thực hiện chính sách pháp luật bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế”, "Tạp chí bảo hiểm xã hội
Tác giả: Minh Đức
Năm: 2014
22. Trần Hoàng Hải – Lê Thị Thúy Hương (2011), Pháp luật an sinh xã hội: kinh nghiệm một số nước đối với Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật an sinh xã hội: "kinh nghiệm một số nước đối với Việt Nam
Tác giả: Trần Hoàng Hải – Lê Thị Thúy Hương
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật
Năm: 2011
23. Hanns Seidel Foundation và Viện Khoa học Lao động và Xã hội thuộc Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội của Việt Nam (2012), “An sinh xã hội cho khu vực phi chính thức và người lao động phi chính thức ở Việt Nam. Kết quả rà soát tài liệu và cơ sở dữ liệu”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “An sinh xã hội cho khu vực phi chính thức và người lao động phi chính thức ở Việt Nam. Kết quả rà soát tài liệu và cơ sở dữ liệu”
Tác giả: Hanns Seidel Foundation và Viện Khoa học Lao động và Xã hội thuộc Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội của Việt Nam
Năm: 2012
24. Chu Thị Hảo (2014), “Về nâng tuổi nghỉ hưu nữ cán bộ, công chức, viên chức”, Tạp chí bảo hiểm xã hội, (246) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về nâng tuổi nghỉ hưu nữ cán bộ, công chức, viên chức”, "Tạp chí bảo hiểm xã hội
Tác giả: Chu Thị Hảo
Năm: 2014
25. Lê Bạch Hồng (2014), “Thực hiện tốt các chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, góp phần bảo đảm an sinh xã hội”, Tạp chí bảo hiểm xã hội, (243) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hiện tốt các chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, góp phần bảo đảm an sinh xã hội”, "Tạp chí bảo hiểm xã hội
Tác giả: Lê Bạch Hồng
Năm: 2014
26. Bùi Sỹ Lợi (2014), “Những nội dung cơ bản trong Dự thảo Luật Bảo hiểm xã hội (sửa đổi)”, Tạp chí bảo hiểm xã hội, (260) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nội dung cơ bản trong Dự thảo Luật Bảo hiểm xã hội (sửa đổi)”, "Tạp chí bảo hiểm xã hội
Tác giả: Bùi Sỹ Lợi
Năm: 2014
27. Bùi Sỹ Lợi (2014), “Những quan điểm lớn và sự cần thiết sửa đổi Luật Bảo hiểm xã hội”, Tạp chí bảo hiểm xã hội, (244) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những quan điểm lớn và sự cần thiết sửa đổi Luật Bảo hiểm xã hội”, "Tạp chí bảo hiểm xã hội
Tác giả: Bùi Sỹ Lợi
Năm: 2014
28. Bùi Sỹ Lợi (2015), “Các giải pháp bảo đảm cân bằng Quỹ hưu trí theo Luật Bảo hiểm xã hội mới”, Tạp chí Lao Động và Xã hội, (496+497) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các giải pháp bảo đảm cân bằng Quỹ hưu trí theo Luật Bảo hiểm xã hội mới”, "Tạp chí Lao Động và Xã hội
Tác giả: Bùi Sỹ Lợi
Năm: 2015
29. Lê Phan Nam (2013), “Sửa đổi, bổ sung Luật bảo hiểm xã hội cần hướng tới mục tiêu bảo đảm An sinh xã hội bền vững”, Tạp chí Bảo hiểm xã hội, (225) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sửa đổi, bổ sung Luật bảo hiểm xã hội cần hướng tới mục tiêu bảo đảm An sinh xã hội bền vững”, "Tạp chí Bảo hiểm xã hội
Tác giả: Lê Phan Nam
Năm: 2013
30. Lê Phan Nam (2014), “Huy động sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị”, Tạp chí bảo hiểm xã hội, (246) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Huy động sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị”, "Tạp chí bảo hiểm xã hội
Tác giả: Lê Phan Nam
Năm: 2014
31. Nguyễn Hiền Phương (2010), Pháp luật ASXH – Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb. Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật ASXH – Những vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Nguyễn Hiền Phương
Nhà XB: Nxb. Tư pháp
Năm: 2010
32. Đỗ Văn Quân (2009), “Vấn đề an sinh xã hội ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay”, Tạp chí bảo hiểm xã hội, (122) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề an sinh xã hội ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay”, "Tạp chí bảo hiểm xã hội
Tác giả: Đỗ Văn Quân
Năm: 2009
33. Hà Văn Sỹ, (2015), “Giải pháp phát triển bảo hiểm xã hội tự nguyện”, Tạp chí bảo hiểm xã hội, (270) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp phát triển bảo hiểm xã hội tự nguyện”, "Tạp chí bảo hiểm xã hội
Tác giả: Hà Văn Sỹ
Năm: 2015
34. Phạm Đỗ Nhựt Tân (2014), “Một số đề xuất nhằm nâng cao tính khả thi của chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện trong Dự thảo Luật Bảo hiểm xã hội”, Tạp chí Lao động và Xã hội, (484) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đề xuất nhằm nâng cao tính khả thi của chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện trong Dự thảo Luật Bảo hiểm xã hội”, "Tạp chí Lao động và Xã hội
Tác giả: Phạm Đỗ Nhựt Tân
Năm: 2014
35. Mạc Văn Tiến (2007), “Một số vấn đề về sự thích nghi trong cuộc sống đối với người nghỉ hưu”, Tạp chí bảo hiểm xã hội, (104) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về sự thích nghi trong cuộc sống đối với người nghỉ hưu”, "Tạp chí bảo hiểm xã hội
Tác giả: Mạc Văn Tiến
Năm: 2007
36. Mạc Văn Tiến (2010), “Ngày xuân bàn thêm về vai trò của bảo hiểm xã hội trong hệ thống an sinh xã hội”, Tạp chí bảo hiểm xã hội, (147) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngày xuân bàn thêm về vai trò của bảo hiểm xã hội trong hệ thống an sinh xã hội”, "Tạp chí bảo hiểm xã hội
Tác giả: Mạc Văn Tiến
Năm: 2010

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w