- Tổ chức, cá nhân có nhu cầu bảo hiểm có quyền lựa chọn doanh nghiệp bảo hiểm và chỉđược tham gia bảo hiểm tại doanh nghiệp bảo hiểm được phép hoạt động tại Việt Nam.Không một tổ chức,
Trang 1Chương 1
PHÁP LUẬT VỀ KINH DOANH BẢO HIỂM
1 Khái quát các văn bản pháp luật về kinh doanh bảo hiểm
1.1 Cơ sở xây dựng hệ thống quy định pháp luật về bảo hiểm
“Pháp luật là hệ thống những quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do Nhà nước banhành hoặc thừa nhận và đảm bảo thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị và là nhân
tố điều chỉnh các quan hệ xã hội phát triển phù hợp với lợi ích của giai cấp mình.”
Như vậy, khái niệm pháp luật được thể hiện bằng 4 ý cơ bản sau đây:
▪ Thứ nhất, pháp luật là hệ thống những quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung;Nói đến pháp luật là nói đến tính quy phạm phổ biến Tức là nói đến tính khuôn mẫu,mực thước, mô hình xử sự có tính phổ biến chung Trong xã hội không chỉ pháp luật
có thuộc tính quy phạm Đạo đức, tập quán, tín điều tôn giáo, các điều lệ của các tổchức chính trị – xã hội và đoàn thể quần chúng (như điều lệ của tổ chức Đoàn thanhniên cộng sản Hồ Chí Minh) đều có tính quy phạm Cũng như pháp luật, tất cả cácquy phạm trên đều là khuôn mẫu, quy tắc xử sự của con người Nhưng khác với đạođức, tập quán, tín điều tôn giáo và điều lệ, tính quy phạm của pháp luật mang tínhphổ biến Đây chính là dấu hiệu để phân biệt pháp luật và các loại quy phạm nói trên.Thuộc tính quy phạm phổ biến của pháp luật thể hiện ở chỗ:
- Là khuôn mẫu chung cho nhiều người
- Được áp dụng nhiều lần trong không gian và thời gian rộng lớn
Sở dĩ pháp luật có tính bắt buộc chung vì pháp luật do Nhà nước ban hành và đảmbảo thực hiện thống nhất Tính bắt buộc chung thể hiện ở chỗ:
- Việc tuân theo các quy tắc pháp luật không phụ thuộc vào ý thức chủ quan của mỗingười Bất kỳ ai dù có địa vị, tài sản, chính kiến, chức vụ như thế nào cũng phải tuântheo các quy tắc pháp luật
- Nếu ai đó không tuân theo các quy tắc pháp luật thì tùy theo mức độ vi phạm màNhà nước áp dụng các biện pháp tác động phù hợp để đảm bảo thực hiện đúng cácquy tắc đó
- Tính quyền lực Nhà nước là yếu tố không thể thiếu, bảo đảm cho pháp luật đượctôn trọng và thực hiện
▪ Thứ hai, do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận;
Ngoài việc ban hành Nhà nước còn có thể thừa nhận những tập quán trong xã hộibằng cách pháp điển hóa, ghi nhận trong luật thành văn
▪ Thứ ba, đảm bảo thực hiện bằng quyền lực nhà nước;
Pháp luật được nhà nước bảo đảm thực hiện bằng nhiều biện pháp, trong đó các biện
1
Trang 2pháp cưỡng chế nhà nước rất nghiêm khắc như phạt tiền, phạt tù có thời hạn, tùchung thân … Với sự bảo đảm của nhà nước đã làm cho pháp luật luôn được các tổchức và cá nhân tôn trọng và thực hiện nghiêm chỉnh, có hiệu quả trong đời sống xãhội.
▪ Thứ tư, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị và là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xãhội phát triển phù hợp với lợi ích của giai cấp mình
Cũng giống như bản chất của nhà nước, bản chất của pháp luật thể hiện trước hết ởtính giai cấp Tính giai cấp của pháp luật phản ánh ý chí nhà nước của giai cấp thốngtrị trong xã hội, nội dung ý chí đó được quy định bởi điều kiện sinh hoạt vật chất củagiai cấp thống trị Ý chí của giai cấp thống trị được cụ thể hóa trong các văn bản phápluật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành
Mỗi hình thái kinh tế - xã hội gắn với một kiểu Nhà nước có một kiểu pháp luật tương ứng.Lịch sử xã hội loài người đã có các kiểu pháp luật chủ nô, pháp luật phong kiến, pháp luật
tư sản và pháp luật xã hội chủ nghĩa Pháp luật không phải là sản phẩm thuần túy của lýtính hay bản tính tự nhiên phi giai cấp của con người như học thuyết pháp luật tự nhiênquan niệm Pháp luật, như Mác – Ăng – ghen phân tích, chỉ phát sinh, tồn tại và phát triểntrong xã hội có giai cấp, có Nhà nước; bản chất của pháp luật thể hiện ở tính giai cấp củaNhà nước Tuy nhiên, pháp luật cũng mang tính xã hội, bởi vì ở mức độ nhất định, nó phảithể hiện và đảm bảo những yêu cầu chung của xã hội về văn hóa, phúc lợi, môi trườngsống…
Hoạt động kinh doanh bảo hiểm là một bộ phận trong các hoạt động kinh tế - xã hội và làhoạt động không thể thiếu trong xã hội hiện đại ngày nay Cũng như các lĩnh vực kinhdoanh khác, kinh doanh bảo hiểm tất yếu phải chịu sự điều chỉnh của các quy định phápluật Các quy định này được xây dựng trên cơ sở:
- Bảo vệ người tham gia bảo hiểm: Kinh doanh bảo hiểm là bán lời hứa Trong khi đó,người tham gia bảo hiểm phải trả tiền mua trước (phí bảo hiểm) để được hưởng dịch vụsau Chính vì vậy, việc đảm bảo doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền và trả đầy đủ chongười tham gia bảo hiểm khi họ gặp rủi ro là cần thiết Để đảm bảo điều kiện này, doanhnghiệp bảo hiểm phải sử dụng tiền phí thu đúng mục đích và đảm bảo biên khả năng thanhtoán theo quy định của pháp luật Bên cạnh đó, sản phẩm và hợp đồng bảo hiểm có cácđiều kiện, điều khoản phức tạp và mang tính chất chuyên môn cao, do đó, trong trường hợpxảy ra tranh chấp, người tham gia bảo hiểm dễ rơi vào vị thế bất lợi khi đối đầu với doanhnghiệp bảo hiểm được trang bị bởi một đôi ngũ cán bộ chuyên môn và luật sư có nhiềukinh nghiệm trong việc giải quyết tranh chấp về bảo hiểm
- Bảo đảm sự công bằng và cạnh tranh lành mạnh trong hoạt động kinh doanh giữa các chủthể tham gia:
Đối với DNBH: Hoạt động kinh doanh bảo hiểm đòi hỏi phải có một
hành lang pháp lý điều chỉnh nhằm đảm bảo sự công bằng và cạnh tranh lành mạnh
Trang 3giữa các loại hình doanh nghiệp bảo hiểm (nhà nước, cổ phần, tư nhân), tránh xảy ra
tình trạng cạnh tranh không lành mạnh như nói xấu để lôi kéo khách hàng, hay nói xấu đểlôi kéo đại lý, cán bộ giữa các doanh nghiệp bảo hiểm
Đối với trung gian bảo hiểm: Công ty môi giới bảo hiểm, đại lý bảo hiểm, phụ trợbảo hiểm là những chủ thể tham gia vào hoạt động kinh doanh bảo hiểm, việc cộng táctrong công việc hoặc cạnh tranh để có lợi nhuận là không thể tránh khỏi vì vậy cần thiếtphải có hành lang pháp lý để điều chỉnh các hành vi trong quá trình hoạt động
- Bảo đảm sự ổn định và phát triển cho cả ngành bảo hiểm nói riêng và toàn bộ
nền kinh tế nói chung: Sự phát triển của mỗi doanh nghiệp bảo hiểm phải đảm bảo sự ổnđịnh, góp phần tạo ra nền tảng phát triển chung của thị trường bảo hiểm Với vai trò là “tấm
lá chắn” của nền kinh tế, sự ổn định và phát triển của các doanh nghiệp bảo hiểm nói riêng
và thị trường bảo hiểm nói chung sẽ góp phần tích cực vào sự phát triển của nền kinh tế
1.2 Hệ thống các nhóm luật điều chỉnh hoạt động kinh doanh bảo hiểm
1.2.1 Hệ thống các nhóm luật điều chỉnh hoạt động kinh doanh bảo hiểm
Hiện nay hoạt động kinh doanh bảo hiểm ở nước ta đang chịu sự điều chỉnh của
nhiều nguồn luật khác nhau Các luật này có thể được chia thành 3 nhóm:
- Nhóm 1- Các luật chung bao gồm: Bộ Luật Dân sự, Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư Đây
là những luật được áp dụng chung cho mọi lĩnh vực của nền kinh tế, trong đó có hoạt độngkinh doanh bảo hiểm Việc xây dựng các văn bản pháp luật áp dụng riêng cho lĩnh vực bảohiểm phải được xây dựng trên cơ sở các luật nền này
- Nhóm 2- Luật Kinh doanh bảo hiểm: Đây là luật được xây dựng để điều chỉnh riêng hoạtđộng kinh doanh bảo hiểm Dưới Luật Kinh doanh bảo hiểm có các văn bản hướng dẫn thihành Luật như các Nghị định, Thông tư, Quyết định
- Nhóm 3- Các luật liên quan gồm: Bộ luật hình sự, Luật Thuế Giá trị gia tăng, Luật Đấuthầu, Luật Cạnh tranh, Luật Phòng cháy chữa cháy, Luật Hàng hải Đây là luật có nhữngquy định liên quan đến hoạt động kinh doanh bảo hiểm
Có thể mô tả vắn tắt hệ thống các văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động kinh doanh bảohiểm ở nước ta qua sơ đồ 1 sau:
3
Trang 51.2.2 Trình tự ưu tiên tuân thủ đối với các nhóm luật
Việc xác định luật chung hay luật chuyên ngành cũng chỉ mang tính chất tương đối Vớilĩnh vực bảo hiểm hàng hải, Luật Kinh doanh bảo hiểm lại có tư cách là luật chung, LuậtHàng hải là luật chuyên ngành, trường hợp này, Luật Hàng hải được ưu tiên áp dụng Trongcác giao dịch dân sự về bảo hiểm, Luật Kinh doanh bảo hiểm là luật chuyên ngành cònLuật Dân sự là luật chung Về nguyên tắc luật chung là cơ sở để xây dựng luật chuyênngành Hay nói cách khác, luật chuyên ngành được xây dựng nhằm cụ thể hóa một số nộidung trong luật chung Tuy nhiên, thực tế xây dựng luật xuất phát từ thực tiễn phát triển;nhu cầu quản lý; thời điểm xây dựng luật và các yếu tố tác động khách quan khác có thểdẫn đến một số xung đột giữa luật chuyên ngành Nhìn chung theo nguyên tắc, khoa họcpháp lý nước ta ghi nhận khi có xung đột thì áp dụng pháp luật chuyên ngành Đồng thời,những vấn đề không được quy định trong luật chuyên ngành thì được áp dụng theo quyđịnh của luật nền và các quy định khác của pháp luật có liên quan
Ví dụ: Luật kinh doanh bảo hiểm 2000 quy định thời hạn khởi kiện là 3 năm
Quy định tại Điều 429 Bộ luật dân sự năm 2015
“Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng là 03 năm, kể từngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bịxâm phạm
(Điều 427 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giảiquyết tranh chấp hợp đồng là 02 năm)
2 Các quy định chung về pháp luật kinh doanh bảo hiểm
Gắn liền với nền kinh tế tập trung bao cấp, trong suốt thời gian dài từ năm 1994 trở vềtrước, nước ta chỉ có một doanh nghiệp bảo hiểm duy nhất là Công ty Bảo hiểm Việt Nam(gọi tắt là Bảo Việt) Đứng trước yêu cầu đổi mới và mở cửa nền kinh tế, ngày 18/12/1993Chính phủ đã ban hành Nghị định 100/CP về kinh doanh bảo hiểm Sau Nghị định 100/CP,nhiều doanh nghiệp bảo hiểm mới được thành lập, sự phát triển của ngành bảo hiểm nướcnhà bước sang một trang mới
Sáu năm sau khi Nghị định 100/CP được ban hành, thị trường bảo hiểm Việt Nam đã cónhững bước tiến dài, đạt được nhiều kết quả to lớn, tốc độ tăng trưởng cao Tuy nhiên, sựphát triển đó cũng đòi hỏi Nhà nước cần phải xây dựng một hành lang pháp lý đủ mạnh vàtoàn diện nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm;đẩy mạnh hoạt động kinh doanh bảo hiểm; góp phần thúc đẩy và duy trì sự phát triển bềnvững của nền kinh tế - xã hội, ổn định đời sống nhân dân; tăng cường hiệu lực quản lý nhànước đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn đó, căn cứ vàoHiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, ngày 09/12/2000, Quốc
5
Trang 6hội nước ta đã thông qua Luật Kinh doanh bảo hiểm tại kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa 10.Luật có hiệu lực từ ngày 01/4/2001.
Sau gần 10 năm ban hành Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000, để tiếp tục hoàn thiện LuậtKinh doanh bảo hiểm phù hợp với những yêu cầu mới, đặc biệt khi những cam kết quốc tế(WTO, AFTA) có hiệu lực trong lĩnh vực tài chính, bảo hiểm, Quốc hội nước Cộng hòa xãhội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật Kinh doanh bảo hiểm sửa đổi, bổ sung năm
2010 và có hiệu lực kể từ ngày 1/7/2011
Ngày 14/06/2019, Luật sửa đổi một số điều của Luật kinh doanh bảo hiểm, Luật sở hữu trítuệ được ban hành vào ngày 14/06/2019 trong đó bổ sung thêm về “Phụ trợ bảo hiểm”.Phần tiếp theo sẽ giới thiệu những nội dung cơ bản của Luật Kinh doanh bảo hiểm năm
2000 và Luật kinh doanh bảo hiểm sửa đổi năm 2010; Luật sửa đổi một số điều của Luậtkinh doanh bảo hiểm, Luật sở hữu trí tuệ năm 2019
Tổng quan về pháp luật kinh doanh bảo hiểm:
- Bảo đảm của Nhà nước đối với kinh doanh bảo hiểm:
Theo Luật kinh doanh bảo hiểm, Nhà nước Việt Nam bảo hộ quyền, lợi ích hợp pháp củacác tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm và các tổ chức kinh doanh bảo hiểm
Để phù hợp với đặc điểm nền kinh tế nước ta là nền kinh tế thị trường theo định hướng xãhội chủ nghĩa, Luật quy định Nhà nước đầu tư vốn và các nguồn lực khác để doanh nghiệpnhà nước kinh doanh bảo hiểm phát triển, giữ vai trò chủ đạo trên thị trường bảo hiểm Nhànước có chính sách phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam, chính sách ưu đãi đối với cácnghiệp vụ bảo hiểm phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là chương trìnhphát triển nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp Nhà nước có chính sách phát triển thịtrường bảo hiểm toàn diện, an toàn và lành mạnh nhằm đáp ứng nhu cầu bảo hiểm của nềnkinh tế và dân cư; bảo đảm cho các tổ chức, cá nhân được thụ hưởng những sản phẩm bảohiểm đạt tiêu chuẩn quốc tế; tạo lập môi trường pháp lý kinh doanh bình đẳng nhằm pháthuy tối đa các nguồn lực thuộc mọi thành phần kinh tế, nâng cao năng lực cạnh tranh ngànhbảo hiểm, đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế; tạo điều kiện thuận lợi cho các doanhnghiệp bảo hiểm trong việc nghiên cứu, phát triển các sản phẩm bảo hiểm và khuyến khích
tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm
- Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm:
Nhà nước thống nhất quản lý, có chính sách mở rộng hợp tác quốc tế trong lĩnh vực kinhdoanh bảo hiểm trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, bình đẳng, cùng có lợi theo hướng
đa phương hoá, đa dạng hoá Nhà nước khuyến khích các doanh nghiệp bảo hiểm, doanhnghiệp môi giới bảo hiểm nước ngoài đầu tư vốn vào Việt Nam và tái đầu tư lợi nhuận thuđược từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm phục vụ công cuộc phát triển kinh tế - xã hội ởViệt Nam Đồng thời, Nhà nước tạo điều kiện để các doanh nghiệp bảo hiểm,doanh nghiệpmôi giới bảo hiểm tăng cường hợp tác với nước ngoài nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanhbảo hiểm
Trang 7- Tổ chức, cá nhân có nhu cầu bảo hiểm có quyền lựa chọn doanh nghiệp bảo hiểm và chỉđược tham gia bảo hiểm tại doanh nghiệp bảo hiểm được phép hoạt động tại Việt Nam.Không một tổ chức, cá nhân nào được phép can thiệp trái pháp luật đến quyền lựa chọndoanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm của bên mua bảo hiểm.
Tuy nhiên, nhằm luật hoá các cam kết với WTO trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm, Luậtsửa đổi, bổ sung Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2010 cho phép việc cung cấp qua biên giới
mà không cần thành lập pháp nhân tại Việt Nam các sản phẩm bảo hiểm (trừ bảo hiểmnhân thọ và bảo hiểm sức khỏe), tái bảo hiểm, vận tải biển và hàng không quốc tế, môi giới
và các dịch vụ phụ trợ cho doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và người nước ngoài cưtrú tại Việt Nam
- Luật cũng yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm phải đảm bảo các yêu cầu về tài chính để thựchiện các cam kết của mình đối với bên mua bảo hiểm
Quy định này được cụ thể hoá trong các văn bản quy phạm pháp luật về yêu cầu tài chính
và thận trọng áp dụng đối với các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực bảohiểm, cụ thể bao gồm yêu cầu về đảm bảo vốn pháp định, quy định về dự phòng
2.1 Phạm vi điều chỉnh
Các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm
2.2 Đối tượng điều chỉnh
Căn cứ điều 1 Luật kinh doanh bảo hiểm 2000
Đối tượng điều chỉnh là tổ chức và hoạt động kinh doanh bảo hiểm , xác định quyền vànghĩa vụ của tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm
Luật này không áp dụng đối với bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm tiền gửi và cácloại bảo hiểm khác do Nhà nước thực hiện không mang tính kinh doanh
2.3 Nguyên tắc hoạt động kinh doanh bảo hiểm
Căn cứ điều 6: Những nguyên tắc trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm (Luật KDBH
2000, sửa đổi, bổ sung 2010)
“1 Tổ chức, cá nhân có nhu cầu bảo hiểm chỉ được tham gia bảo hiểm tại doanh nghiệp bảo hiểm hoạt động tại Việt Nam; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, người nước ngoài làm việc tại Việt Nam có nhu cầu bảo hiểm được lựa chọn tham gia bảo hiểm tại doanh nghiệp bảo hiểm hoạt động tại Việt Nam hoặc sử dụng dịch vụ bảo hiểm qua biên giới.”
2 Doanh nghiệp bảo hiểm phải đảm bảo các yêu cầu về tài chính để thực hiện các cam kết của mình đối với bên mua bảo hiểm.
7
Trang 8- Tổ chức, cá nhân muốn hoạt động kinh doanh bảo hiểm, kinh doanh tái bảo hiểm, hoạtđộng môi giới bảo hiểm tại Việt Nam phải được Bộ Tài chính cấp giấy phép thành lập vàhoạt động theo quy định của Luật kinh doanh bảo hiểm.
- Kinh doanh bảo hiểm là ngành lĩnh vực kinh doanh có điều kiện nên phải được cơ quan
3 Các nghiệp vụ bảo hiểm cơ bản
3.1 Bảo hiểm nhân thọ
Theo Luật kinh doanh bảo hiểm, Bảo hiểm nhân thọ là loại nghiệp vụ bảo hiểm cho trườnghợp người được bảo hiểm sống hoặc chết Bảo hiểm nhân thọ có 7 nghiệp vụ bảo hiểm sau:Bảo hiểm sinh kỳ là nghiệp vụ bảo hiểm cho trường hợp người được bảo hiểm sống đếnmột thời hạn nhất định, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho ngườithụ hưởng, nếu người được bảo hiểm vẫn sống đến thời hạn được thỏa thuận trong hợpđồng bảo hiểm
Bảo hiểm tử kỳ là nghiệp vụ bảo hiểm cho trường hợp người được bảo hiểm chết trong mộtthời hạn nhất định, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người thụhưởng, nếu người được bảo hiểm chết trong thời hạn được thỏa thuận trong hợp đồng bảohiểm
Bảo hiểm hỗn hợp là nghiệp vụ bảo hiểm kết hợp bảo hiểm sinh kỳ và bảo hiểm tử kỳ.Bảo hiểm trọn đời là nghiệp vụ bảo hiểm cho trường hợp người được bảo hiểm chết vào bất
kỳ thời điểm nào trong suốt cuộc đời của người đó
Bảo hiểm trả tiền định kỳ là nghiệp vụ bảo hiểm cho trường hợp người được bảo hiểm sốngđến một thời hạn nhất định; sau thời hạn đó doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểmđịnh kỳ cho người thụ hưởng theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm
3.2 Bảo hiểm phi nhân thọ
Bảo hiểm phi nhân thọ là loại nghiệp vụ bảo hiểm tài sản, trách nhiệm dân sự và các nghiệp
vụ bảo hiểm khác không thuộc bảo hiểm nhân thọ Trong Bảo hiểm phi nhân thọ được chiathành các nghiệp vụ bảo hiểm sau:
Trang 9Bảo hiểm tài sản và bảo hiểm thiệt hại: Bảo hiểm tài sản là sản phẩm bảo hiểm cho đối
tượng tài sản bao gồm vật có thực, tiền, giấy tờ trị giá được bằng tiền và các quyền tài sản
Bảo hiểm hàng hóa vận chuyển đường bộ, đường biển, đường thủy nội địa, đường sắt và
đường hàng không
Bảo hiểm hàng không: “Bảo hiểm hàng không là bảo hiểm dành riêng cho hoạt động của
máy bay và những rủi ro liên quan đến quá trình vận chuyển bằng đường hàng không (baogồm hàng hóa và con người)”
Bảo hiểm xe cơ giới là sản phẩm bảo hiểm dành cho xe cơ giới nhằm bồi thường cho chủ
xe khi không may xảy ra rủi ro liên quan đến con người, chiếc xe hoặc hàng hóa trên xe.Ngoài bảo hiểm bắt buộc, chủ xe cơ giới và có thể mua thêm sản phẩm tự nguyện: Bảohiểm thiệt hại vật chất xe; Bảo hiểm tai nạn lái, phụ xe và người ngồi trên xe; Bảo hiểm củachủ xe đối với hàng hoá vận chuyển trên xe
Bảo hiểm cháy, nổ là sản phẩm bồi thường cho các thiệt hại xảy ra đối với tài sản của cơ sở
được bảo hiểm khi không may xảy ra rủi ro cháy, nổ
Bảo hiểm thân tàu và trách nhiệm dân sự của chủ tàu: Bảo hiểm thân tàu là sản phẩm bồi
thường cho các thiệt hại xảy ra đối với thân vỏ tàu, máy móc và trang thiết bị tàu do nhữnghiểm họa của biển/sông nước gây ra, hoặc do những tai nạn bất ngờ “Bảo hiểm Tráchnhiệm dân sự chủ tàu là bảo hiểm cho các rủi ro liên quan đến những trách nhiệm và cácchi phí theo luật định mà chủ tàu, người quản lý, người điều hành, người thuê tàu (không
kể người thuê tàu chuyến) phải chi trả đối với các thiệt hại của người thứ ba do quá trìnhhoạt động của tàu, thuyền gây ra, bao gồm cả thiệt hại về con người và tài sản.”
Bảo hiểm trách nhiệm là sản phẩm bảo hiểm cho các rủi ro liên quan đến những trách
nhiệm pháp lý hay nghĩa vụ bồi thường các thiệt hại do lỗi của người được bảo hiểm làmtổn hại cho các tổ chức, cá nhân khác
Bảo hiểm tín dụng và rủi ro tài chính: Bảo hiểm tín dụng là sản phẩm bảo hiểm cho những
khoản vay giúp người đi vay trả nợ ngân hàng khi không may gặp rủi ro bất ngờ
Bảo hiểm thiệt hại kinh doanh là nghiệp vụ bảo hiểm cho những rủi ro về tài sản trong quá
trình sản xuất và kinh doanh của doanh nghiệp
Bảo hiểm nông nghiệp là loại hình bảo hiểm cho đối tượng sản xuất trong ngành nông
nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, theo đó bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm, doanh nghiệpbảo hiểm bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm (Theo Nghịđịnh về Bảo hiểm nông nghiệp)
3.3 Bảo hiểm sức khỏe
Bảo hiểm sức khỏe là loại hình bảo hiểm cho trường hợp người được bảo hiểm bị thươngtật, tai nạn, ốm đau, bệnh tật hoặc chăm sóc sức khỏe được doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền
9
Trang 10bảo hiểm theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm Trong bảo hiểm sức khỏe có 3 nghiệp
vụ bảo hiểm sau:
Bảo hiểm tai nạn con người là sản phẩm bảo hiểm cho những trường hợp bị tổn thương
thân thể hoặc tử vong do tai nạn
Bảo hiểm y tế: Bảo hiểm y tế thương mại hay còn gọi là bảo hiểm sức khỏe của các công ty
bảo hiểm phi nhân thọ nhằm mục đích hỗ trợ chi phí khám chữa bệnh khi người tham giakhông may gặp rủi ro ốm đau bệnh tật, tai nạn
Bảo hiểm chăm sóc sức khỏe là sản phẩm bảo hiểm hỗ trợ chi phí điều trị và trợ cấp cho
người tham gia trong trường hợp ốm đau, bệnh tật, phẫu thuật, tai nạn, thai sản…
CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG I
1 Tại sao cần có các quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động kinh doanh bảo hiểm?
2 Nêu phạm vi điều chỉnh, đối tượng điều chỉnh của Luật kinh doanh bảo hiểm hiện hành.
3 Nguyên tắc cơ bản của hoạt động kinh doanh bảo hiểm?
4 Các nghiệp vụ bảo hiểm cơ bản được quy định trong Luật kinh doanh bảo hiểm là gì? Tại sao sức khỏe lại được tách thành một nghiệp vụ bảo hiểm riêng biệt so với nhân thọ và phi nhân thọ?
Trang 11CHƯƠNG 2: PHÁP LUẬT CÁC TỔ CHỨC, CÁ NHÂN HOẠT ĐỘNG KINH DOANH BẢO HIỂM
1 Doanh nghiệp bảo hiểm
1.1 Khái niệm, đặc điểm của DNBH
Căn cứ khoản 5 điều 3 Luật kinh doanh bảo hiểm 2000 sửa đổi, bổ sung 2010
“Doanh nghiệp bảo hiểm là doanh nghiệp được thành lập, tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan để kinh doanh bảo hiểm, tái bảo hiểm.”
Doanh nghiệp bảo hiểm là tổ chức hoặc cá nhân có đầy đủ tư cách pháp nhân được Nhànước cho phép tiến hành hoạt động kinh doanh bảo hiểm, được thu phí để lập ra quỹ bảohiểm khi rủi ro, sự kiện bảo hiểm xảy ra DNBH thực chất chính là người bảo hiểm đượcpháp luật cho phép đứng ra kinh doanh bảo hiểm DNBH có thể bán các sản phẩm củamình trực tiếp cho khách hàng hoặc thông qua các trung gian bảo hiểm
1.2 Các loại hình doanh nghiệp bảo hiểm
DNBH được chia thành DNBH gốc và DNBH tái bảo hiểm Trong đó DNBH gốc là doanhnghiệp chuyên cung cấp dịch vụ bảo hiểm trực tiếp cho các cá nhân và tổ chức trong xã hội
có nhu cầu về bảo hiểm đối với các HĐBH gốc ký kết được Ngoài ra, các DNBH gốc cũng
có thể thực hiện một số hoạt động nhận tái bảo hiểm từ các DNBH Còn doanh nghiệp táibảo hiểm là doanh nghiệp chuyên làm về hoạt động tái bảo hiểm bao gồm nhận và nhượngtái bảo hiểm (kinh doanh tái bảo hiểm) Doanh nghiệp tái bảo hiểm không tham gia hoạtđộng kinh doanh gốc
● Phân loại theo hình thức sở hữu
Doanh nghiệp bảo hiểm nhà nước: Doanh nghiệp bảo hiểm Nhà nước là doanh nghiệp do
Nhà nước thành lập, đầu tư vốn và quản lý với tư cách là người chủ sở hữu
VD: Tổng công ty Bảo hiểm Bảo Việt, Công ty Bảo hiểm thành phố Hồ Chí Minh (BảoMinh)
Công ty cổ phần bảo hiểm:Công ty cổ phần bảo hiểm là loại hình doanh nghiệp bảo hiểm
mà vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau là cổ phần và được phát hành rangoài thị trường nhằm huy động vốn tham gia đầu tư từ mọi thành phần kinh tế Người sởhữu cổ phần được gọi là các cổ đông
VD: Công ty cổ phần bảo hiểm Hùng Vương, Công ty cổ phần bảo hiểm AAA, tổng công
ty cổ phần bảo hiểm quân đội MIC
11
Trang 12Doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn nước ngoài: Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nướcngoài là doanh nghiệp thuộc sở hữu của Nhà nước đầu tư nước ngoài do Nhà đầu tư nướcngoài thành lập tại Việt Nam tự quản lý và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh.Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài được thành lập theo hình thức Công ty tráchnhiệm hữu hạn, có tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam, được thành lập và hoạtđộng kể từ ngày được cấp giấy phép đầu tư.
VD:
Doanh nghiệp bảo hiểm liên doanh: Là các doanh nghiệp do hai bên hoặc nhiều bên hợptác để cùng thành lập trên cơ sở hợp đồng liên doanh Mỗi bên khi đăng ký liên doanh đềuphải chịu trách nhiệm trong phạm vi vốn cam kết góp vào để thành lập doanh nghiệp.VD:
Tổ chức bảo hiểm tương hỗ: Tổ chức bảo hiểm tương hỗ là tổ chức có tư cách pháp nhân
được thành lập để kinh doanh bảo hiểm nhằm tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các thànhviên Thành viên tổ chức bảo hiểm tương hỗ vừa là chủ sở hữu vừa là bên mua bảo hiểm
● Phân loại theo nghiệp vụ bảo hiểm
Doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ: Doanh nghiệp hoạt động kinh doanh các loại nghiệp vụnhân thọ (loại nghiệp vụ bảo hiểm cho trường hợp người được bảo hiểm sống hoặc chết.)Doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ: Doanh nghiệp hoạt động kinh doanh các loại nghiệp
vụ phi nhân thọ (là loại nghiệp vụ bảo hiểm tài sản, trách nhiệm dân sự và các nghiệp vụbảo hiểm khác không thuộc bảo hiểm nhân thọ)
1.3 Quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của DNBH
● Quyền của DNBH
Căn cứ khoản 1 điều 17 Luật kinh doanh bảo hiểm 2000 sửa đổi, bổ sung 2010
1 Doanh nghiệp bảo hiểm có quyền:
Thu phí bảo hiểm theo thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm;
Yêu cầu bên mua bảo hiểm cung cấp đầy đủ, trung thực thông tin liên quan đến việc giaokết và thực hiện hợp đồng bảo hiểm;
Đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm theo quy định tại khoản 2 Điều 19,khoản 2 Điều 20, khoản 2 Điều 35 và khoản 3 Điều 50 của Luật này;
Từ chối trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc từ chối bồi thường cho người đượcbảo hiểm trong trường hợp không thuộc phạm vi trách nhiệm bảo hiểm hoặc trường hợploại trừ trách nhiệm bảo hiểm theo thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm;
Trang 13Yêu cầu bên mua bảo hiểm áp dụng các biện pháp đề phòng, hạn chế tổn thất theo quy địnhcủa Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan;
Yêu cầu người thứ ba bồi hoàn số tiền bảo hiểm mà doanh nghiệp bảo hiểm đã bồi thườngcho người được bảo hiểm do người thứ ba gây ra đối với tài sản và trách nhiệm dân sự;Các quyền khác theo quy định của pháp luật
● Nghĩa vụ của DNBH
2 Doanh nghiệp bảo hiểm có nghĩa vụ:
Giải thích cho bên mua bảo hiểm về các điều kiện, điều khoản bảo hiểm; quyền, nghĩa vụcủa bên mua bảo hiểm;
Cấp cho bên mua bảo hiểm giấy chứng nhận bảo hiểm, đơn bảo hiểm ngay sau khi giao kếthợp đồng bảo hiểm;
Trả tiền bảo hiểm kịp thời cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểmkhi xảy ra sự kiện bảo hiểm;
Giải thích bằng văn bản lý do từ chối trả tiền bảo hiểm hoặc từ chối bồi thường;
Phối hợp với bên mua bảo hiểm để giải quyết yêu cầu của người thứ ba đòi bồi thường vềnhững thiệt hại thuộc trách nhiệm bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm;
Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật
● Trách nhiệm của DNBH
Đối với DNBH, trách nhiệm chính là giải quyết bồi thường chi trả khi sự kiện bảo hiểmxảy ra gây ra tổn thất Việc thanh toán phải đảm bảo nhanh chóng kịp thời và hợp lý Khisoạn thảo hợp đồng bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải đảm bảo tính trung thực để bảo
vệ cho quyền lợi của cả hai bên Khi giao kết hợp đồng, doanh nghiệp bảo hiểm có tráchnhiệm cấp đầy đủ, trung thực và chính xác các thông tin mà bên mua bảo hiểm đã cungcấp Trong quá trình thực hiện hợp đồng, doanh nghiệp bảo hiểm phải các trách nhiệm đểphòng hạn chế các tổn thất có thể xảy ra Nếu có bất kỳ sự thay đổi nào ảnh hưởng đến việcthực hiện HĐBH và quyền lợi của bên mua bảo hiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm phải thôngbáo cho bên mua biết
1.4 Quy chế cấp giấy phép thành lập hoạt động, kiểm soát đặc biệt, giải thể, phá sản doanh nghiệp bảo hiểm
● Thẩm quyền cấp giấy phép thành lập và hoạt động
Bộ Tài chính cấp phép thành lập và hoạt động cho doanh nghiệp bảo hiểm theo quy địnhcủa pháp luật Việc cấp giấy phép thành lập và hoạt động cho doanh nghiệp bảo hiểm phảiphù hợp với quy hoạch, kế hoạch định hướng phát triển thị trường bảo hiểm, thị trường tàichính
13
Trang 14● Điều kiện để được cấp giấy phép thành lập và hoạt động
Căn cứ điều 63 Luật kinh doanh bảo hiểm 2000 sửa đổi 2010 Căn cứ điều 6 nghị định73/2016/NĐ-CP Quy định chi tiết thi hành luật kinh doanh bảo hiểm và luật sửa đổi, bổsung một số điều của luật kinh doanh bảo hiểm
Điều kiện chung để được cấp phép thành lập và hoạt động:
1 Đối với tổ chức, cá nhân tham gia góp vốn:
Không thuộc các đối tượng bị cấm theo quy định tại khoản 2 Điều 18 của Luật doanh1
Tổ chức tham gia góp vốn hoạt động trong ngành nghề kinh doanh có yêu cầu vốn phápđịnh phải bảo đảm vốn chủ sở hữu trừ đi vốn pháp định tối thiểu bằng số vốn dự kiến góp;Trường hợp tổ chức tham gia góp vốn là doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giớibảo hiểm, ngân hàng thương mại, công ty tài chính, công ty chứng khoán thì các tổ chức
1 Điều 18 Quyền thành lập, góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp và quản lý doanh nghiệp:
“2 Tổ chức, cá nhân sau đây không có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam:
a) Cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân sử dụng tài sản nhà nước để thành lập doanh nghiệp kinh doanh thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình;
b) Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức;
c) Sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân Việt Nam, trừ những người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp; d) Cán bộ lãnh đạo, quản lý nghiệp vụ trong doanh nghiệp nhà nước, trừ những người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp khác;
đ) Người chưa thành niên; người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc bị mất năng lực hành vi dân sự; tổ chức không có tư cách pháp nhân;
e) Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chấp hành hình phạt tù, quyết định xử lý hành chính tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc hoặc đang bị cấm hành nghề kinh doanh, đảm nhiệm chức vụ hoặc làm công việc nhất định, liên quan đến kinh doanh theo quyết định của Tòa án; các trường hợp khác theo quy định của pháp luật về phá sản, phòng, chống tham nhũng.
Trường hợp Cơ quan đăng ký kinh doanh có yêu cầu, người đăng ký thành lập doanh nghiệp phải nộp Phiếu lý lịch tư pháp cho Cơ quan đăng ký kinh doanh”.
Trang 15này phải bảo đảm duy trì và đáp ứng các điều kiện an toàn tài chính và được cơ quan cóthẩm quyền chấp thuận cho phép tham gia góp vốn theo quy định pháp luật chuyên ngành.
2 Đối với doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm
Có người quản trị, điều hành dự kiến đáp ứng quy định
3 Có hồ sơ đề nghị cấp Giấy phép theo quy định tại Nghị định này
Điều kiện khác:
Ngoài các điều kiện chung quy định tại điều 6 nghị định 73/2016, doanh nghiệp bảo hiểmmuốn thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn bảo hiểm phải đáp ứng các điều kiện cụ thể vềthành viên tham gia góp vốn Đối với DNBH muốn thành lập công ty cổ phần bảo hiểmphải đáp ứng các điều kiện về cổ đông, cổ phần
Căn cứ tại điều 7 nghị định 73/2016 Quy định chi tiết thi hành luật kinh doanh bảo hiểm vàluật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật kinh doanh bảo hiểm
“1 Điều kiện thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn bảo hiểm:
Ngoài các điều kiện chung quy định tại Điều 6 Nghị định này, thành viên tham gia góp vốn thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn bảo hiểm phải là tổ chức và đáp ứng các điều kiện sau đây:
a) Đối với tổ chức nước ngoài:
- Là doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài được cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cho phép hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực dự kiến tiến hành tại Việt Nam hoặc công ty con chuyên thực hiện chức năng đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài được doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài ủy quyền để góp vốn thành lập doanh nghiệp bảo hiểm tại Việt Nam;
- Có ít nhất 10 năm kinh nghiệm hoạt động trong lĩnh vực dự kiến tiến hành tại Việt Nam;
- Có tổng tài sản tối thiểu tương đương 02 tỷ đô la Mỹ vào năm liền kề trước năm nộp hồ
sơ đề nghị cấp Giấy phép;
- Không vi phạm nghiêm trọng các quy định pháp luật về hoạt động kinh doanh bảo hiểm
và các quy định pháp luật khác của nước nơi doanh nghiệp đóng trụ sở chính trong thời hạn 03 năm liền kề trước năm nộp hồ sơ đề nghị cấp Giấy phép.
b) Đối với tổ chức Việt Nam:
- Là doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, bảo hiểm;
15
Trang 16- Có tổng tài sản tối thiểu 2.000 tỷ đồng Việt Nam vào năm liền kề trước năm nộp hồ sơ đề nghị cấp Giấy phép.
2 Điều kiện thành lập công ty cổ phần bảo hiểm:
Ngoài các điều kiện chung quy định tại Điều 6 Nghị định này, công ty cổ phần bảo hiểm dự kiến thành lập phải đáp ứng các điều kiện sau đây:
a) Có tối thiểu 02 cổ đông sáng lập là tổ chức đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 7 Nghị định này và 02 cổ đông này phải cùng nhau sở hữu tối thiểu 20% số cổ phần của công ty cổ phần bảo hiểm dự kiến được thành lập;
b) Trong thời hạn 03 năm kể từ ngày được cấp Giấy phép, các cổ đông sáng lập phải cùng nhau sở hữu tối thiểu 50% số cổ phần phổ thông được quyền chào bán của công ty cổ phần bảo hiểm.”
● Hồ sơ xin cấp giấy phép thành lập và hoạt động
Căn cứ điều 64 Luật kinh doanh bảo hiểm 2000
Hồ sơ xin cấp giấy phép thành lập và hoạt động bao gồm:
1 Đơn xin cấp giấy phép thành lập và hoạt động;
2 Dự thảo điều lệ doanh nghiệp;
3 Phương án hoạt động năm năm đầu, trong đó nêu rõ phương thức trích lập dự phòngnghiệp vụ, chương trình tái bảo hiểm, đầu tư vốn, hiệu quả kinh doanh, khả năng thanhtoán của doanh nghiệp bảo hiểm và lợi ích kinh tế của việc thành lập doanh nghiệp;
4 Danh sách, lý lịch, các văn bằng chứng minh năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụcủa người quản trị, người điều hành doanh nghiệp;
5 Mức vốn góp và phương thức góp vốn, danh sách những tổ chức, cá nhân chiếm 10% sốvốn điều lệ trở lên; tình hình tài chính và những thông tin khác có liên quan đến các tổchức, cá nhân đó;
6 Quy tắc, điều khoản, biểu phí, hoa hồng bảo hiểm của loại sản phẩm bảo hiểm dự kiếntiến hành
Tùy vào từng hình thức DNBH mà hồ sơ xin cấp giấy phép thành lập và hoạt động sẽ baogồm các yêu cầu cụ thể khác Được quy định chi tiết tại điều 11, điều 12 Nghị định 73/2016Quy định chi tiết thi hành luật kinh doanh bảo hiểm và luật sửa đổi, bổ sung một số điềucủa luật kinh doanh bảo hiểm; điều 25 Luật Doanh nghiệp
● Thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động
Căn cứ Điều 68 Thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động, Luật kinh doanh bảo hiểm 2000
“1 Doanh nghiệp bảo hiểm có thể bị thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động khi xảy ra một trong những trường hợp sau đây:
Trang 17a) Hồ sơ xin cấp giấy phép thành lập và hoạt động có thông tin cố ý làm sai sự thật;
b) Sau 12 tháng kể từ ngày được cấp giấy phép thành lập và hoạt động mà không bắt đầu hoạt động;
c) Giải thể theo quy định tại Điều 82 của Luật này;
d) Chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, phá sản, chuyển đổi hình thức doanh nghiệp;
đ) Hoạt động sai mục đích hoặc không đúng với nội dung quy định trong giấy phép thành lập và hoạt động;
e) Không bảo đảm các yêu cầu về tài chính để thực hiện các cam kết với bên mua bảo hiểm.
2 Trong trường hợp bị thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động theo quy định tại các điểm a, b, c, đ và e khoản 1 Điều này, doanh nghiệp bảo hiểm phải đình chỉ ngay việc giao kết hợp đồng bảo hiểm mới, nhưng vẫn có trách nhiệm trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm và phải thực hiện các hợp đồng bảo hiểm đã giao kết trước ngày bị thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động.
Trong trường hợp bị thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều này, quyền và nghĩa vụ của các bên được thực hiện theo quy định của pháp luật.
3 Quyết định thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm được
Bộ Tài chính công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng.”
● Thay đổi giấy phép thành lập và hoạt động
Căn cứ Điều 69 Những thay đổi phải được chấp thuận, Luật kinh doanh bảo hiểm 2000
“1 Doanh nghiệp bảo hiểm phải được Bộ Tài chính chấp thuận bằng văn bản khi thay đổi một trong những nội dung sau đây:
a) Tên doanh nghiệp;
b) Vốn điều lệ;
c) Mở hoặc chấm dứt hoạt động của chi nhánh, văn phòng đại diện;
d) Địa điểm đặt trụ sở chính, chi nhánh, văn phòng đại diện;
đ) Nội dung, phạm vi và thời hạn hoạt động;
e) Chuyển nhượng cổ phần, phần vốn góp chiếm 10% số vốn điều lệ trở lên;
g) Chủ tịch Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc (Giám đốc);
h) Chia, tách, sáp nhập, hợp nhất, giải thể, chuyển đổi hình thức doanh nghiệp.
2 Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày Bộ Tài chính chấp thuận việc thay đổi theo quy định tại khoản 1 Điều này, doanh nghiệp bảo hiểm phải công bố các nội dung thay đổi đã được chấp thuận theo quy định của pháp luật.”
17
Trang 18● Giải thể, phá sản DNBH
Căn cứ Điều 82 Giải thể doanh nghiệp bảo hiểm, luật kinh doanh bảo hiểm 2000
“1 Doanh nghiệp bảo hiểm giải thể trong các trường hợp sau đây:
a) Tự nguyện xin giải thể nếu có khả năng thanh toán các khoản nợ;
b) Khi hết thời hạn hoạt động quy định trong giấy phép thành lập và hoạt động mà không
có quyết định gia hạn;
c) Bị thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động theo quy định tại các điểm a, b, đ và e khoản 1 Điều 68 của Luật này;
d) Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.
2 Việc giải thể doanh nghiệp bảo hiểm phải được Bộ Tài chính chấp thuận bằng văn bản.”
1.5 Nội dung hoạt động của DNBH
● Kinh doanh bảo hiểm
Kinh doanh bảo hiểm là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lợi,theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm, trên cơ sở bênmua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho ngườithụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm
Đối với các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ thì pháp luật quy định doanh nghiệp đókhông được phép kinh doanh nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ và ngược lại Tuy nhiên cảhai loại hình doanh nghiệp này đều được phép kinh doanh bảo hiểm sức khỏe
● Kinh doanh tái bảo hiểm
Kinh doanh tái bảo hiểm là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lợi,theo đó doanh nghiệp bảo hiểm nhận một khoản phí bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểmkhác để cam kết bồi thường cho các trách nhiệm đã nhận bảo hiểm
Nhiệm vụ chủ yếu của tái bảo hiểm là phân chia các rủi ro đã được bảo hiểm của các công
ty bảo hiểm gốc cho một tập thể những công ty tái bảo hiểm và thông qua đó sẽ tận dụngđược một cách tối ưu các quy luật thống kê Với nhiệm vụ trên, tái bảo hiểm ổn định kinhdoanh cho các công ty bảo hiểm gốc và tạo điều kiện cho các công ty này có thể nhận bảohiểm cho những rủi ro vượt quá khả năng tài chính của mình
Ví dụ : Một công ty bảo hiểm A chỉ có khả năng thanh toán tiền bồi thường tối đa là 1 triệuUS$, muốn bảo hiểm cho một chiếc tàu chở một khối lượng hàng hóa lớn trị giá 10 triệuUS$ Nếu giả sử không có tái bảo hiểm thì công ty bảo hiểm A không thể ký hợp đồng bảohiểm với chủ tàu đó được, vì khi không may có tổn thất toàn bộ xảy ra công ty bảo hiểm A
sẽ bị phá sản Nhưng do có hình thức tái bảo hiểm nên công ty bảo hiểm A vẫn ký được
Trang 19hợp đồng bảo hiểm với chủ tàu bảo hiểm cho con tàu trị giá 10 triệu US$ Sau khi ký hợpđồng, công ty bảo hiểm A dùng phương pháp tái bảo hiểm phân tán bớt mức trách nhiệm
mà mình phải gánh chịu Trong trường hợp này, công ty bảo hiểm A chỉ giữ lại 10%, còn90% của 10 triệu US$ công ty bảo hiểm A chuyển cho các công ty tái bảo hiểm khác, ví dụnhư 50% cho công ty tái bảo hiểm B và 40% cho công ty tái bảo hiểm C
● Quản lý quỹ và đầu tư vốn
Trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp bảo hiểm phải luôn duy trì mức vốn điều lệ đãgóp không thấp hơn mức vốn pháp định được quy định
Trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày được cấp giấy phép thành lập và hoạt động, doanhnghiệp bảo hiểm phải sử dụng một phần vốn điều lệ đã góp để ký quỹ tại một ngân hàngthương mại hoạt động tại Việt Nam Mức tiền ký quỹ của doanh nghiệp bảo hiểm bằng 2%vốn pháp định được quy định Doanh nghiệp bảo hiểm chỉ được sử dụng tiền ký quỹ để đápứng các cam kết đối với bên mua bảo hiểm khi khả năng thanh toán bị thiếu hụt và phảiđược Bộ Tài chính chấp thuận bằng văn bản
● Doanh nghiệp bảo hiểm phải trích lập quỹ dự phòng nghiệp vụ
Dự phòng nghiệp vụ là khoản tiền mà doanh nghiệp bảo hiểm phải trích lập nhằm mục đíchthanh toán cho những trách nhiệm bảo hiểm đã được xác định trước và phát sinh từ các hợpđồng bảo hiểm đã giao kết
Dự phòng nghiệp vụ phải được trích lập riêng cho từng nghiệp vụ bảo hiểm và phải tươngứng với phần trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm theo hướng dẫn của Bộ Tài chínhDoanh nghiệp bảo hiểm phải lập quỹ dự trữ bắt buộc để bổ sung vốn điều lệ và đảm bảokhả năng thanh toán Quỹ dự trữ bắt buộc được trích hàng năm theo tỷ lệ 5% lợi nhuận sauthuế Mức tối đa của quỹ này bằng 10% mức vốn điều lệ của doanh nghiệp Ngoài quỹ dựtrữ bắt buộc, doanh nghiệp bảo hiểm có thể lập các quỹ dự trữ khác từ lợi nhuận sau
● Đầu tư vốn của DNBH
Việc đầu tư vốn của doanh nghiệp bảo hiểm phải bảo đảm an toàn, hiệu quả và đáp ứngđược yêu cầu chi trả thường xuyên cho các cam kết theo hợp đồng bảo hiểm
Nguồn vốn đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm bao gồm: Vốn điều lệ; Quỹ dự trữ bắt buộc;Quỹ dự trữ tự nguyện; Các khoản lãi của những năm trước chưa sử dụng và các quỹ được
sử dụng để đầu tư hình thành từ lợi tức để lại doanh nghiệp; Nguồn vốn nhàn rỗi từ dựphòng nghiệp vụ bảo hiểm
Việc đầu tư từ nguồn vốn chủ sở hữu phải bảo đảm an toàn, hiệu quả và tính thanh khoảntheo hướng dẫn của Bộ Tài chính - Đầu tư vốn nhàn rỗi từ dự phòng nghiệp vụ bảo hiểmcủa doanh nghiệp bảo hiểm được thực hiện trực tiếp bởi doanh nghiệp bảo hiểm hoặc thôngqua uỷ thác đầu tư và chỉ được đầu tư tại Việt Nam trong các lĩnh vực sau: Mua trái phiếu
19
Trang 20Chính phủ; Mua cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp; Kinh doanh bất động sản; Góp vốn vàocác doanh nghiệp khác; Cho vay theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng; Gửi tiền tạicác tổ chức tín dụng.
- Đối với doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ
Đối với doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ thì nguồn vốn nhàn rỗi từ dựphòng nghiệp vụ được đầu tư để:
Mua trái phiếu Chính phủ, trái phiếu doanh nghiệp có bảo lãnh, gửi tiền tại các tổ chức tíndụng không hạn chế;
Mua cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp không có bảo lãnh, góp vốn vào các doanh nghiệpkhác tối đa 35% vốn nhàn rỗi từ dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm;
Kinh doanh bất động sản, cho vay, ủy thác đầu tư qua các tổ chức tài chính - tín dụng tối đa20% vốn nhàn rỗi từ dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm
- Đối với doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ
Đối với doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ thì nguồn vốn nhàn rỗi từ dự phòngnghiệp vụ được sử dụng để đầu tư:
Mua trái phiếu Chính phủ, trái phiếu doanh nghiệp có bảo lãnh, gửi tiền tại các tổ chức tíndụng không hạn chế,
Mua cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp không có bảo lãnh, góp vốn vào các doanh nghiệpkhác tối đa 50% vốn nhàn rỗi từ dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm;
Kinh doanh bất động sản, cho vay, ủy thác đầu tư qua các tổ chức tài chính - tín dụng tối đa40% vốn nhàn rỗi từ dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm
● Các hoạt động khác
Doanh nghiệp bảo hiểm được thực hiện các hoạt động khác như: Đề phòng, hạn chế rủi ro,
tổn thất; Giám định tổn thất; Đại lý giám định tổn thất, xét giải quyết bồi thường, yêu cầu
người thứ ba bồi hoàn và các hoạt động khác theo quy định của pháp luật
Doanh nghiệp bảo hiểm có thể áp dụng các biện pháp phòng ngừa để bảo đảm an toàn chođối tượng bảo hiểm khi được sự đồng ý của bên mua bảo hiểm hoặc cơ quan nhà nước cóthẩm quyền Các biện pháp đề phòng, hạn chế tổn thất bao gồm: Tổ chức tuyên truyền,giáo dục; Tài trợ, hỗ trợ các phương tiện, vật chất để đề phòng hạn chế rủi ro; Hỗ trợ xâydựng các công trình nhằm mục đích đề phòng, giảm nhẹ mức độ rủi ro cho các đối tượngbảo hiểm Doanh nghiệp bảo hiểm được trích một tỷ lệ trên phí bảo hiểm thực thu theo quyđịnh của Bộ Tài chính để thực hiện các biện pháp đề phòng, hạn chế tổn thất
Trang 212 Doanh nghiệp môi giới bảo hiểm
2.1 Khái niệm, đặc điểm doanh nghiệp môi giới bảo hiểm
Căn cứ khoản 4 điều 3 Luật kinh doanh bảo hiểm 2000 quy định: Hoạt động môi giới bảohiểm là việc cung cấp thông tin, tư vấn cho bên mua bảo hiểm về sản phẩm bảo hiểm, điềukiện bảo hiểm, mức phí bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm và các công việc liên quan đếnviệc đàm phán, thu xếp và thực hiện hợp đồng bảo hiểm theo yêu cầu của bên mua bảohiểm
Doanh nghiệp môi giới bảo hiểm là doanh nghiệp thực hiện hoạt động môi giới bảo hiểmtheo quy định như trên
2.2 Nội dung hoạt động môi giới bảo hiểm
Theo đó, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm được thành lập để thực hiện các hoạt động như:
- Cung cấp thông tin về loại hình bảo hiểm, điều kiện, điều khoản, phí bảo hiểm,doanh nghiệp bảo hiểm cho bên mua bảo hiểm;
- Tư vấn cho bên mua bảo hiểm trong việc đánh giá rủi ro, lựa chọn loại hình bảohiểm, điều kiện, điều khoản, biểu phí bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm;
- Đàm phán, thu xếp giao kết hợp đồng bảo hiểm giữa doanh nghiệp bảo hiểm và bênmua bảo hiểm;
- Thực hiện các công việc khác có liên quan đến việc thực hiện hợp đồng bảo hiểmtheo yêu cầu của bên mua bảo hiểm
2.3 Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp môi giới bảo hiểm
Doanh nghiệp môi giới bảo hiểm được hưởng hoa hồng môi giới bảo hiểm Hoa hồng môigiới bảo hiểm được tính trong phí bảo hiểm
Doanh nghiệp môi giới bảo hiểm có nghĩa vụ: Thực hiện việc môi giới trung thực; Khôngđược tiết lộ, cung cấp thông tin làm thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của bên mua bảohiểm; Bồi thường thiệt hại cho bên mua bảo hiểm do hoạt động môi giới bảo hiểm gây ra.Doanh nghiệp môi giới bảo hiểm chỉ được tư vấn, giới thiệu cho bên mua bảo hiểm các quytắc, điều khoản, biểu phí bảo hiểm đã được Bộ Tài chính ban hành, phê chuẩn hoặc doanhnghiệp bảo hiểm đã đăng ký với Bộ Tài chính
Doanh nghiệp môi giới bảo hiểm phải mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho hoạtđộng môi giới bảo hiểm tại doanh nghiệp bảo hiểm hoạt động ở Việt Nam
2.4 Quy chế cấp giấy phép thành lập và hoạt động
Ngoài các điều kiện chung quy định về cấp giấy phép thành lập doanh nghiệp môi giới bảohiểm theo điều 63 luật kinh doanh bảo hiểm 2000 sửa đổi 2010, doanh nghiệp môi giới bảo
21
Trang 22hiểm còn đảm bảo các điều kiện cụ thể khác theo điều 9, điều 10 nghị định 73/2016 Quyđịnh chi tiết thi hành luật kinh doanh bảo hiểm và luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luậtkinh doanh bảo hiểm
Tổ chức nước ngoài góp vốn thành lập doanh nghiệp môi giới bảo hiểm phải đáp ứng cácđiều kiện:
- Là doanh nghiệp môi giới bảo hiểm nước ngoài được cơ quan có thẩm quyền củanước ngoài cho phép hoạt động kinh doanh môi giới bảo hiểm tại Việt Nam;
- Có ít nhất 10 năm kinh nghiệm hoạt động trong lĩnh vực môi giới bảo hiểm;
- Không vi phạm nghiêm trọng các quy định pháp luật về hoạt động môi giới bảohiểm và các quy định pháp luật khác của nước nơi doanh nghiệp đóng trụ sở chínhtrong thời hạn 03 năm liền kề trước năm nộp hồ sơ đề nghị cấp Giấy phép
Mức vốn pháp định của doanh nghiệp môi giới bảo hiểm:
- Kinh doanh môi giới bảo hiểm gốc hoặc môi giới tái bảo hiểm: 4 tỷ đồng Việt Nam;
- Kinh doanh môi giới bảo hiểm gốc và môi giới tái bảo hiểm: 8 tỷ đồng Việt Nam
3 Đại lý bảo hiểm
3.1 Khái niệm, đặc điểm đại lý bảo hiểm
Đại lý bảo hiểm là tổ chức, cá nhân được doanh nghiệp bảo hiểm uỷ quyền trên cơ sở hợpđồng đại lý bảo hiểm để thực hiện hoạt động đại lý bảo hiểm theo quy định của Luật kinhdoanh bảo hiểm và các quy định khác của pháp luật có liên quan
Trong trường hợp đại lý bảo hiểm vi phạm hợp đồng đại lý bảo hiểm, gây thiệt hại đếnquyền, lợi ích hợp pháp của người được bảo hiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm vẫn phải chịutrách nhiệm về hợp đồng bảo hiểm do đại lý bảo hiểm thu xếp giao kết; đại lý bảo hiểm cótrách nhiệm bồi hoàn cho doanh nghiệp bảo hiểm các khoản tiền mà doanh nghiệp bảohiểm đã bồi thường cho người được bảo hiểm
Đại lý bảo hiểm có thể được doanh nghiệp bảo hiểm uỷ quyền tiến hành các hoạt động như:Giới thiệu, chào bán bảo hiểm; Thu xếp việc giao kết hợp đồng bảo hiểm; Thu phí bảohiểm; Thu xếp giải quyết bồi thường, trả tiền bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm;Thựchiện các hoạt động khác có liên quan đến việc thực hiện hợp đồng bảo hiểm
3.2 Điều kiện hoạt động đại lý bảo hiểm
Cá nhân hoạt động đại lý bảo hiểm phải có đủ các điều kiện cụ thể: phải là công dân ViệtNam thường trú tại Việt Nam đủ 18 tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;
Có chứng chỉ đào tạo đại lý bảo hiểm do doanh nghiệp bảo hiểm hoặc Hiệp hội bảo hiểmViệt Nam cấp
Trang 23Tổ chức hoạt động đại lý bảo hiểm phải có đủ các điều kiện là tổ chức được thành lập vàhoạt động hợp pháp;
Nhân viên trong tổ chức đại lý trực tiếp thực hiện hoạt động đại lý bảo hiểm phải có đủ cácđiều kiện theo quy định
Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc đang phải chấp hành hình phạt tù hoặc bịToà án tước quyền hành nghề vì phạm các tội theo quy định của pháp luật không được kýkết hợp đồng đại lý bảo hiểm
3.3 Nguyên tắc hoạt động đại lý BH
Căn cứ tại Điều 83 Nguyên tắc hoạt động đại lý bảo hiểm
- Tổ chức, cá nhân hoạt động đại lý bảo hiểm phải có đủ điều kiện hoạt động đại lýtheo quy định tại Điều 86 Luật kinh doanh bảo hiểm và phải ký hợp đồng đại lý bảohiểm theo quy định tại Điều 87 Luật kinh doanh bảo hiểm
- Tổ chức, cá nhân không được đồng thời làm đại lý cho doanh nghiệp bảo hiểm, chinhánh nước ngoài khác nếu không được chấp thuận bằng văn bản của doanh nghiệpbảo hiểm, chi nhánh nước ngoài mà mình đang làm đại lý
- Cá nhân đã được cấp chứng chỉ đại lý nhưng không hoạt động đại lý trong thời hạn
03 năm liên tục phải thực hiện thi lấy chứng chỉ đại lý mới trước khi hoạt động đại
lý Không hoạt động đại lý là việc cá nhân không ký hợp đồng làm đại lý cho doanhnghiệp bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài hoặc không làm việc trong tổ chức là đại lýcủa doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài
Đại lý bảo hiểm không được thực hiện các hành vi sau đây:
- Thông tin, quảng cáo sai sự thật về nội dung, phạm vi hoạt động của doanh nghiệpbảo hiểm, chi nhánh nước ngoài, điều kiện và điều khoản bảo hiểm làm tổn hại đếnquyền, lợi ích hợp pháp của bên mua bảo hiểm;
- Ngăn cản bên mua bảo hiểm cung cấp các thông tin liên quan đến hợp đồng bảohiểm hoặc xúi giục bên mua bảo hiểm, người được bảo hiểm không kê khai các chitiết liên quan đến hợp đồng bảo hiểm;
- Tranh giành khách hàng dưới các hình thức ngăn cản, lôi kéo, mua chuộc, đe dọanhân viên hoặc khách hàng của doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài, đại
lý bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm khác;
- Xúi giục khách hàng hủy bỏ hợp đồng bảo hiểm đang có hiệu lực dưới mọi hìnhthức
3.4 Quyền và nghĩa vụ đại lý BH
● Quyền đại lý BH
Đại lý bảo hiểm có các quyền sau:
23
Trang 24Lựa chọn và ký kết hợp đồng đại lý bảo hiểm đối với doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánhnước ngoài theo đúng quy định pháp luật;
Tham dự các lớp đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ cho đại lý bảo hiểm do doanhnghiệp bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài tổ chức;
Được cung cấp thông tin cần thiết cho các hoạt động của mình và các điều kiện khác đểthực hiện hợp đồng đại lý bảo hiểm;
Hưởng hoa hồng và các quyền, lợi ích hợp pháp khác từ hoạt động đại lý bảo hiểm;
Yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài hoàn trả tiền ký quỹ hoặc tài sảnthế chấp theo thỏa thuận trong hợp đồng đại lý bảo hiểm
● Nghĩa vụ đại lý BH
2 Đại lý bảo hiểm có các nghĩa vụ sau:
Thực hiện cam kết trong hợp đồng đại lý bảo hiểm đã ký với doanh nghiệp bảo hiểm, chinhánh nước ngoài;
Ký quỹ hoặc thế chấp tài sản cho doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài nếu cóthỏa thuận trong hợp đồng đại lý bảo hiểm;
Giới thiệu, mời chào, bán bảo hiểm; cung cấp các thông tin đầy đủ, chính xác cho bên muabảo hiểm; thực hiện hợp đồng bảo hiểm theo phạm vi được ủy quyền trong hợp đồng đại lýbảo hiểm;
Tham gia các khóa đào tạo nâng cao trình độ do các cơ sở đào tạo đại lý bảo hiểm tổ chức;Chịu sự kiểm tra giám sát của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và thực hiện đầy đủ nghĩa
vụ tài chính theo quy định pháp luật
3.5 Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài trong hoạt động đại lý bảo hiểm
● Doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài có các quyền sau:
Lựa chọn đại lý bảo hiểm và ký kết hợp đồng đại lý bảo hiểm;
Quy định mức chi trả hoa hồng bảo hiểm trong hợp đồng đại lý bảo hiểm theo quy địnhpháp luật;
Nhận và quản lý tiền ký quỹ hoặc tài sản thế chấp của đại lý bảo hiểm, nếu có thỏa thuậntrong hợp đồng đại lý bảo hiểm;
Yêu cầu đại lý bảo hiểm thanh toán phí bảo hiểm thu được theo thỏa thuận trong hợp đồngbảo hiểm;
Kiểm tra, giám sát việc thực hiện hợp đồng đại lý bảo hiểm;
Được hưởng các quyền lợi hợp pháp khác từ hoạt động đại lý bảo hiểm
Trang 25● Doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài có nghĩa vụ:
Tổ chức đào tạo và cấp chứng chỉ đào tạo đại lý phù hợp với quy định pháp luật;
Hướng dẫn và cung cấp đầy đủ, chính xác các thông tin, tài liệu cần thiết liên quan đếnhoạt động đại lý bảo hiểm;
Thực hiện các trách nhiệm phát sinh theo hợp đồng đại lý bảo hiểm đã ký kết;
Thanh toán hoa hồng theo thỏa thuận trong hợp đồng đại lý bảo hiểm;
Hoàn trả cho đại lý bảo hiểm khoản tiền ký quỹ hoặc tài sản thế chấp theo thỏa thuận;Chịu trách nhiệm về những thiệt hại hay tổn thất do hoạt động đại lý bảo hiểm của doanhnghiệp bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài gây ra theo thỏa thuận trong hợp đồng đại lý bảohiểm;
Chịu sự kiểm tra giám sát của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với các hoạt động dođại lý bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài thực hiện;
Thông báo cho Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam danh sách các đại lý bảo hiểm bị doanh nghiệpbảo hiểm, chi nhánh nước ngoài chấm dứt hợp đồng đại lý bảo hiểm do vi phạm pháp luật,quy tắc hành nghề
4 Dịch vụ phụ trợ bảo hiểm
4.1 Nguyên tắc cung cấp dịch vụ phụ trợ BH
Dịch vụ phụ trợ bảo hiểm là bộ phận cấu thành của hoạt động kinh doanh bảo hiểm, dodoanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm và tổ chức, cá nhân khác thựchiện nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm tư vấn bảo hiểm, đánh giá rủi ro bảo hiểm, tính toánbảo hiểm, giám định tổn thất bảo hiểm, hỗ trợ giải quyết bồi thường bảo hiểm
Nguyên tắc cung cấp dịch vụ phụ trợ bảo hiểm:
- Trung thực, khách quan, minh bạch; bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các bênliên quan;
- Tuân theo tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật trong lĩnh vực phụ trợ bảo hiểm;
- Tuân theo quy tắc đạo đức, ứng xử nghề nghiệp do tổ chức xã hội - nghề nghiệp banhành
4.2 Cá nhân, tổ chức cung cấp dịch vụ phụ trợ BH
Cá nhân, tổ chức đáp ứng các điều kiện quy định tại Điều 93b của Luật kinh doanh bảohiểm sửa đổi năm 2019 được quyền cung cấp dịch vụ phụ trợ bảo hiểm theo quy định sauđây:
- Cá nhân được quyền cung cấp dịch vụ tư vấn bảo hiểm;
25
Trang 26- Doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm và tổ chức khác có tưcách pháp nhân được quyền cung cấp dịch vụ phụ trợ bảo hiểm (gọi chung là tổchức cung cấp dịch vụ phụ trợ bảo hiểm).
4.3 Trách nhiệm cá nhân, tổ chức cung cấp dịch vụ phụ trợ BH
Trách nhiệm của cá nhân, tổ chức cung cấp dịch vụ phụ trợ bảo hiểm:
- Giữ bí mật thông tin khách hàng, sử dụng thông tin khách hàng đúng mục đích vàkhông được cung cấp cho bên thứ ba mà không có sự chấp thuận của khách hàng,trừ trường hợp cung cấp theo quy định của pháp luật;
- Cá nhân cung cấp dịch vụ tư vấn bảo hiểm phải mua bảo hiểm trách nhiệm nghềnghiệp cho việc cung cấp dịch vụ tư vấn bảo hiểm; tổ chức cung cấp dịch vụ phụ trợbảo hiểm phải mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp phù hợp với từng loại hìnhdịch vụ phụ trợ bảo hiểm;
- Tổ chức cung cấp dịch vụ phụ trợ bảo hiểm không được cung cấp dịch vụ giám địnhtổn thất bảo hiểm và hỗ trợ giải quyết bồi thường bảo hiểm cho hợp đồng bảo hiểm
mà tổ chức đó đồng thời là bên mua bảo hiểm hoặc người được bảo hiểm hoặcngười thụ hưởng;
- Doanh nghiệp môi giới bảo hiểm không được cung cấp dịch vụ giám định tổn thấtbảo hiểm cho hợp đồng bảo hiểm mà doanh nghiệp đó thực hiện thu xếp giao kếthợp đồng bảo hiểm
4.4 Điều kiện cung cấp dịch vụ phụ trợ BH
Đối với cá nhân cung cấp dịch vụ tư vấn bảo hiểm:
- Từ đủ 18 tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;
- Có văn bằng từ đại học trở lên về chuyên ngành bảo hiểm Trường hợp không cóvăn bằng từ đại học trở lên về chuyên ngành bảo hiểm thì phải có văn bằng từ đạihọc trở lên về chuyên ngành khác và chứng chỉ về tư vấn bảo hiểm do cơ sở đào tạođược thành lập và hoạt động hợp pháp ở trong nước hoặc ở nước ngoài cấp
Đối với tổ chức:
- Có tư cách pháp nhân, được thành lập và hoạt động hợp pháp;
- Cá nhân trực tiếp thực hiện hoạt động phụ trợ bảo hiểm trong tổ chức cung cấp dịch
vụ phụ trợ bảo hiểm phải có đủ các điều kiện quy định tại điểm a khoản 1 Điều này;
có văn bằng, chứng chỉ về phụ trợ bảo hiểm phù hợp với loại hình dịch vụ phụ trợbảo hiểm thực hiện do cơ sở đào tạo được thành lập và hoạt động hợp pháp ở trongnước hoặc ở nước ngoài cấp
- Cá nhân trực tiếp thực hiện hoạt động giám định tổn thất bảo hiểm còn phải đáp ứngcác tiêu chuẩn của giám định viên theo quy định của pháp luật về thương mại
- Cá nhân trực tiếp thực hiện hoạt động tính toán bảo hiểm còn phải đáp ứng tiêuchuẩn về tuân thủ pháp luật, đạo đức, trình độ chuyên môn, kinh nghiệm về hành
Trang 27nghề tính toán bảo hiểm, tư cách thành viên của Hội các nhà tính toán bảo hiểmquốc tế.
CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 2
1 Khái niệm doanh nghiệp bảo hiểm? Các loại hình doanh nghiệp bảo hiểm theo quy định pháp luật trên thị trường hiện nay?
2 Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp bảo hiểm theo quy định của pháp luật?
3 So sánh hoạt động do doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện với hoạt động bảo hiểm xã hội?
4 Hãy chỉ ra điểm khác nhau cơ bản giữa doanh nghiệp bảo hiểm với doanh nghiệp môi giới bảo hiểm?
5 Nêu điểm giống và khác nhau cơ bản giữa đồng bảo hiểm và tái bảo hiểm? Giải thích tại sao biện pháp tái bảo hiểm được áp dụng phổ biến hơn?
6 Các quy định pháp luật về dịch vụ phụ trợ bảo hiểm: nguyên tắc hoạt động, điều kiện cung cấp dịch vụ, trách nhiệm pháp lý?
7 So sánh điều kiện của tổ chức, cá nhân cung cấp dịch vụ tư vấn bảo hiểm với tổ chức,
cá nhân cung cấp dịch vụ tính toán tổn thất bảo hiểm?
27
Trang 28CHƯƠNG 3: HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM
b Khái niệm hợp đồng bảo hiểm
Khoản 1, Điều 12, Luật kinh doanh bảo hiểm sửa đổi, bổ sung năm 2019 quy định về hợp
đồng bảo hiểm như sau: “1 Hợp đồng bảo hiểm là sự thỏa thuận giữa bên mua bảo hiểm
và doanh nghiệp bảo hiểm, theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm”.
Có thể thấy rằng khái niệm hợp đồng theo quy định của Luật kinh doanh bảo hiểm đã mởrộng đối tượng được nhận tiền bảo hiểm bao gồm người thụ hưởng Nội dung này được thểhiện rõ nét nhất trong các hợp đồng bảo hiểm con người; theo đó người thụ hưởng là ngườiđược bên mua bảo hiểm chỉ định và có thể không phải là người được bảo hiểm; có thể làngười thừa kế, một trong các người thừa kế hoặc không phải là người thừa kế
3.1.2 Đặc điểm hợp đồng bảo hiểm
Thứ nhất, chủ thể tham gia ký kết hợp đồng bảo hiểm là doanh nghiệp bảo hiểm và bên
mua bảo hiểm Trong đó, như đã trình bày tại Chương 1, doanh nghiệp bảo hiểm là doanhnghiệp được thành lập, tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật kinh doanh bảo hiểm
và các quy định khác của pháp luật có liên quan để kinh doanh bảo hiểm, tái bảo hiểm Bênmua bảo hiểm là tổ chức, cá nhân giao kết hợp đồng bảo hiểm với doanh nghiệp bảo hiểm
và đóng phí bảo hiểm Bên mua bảo hiểm có thể đồng thời là người được bảo hiểm hoặcngười thụ hưởng
Thứ hai, hợp đồng bảo hiểm bao giờ cũng thể hiện dưới hình thức văn bản Theo Điều 14,
Luật kinh doanh bảo hiểm sửa đổi, bổ sung năm 2019, hợp đồng bảo hiểm phải được lậpthành văn bản Và bằng chứng giao kết hợp đồng bảo hiểm là giấy chứng nhận bảo hiểm,đơn bảo hiểm, điện báo, telex, fax và các hình thức khác do pháp luật quy định
Trang 29Thứ ba, quan hệ hợp đồng bảo hiểm được điều chỉnh bằng Luật chuyên ngành, tiêu biểu là
Bộ luật Hàng hải, Luật kinh doanh bảo hiểm và pháp luật hợp đồng khác
Thứ tư, hợp đồng bảo hiểm là hợp đồng song vụ, hợp đồng có điều kiện Sở dĩ hợp đồng
bảo hiểm là hợp đồng song vụ bởi các bên tham gia hợp đồng đều có nghĩa vụ đối với nhau Ví dụ: doanh nghiệp bảo hiểm có nghĩa vụ cung cấp điều kiện, điều khoản bảo hiểm, giải
2
quyết bồi thường bảo hiểm; bên mua bảo hiểm có nghĩa vụ cung cấp thông tin, thanh toánphí bảo hiểm Hợp đồng bảo hiểm là hợp đồng có điều kiện bởi việc thực hiện phụ thuộcvào việc phát sinh một sự kiện bảo hiểm nhất định
Thứ năm, hợp đồng bảo hiểm là hợp đồng theo mẫu Cụ thể, đây là hợp đồng gồm những
điều kiện, điều khoản do doanh nghiệp bảo hiểm đưa ra theo mẫu để bên mua bảo hiểm trảlời trong một thời gian hợp lý; nếu bên mua bảo hiểm trả lời chấp nhận thì coi như chấpnhận toàn bộ nội dung hợp đồng theo mẫu mà doanh nghiệp bảo hiểm đã đưa ra
Thứ sáu, hợp đồng bảo hiểm là loại hợp đồng có chứa đựng tính chất may rủi: Nếu không
tồn tại rủi ro thì không có việc giao kết cũng như tồn tại hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm
3.1.3 Phân loại hợp đồng bảo hiểm
Hợp đồng bảo hiểm có thể được phân loại dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau Ví dụ, phânloại theo đối tượng có hợp đồng bảo hiểm con người, tài sản và trách nhiệm dân sự; phânloại theo tính pháp lý có hợp đồng bảo hiểm bắt buộc và tự nguyện; căn cứ theo nghiệp vụbảo hiểm phân thành hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, phi nhân thọ và sức khỏe
Xuất phát từ yêu cầu quản lý, Luật kinh doanh bảo hiểm phân loại hợp đồng theo đối tượngđược bảo hiểm, cụ thể:
● Hợp đồng bảo hiểm con người: Đối tượng của hợp đồng bảo hiểm này là tính mạng
và sức khỏe con người
● Hợp đồng bảo hiểm tài sản: Đối tượng của hợp đồng bảo hiểm này là tài sản
● Hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự: Đối tượng của hợp đồng bảo hiểm này làtrách nhiệm dân sự của người được bảo hiểm đối với người thứ ba theo quy định củapháp luật
Sự khác biệt về đối tượng của hợp đồng dẫn đến sự khác nhau về một số nội dung giữa cáchợp đồng bảo hiểm nói trên như: Số tiền bảo hiểm, nguyên tắc thế quyền, thời hạn bảohiểm, hình thức bồi thường, cụ thể:
● Số tiền bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự và bảo hiểm conngười được quy định theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm; trong khi đó tronghợp đồng bảo hiểm tài sản là số tiền mà bên mua bảo hiểm yêu cầu bảo hiểm cho tàisản được bảo hiểm
2 Khoản 1, Điều 402, Bộ luật dân sự 2015
29
Trang 30● Về thời hạn bảo hiểm, trong khi các hợp đồng bảo hiểm tài sản và trách nhiệm dân
sự có thời hạn là 1 năm; các hợp đồng bảo hiểm nhân thọ có thể có thời hạn từ ngắnhạn (1 năm), trung hạn và dài hạn
● Nguyên tắc thế quyền trong bảo hiểm tài sản không được áp dụng trong bảo hiểmcon người (trừ bảo hiểm chi phí y tế) Cụ thể, trong trường hợp người được bảohiểm chết, bị thương tật hoặc đau ốm do hành vi trực tiếp hoặc gián tiếp của ngườithứ ba gây ra, người bảo hiểm vẫn có nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm mà không có quyềnyêu cầu người thứ ba bồi hoàn khoản tiền mà người bảo hiểm đã trả cho người thụhưởng Người thứ ba phải chịu trách nhiệm bồi thường cho người được bảo hiểmtheo quy định của pháp luật
● Hợp đồng bảo hiểm tài sản cho phép nhiều hình thức bồi thường như: Sửa chữa tàisản bị thiệt hại, thay thế tài sản bị thiệt hại bằng tài sản khác hoặc trả tiền bồithường Trong khi đó, hợp đồng bảo hiểm con người và trách nhiệm dân sự chủ yếucung cấp hình thức bồi thường bằng tiền
3.2 Nội dung hợp đồng bảo hiểm
3.2.1 Khái quát nội dung hợp đồng bảo hiểm
Hợp đồng bảo hiểm là tổng thể các điều khoản do các bên thỏa thuận, từ đó làm phát sinhcác quyền và nghĩa vụ cụ thể giữa các chủ thể tham gia hợp đồng bảo hiểm
Điều 13, Luật kinh doanh bảo hiểm sửa đổi, bổ sung 2019 quy định hợp đồng bảo hiểmgồm các nội dung như sau:
a) Tên, địa chỉ của doanh nghiệp bảo hiểm, bên mua bảo hiểm, người được bảo hiểm hoặcngười thụ hưởng;
b) Đối tượng bảo hiểm;
c) Số tiền bảo hiểm, giá trị tài sản được bảo hiểm đối với bảo hiểm tài sản;
d) Phạm vi bảo hiểm, điều kiện bảo hiểm, điều khoản bảo hiểm;
đ) Điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm;
e) Thời hạn bảo hiểm;
g) Mức phí bảo hiểm, phương thức đóng phí bảo hiểm;
h) Thời hạn, phương thức trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thường;
i) Các quy định giải quyết tranh chấp;
k) Ngày, tháng, năm giao kết hợp đồng
Ngoài những nội dung quy định tại khoản 1 Điều này, hợp đồng bảo hiểm có thể có các nộidung khác do các bên thỏa thuận
Trang 313.2.2 Quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm các bên
● Quyền, nghĩa vụ của DNBH
- Quyền của doanh nghiệp bảo hiểm:
+ Thu phí bảo hiểm theo thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm;
+ Yêu cầu bên mua bảo hiểm cung cấp đầy đủ, trung thực thông tin liên quan đến việcgiao kết và thực hiện hợp đồng bảo hiểm;
+ Đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm và thu phí đến thời điểm đìnhchỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm khi bên mua bảo hiểm có hành vi: Cố ý cung cấpthông tin sai sự thật nhằm giao kết hợp đồng bảo hiểm để được trả tiền bảo hiểmhoặc được bồi thường; không thực hiện các nghĩa vụ trong việc cung cấp thông tincho doanh nghiệp bảo hiểm về những trường hợp có thể làm tăng rủi ro hoặc làmphát sinh thêm trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm trong quá trình thực hiệnhợp đồng bảo hiểm theo yêu cầu của doanh nghiệp bảo hiểm;
Khi có sự thay đổi những yếu tố làm cơ sở để tính phí bảo hiểm, dẫn đến tăng cácrủi ro được bảo hiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm có quyền tính lại phí bảo hiểm chothời gian còn lại của hợp đồng bảo hiểm, nếu bên mua bảo hiểm không chấp nhậntăng phí bảo hiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm có quyền đơn phương đình chỉ thựchiện hợp đồng bảo hiểm nhưng phải thông báo ngay bằng văn bản cho bên mua bảohiểm;
Trong trường hợp phí bảo hiểm được đóng nhiều lần và bên mua bảo hiểm đã đóngmột hoặc một số lần phí bảo hiểm nhưng không thể đóng được các khoản phí bảohiểm tiếp theo thì sau thời hạn 60 ngày, kể từ ngày gia hạn đóng phí, doanh nghiệpbảo hiểm có quyền đơn phương đình chỉ hợp đồng, bên mua bảo hiểm không cóquyền đòi lại khoản phí bảo hiểm đã đóng nếu thời gian đóng phí bảo hiểm dưới hainăm, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác;
Trong trường hợp người được bảo hiểm không thực hiện các biện pháp bảo đảm antoàn cho đối tượng bảo hiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm có quyền ấn định một thờihạn để người được bảo hiểm thực hiện các biện pháp đó Nếu hết thời hạn này màcác biện pháp bảo đảm an toàn vẫn không được thực hiện thì doanh nghiệp bảo hiểm
có quyền tăng phí bảo hiểm hoặc đơn phương đình chỉ hợp đồng bảo hiểm
+ Từ chối trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc từ chối bồi thường cho ngườiđược bảo hiểm trong trường hợp không thuộc phạm vi trách nhiệm bảo hiểm hoặctrường hợp loại trừ trách nhiệm bảo hiểm theo thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm;+ Yêu cầu bên mua bảo hiểm áp dụng các biện pháp đề phòng, hạn chế tổn thất theoquy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan;
+ Yêu cầu người thứ ba bồi hoàn số tiền bảo hiểm mà doanh nghiệp bảo hiểm đã bồithường cho người được bảo hiểm do người thứ ba gây ra đối với tài sản và tráchnhiệm dân sự;
+ Các quyền khác theo quy định của pháp luật
- Nghĩa vụ của doanh nghiệp bảo hiểm:
31
Trang 32+ Giải thích cho bên mua bảo hiểm về các điều kiện, điều khoản bảo hiểm; quyền,nghĩa vụ của bên mua bảo hiểm;
+ Cấp cho bên mua bảo hiểm Giấy chứng nhận bảo hiểm, Đơn bảo hiểm ngay sau khigiao kết hợp đồng bảo hiểm;
+ Trả tiền bảo hiểm kịp thời cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người đượcbảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm;
+ Giải thích bằng văn bản lý do từ chối trả tiền bảo hiểm hoặc từ chối bồi thường;+ Phối hợp với bên mua bảo hiểm để giải quyết yêu cầu của người thứ ba đòi bồithường về những thiệt hại thuộc trách nhiệm bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm;+ Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật
● Quyền, nghĩa vụ của bên mua bảo hiểm
- Quyền của bên mua bảo hiểm:
+ Lựa chọn doanh nghiệp bảo hiểm hoạt động tại Việt Nam để mua bảo hiểm;
+ Yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm giải thích các điều kiện, điều khoản bảo hiểm; cấpGiấy chứng nhận bảo hiểm hoặc Đơn bảo hiểm;
+ Đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm trong trường hợp doanh nghiệpbảo hiểm cố ý cung cấp thông tin sai sự thật nhằm giao kết hợp đồng bảo hiểm, khi
đó doanh nghiệp bảo hiểm phải bồi thường thiệt hại phát sinh cho bên mua bảo hiểm
do việc cung cấp thông tin sai sự thật Hoặc trong trường hợp khi có sự thay đổinhững yếu tố làm cơ sở để tính phí bảo hiểm, dẫn đến giảm các rủi ro được bảohiểm thì bên mua bảo hiểm có quyền yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm giảm phí bảohiểm cho thời gian còn lại của hợp đồng bảo hiểm, nếu doanh nghiệp bảo hiểmkhông chấp nhận giảm phí bảo hiểm thì bên mua bảo hiểm có quyền đơn phươngđình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm nhưng phải thông báo ngay bằng văn bản chodoanh nghiệp bảo hiểm
+ Yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồithường cho người được bảo hiểm theo thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm khi xảy
ra sự kiện bảo hiểm;
+ Chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm theo thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm hoặctheo quy định của pháp luật;
+ Các quyền khác theo quy định của pháp luật
- Nghĩa vụ của bên mua bảo hiểm:
+ Đóng phí bảo hiểm đầy đủ, theo thời hạn và phương thức đã thỏa thuận trong hợpđồng bảo hiểm;
+ Kê khai đầy đủ, trung thực mọi chi tiết có liên quan đến hợp đồng bảo hiểm theoyêu cầu của doanh nghiệp bảo hiểm;
+ Thông báo những trường hợp có thể làm tăng rủi ro hoặc làm phát sinh thêm tráchnhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm trong quá trình thực hiện hợp đồng bảo hiểm theoyêu cầu của doanh nghiệp bảo hiểm;
+ Thông báo cho doanh nghiệp bảo hiểm về việc xảy ra sự kiện bảo hiểm theo thoảthuận trong hợp đồng bảo hiểm;
Trang 33+ Áp dụng các biện pháp đề phòng, hạn chế tổn thất theo quy định của Luật kinhdoanh bảo hiểm và các quy định khác của pháp luật có liên quan;
+ Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật
● Trách nhiệm của các bên
- Trách nhiệm cung cấp thông tin
Cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác từ cả phía doanh nghiệp bảo hiểm và bên mua bảohiểm là nội dung quan trọng theo nguyên tắc trung thực tuyệt đối trong hoạt động kinhdoanh bảo hiểm
Luật kinh doanh bảo hiểm sửa đổi, bổ sung 2019 quy định cụ thể về trách nhiệm của cácbên tham gia bảo hiểm như sau:
+ Khi giao kết hợp đồng bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm cung cấpđầy đủ thông tin liên quan đến hợp đồng bảo hiểm, giải thích các điều kiện, điềukhoản bảo hiểm cho bên mua bảo hiểm; bên mua bảo hiểm có trách nhiệm cung cấpđầy đủ thông tin liên quan đến đối tượng bảo hiểm cho doanh nghiệp bảo hiểm Cácbên chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực của thông tin đó Doanh nghiệpbảo hiểm có trách nhiệm giữ bí mật về thông tin do bên mua bảo hiểm cung cấp.+ Doanh nghiệp bảo hiểm có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng bảohiểm và thu phí bảo hiểm đến thời điểm đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm khibên mua bảo hiểm có một trong những hành vi sau đây:
Cố ý cung cấp thông tin sai sự thật nhằm giao kết hợp đồng bảo hiểm để được trảtiền bảo hiểm hoặc được bồi thường;
Không thực hiện các nghĩa vụ trong việc cung cấp thông tin cho doanh nghiệp bảohiểm trong những trường hợp có thể làm tăng rủi ro hoặc làm phát sinh thêm tráchnhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm trong quá trình thực hiện hợp đồng bảo hiểm.+ Nếu doanh nghiệp bảo hiểm cố ý cung cấp thông tin sai sự thật nhằm giao kết hợpđồng bảo hiểm thì bên mua bảo hiểm có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợpđồng bảo hiểm Đồng thời doanh nghiệp bảo hiểm phải bồi thường thiệt hại phátsinh cho bên mua bảo hiểm do việc cung cấp thông tin sai sự thật
- Thay đổi mức độ rủi ro được bảo hiểm
Khi có sự thay đổi những yếu tố làm cơ sở để tính phí bảo hiểm, dẫn đến giảm các rủi rođược bảo hiểm thì bên mua bảo hiểm có quyền yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm giảm phíbảo hiểm cho thời gian còn lại của hợp đồng bảo hiểm Trong trường hợp doanh nghiệp bảohiểm không chấp nhận giảm phí bảo hiểm thì bên mua bảo hiểm có quyền đơn phươngđình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm, nhưng phải thông báo ngay bằng văn bản cho doanhnghiệp bảo hiểm
Khi có sự thay đổi những yếu tố làm cơ sở để tính phí bảo hiểm, dẫn đến tăng các rủi rođược bảo hiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm có quyền tính lại phí bảo hiểm cho thời gian cònlại của hợp đồng bảo hiểm Trong trường hợp bên mua bảo hiểm không chấp nhận tăng phí
33
Trang 34bảo hiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồngbảo hiểm, nhưng phải thông báo ngay bằng văn bản cho bên mua bảo hiểm.
3.2.3 Điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm
Điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm được quy định tại Điều 16 Luật kinh doanh bảohiểm sửa đổi, bổ sung 2019 như sau:
“1 Điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm quy định trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm không phải bồi thường hoặc không phải trả tiền bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm.
2 Điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm phải được quy định rõ trong hợp đồng bảo hiểm Doanh nghiệp bảo hiểm phải giải thích rõ cho bên mua bảo hiểm khi giao kết hợp đồng.
3 Không áp dụng điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm trong các trường hợp sau đây: a) Bên mua bảo hiểm vi phạm pháp luật do vô ý;
b) Bên mua bảo hiểm có lý do chính đáng trong việc chậm thông báo cho doanh nghiệp bảo hiểm về việc xảy ra sự kiện bảo hiểm.”
Thông thường loại trừ bảo hiểm bao gồm các trường hợp sau:
- Những thiệt hại hoặc sự kiện bảo hiểm xảy ra do lỗi cố ý của người tham gia bảohiểm hoặc người được hưởng quyền lợi bảo hiểm (khi việc chi trả quyền lợi bảohiểm đem lại lợi ích cho những người nói trên mà bản thân họ có lỗi cố ý gây rathiệt hại hoặc rủi ro sự kiện bảo hiểm) như tự tử, đánh nhau (không phải phòng vệchính đáng), vi phạm pháp luật, không tuân thủ uống thuốc theo đơn chỉ định củabác sĩ, không tuân thủ nội quy an toàn lao động bị tai nạn lao động,…
- Biết được sự kiện xảy ra mới mua bảo hiểm như có bệnh sau đó mới tham gia bảohiểm cho bệnh này (không khai báo), có thai mới mua bảo hiểm thai sản, xảy ra tainạn mới mua bảo hiểm xe máy,
- Thiệt hại được bảo hiểm xảy ra mang tính chất thảm họa gây ra bởi động đất, sóngthần, núi lửa phun, chiến tranh, đình công, bạo động bạo loạn
- Thiệt hại gián tiếp như giảm sút giá trị thương mại (khi khắc phục tài sản bị tổnthất), giảm giá, mất thị trường hoặc thiệt hại kinh doanh (đối với bảo hiểm tài sảnđưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh không bồi thường thiệt hại về thu nhập kinhdoanh mang lại từ tài sản đó kể từ khi thiệt hại đến khi khắc phục xong)
- Thiệt hại tài sản do bị trộm cắp trong tai nạn và thiệt hại các tài sản mang theokhông được kê khai rõ ràng để được bảo hiểm như tiền, vàng bạc, đá quý, trang sức,hành lý, tranh cổ, hài cốt,…
- Các trường hợp áp dụng giảm trừ bồi thường không chi trả tiền bảo hiểm khi ngườimua bảo hiểm hoặc người được bảo hiểm vi phạm việc cung cấp thông tin về rủi rođược bảo hiểm hoặc sự kiện bảo hiểm xảy ra trong một khoảng thời gian nhất định(thường là 5 ngày làm việc) kể từ khi họ biết thông tin này (trừ trường hợp bất khảkháng theo Luật quy định)
Trang 35- Các rủi ro, sự kiện bảo hiểm thuộc phạm vi bảo hiểm của sản phẩm bảo hiểm khác
đã có trên thị trường như bảo hiểm tài sản có hoặc không bảo hiểm cho bảo hiểmthiệt hại kinh doanh, bảo hiểm trách nhiệm pháp lý, bảo hiểm trách nhiệm người sửdụng lao động, bảo hiểm trộm cắp, bảo hiểm tai nạn lao động,…
- Thu hẹp phạm vi bảo hiểm của một sản phẩm bảo hiểm đã có trên thị trường bằngcách liệt kê thêm một số loại trừ bảo hiểm (rủi ro, sự kiện không được bảo hiểm) đểhình thành ra sản phẩm bảo hiểm mới (như bảo hiểm xuất nhập khẩu hàng hóa vậnchuyển bằng đường biển có điều khoản bảo hiểm A,B,C, bảo hiểm tai nạn con người
có các điều khoản bảo hiểm về tử vong, tai nạn và điều trị ốm đau)
Như vậy tất cả các sản phẩm bảo hiểm dù là bảo hiểm mọi rủi ro điều phải có loại trừ bảohiểm (cho các rủi ro, sự kiện bảo hiểm) xảy ra do lỗi của người được bảo hiểm hoặc xảy rathảm họa hoặc thuộc phạm vi bảo hiểm của loại sản phẩm khác thông dụng trên thị trường
Việc đề ra loại trừ bảo hiểm là cần thiết và thiết yếu trong tất các các sản phẩm bảo hiểm kể
cả với sản phẩm bảo hiểm mọi rủi ro vẫn phải có loại trừ bảo hiểm
Cách thể hiện loại trừ bảo hiểm của một sản phẩm bảo hiểm trong quy tắc điều khoản, điềukiện bảo hiểm hoặc trong hợp đồng bảo hiểm của các doanh nghiệp bảo hiểm bao gồm cáchình thức sau đây:
- Tách riêng thành một điều khoản loại trừ bảo hiểm, bao gồm:
+ Điều khoản loại trừ chung: được áp dụng chung cho tất cả các điều kiện bảo hiểmghi trong quy tắc hoặc hợp đồng bảo hiểm Ví dụ trong bảo hiểm sức khỏe có điềukhoản loại trừ chung có cả các điều khoản bảo hiểm tử vong, bảo hiểm tai nạn, bảohiểm ốm đau hoặc trong bảo hiểm vận chuyển hàng hóa xuất nhập khẩu có điềukhoản loại trừ chung cho tất cả các điều kiện bảo hiểm A, điều kiện bảo hiểm B,điều kiện bảo hiểm C
+ Điều khoản loại trừ riêng cho từng điều kiện bảo hiểm riêng biệt Ví dụ loại trừriêng cho điều khoản bảo hiểm tử vong, thương tật hoặc loại trừ riêng cho bảo hiểmtheo điều khoản bảo hiểm vận chuyển hàng hóa xuất nhập khẩu
- Ngoài tách thành một điều khoản loại trừ riêng, nội dung loại trừ bảo hiểm còn thể hiện rải rác trong các điều khoản điều kiện bảo hiểm ghi trong quy tắc hoặc hợp đồng bảo hiểm:
Ví dụ: Không thông báo tai nạn tổn thất xảy ra cho doanh nghiệp bảo hiểm được biết trongvòng 5 ngày kể từ ngày xảy ra sự kiện trên trừ trường hợp người được bảo hiểm có lý dobất khả kháng về không biết được thời gian xảy ra sự kiện bảo hiểm và khi biết đã báongay cho doanh nghiệp bảo hiểm Hoặc bảo hiểm bão lốc không bảo hiểm thiệt hại chonước mưa tràn vào theo các đường lỗ sẵn có trừ khi đường lỗ này do chính bão lốc tạo ra
35
Trang 36Thực tế các doanh nghiệp bảo hiểm không thể gom tất cả các loại trừ bảo hiểm thành mộtđiều khoản riêng biệt để người tham gia bảo hiểm dễ đọc, dễ yêu cầu giải thích, dễ hiểu, dễthực hiện vì những lý do sau:
+ Doanh nghiệp bảo hiểm buộc phải áp dụng quy tắc điều kiện điều khoản bảo hiểmsẵn có theo thông lệ quốc tế được đa số các quốc gia trên thế giới áp dụng
+ Doanh nghiệp bảo hiểm buộc phải áp dụng cách diễn đạt loại trừ bảo hiểm y hệt quytắc điều khoản, điều kiện bảo hiểm của nhà nhận tái bảo hiểm quốc tế mà họ đãnhận một phần bảo hiểm cho trách nhiệm hợp đồng bảo hiểm gốc của doanh nghiệpbảo hiểm
+ Nếu gộp chung trong loại trừ bảo hiểm thì khi diễn đạt một loại trừ nào đó phải nhắclại phạm vi bảo hiểm và không bảo hiểm (loại trừ) dẫn đến dài dòng, trùng lặp
Đặc điểm chung của loại trừ bảo hiểm là thu hẹp phạm vi bảo hiểm: loại trừ bảo hiểm càngnhiều thì phạm vi được bảo hiểm càng ít Loại trừ bảo hiểm là nguyên cớ để doanh nghiệpbảo hiểm từ chối chi trả toàn bộ hay một phần nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm của mình (có loạitrừ được từ chối 100% số tiền chi trả, có loại trừ chỉ được từ chối một phần chi trả và đượcghi rõ khi quy tắc hoặc hợp đồng bảo hiểm diễn đạt loại trừ này) Hay nói cách khác, hợpđồng bảo hiểm hoặc quy tắc bảo hiểm càng ít loại trừ bảo hiểm thì số tiền bồi thường củadoanh nghiệp bảo hiểm càng lớn và tất nhiên phí bảo hiểm thu của người tham gia bảohiểm càng tăng Luật Kinh doanh bảo hiểm quy định phí bảo hiểm phải dựa theo số liệuthống kê và phải tương xứng với trách nhiệm bảo hiểm, đảm bảo an toàn tài chính chodoanh nghiệp bảo hiểm
Gần đây các doanh nghiệp bảo hiểm đã rà soát sản phẩm bảo hiểm của mình loại bỏ một sốloại trừ bảo hiểm mà xác suất xảy ra rất nhỏ không ảnh hưởng đến tài chính của doanhnghiệp bảo hiểm để không tăng phí bảo hiểm hấp dẫn khách hàng Ví dụ như loại trừ hoạtđộng leo núi, những người bảo hiểm rất ít leo núi và tai nạn do ngã leo núi rất ít
Tóm lại, để phân tích tính ưu việt của sản phẩm bảo hiểm hoặc so sánh các sản phẩm bảo
hiểm với nhau ngoài uy tín thương hiệu, dịch vụ sau bán hàng của doanh nghiệp bảo hiểm,khách hàng cần phải được phân tích về quyền lợi được bảo hiểm bao gồm các trường hợpđược chi trả toàn bộ quyền lợi bảo hiểm và mức độ chi trả, số tiền chi trả (chính là các rủi
ro sự kiện được bảo hiểm), các trường hợp từ chối toàn bộ chi trả quyền lợi bảo hiểm(chính là loại trừ bảo hiểm) và các trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm chỉ chi trả một phầnquyền lợi bảo hiểm (áp dụng chế tài)
Trang 373.3 Hình thức hợp đồng bảo hiểm
3.3.1 Hình thức của hợp đồng bảo hiểm
Hình thức hợp đồng là phương tiện để các bên thể hiện ý chí của mình, hợp đồng cũng làmột loại giao dịch dân sự , theo đó giao dịch dân sự có thể được thể hiện qua các hình thức3
như bằng lời nói, văn bản hoặc hành vi cụ thể và hợp đồng cũng như vậy, song trong điều4
kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự có quy định “Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định ”, vì vậy đối với 5
những giao dịch dân sự pháp luật có quy định về điều kiện hình thức thì giao dịch chỉ cóhiệu lực khi được thực hiện với hình thức đó, và hợp đồng bảo hiểm là một ví dụ điển hìnhcho điều này, theo như quy định tại Điều 14 về hình thức hợp đồng bảo hiểm của Luật kinh
doanh bảo hiểm thì “Hợp đồng bảo hiểm phải được lập thành văn bản”.
Vì sao pháp luật có quy định bắt buộc hợp đồng bảo hiểm phải được lập thành văn bản? Cónhiều lý do khiến cho hình thức hợp đồng bảo hiểm bằng văn bản được đặt ra
Thứ nhất, do yêu cầu an toàn trong kinh doanh bảo hiểm và tính phức tạp của hoạt độngbảo hiểm trong khâu xác định rủi ro và định phí Đảm bảo của người bảo hiểm đối vớingười được bảo hiểm không đơn thuần như việc bán một món hàng thể hiện bằng hiện vật
Như vậy, pháp luật quy định hình thức của hợp đồng bảo hiểm là văn bản nhằm nâng cao
độ chính xác về những nội dung đã cam kết Khi có tranh chấp, hợp đồng được giao kếtbằng hình thức văn bản tạo ra chứng cứ pháp lý chắc chắn cho các bên dễ dàng thực hiệnquyền của mình
3.3.2 Mối quan hệ giữa Hợp đồng bảo hiểm và Giấy chứng nhận bảo hiểm
Theo quy định của Luật kinh doanh bảo hiểm: “Giấy chứng nhận bảo hiểm và Đơn bảohiểm là bằng chứng giao kết hợp đồng bảo hiểm”
Thứ nhất, Giấy chứng nhận bảo hiểm
6 Điều 14: Hình thức hợp đồng bảo hiểm, Luật kinh doanh bảo hiểm 2000 sđ, bs 2019
5 Khoản 2, Điều 117: Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự, Bộ luật dân sự 2015
4 Điều 119: Hình thức giao dịch dân sự, Bộ luật dân sự 2015
3 Điều 161: Giao dịch dân sự, Bộ luật dân sự 2015
37
Trang 38Giấy chứng nhận bảo hiểm là sự xác nhận của bên bảo hiểm về một người nhất là chủ sởhữu của một hợp đồng bảo hiểm theo nội dung mà các bên đã cam kết trong đơn yêu cầubảo hiểm hoặc hồ sơ yêu cầu bảo hiểm, đồng thời là bằng chứng của việc giao kết hợpđồng bảo hiểm Trong trường hợp mà việc tham gia bảo hiểm là bắt buộc theo quy định củapháp luật, thì người tham gia bảo hiểm thường phải chứng minh trước người thứ ba rằng họtham gia bảo hiểm và hợp đồng bảo hiểm đó đang có hiệu lực Để chứng minh được điềunói trên, người tham gia bảo hiểm xuất trình trước người thứ ba về bằng chứng của hợpđồng bảo hiểm Nghĩa là họ luôn phải mang theo mình các loại giấy tờ là bằng chứng củahợp đồng bảo hiểm bắt buộc có hiệu lực Điều này sẽ rất phiền toái nếu các giấy tờ nàykhông gọn nhẹ để bỏ vào ví một cách dễ dàng Vì vậy, trong trường hợp này, hình thức củahợp đồng bảo hiểm được thiết kế dưới dạng Giấy chứng nhận bảo hiểm Ví dụ, hoạt độngcủa chủ xe cơ giới thường rất dễ gây tai nạn giao thông và gây thiệt hại không nhỏ đối vớisức khỏe, tài sản thậm chí là cả tính mạng của người khác, nếu chỉ dựa vào khả năng tàichính của bản thân thì người chủ xe gây ra tai nạn chưa chắc đã bồi thường đầy đủ chongười bị thiệt hại và khắc phục kịp thời thiệt hại đó Vì vậy pháp luật quy định, chủ xe cơgiới bắt buộc phải mua bảo hiểm trách nhiệm dân sự Cũng chính vì vậy, điều kiện để xe cơgiới lưu hành, bên cạnh các tiêu chuẩn kỹ thuật, cần phải có bảo hiểm cho hoạt động của xe
đó, khi điều khiển xe cơ giới, nếu không có bằng chứng về hợp đồng bảo hiểm trách nhiệmdân sự của chủ xe cơ giới để xuất trình trước người có thẩm quyền, thì việc cho xe đó lưuhành là một sự vi phạm, vì vậy sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính
Với lý do trên, giấy chứng nhận bảo hiểm thường được thiết kế ở dạng thẻ với kích cỡ hợp
lý, trong đó ghi đầy đủ các thông tin liên quan
Thứ hai, Đơn bảo hiểm
Đơn bảo hiểm thường là hình thức của các hợp đồng bảo hiểm tự nguyện, vì vậy khác vớigiấy chứng nhận bảo hiểm, đơn bảo hiểm có thể có các kích cỡ khác nhau thường gồmnhiều trang Các thông tin được ghi trong đơn bảo hiểm mang tính chi tiết cụ thể miêu tả tất
cả các vấn đề liên quan đến hợp đồng bảo hiểm
Trước đây, đơn bảo hiểm thường được viết tay theo hợp đồng cụ thể cho khách hàng bảohiểm, sau đó cùng với sự phát triển của thị trường bảo hiểm, đơn bảo hiểm được viết đơn lẻcho từng trường hợp không còn phù hợp nữa Vì vậy, trong hoạt động kinh doanh bảohiểm, các doanh nghiệp bảo hiểm thường soạn theo sẵn đơn bảo hiểm tương ứng với từngnghiệp vụ bảo hiểm và in sẵn Các đơn này được thiết kế theo từng đề mục và có chỗ trốngcho khách hàng điền vào đó những chi tiết nội dung của hợp đồng
3.4 Một số quy định khác
3.4.1 Thời điểm phát sinh trách nhiệm BH
Trách nhiệm bảo hiểm sẽ phát sinh khi có một trong các trường hợp sau đây:7
7 Điều 15: Thời điểm phát sinh trách nhiệm bảo hiểm, Luật kinh doanh bảo hiểm 2000 sđ, bs 2019
Trang 39Thứ nhất, hợp đồng bảo hiểm đã được giao kết và bên mua bảo hiểm đã đóng đủ phí bảohiểm.
Thứ hai, hợp đồng bảo hiểm đã được giao kết, trong đó thỏa thuận giữa doanh nghiệp bảohiểm và bên mua bảo hiểm về việc bên mua bảo hiểm nợ phí bảo hiểm
Thứ ba, có bằng chứng về việc hợp đồng bảo hiểm đã được giao kết và bên mua bảo hiểm
3.4.2 Giải thích hợp đồng
Các điều khoản nói chung và điều khoản trong hợp đồng bảo hiểm nói riêng là cơ sở để xácđịnh quyền và nghĩa vụ giữa các bên nên cần phải đảm bảo tính rõ ràng, đầy đủ và đơnnghĩa Tuy vậy, trong thực tế không phải hợp đồng bảo hiểm nào cũng đảm bảo điều nàynên thường xảy ra tranh chấp do cách hiểu hai bên vẫn chưa thống nhất Trong trường hợpnày việc giải thích hợp đồng được đặt ra là giải thích theo hướng phù hợp với tính chất hợpđồng và có lợi hơn cho bên yếu thế Hợp đồng bảo hiểm là một loại hợp đồng theo mẫu dodoanh nghiệp bảo hiểm tự soạn thảo và người mua bảo hiểm chỉ dựa vào hợp đồng đượcsoạn thảo sẵn này quyết định là có tham gia bảo hiểm hay không Là một loại hợp đồngtheo mẫu do chính bản thân doanh nghiệp tự soạn thảo nên hợp đồng theo mẫu này đầu tiên
chịu sự điều chỉnh của Bộ luật dân sự khi “hợp đồng theo mẫu có điều khoản không rõ ràng thì bên đưa ra hợp đồng theo mẫu phải chịu bất lợi khi giải quyết điều khoản đó ” 8
Xét về chuyên môn sự hiểu biết và kinh nghiệm trong lĩnh vực giữa doanh nghiệp bảo hiểm
và người mua bảo hiểm, đa phần trong mọi trường hợp bên doanh nghiệp bảo hiểm luônchiếm ưu thế cao hơn vì đây là ngành nghề mà họ kinh doanh, kiến thức của họ về bảohiểm chắc chắn phải hơn bên mua bảo hiểm vì vậy việc họ soạn thảo sẵn hợp đồng bảohiểm đa phần sẽ có lợi cho họ nhiều hơn Trong khi đó bên mua bảo hiểm thường có ít kiếnthức và kinh nghiệm nên dẫn đến việc họ không thể và lường trước hết các rủi ro có thể xảy
ra trong hợp đồng này khi chấp nhận tham gia hợp đồng bảo hiểm, điều này có nghĩa là họ
8 Khoản 2, Điều 405: Hợp đồng theo mẫu, Bộ luật dân sự 2015
39
Trang 40phải chấp nhận toàn bộ nội dung của hợp đồng bảo hiểm đã được soạn thảo sẵn Vì vậy,trong quan hệ hợp đồng bảo hiểm, bên mua bảo hiểm đa phần là bên yếu thế hơn Xuấtphát từ nguyên tắc giải thích hợp đồng có lợi cho bên yếu thế mà Luật kinh doanh bảo hiểm
đã cụ thể hóa nó bằng quy định như sau: “Trong trường hợp hợp đồng bảo hiểm có điềukhoản không rõ ràng thì điều khoản đó được giải thích theo hướng có lợi cho bên mua bảohiểm ” Như vậy, theo các quy định trên của pháp luật việc giải thích hợp đồng bảo hiểm9
phải trên nguyên tắc có lợi cho bên mua bảo hiểm
3.4.3 Hợp đồng vô hiệu, sửa đổi bổ sung, chấm dứt hợp đồng
a Hợp đồng vô hiệu
Hợp đồng vô hiệu là một trong những chế định quan trọng của Pháp luật dân sự nói chung
và pháp luật kinh doanh bảo hiểm nói riêng Để kết luận một hợp đồng bảo hiểm có vô hiệuhay không, không những cần phải dựa vào những quy định của luật chuyên ngành Luậtkinh doanh bảo hiểm mà còn phải áp dụng các quy định của Bộ luật dân sự 2015 nếu luậtchuyên ngành không quy định
Hợp đồng bảo hiểm vô hiệu trong các trường hợp sau đây:
+ Bên mua bảo hiểm không có quyền lợi có thể được bảo hiểm;
+ Tại thời điểm giao kết hợp đồng bảo hiểm, đối tượng bảo hiểm không tồn tại;
+ Tại thời điểm giao kết hợp đồng bảo hiểm, bên mua bảo hiểm biết sự kiện bảo hiểm đãxảy ra;
+ Bên mua bảo hiểm hoặc doanh nghiệp bảo hiểm có hành vi lừa dối khi giao kết hợp đồngbảo hiểm;
+ Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật
Việc xử lý hợp đồng bảo hiểm vô hiệu được thực hiện theo quy định của Bộ Luật Dân sự
và các quy định khác của pháp luật có liên quan Thông thường khi hợp đồng bảo hiểm vôhiệu, trách nhiệm bảo hiểm không phát sinh đối với doanh nghiệp bảo hiểm, người muabảo hiểm được hoàn lại phí bảo hiểm đã nộp; và các bên trong hợp đồng có thể phải chịucác chi phí liên quan đã phát sinh tuỳ theo mức độ lỗi của mỗi bên
b Sửa đổi, bổ sung hợp đồng
Theo quy định tại Điều 25 của Luật kinh doanh bảo hiểm thì bên mua bảo hiểm và doanhnghiệp bảo hiểm có thể thỏa thuận sửa đổi, bổ sung phí bảo hiểm, điều kiện, điều khoảnbảo hiểm, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác Mọi sửa đổi, bổ sung hợp đồng bảohiểm đều phải được lập thành văn bản
9 Điều 21: Giải thích hợp đồng bảo hiểm, Luật kinh doanh bảo hiểm sđ, bs 2015