Từ trong khí thế đấu tranh đó, cùng với Lê Lợi - vị anh hùng giải phóng dân tộc, Nguyễn Trãi - biểu t-ợng cho tinh hoa khí phách non sông, lịch sử n-ớc ta cũng đã sản sinh, hun đúc nên r
Trang 2Vinh - 2009
Trang 4Trong quá trình tìm kiếm, s-u tầm, tìm hiểu, nghiên cứu và hoàn thành
đề tài này, tôi đã nhận đ-ợc sự giúp đỡ tận tình, đóng góp nhiều ý kiến quý báu của nhiều tập thể và cá nhân các cấp, ban, ngành
Đặc biệt, tôi xin đ-ợc bày tỏ lòng biết ơn chân thành sâu sắc tới
TS Nguyễn Quang Hồng - ng-ời đã nhiệt tâm h-ớng dẫn đề tài khoa học,
giúp đỡ, động viên bản thân tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Cũng nhân dịp này, tôi xin trân trọng cảm ơn PGS TS Nguyễn Trọng Văn - Khoa Đào tạo Sau Đại Học, BCN, CBGV Khoa Sử chuyên ngành lịch sử Việt Nam Tr-ờng Đại học Vinh, cũng nh- sự giúp đỡ tận tình về
mặt t- liệu của Ban quản lí khu di tích Lịch sử Lam Kinh, đền thờ Trung Túc V-ơng Lê Lai và Gia tộc họ Lê - Đền thờ An Lạc Hoằng Hải, Hoằng Hoá
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đối với bạn bè, gia
đình và ng-ời thân đã tạo mọi điều kiện trong suốt quá trình học tập, rèn luyện, tu d-ỡng tại Khoa và Nhà tr-ờng
Vinh, tháng 12 năm 2009
Tác giả
Vũ Hồng Tâm
Trang 5Mở đầu 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 3
3 Đối t-ợng, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu 5
4 Nguồn t- liệu và ph-ơng pháp nghiên cứu 6
5 Đóng góp của luận văn 7
6 Bố cục của luận văn 8
Nội dung 9
Ch-ơng 1 Ngọc Lặc - vùng đất Gia Tộc Lê Lai định c- 9
1.1 Vài nét về điều kiện tự nhiên và xã hội 9
1.1.1 Điều kiện tự nhiên 9
1.1.2 Điều kiện xã hội 11
1.2 Quá trình định c- và phát triển của Gia tộc Lê Lai trên đất Ngọc Lặc 17
Tiểu kết ch-ơng 1 23
Ch-ơng 2 Đóng góp của Gia tộc Lê Lai trong khởi nghĩa Lam Sơn (1418 - 1427) 25
2.1 Khởi nghĩa Lam Sơn - đỉnh cao của phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc đầu thế kỷ XV 23
2.2 Đóng góp của Lê Lai trong khởi nghĩa Lam Sơn 32
2.2.1 Lê Lai trong những ngày đầu của cuộc khởi nghĩa 32
2.2.2 Lê Lai xả thân vì sự nghiệp chung 36
2.3 Đóng góp của Gia tộc Lê Lai trong khởi nghĩa Lam Sơn 42
2.3.1 Giai đoạn ở miền Tây Thanh Hoá (1418-1424) 42
2.3.2 Giai đoạn chuyển vào Nghệ An cho đến lúc cuộc khởi nghĩa thắng lợi hoàn toàn (1424 - 1427) 54
Tiểu kết ch-ơng 2 63
Trang 63.1 Trong lĩnh vực Chính trị - Xã hội 65
3.2 Trong lĩnh vực Quân sự - Bang giao 71
3.3 Trong lĩnh vực Văn hoá - Giáo dục 74
3.4 Ân điển của v-ơng triều Lê Sơ đối với Gia tộc Lê Lai 77
3.4.1 Đối với Lê Lai 77
3.4.2 Đối với con cháu Lê Lai 92
Tiểu kết ch-ơng 3 103
Kết Luận 105
Tài liệu tham khảo 110
Phụ lục
Trang 7Mở ĐầU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc đầu thế kỷ XV mà đỉnh
cao là cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi (Lê Thái Tổ) khởi x-ớng và lãnh
đạo mở ra một trang sử oanh liệt, đánh đấu mốc chói lọi trong lịch sử đánh giặc cứu n-ớc của dân tộc ta Từ trong khí thế đấu tranh đó, cùng với Lê Lợi -
vị anh hùng giải phóng dân tộc, Nguyễn Trãi - biểu t-ợng cho tinh hoa khí phách non sông, lịch sử n-ớc ta cũng đã sản sinh, hun đúc nên rất nhiều ng-ời con -u tú, những gia đình danh gia võ t-ớng, những anh hùng, các hào kiệt, những ng-ời mà phẩm chất, tài năng, khí phách và sự hy sinh cao cả là biểu t-ợng sinh động, điển hình tô thắm cho phẩm chất anh hùng của một dân tộc anh hùng Trong rất nhiều sự hy sinh cho phong trào giải phóng dân tộc ở thế
kỷ XV do Thái Tổ Cao Hoàng Đế Lê Lợi lãnh đạo là tấm g-ơng hy sinh cao cả, anh dũng “Liều mình cứu chúa” của Lê Lai góp phần vào thắng lợi của khởi nghĩa Lam Sơn và những đóng góp của Gia tộc ông trong công cuộc phục h-ng vĩ đại của dân tộc ta trong thế kỷ XV, đ-a đến sự thịnh đạt của v-ơng triều Lê Sơ vào bậc nhất của lịch sử chế độ quân chủ Việt Nam
1.2 Khởi nghĩa Lam Sơn chống giặc Minh xâm l-ợc đ-ợc Lê Lợi phát
động từ núi rừng miền Tây Thanh Hoá Nét độc đáo của cuộc khởi nghĩa này
là ngoài việc thu hút đông đảo các anh hùng nghĩa sĩ trong n-ớc nô nức về tựu nghĩa còn đ-ợc sự ủng hộ trực tiếp và mạnh mẽ của nhân dân tại chỗ, từ ng-ời Kinh đến các dân tộc thiểu số Tr-ờng hợp tiêu biểu là Gia tộc Lê Lai, cả Gia tộc nhà Lê Lai đã có tới năm ng-ời tham gia cuộc khởi nghĩa, mà đặc biệt đó là sự hy sinh cao cả của Lê Lai để mở đ-ờng sống cho cuộc khởi nghĩa Vì vậy, sau ngày toàn thắng ông đ-ợc phong làm công thần hạng nhất,
truy tặng chức Thiếu uý, Lê Lợi còn sai Nguyễn Trãi viết hai đạo ‚Tiên -ớc
thệ từ ‚ và ‚Lai công thệ từ‛ cất giấu trong tủ vàng để mãi mãi ghi nhớ công
Trang 8ơn của Lê Lai Hơn thế nữa, tr-ớc khi qua đời, Lê Lợi còn căn dặn con cháu nhà Lê bao giờ cũng làm giỗ Lê Lai vào ngày hôm tr-ớc ngày giỗ của Lê Lợi
(22.8 âm lịch) Vì thế, trong nhân dân còn l-u truyền câu ‚Hai mốt Lê Lai -
hai hai Lê Lợi‛
Với những đóng góp to lớn ấy, Lê Lai cùng Gia tộc của ông xứng đáng với những ân điển mà vua Lê Thái Tổ và v-ơng triều Lê Sơ đã dành cho Gia tộc của ông Mặc dù Lê Lai và gia tộc của ông có những đóng góp to lớn cho công cuộc giải phóng dân tộc cách đây hơn 5 thế kỷ, nh-ng tới nay sử học n-ớc ta vẫn ch-a có một công trình khoa học trọn vẹn nào đánh giá một cách đúng đắn toàn diện sự hy sinh cao cả, những đóng góp to lớn của cá nhân Lê Lai cũng nh- Gia tộc ông trong khởi nghĩa Lam Sơn và v-ơng triều Lê Sơ sau này
1.3 Nghiên cứu về những đóng góp của cá nhân Lê Lai và Gia tộc ông
trong khởi nghĩa Lam Sơn và v-ơng triều Lê Sơ là góp phần nghiên cứu về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn và một trong những v-ơng triều phong kiến phát triển nhất trong lịch sử hình thành và tồn tại của chế độ phong kiến Việt Nam Ngoài ra đề tài còn dành một phần để nghiên cứu những ân điển của v-ơng triều Lê Sơ đối với gia tộc Lê Lai trong thế kỷ XV cũng nh- những v-ơng triều sau này Đây là một nét mới khi tiếp cận nghiên cứu về những Gia tộc đã góp phần cùng cả dân tộc viết lên trang sử hào hùng trong lịch sử chống ngoại xâm và hiểu rõ hơn về chính sách đãi ngộ đối với các công thần của nhà n-ớc
Lê Sơ mà đứng đầu là các vị vua từ Lê Thái Tổ cho đến khi v-ơng triều này sụp đổ cũng nh- những v-ơng triều phong kiến sau này Trên cả hai ph-ơng diện ấy, công việc của chúng tôi góp phần thiết thực vào việc nghiên cứu về khởi nghĩa Lam Sơn và v-ơng triều Lê Sơ, cũng nh- những đóng góp của Gia tộc Lê Lai đối với quốc gia dân tộc là một việc cần thiết
1.4 Ngày nay, khi đất n-ớc b-ớc sang thế kỷ XXI, đang có những b-ớc
chuyển mình tiến lên trên con đ-ờng đổi mới, thì sự nghiệp bảo vệ độc lập chủ
Trang 9quyền thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ đất n-ớc cũng luôn đặt ra một yêu cầu mang tính cấp thiết Đó là những tấm g-ơng, những cống hiến x-ơng máu cho
độc lập tự do và xây dựng đất n-ớc mà điểm sáng là đức hy sinh cao cả của ng-ời anh hùng Lê Lai nhằm mở lối thoát cho sự tồn tại của nghĩa quân Lam Sơn Đề tài là một lời tri ân, tri nghĩa và cũng là một thông điệp gửi tới thế hệ trẻ hôm nay rằng hãy khắc ghi những cống hiến, đóng góp to lớn của ông cha
ta trong sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất n-ớc trong những thế kỷ tr-ớc và giai đoạn hiện nay
Chính vì lẽ đó mà chúng tôi chọn đề tài: “Đóng góp của Gia tộc Lê Lai trong Khởi Nghĩa Lam Sơn và V-ơng triều
Lê Sơ (1418 - 1527)”, làm đề tài luận văn tốt
2 Lịch sử vấn đề
Khi nghiên cứu về các danh t-ớng Lam Sơn nói chung và Lê Lai nói riêng thì những đóng góp của cá nhân ông cùng Gia tộc trong khởi nghĩa cũng nh- đối với v-ơng triều Lê Sơ từ lâu đã đ-ợc nhiều học giả trong và ngoài n-ớc quan tâm Vì vậy, khi quyết định lựa chọn đề tài này, chúng tôi gặp phải nhiều khó khăn lớn đó là nguồn t- liệu Song, trong quá trình thu thập, tìm tòi, với nỗ lực của bản thân và với sự giúp đỡ của các cơ quan văn hoá, chúng tôi thấy vấn đề nội dung đề tài tập trung nghiên cứu đã đ-ợc một số cuốn sách, bài viết đề cập nh-:
Bài viết của ông Hồ Đắc Duy “Ai giết Lê Lai? Tại sao Đại việt sử ký
toàn thư không chép chuyện ‚Lê Lai liều mình‛ đăng trên Tạp chí X-a & Nay
số 52 tháng 7.1998, Tiếp đến là bài viết của Đỗ Đức Hùng ‚Vài ý kiến trao
đổi với ông Hồ Đắc Duy về công thần bình Ngô khai quốc Lê Lai‛ đăng trên
Tạp chí nghiên cứu Lịch sử số 2.1999
Bài viết của Giáo s- Đinh Xuân Lâm ‚Về Danh tướng Lê Niệm (1416 -
1485)‛ đăng trên Tạp chí nghiên cứu Lịch sử số 2.2000 có đề cập ít nhiều đến
Trang 10Cuốn ‚Khởi Nghĩa Lam Sơn‛ do hai Giáo s- Phan Huy Lê - Phan Đại
Doãn đồng chủ biên đ-ợc Nhà xuất bản Khoa học xã hội ấn hành năm 1977 Cuốn sách này tổng hợp, phân tích khái quát toàn bộ phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân ta thời kỳ giặc Minh xâm l-ợc, đóng góp của Lê Lai và Gia tộc của ông cũng đ-ợc đề cập trong cuốn này
Nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Thuần có bộ “Danh t-ớng Việt Nam” trong đó ông dành riêng tập 2 nói về “Danh t-ớng khởi nghĩa Lam Sơn” được
Nhà xuất bản Giáo dục phát hành năm 2000 Trong công trình nghiên cứu này tác giả có đề cập tới danh t-ớng Lê Lai Tuy nhiên, tác giả cuốn sách cũng mới trình bày d-ới dạng tỉnh l-ợc về danh t-ớng Lê Lai trong phong trào giải phóng dân tộc đầu thế kỷ XV và khởi nghĩa Lam Sơn Cuốn sách ch-a phải là công trình mang tính chuyên sâu nói về những đóng góp có tính thoả đáng công lao,
sự nghiệp của vị t-ớng này Tuy vậy, công trình đã giúp cho chúng tôi rất nhiều
về mặt sử liệu, quan điểm đánh giá các danh t-ớng Lam Sơn nói chung, danh t-ớng Lê Lai nói riêng
Trong năm 2002, ban nghiên cứu biên soạn lịch sử Thanh Hoá đã hoàn
thành tập 3 “Lịch sử Thanh Hoá (thế kỉ XV đến thế kỉ XVIII)" đ-ợc Nhà xuất bản Khoa học Xã hội phát hành năm 2002 ở chương 2 “Khởi nghĩa Lam Sơn bùng
nổ và những hoạt động của nghĩa quân ở Thanh Hoá (1416 - 1424)‛ T.S Hà
Mạnh Khoa có đề cập đến sự hy sinh cao cả và đóng góp to lớn của Gia tộc Lê Lai trong khởi nghĩa Lam Sơn
Trong hai năm 2005 - 2006 Ban biên soạn Lịch sử Thanh Hoá đã kịp
hoàn thành bộ sách “Danh nhân Thanh Hoá‛ 2 tập, do Nhà xuất bản Thanh
Hoá ấn hành Cũng nh- nh- nhiều công trình khoa học khác, cuốn sách chỉ mới ra mắt bạn đọc d-ới dạng tiểu sử về lịch sử cá nhân từng nhân vật
Ngoài ra, một số l-ợng sách có liên quan rãi rác đến nội dung của đề tài
như “Kỷ yếu Lê Lợi và Thanh Hoá trong khởi nghĩa Lam Sơn” Nhà xuất bản
Trang 11Thanh Hoá phát hành 1988, ‚Danh nhân đất Việt‛ Nhà xuất bản Thanh Niên
Hà Nội 1998 đồng chủ biên là Nguyễn Anh - Quỳnh C- - Văn Lang và nhiều công trình khác Riêng những ân điển của v-ơng triều Lê Sơ đối với Gia tộc
Lê Lai ch-a đ-ợc quan tâm nghiên cứu
Luận văn của chúng tôi một mặt là sự kế thừa thành tựu của những học giả đi tr-ớc, mặt khác là sự cố gắng giải quyết và làm sáng tỏ những công lao
và đóng góp to lớn của cá nhân Lê Lai và Gia tộc của ông trong khởi nghĩa Lam Sơn và đối với v-ơng triều Lê Sơ sau này
3 Đối t-ợng, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối t-ợng và nhiệm vụ nghiên cứu
Đối t-ợng nghiên cứu của luận văn là “Đóng góp của Gia tộc Lê Lai
trong khởi nghĩa Lam Sơn và v-ơng triều Lê Sơ (1418 - 1527)” Để làm rõ
những đóng góp của Lê Lai cùng Gia tộc của ông trong khởi nghĩa Lam Sơn và v-ơng triều Lê Sơ, luận văn tập trung đề cập đến quê h-ơng, gia đình của ng-ời anh hùng Lê Lai, những nét khái quát cơ bản về khởi nghĩa Lam Sơn
đồng thời tập trung nghiên cứu những đóng góp của ng-ời anh hùng Lê Lai cùng Gia tộc ông trong khởi nghĩa và đối với quốc gia phong kiến Đại Việt thời Lê Sơ
Vì vậy, chúng tôi đặc biệt làm rõ về gia đình, dòng họ và những buổi
đầu khi Lê Lai gia nhập khởi nghĩa Lam Sơn Để làm rõ công lao, đóng góp của Lê Lai trong phong trào giải phóng dân tộc đầu thế kỷ XV chúng tôi cũng
đã tập trung nghiên cứu vai trò của ông trong bộ chỉ huy cuộc khởi nghĩa, những đóng góp, cống hiến to lớn của ông cho cuộc khởi nghĩa Lam Sơn và còn có những đóng góp to lớn của Gia tộc ông cho v-ơng triều Lê Sơ sau này
Trang 123.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn giới thiệu khái quát về điều kiện tự nhiên xã hội của vùng đất Ngọc Lặc, nơi Gia tộc Lê Lai định c- và giới thiệu vài nét về nguồn gốc của Gia tộc Lê Lai
Một nội dung quan trọng của luận văn là nghiên cứu những đóng góp của Lê Lai và Gia tộc của ông trong khởi nghĩa Lam Sơn
Luận văn còn dành một phần để nghiên cứu về những đóng góp của Gia tộc Lê Lai đối với v-ơng triều Lê Sơ từ 1428 đến 1527 và những ân điển của v-ơng triều Lê Sơ đối với Gia tộc Lê Lai Những nội dung khác không nằm trong phạm vi nghiên cứu của đề tài
4 Nguồn t- liệu và ph-ơng pháp nghiên cứu
4.2 Ph-ơng pháp nghiên cứu
Về ph-ơng pháp luận: Để giải quyết những vấn đề do đề tài đặt ra,
chúng tôi dựa vào chủ nghĩa duy vật biện chứng, đặc biệt là chủ nghĩa duy vật
Trang 13lịch sử Chúng tôi đã sử dụng triệt để quan điểm sử học Mác xít nhằm đánh giá khách quan, không thiên kiến những đóng góp của Lê Lai cùng Gia tộc trong khởi nghĩa Lam Sơn và v-ơng triều Lê Sơ Quan điểm sử học Mác xít cũng là kim chỉ nam để chúng tôi xử lý nguồn t- liệu đ-ợc các sử gia phong kiến biên soạn, trên tinh thần khoa học và đảm bảo tính lịch sử
Về ph-ơng pháp cụ thể: Trong luận văn, chúng tôi chủ yếu sử dụng
các ph-ơng pháp lịch sử, lôgíc lịch sử, ph-ơng pháp đối chiếu so sánh, ph-ơng pháp liên môn Đặc biệt là ph-ơng pháp xác minh điền giã trên hiện tr-ờng lịch sử Mục đích khôi phục một cách chân thực khách quan bức tranh tổng thể về những đóng góp của ng-ời anh hùng Lê Lai trong phong trào giải phóng dân tộc đầu thế kỷ XV và những đóng góp của Gia tộc ông cho v-ơng triều Lê Sơ mà đề tài luận văn đặt ra
5 Đóng góp của luận văn
5.1 Đây là công trình đầu tiên d-ới dạng một luận văn chuyên nghành,
đi sâu nghiên cứu đóng góp của một Gia tộc võ t-ớng là luận văn đầu tiên dựng lại một cách có hệ thống bức tranh mang tính tổng thể, toàn diện về chân dung ng-ời anh hùng Lê Lai cùng những đóng góp của Gia tộc ông trong phong trào giải phóng dân tộc đầu thế kỷ XV và xây dựng và bảo vệ quốc gia phong kiến Đại Việt thời Lê Sơ một cách rõ ràng, khách quan và trung thực
5.2 Luận văn là công trình khoa học, tài liệu tham khảo có giá trị giúp học sinh, sinh viên tìm hiểu về một số vấn đề trong cuộc “Khởi nghĩa Lam Sơn”, đặc biệt là sự nghiệp đánh giặc giữ nước của dân tộc ta mà đại diện là những đóng góp lớn lao của Gia tộc võ t-ớng Lê Lai trong khởi nghĩa Lam Sơn cũng nh- trong giai đoạn cũng cố và xây dựng v-ơng triều Lê Sơ Đây cũng là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách có hệ thống những ân điển của vua Lê Thái Tổ, Lê Thái Tông, Lê Thánh Tông đối với Gia tộc Lê Lai,
Trang 14từ đó góp phần nghiên cứu, hiểu rõ hơn về nhà n-ớc quân chủ Đại Việt thời
Lê Sơ
5.3 Luận văn là tài liệu tham khảo bổ ích, lí thú cho việc giảng dạy lịch
sử địa ph-ơng về danh nhân lịch sử Lê Lai, những giờ giảng dạy trên hiện tr-ờng lịch sử tại các địa ph-ơng thuộc địa bàn xứ Thanh, những vùng đất còn
in đậm dấu ấn của dòng họ Lê Lai cách đây hơn 5 thế kỷ
5.4 Cuối cùng, luận văn là một công trình khoa học bổ ích, thiết thực, góp phần giáo dục truyền thống của Gia tộc, dòng họ, quê h-ơng Từ đó thắp sáng thêm cho tinh thần con cháu trong Gia tộc Lê Lai hôm nay về tấm g-ơng chiến
đấu của ông cha x-a mà không ngừng tu d-ỡng, học tập và rèn luyện Tích cực tham gia vào công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc ngày nay
6 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, th- mục tài liệu tham khảo theo quy định của một luận văn Thạc sĩ, nội dung cơ bản của luận văn gồm ba ch-ơng:
Ch-ơng 1 Ngọc Lặc - vùng đất Gia tộc Lê Lai định c-
Ch-ơng 2 Đóng góp của Gia tộc Lê Lai trong khởi nghĩa Lam Sơn
(1418 - 1427) Ch-ơng 3 Đóng góp của Gia tộc Lê Lai đối với v-ơng triều Lê Sơ
(1428 - 1527)
Trang 15Nội dung Ch-ơng 1 Ngọc Lặc - vùng đất Gia Tộc Lê Lai định c-
1.1 Vài nét về điều kiện tự nhiên và xã hội
1.1.1 Điều kiện tự nhiên
Ngọc Lặc là một trong 11 huyện miền núi, nằm cách trung tâm tỉnh Thanh Hóa 77 km về phía Tây, có tọa độ địa lý 19055’ - 20017’ vĩ độ Bắc,
105031’ - 104057’ kinh độ Đông Phía Bắc giáp huyện Cẩm Thủy và huyện Bá Th-ớc, phía Nam giáp huyện Th-ờng Xuân, phía Đông giáp huyện Thọ Xuân
và huyện Yên Định, phía Tây giáp huyện Lang Chánh Ngọc Lặc là gạch nối giữa vùng châu thổ miền núi tỉnh Thanh Hóa, giàu tiềm năng kinh tế, có vị trí chiến l-ợc hiểm yếu trong các cuộc chiến ngoại xâm của dân tộc
Địa hình huyện Ngọc Lặc phức tạp và đa dạng Do nằm ở đồi núi phía Tây tỉnh Thanh Hóa thuộc vị trí giáp liền giữa hai vùng châu thổ và miền núi, lại ảnh h-ởng bởi đồi núi trung du và l-u vực sông Mã, sông Chu nên địa hình huyện Ngọc Lặc có nhiều núi đá vôi với hai dạng chính: Một vùng núi cao (chiếm 271.492 ha), với nhiều hang động kỳ thú thuộc các xã Thúy Sơn, Ngọc Sơn, Lộc Thịnh Rừng dày nhiều sản vật quý hiếm nh-: Lim, Lát hoa, Táu, Sến, Luồng
Hệ thống sông ngòi của huyện gồm 3 con sông chính: Sông Âm chảy từ biên giới Việt - Lào, chảy qua huyện Lang Chánh rồi chảy vào Ngọc Lặc về phía Tây Nam, qua các xã Vân Am, Phùng Giáo, Phùng Minh rồi đổ ra sông Chu Sông Cầu Chày chảy từ xã Thạch Lập đến Thúy Sơn chảy qua trung tâm huyện rồi chảy xuống các huyện Thọ Xuân, Yên Định, Thiệu Hóa rồi nhập vào sông Mã Sông Hép là con sông nằm ở phía Bắc và Đông Bắc huyện chảy qua các xã Ngọc Liên, Lộc Thịnh, Cao Thịnh Với một mạng l-ới sông ngòi,
Trang 16khe suối dày đặc đã tạo điều kiện thuận lợi cho Ngọc Lặc phát triển về kinh tế công nghiệp, nông nghiệp, giao thông, đ-ờng thủy và tạo ra đ-ợc các công trình thủy điện nhỏ phục vụ cho các xã Tuy nhiên với l-ợng sông suối nhiều cũng đã gây ra nhiều khó khăn cho huyện đó là l-ợng m-a lũ đầu nguồn lớn, làm thiệt hại đến nông nghiệp và tài sản của nhân dân cũng nh- việc đi lại khó khăn trong từng làng xã ở các xã vùng sâu, vùng xa của huyện
Thời tiết khí hậu Ngọc Lặc thuộc nhiệt đới gió mùa, th-ờng có gió Tây, khí sắc âm u, cho nên đến tháng tiểu hàn, đại hàn đã rét Mùa đông lạnh (từ tháng 10 năm tr-ớc đến tháng 3 năm sau), ít m-a có s-ơng giá, s-ơng muối Bình quân có từ 11 đến 13 ngày/năm, nh-ng do phân bố không đều trên năm nên th-ờng gây úng lụt về mùa m-a và hạn hán về mùa khô Nhiệt độ trung bình từ 230c - 270c, nhiệt độ cao khoảng 340c, những ngày có gió Tây (gió Lào) khô nóng nhiệt độ lên đến 410c Nhiệt độ và khí hậu thích hợp cho sự phát triển của rừng cây nhiệt đới trên địa bàn huyện Ngọc Lặc [12; 8]
Giao thông vận tải x-a kia của huyện chủ yếu là trên hai con đ-ờng chính: Đ-ờng sông và đ-ờng bộ Đ-ờng sông chủ yếu trên 3 con sông lớn: Sông Âm, sông Cầu Chày và sông Hép Theo đ-ờng sông chúng ta có thể đặt chân lên nhiều vùng đất của huyện Ngọc Lặc Sông Âm và sông Cầu Chày nối với sông Chu và sông Mã là hai con sông lớn nhất nhì ở xứ Thanh, có nhiều phù l-u tỏa khắp các vùnh trong và ngoài tỉnh Bởi vậy vốn là cửa ngỏ của miền núi với miền xuôi xứ Thanh nên đ-ờng sông Ngọc Lặc đã nối liền miền ng-ợc với miền xuôi trong tỉnh và ngoài tỉnh và trở thành tuyến đ-ờng trọng yếu phục vụ cho kinh tế và giao l-u văn hóa giữa các huyện với nhau Đ-ờng
bộ của Ngọc Lặc gồm hai con đ-ờng chính: Đ-ờng quốc lộ 15A và đ-ờng
519, đ-ờng 15A chạy qua huyện dài 35 Km (Từ huyện Thọ Xuân chạy qua Ngọc Lặc đi Lang Chánh) Đ-ờng 519 có độ dài qua huyện là 15 Km (Từ trung tâm huyện chạy sang Cẩm Thủy) Ngày nay có thêm một con đ-ờng,
đ-ờng Hồ Chí Minh chạy qua huyện Ngọc Lặc nối liền với các huyện khác, ra
Trang 17Bắc và vào Nam Ngoài ra còn có các con đ-ờng liên thôn, liên xã đ-ợc mở mang tu sửa thuận lợi cho việc đi lại và giao l-u, vận chuyển hàng hóa giữa các vùng trong huyện và các tỉnh
Khoáng sản, trên đất Ngọc Lặc đã phát hiện một số loại khoáng sản nh-: Mỏ sắt ở làng Sam (xã Cao Ngọc), Mỏ quặng Cromit tại làng Môn (xã Phùng Giáo), Mỏ Đồng ở Đồng Trôi (xã Lộc Thịnh), nguyên liệu phân bón hóa chất có mỏ phốtphoric ở (xã Lộc Thịnh) là nơi có sản l-ợng lớn nhất với trữ l-ợng 74.689 tấn [12; 8] Mỏ than ở (xã Nguyệt ấn), nguyên liệu sành sứ, thủy tinh masalat ở (xã Mỹ Tân), ngoài ra còn có đất sét để sản xuất gạch, ngói và các núi đá vôi phục vụ cho sản xuất và xây dựng
Thiên nhiên đã tạo cho mảnh đất Ngọc Lặc màu mỡ, giàu tài nguyên thiên nhiên và khoáng sản để phát triển kinh tế, văn hóa, song thiên nhiên cũng gây không ít khó khăn cho việc phát triển kinh tế ở Ngọc Lặc nh- khí hậu khắc nghiệt hạn hán, lũ lụt Tuy nhiên từ trong gian khó đã thử thách hun
đúc nên phẩm chất cao đẹp của đồng bào các dân tộc Ngọc Lặc đã phát huy -u thế và điều kiện tự nhiên, văn hóa, quốc phòng ở tỉnh Thanh Hoá
1.1.2 Điều kiện xã hội
Trên mảnh đất Ngọc Lặc c- dân chủ yếu là đồng bào các dân tộc M-ờng, Kinh, Dao, Thái cùng sinh sống, tuy mỗi dân tộc có những nét văn hoá riêng, các phong tục tập quán, nét sinh hoạt, cách làm ăn sinh sống khác nhau Song
họ đều có chung tinh thần yêu quê h-ơng đất n-ớc, trãi qua các cuộc kháng chiến chống kẻ thù xâm l-ợc đồng bào các dân tộc trên địa bàn huyện Ngọc Lặc đã cống hiến sức ng-ời, sức của cho tiền tuyến ở những thế kỷ tr-ớc cũng nh- giai đoạn sau này cho công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc
Cộng đồng các dân tộc huyện Ngọc Lặc nh- ng-ời M-ờng, Dao, Thái, Kinh cùng chung sống từ lâu đời đã đóng góp xứng đáng vào công cuộc dựng n-ớc, giữ n-ớc của dân tộc ta Đồng thời hun đúc những giá trị lịch sử văn hóa
và đậm đà bản sắc dân tộc
Trang 18Ng-ời M-ờng Ngọc Lặc đã đóng góp vào nền văn hóa lâu đời của dân tộc Mường với Sử thi “Đẻ đất, đẻ nước”, dân ca Xường, Bọ Mẹng , lễ tục Pô
ồn Pô ông: Hát múa quay quanh cây hoa -ớc mong cuộc sống yên lành với nhạc đệm, trống, chiêng, sáo ôi, giả ống âm vang, sôi động và đầm thắm Hội “xéc bùa” với dàn cồng chiêng 12 chiếc do 12 cô gái Mường trong trang phục hoa văn rực rỡ, duyên dáng trình diễn t-ợng tr-ng cho 12 tháng trong năm Dàn nhạc cồng chiêng M-ờng Ngọc Lặc cũng nh- nhiều vùng dân tộc M-ờng luôn gắn với nghi thức và tham gia vào tất cả sự kiện của bản M-ờng
Dân tộc Thái, với chữ viết, tiếng nói, trang phục dân ca (Khặp Thái) hát múa, nghi lễ, các trò diễn kin chiêng, Booc Mạy, cá sa, phấn chả (quanh cây hoa), Coong Giàn (coong lớn), kèn bè âm vang, réo rắt, diễn tấu “khua luống” vui nhộn Đã đóng góp vào nền văn hóa của đồng bào các dân tộc Ngọc Lặc những nét đặc sắc
Sự đan xen văn hóa các dân tộc cùng chung sống trên đất Ngọc Lặc
đ-ợc thể hiện rõ nét ở một hệ thống đền thờ thiên nhiên, nhân thần và đình thờ Thành Hoàng Các thần và thành Hoàng đ-ợc thờ ở Ngọc Lặc gồm đông đảo những ng-ời có công với đất n-ớc dân tộc nh- anh hùng dân tộc Lê Lợi, các khai quốc công thần thời Lê thế kỷ XV nh- Lê Lai (ở Kiên Thọ); Đinh Lễ,
Đinh Bộ, Đinh Liệt (ở xã Minh Tiến), Phạm Cuống (xã Vân Am)
Từ những năm 20 của thế kỷ XX những nhà khảo cổ học ng-ời Pháp đã phát hiện một số huyện miền núi xứ Thanh nh- huyện Cẩm Thủy, Bá Th-ớc, Thạch Thành, Ngọc Lặc Những di chỉ c- trú của dân c- trong thời đại đá mới (thuộc văn hóa Hòa Bình) cách ngày nay khoảng 11.000 năm Cũng nh- ở các nơi khác, ở Ngọc Lặc c- dân thời đại mới c- trú trong các hang động mái
đá cạnh bờ suối nh- các hang Mộc Thạch, Lộc Thịnh I, Lộc Thịnh II v.v , ph-ơng thức kinh tế chủ yếu là săn bắt, hái l-ợm và bắt đầu đã sơ khai nền kinh tế nông nghiệp Tại các địa điểm khảo cổ cho biết ng-ời Ngọc Lặc thủa
đó đã có tổ chức xã hội sơ khai Các bếp nấu các nơi c- trú gần nhau, các mộ
Trang 19táng chôn theo những công cụ lao động, đồ dùng sinh hoạt hay đồ trang sức Các nghi lễ tôn giáo đã có mặt trong đời sống tinh thần của họ
Vào thời văn hóa Đông Sơn trên mảnh đất Ngọc Lặc phát hiện đ-ợc các nhóm đồ đồng Đông Sơn khá phong phú gồm công cụ, vũ khí và những chiếc trống Đồng đ-ợc phát hiện nhiều nơi trên địa bàn huyện Ngọc Lặc Di chỉ khảo cổ Mã Mè, di chỉ núi Mú ở xã Nguyệt ấn là dấu vết về chòm, bản,làng
Thời dựng n-ớc Ngọc Lặc thuộc vùng đất bộ Cửu Chân, một trong 15 bộ thuộc v-ơng quốc Văn Lang của Vua Hùng Cho đến nay theo quan điểm của nhiều nhà khảo cổ học thì ng-ời M-ờng c- trú ở đây rất đông và có cùng nguồn gốc với ng-ời Việt (Kinh) và chắc chắc là c- dân bản địa của Ngọc Lặc
Đến đầu công nguyên Ngọc Lặc là miền đất thuộc huyện Đô Lung Thời thuộc Hán (Năm 111 tr-ớc công nguyên) năm 210 Ngọc Lặc thuộc huyện Võ Biên Thời thuộc Tùy - Đ-ờng (581 - 905) miền đất Ngọc Lặc thuộc huyện Di Phong rồi huyện Tr-ờng Lâm đến tận thời Đinh - Tiền
đều tham gia khởi nghĩa từ những ngày đầu Hai cha con quan lang ng-ời M-ờng ở Ngọc Châu (Kiên Thọ) là Lê Hiển, Lê H-u cũng sớm đứng d-ới cờ khởi nghĩa
Trang 20Đất Ngọc Lặc trở thành căn cứ tích trữ l-ơng thực, khí giới, luyện quân của Lê Lợi Tại Vân Am, t-ớng Phạm Công Cuống trực tiếp thu gom cất giấu l-ơng thực cho nghĩa quân do nhân dân tích cực giúp đỡ ở đây hiện vẫn còn
di tích một bãi tập của nghĩa quân Lam Sơn tại thôn Long Sơn (xã Nguyệt ấn) một vùng bằng phẳng, rộng khoảng 6 ha, nằm d-ới chân núi Tạt, quanh bãi có suối nhỏ bao quanh Nhân dân địa phương thường gọi là “Hấp ông Lê” Tiếng Mường nghĩa là “Bãi tập ông Lê Lợi” ở cách Lam Sơn 10 km về phía Tây Bắc
Đặc biệt hơn cả, Lê Lai và Gia tộc của ông đã nêu cao tấm g-ơng chiến
đấu hy sinh vì sự tồn vong của sự nghiệp “cứu dân, cứu nước” hành động tự nguyện đổi áo cải trang thành “Chúa Lam Sơn” lĩnh 500 quân và hai thớt voi chiến xông ra tập kích quân Minh để giải vây cho nghĩa quân Lam Sơn của Lê Lai là tấm g-ơng hy sinh vĩ đại đã mở đ-ờng sống cho toàn bộ lực l-ợng cuộc khởi nghĩa Chính vì thế tấm g-ơng đó đã trở thành tiểu l-ợng cao đẹp rực rỡ
và tự hào nhất của nhân dân Ngọc Lặc nói riêng và Thanh Hóa nói chung trong cuộc kháng chiến chống giặc Minh ở thế kỷ XV và những cuộc kháng chiến chống ngoại xâm của dân tộc sau này
Thời Hậu Lê - năm Quang Thuận thứ 10 (1469) Ngọc Lặc thuộc huyện L-ơng Giang phủ Thiệu Thiên
Thời Nguyễn là phần đất của huyện Thụy Nguyên (không còn huyện Nga Lạc nữa)
Năm Thành Thái 12 (1900) cắt tổng Ngọc Lặc và cả xã ng-ời M-ờng thuộc tổng Yên T-ờng, Quảng Thi (huyện Thụy Nguyên phủ Thiệu Hóa), thành lập Châu Ngọc, sau là Châu Ngọc Lặc, Ngọc Lặc thời kỳ này gồm 4 tổng: Hạt Cao, Ngọc Khê, Cốc Xá và Vân Am Trên cơ sở 17 m-ờng (Rặc, Lập, Yến, Tạ, Chẹ, Ngôn, M-ờng Vin, Vim, Um, R-ờng, Lộc Thịnh, Ngọc Trung, Mỹ Lâm, Bằng, Phủ Yên) sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 bỏ Châu đổi là huyện Ngọc Lặc [11; 15]
Trang 21Ngày 5/7/1977, theo quyết định số 177-CP của Hội đồng Chính phủ sáp nhập 2 huyện Ngọc Lặc và Lang Chánh gọi là huyện L-ơng Ngọc
Ngày 30/8/1982 theo quyết định số 149 - HĐBT của hội đồng Bộ tr-ởng chia L-ơng Ngọc thành hai huyện Ngọc Lặc và Lang Chánh và giữ nguyên tên gọi đến ngày nay
Hiện nay huyện Ngọc Lặc có 20 xã và 3 thị trấn: Phùng Giáo, Phùng Minh, Phúc Thịnh, Nguyết ấn, Kim Thọ, Minh Tiến Minh Sơn, Ngọc Trung, Ngọc Sơn, Ngọc Liên, Cao Thịnh, Lộc Thịnh, Quang Trung, Thúy Sơn, Thạch Lập, Ngọc Khê, Mỹ Tân, Cao Ngọc, Vân Am; 3 thị trấn: Phố Công (huyện lỵ) Thị trấn Nông tr-ờng sông Âm, Thị trấn Nông tr-ờng Lam Sơn [12, 28]
Với tinh thần yêu n-ớc và truyền thống của c- dân Ngọc Lặc đến cuối thế kỷ XIX, thực dân Pháp xâm l-ợc n-ớc ta, kẻ thù mới lúc này vừa có tiềm lực quân sự, vừa có tiềm lực kinh tế t- bản chủ nghĩa Mặc dù vậy nhân dân ta vẫn không cam chịu khuất phục Lòng yêu n-ớc trong mọi tầng lớp nhân dân lại bùng lên hơn bao giờ hết
H-ởng ứng chiếu Cần V-ơng của vua Hàm Nghi (1885) đồng bào các dân tộc Ngọc Lặc đã dấy lên phong trào chống giặc Pháp mãnh liệt Nhân dân
đã cùng với nghĩa quân Hà Văn Mao và Cầm Bá Th-ớc phối hợp chiến đấu, đã
đánh lui nhiều cuộc tiến công của quân thù vào căn cứ khởi nghĩa Đà Giám (thuộc xã Quang Trung), thủ lĩnh Hà Văn Mao đã dựa vào thế hiểm yếu, lập phòng tuyến chống giặc và xây dựng đồn Mã Cao Nhân các tổng Ngọc Lặc tham gia sự nghiệp cứu n-ớc
Không chỉ đánh Pháp trên đất Ngọc Lặc, nhiều ng-ời con của Ngọc Lặc
đã tham gia trận đánh mở màn ở đập Bái Th-ợng (thuộc huyện Thọ Xuân) trận đánh ở Điền L- (Bá Th-ớc)
Phong trào Cần V-ơng chống Pháp ở Thanh Hóa cũng nh- cả n-ớc bị quân thù đàn áp đẫm máu và thất bại Nh-ng ngọn lửa chống Pháp vẫn âm ỉ cháy và nhân dân Ngọc Lặc cùng với nhân dân tỉnh Thanh tiếp tục h-ởng ứng
Trang 22các phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc theo khuynh h-ớng t- t-ởng của Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Nguyễn Thái Học lãnh đạo Nh-ng đến những năm 30 của thế kỷ XX ánh sáng của Đảng đã rọi tới, h-ớng đồng bào các dân tộc Ngọc Lặc đi theo con đ-ờng cách mạng vô sản đánh đuổi thực dân phong kiến lãnh đạo nhân dân ta giành độc lập tự do cho dân tộc
Ngày 3/2/1930, Đảng cộng sản Việt Nam ra đời Sự kiện lịch sử trọng
đại ấy đã đánh dấu b-ớc ngoặt lớn trong phong trào cách mạng n-ớc ta Từ
đây các địa ph-ơng nhanh chóng thành lập Đảng bộ để đáp ứng yêu cầu lịch
sử đòi hỏi trên quê h-ơng mình Ngày 29/7/1930, Đảng bộ Thanh Hóa đ-ợc thành lập, đồng bào các dân tộc Ngọc Lặc theo Đảng vùng dậy đấu tranh giải quyết mâu thuẫn dân tộc, mâu thuẫn giai cấp mở đ-ờng cho xã hội phát triển
Ngọn đuốc soi đ-ờng của Đảng dẫn dắt đồng bào các dân tộc Ngọc Lặc tham gia phong trào đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ thời kỳ 1936 - 1939, tham gia phong trào phản đế cứu quốc thời kỳ 1940 - 1941 thổi bùng lên ngọn lửa chiến khu Ngọc Trạo thiêng liêng, quả cảm và tiến tới phong trào Việt Minh thời kỳ 1941 - 1945 vùng lên đấu tranh giành chính quyền về tay nhân dân
Ngày 23/8/1945, đ-ợc sự hỗ trợ của lực l-ợng khởi nghĩa Thọ Xuân, Cẩm Thủy, Yên Định, quần chúng cách mạng Ngọc Lặc đã kéo về châu lỵ, đánh đổ
ách cai trị của chế độ thực dân phong kiến thiết lập chính quyền cách mạng, góp phần cùng cả tỉnh, cả n-ớc mở ra kỷ nguyên độc lập tự do và CNXH
H-ởng ứng lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Trung -ơng, Hồ Chí Minh, đồng bào các dân tộc Ngọc Lặc một lòng đoàn kết đánh đuổi thực dân Pháp xâm l-ợc
Ngày 27/8/1949, chi bộ Cộng sản đầu tiên - chi bộ Bắc Sơn ra đời trên quê h-ơng Ngọc Lặc Sự phát triển nhanh chóng của chi bộ Bắc Sơn đã đặt nền tảng cho việc ra đời của Đảng bộ Ngọc Lặc và Huyện ủy lâm thời vào tháng 12/1950 Với sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng bộ, đồng bào các dân tộc Ngọc Lặc tích cực xây dựng, bảo vệ hậu ph-ơng đóng góp cao nhất nhiều nhất
Trang 23sức ng-ời, sức của cho các cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc giành thắng lợi quyết định
Trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, Ngọc Lặc đã huy động 14.667 ng-ời con -u tú vào bộ đội, 456 thanh niên xung phong, 4.210 dân công hỏa tuyến (đặc biệt là thời kỳ chống Mỹ cứu n-ớc, Ngọc Lặc đã chi viện cho chiến tr-ờng Quảng Trị trung đội du kích Bắc Sơn, đơn vị đã chiến đấu dũng cảm, lập công xuất sắc đ-ợc tặng th-ởng huân ch-ơng chiến công hạng nhất) Trong chiến đấu và công tác đã có 1.277 chiến sỹ đã hy sinh to lớn, Ngọc Lặc đã đ-ợc Nhà n-ớc phong tặng danh hiệu 23 Bà mẹ Việt Nam anh hùng, 2 Anh hùng lực l-ợng vũ trang nhân dân, 1 Anh hùng lao động Toàn huyện đ-ợc tặng th-ởng 4.437 huân huy ch-ơng kháng chiến [12, 145]
Nh- vậy lịch sử xã hội vùng đất Ngọc Lặc từ nhiều thế kỷ tr-ớc thực sự
đã có một bề dày truyền thống hun đúc nên những con ng-ời anh hùng, những danh gia vọng tộc mà tên tuổi của họ mãi gắn liền với thời gian và cùng với cả n-ớc và cả dân tộc trãi qua rất nhiều thử thách gian nan xứng đáng với truyền thống đánh giặc giữ n-ớc của c- dân Ngọc Lặc từ xa x-a mà điển hình là
đóng góp của Gia tộc Lê Lai trong khởi nghĩa Lam Sơn và v-ơng triều Lê Sơ ở thế kỷ XV
1.2 Quá trình định c- và phát triển của Gia tộc Lê Lai trên đất Ngọc Lặc
Ngọc Lặc từ xa x-a là địa bàn c- trú của nhiều dân tộc khác nhau nh- ng-ời M-ờng, Dao, Thái, Kinh cùng chung sống đã đóng góp xứng đáng vào công cuộc dựng n-ớc, giữ n-ớc của dân tộc Đồng thời hun đúc những giá trị lịch sử văn hóa và đậm đà bản sắc dân tộc cho quê h-ơng
Ngày nay dân số toàn huyện Ngọc Lặc tính đến năm 2005 là 140.201 ng-ời, trong đó Dân tộc M-ờng có 94.011 ng-ời chiếm 68,5 tổng dân số, Dân tộc kinh có 40.624 ng-ời chiếm 29,6% tổng dân số, Dân tộc Giao có 1.386 ng-ời chiếm 1,01% tổng dân số, Dân tộc Thái có 1.043 ng-ời chiếm 0,76% tổng dân số Các dân tộc khác có 178 ng-ời chiếm 0,13% tổng dân số
Trang 24Quá trình định c- của Gia tộc Lê Lai trên đất Ngọc Lặc cho tới ngày nay vẫn ch-a tìm thấy nguồn tài liệu nào nhắc tới nh-ng theo t-ơng truyền thì Gia tộc Lê Lai là quý tộc ng-ời M-ờng ở vùng miền Tây Thanh Hoá Từ xa x-a cho tới ngày nay bà con dân tộc M-ờng ở vùng Ngọc Lặc vẫn thừa nhận
“Lê Lai là tổ của mình‛ [29, 40] Vấn đề này đang còn đợi nghiên cứu, xong
quê h-ơng Lê Lai từ tr-ớc tới nay thì đúng là nơi c- trú của dân tộc M-ờng
Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo là cuộc chiến tranh giải phóng mang tính nhân dân sâu sắc Nét độc đáo của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
là ngoài việc thu hút đông đảo các anh hùng nghĩa sĩ trong n-ớc nô nức về tựu nghĩa còn đ-ợc sự ủng hộ trực tiếp mạnh mẽ của nhân dân tại chỗ từ ng-ời Kinh đến các dân tộc thiểu số Có thể kể trong danh sách 18 ng-ời ở Hội thề Lũng Nhai đã có ít nhất là 5 ng-ời thuộc dân tộc ít ng-ời đó là Lê Thận, Lê Hiểm, Phạm Lôi, Đinh Lan Sự đóng góp của nhân dân địa ph-ơng tr-ớc hết
là đồng bào dân tộc miền núi không phải chỉ 1 hoặc 2 ng-ời có chí quyết lập công to giết giặc mà là cả toàn dân từ bà già, trai tráng, cả quan lang đều theo
Lê Lợi hưởng ứng cờ khởi nghĩa Số người gia nhập nghĩa quân “theo chật suối chật rừng” ấy tuyệt đại đa số là đồng bào các dân tộc Nhiều ng-ời con -u tú của Ngọc Lặc tham gia khởi nghĩa ngay từ những ngày đầu mới nhen nhóm nh- Hai cha con quan lang ng-ời M-ờng ở (Ngọc Châu Kiên Thọ) là Lê Hiển, Lê H-u cũng sớm đứng d-ới cờ khởi nghĩa Nh-ng tiêu biểu nhất là Gia tộc Lê Lai đời đời làm phụ đạo trên đất Dựng Tú (Kiên Thọ - Ngọc Lặc)
Tổ tiên của Lê Lai đời đời làm phụ đạo ở vùng Dựng Tú - Sách Đức giang, giờ đây là xã Kiên Thọ huyện Ngọc Lặc tỉnh Thanh Hoá và cũng là láng giềng gần gũi với sách Lam Sơn của Lê Lợi Theo “Lam sơn thực lục” thôn Nh- áng thuộc h-ơng Lam Sơn, huyện l-ơng Giang phủ Thanh hoá (ngày nay là xã Xuân Lam huyện Thọ Xuân tỉnh Thanh Hoá) ở đây có những cánh đồng th-a và đồi núi thấp xen kẽ những cánh đồng nhỏ hẹp Núi đồi đá
Trang 25thuộc thôn Nh- áng là ngọn núi cao nhất vùng Lam Sơn xung quanh Lam Sơn là khu vực dân c- trú t-ơng đối đông đúc, các bản làng của ng-ời M-ờng, Thái và ng-ời Kinh đã sinh cơ lập nghiệp dọc theo dòng sông L-ơng từ nhiều thế kỷ Giao thông đi lại giữa các vùng lân cận rất thuận lợi Vì vậy, đây chính
là cơ sở vật chất tinh thần ban đầu cho “Lam Sơn tụ nghĩa”
Theo lời kể của bác Bùi Huy Quang thủ từ đền thờ Trung Túc V-ơng
Lê Lai thì Lê Lợi sinh năm 1383 và Lê Lai sinh năm 1355, tuy lệch nhau về tuổi đời, nh-ng cùng chí h-ớng và ngang chức vụ ở hai vùng Đức Giang và Khả Lam nên hai ông rất thân với nhau Vì vậy, ngay từ những ngày đầu nhen lủa của cuộc khởi nghĩa thì Lê Lai đã tự nguyện cùng cả Gia tộc về Nh- áng
đứng d-ới lá cờ khởi nghĩa Lam Sơn
Cụ thân sinh ra Lê Lai là Lê Kiều, mẹ là Lê Thị Kiệu và sinh đ-ợc hai ng-ời con trai Con tr-ởng là Lê Lạn, con thứ là Lê Lai Lê Lạn theo vua thái
Tổ (tức Lê Lợi) khởi binh từ những ngày đầu và có nhiều công lao Năm ất tỵ
1425 đánh ở ải Khả L-u, ông hy sinh, sau tặng là thái phó Hiệp Trung hầu,
gia tặng là Hiệp quận công Còn Lê Lai thì ‚Đại việt thông sử‛ chép: “Lê Lai
tính c-ơng trực, dung mạo khác th-ờng, chí cao cả lẫm liệt, lo việc hậu cận cho vua Thái Tổ rất chu đáo, công lao rõ rệt‛ [19, 156]
Mùa đông năm bính thân 1416 Lê Lợi cùng 18 vị t-ớng thân cận, liên danh hội thề sống chết có nhau, văn thề nh- sau:
‚niên hiệu thiên khánh thứ nhất, năm Bính thân tháng 2, qua ngày Kỷ mão là ngày sóc, đến ngày 12 là Canh dần
Phụ đạo lộ khả lam n-ớc an nam là Lê lợi cùng Lê lai, lê thận, lê văn an, lê văn linh, trịnh khả, tr-ơng lôi, lê liễu, bùi quốc h-ng, lê ninh, lê hiểm, vũ uy, nguyễn trãi, đinh liệt, lê nhân chú, lê bồi, lê lý,
đinh lan, tr-ơng chiến kính đem lễ vật, sinh huyết tấu cáo cùng hạo thiên
Trang 26th-ợng đế, hậu thổ hoàng địa và các tôn linh thần bậc th-ợng, trung, hạ coi sông núi ở các xứ n-ớc ta
Cúi xin chứng giám cho:
Rằng có bạn ở ph-ơng xa đến, kết giao vui vẻ, cùng giữ lòng tin Vì thế phải có lễ tấu cáo
Nay ở trong n-ớc, tôi là phụ đạo lê lợi cùng với lê lai đến tr-ơng chiến, 19 ng-ời Tuy họ hàng quê quán khác nhau, nh-ng kết nghĩa thân nhau nh- một tổ liền cành Phận vinh hiển đều có khác nhau, mong có tình nh- cùng chung một họ
[có kẻ] bằng đảng xâm chiếm n-ớc ta, qua cửa quan làm hại, nên lê
lợi cùng lê lai đến tr-ơng chiến, 19 ng-ời chung sức đồng lòng, giữ gìn đất n-ớc làm cho xóm làng đ-ợc ăn ở yên lành thề sống chết cùng nhau, không giám quên lời thề son sắt
Tôi cúi xin trời đất và các vị thần linh chứng giám, ban cho trăm phúc, đến thân mình, nhà mình, con cháu trong họ hàng đều đ-ợc yên vui h-ởng lộc trời
Nếu nh- lê lợi cùng lê lai đến tr-ơng chiến sinh lòng này khác, cầu
ơn hiện tại, núp bóng quân thù, không cùng một lòng, quên lời thề -ớc Chúng tôi nguyện trời đất và các thần linh giáng trăm tai -ơng trị mình cho đến họ hàng, con cháu đều bị tru diệt, chịu hết hình phạt của trời
kính xin có lời thề [38, 134]
Lê Lai tham dự hội thề và đứng thứ tự thứ hai sau Lê Lợi, sau hội thề lịch sử này ông đ-ợc trao chức Tổng quản phủ Đô tổng quản, t-ớc Quan Nội hầu quan nội hầu là t-ớc vị cao nhất mà lê lợi đã phong cho các t-ớng d-ới quyền tổng quản là chức đứng đầu, còn phủ đô tổng quản là cơ quan
Trang 27trực thuộc bộ chỉ huy, chịu trách nhiệm về hậu cần, xây dựng đại bản doanh
và bảo vệ bình định v-ơng Lê Lợi cùng các t-ớng trong bộ chỉ huy
Năm mậu tuất 1418, lúc mới dựng cờ khởi nghĩa, t-ớng ít, quân thiếu, bị giặc Minh bao vây Lê Lai đã anh dũng hy sinh để mở lối thoát cho nghĩa quân và sau này ông đ-ợc ban tặng nhiều nhiều chức t-ớc, sau là trung túc v-ơng
Trong cuộc kháng chiến chống quân Minh, Gia tộc Lê Lai đã hy sinh vì
sự nghiệp giành độc lập cho đất n-ớc cả thảy 5 ng-ời và cũng hiếm có Gia tộc nào cả 5 người đều là tướng giỏi, là cánh tay đắc lực cho sự nghiệp “Bình Ngô” của Bình Định v-ơng Lê Lợi
Anh trai Lê Lạn cùng ba con trai của Lê Lai là Lê Lô, Lê Lộ và Lê Lâm Tất cả đều là những t-ớng tài của nghĩa quân và đều hy sinh vì n-ớc:
- Lê Lạn (Anh ruột Lê Lai)
- Lê Lai (Dịch bào thế quốc)
- Lê Lô (Con trai Lê Lai)
- Lê Lộ (Con trai Lê Lai)
- Lê Lâm (Con trai Lê Lai)
Lê Lộ sinh ba con trai, là Tích, Tung, Dũng, đều có công trạng, đ-ợc phong hầu Tích sinh ra D-ợc, D-ợc lại sinh ra ba con trai, là Liệp, Hiệp, Quỵ,
đều đ-ợc tập t-ớc
Lê Lâm sinh con trai Lê Niệm Trong suốt hai đời vua của nhà Lê Sơ:
Lê Nhân Tông (1442- 1459), Lê Thánh Tông (1460-1497), Lê Niệm là một trong những tôi hiền đ-ợc đắc dụng Lê Niệm có 25 ng-ời con, trong đó có
15 ng-ời con trai, 3 ng-ời Tuớc hầu, 2 ng-ời T-ớc bá, 2 ng-ời làm Tả đô
đốc, 1 ng-ời làm Th-ợng th- và 10 ng-ời con gái thì 1 ng-ời làm Hoàng Hậu, 1ng-ời là Cung tần Con trai thứ t- là Lê Khủng làm chức Tham đốc, theo đi đánh chiêm thành bị chết, tặng là Thái bảo Thuần quận công con
Trang 28trai thứ 5 là Lê ý, t-ớc Diên Trực hầu, theo đi đánh Chiêm Thành có công, phong là Thuần chính Tuyên lực công thần Tả đô đốc, ch-ởng phủ sự Diên quận công con thứ 2 tên là Lê Chí làm chức Tả đô đốc, theo đi đánh Chiêm Thành bắt đ-ợc giặc Trà Toàn đ-ợc phong t-ớc Bình L-ơng bá, sau đó tiến phong lên Bình L-ơng hầu
Lê Chí có 5 ng-ời con trai, 1 ng-ời đ-ợc phong T-ớc công, 2 ng-ời
phong T-ớc hầu, 1 ng-ời T-ớc bá, 1 ng-ời làm Phò mã Nh- ‚Đại Việt thông
sử‛ đánh giá là: “gia đình quý hiển không ai sánh kịp‛ [19, 164]
Cháu xa đời Nhân L-ơng Hầu Lê công Thái, tín quận công lê công
từ, thờ vua trang tông và thế tổ thái v-ơng tức trịnh kiểm nhiều lần lập công, đều làm đến chức Thái bảo, phong là tuyên lực công thần đến các ông nghĩa lộc hầu công trừng, hoằng lễ hầu công giới, thờ vua thần tông và văn tổ nghị v-ơng tức trịnh tráng, th-ờng đi theo hộ vệ, và ra sức đánh dẹp
đều đ-ợc phong là d-ơng vũ uy dũng tán trị công thần
Ngày nay, con cháu gia tộc Lê Lai đã di c- đến sinh sống trên mọi miền tổ quốc nh- ở xã Hoằng Hải huyện Hoằng Hoá tỉnh Thanh Hoá, huyện Diễn Châu, Quỳnh L-u tỉnh Nghệ An, tỉnh Ninh Bình, Tp.Hà Nội, tỉnh Thái Bình, tỉnh Hà Tĩnh Lịch sử đã trải qua hàng ngàn năm, nhiều tấm g-ơng hy sinh cao cả xuất hiện liên tiếp trong từng thời kỳ lịch sử mà tiêu biểu nhất là hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ của nhân dân ta, con cháu của gia tộc Lê Lai phát huy truyền thống cha ông cũng đã có những đóng góp rất
to lớn cho độc lập dân tộc và bảo vệ tổ quốc Việt Nam
Tiêu biểu trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc
Mỹ, chỉ riêng con cháu Gia tộc Lê Lai nhánh Hoằng Hoá đã có 1200 thanh niên lên đ-ờng nhập ngũ, trong đó có 186 liệt sỹ, 82 ng-ời th-ơng binh, 114
Trang 29ng-ời bệnh binh, nhiều ng-ời giữ chức vụ cao trong quân đội Đ-ợc Đảng và Nhà n-ớc phong tặng, truy tặng 250 huân Huy ch-ơng các loại, 35 Dũng sỹ diệt Mỹ, 80 Chiến sỹ thi đua và Chiến sỹ quyết thắng
Hàng trăm con em đã và đang học ở các tr-ờng Đại học trong và ngoài n-ớc, trong đó có trên 100 ng-ời là Tiến Sĩ, Thạc Sĩ, Kỹ S-, Bác Sĩ, Giáo viên, Chuyên viên kỹ thuật, Giám đốc, Cán bộ trung-cao cấp của Đảng và Nhà n-ớc
Đến nay có ng-ời đã anh dũng hy sinh, có ng-ời đã nghỉ h-u, mất sức,
có ng-ời phục viên, có ng-ời còn tại ngũ hoặc dang công tác học tập trên mọi miền tổ quốc, hầu hết đều giữ vững và phát huy truyền thống cách mạng của
ông cha, luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ đ-ợc giao
Vì vậy, Lê Lai và gia tộc của ông xứng đáng ‚Cả một nhà trung nghĩa,
vì n-ớc bỏ mình‛ trở thành một biểu t-ợng cao đẹp rực rỡ nhất của lòng yêu
n-ớc quên mình vì độc lập của dân tộc ở thế kỷ XV cũng nh- thế kỷ XX Mãi mãi trở thành niềm tự hào của nhiều thế hệ con cháu trong Gia tộc
Từ điều kiện tự nhiên thuận lợi cũng đã tạo điều kiện cho xã hội ở đây phong phú với sự định c- tập trung trên mảnh đất Ngọc Lặc, c- dân chủ yếu là
đồng bào các dân tộc M-ờng, Kinh, Dao, Thái cùng sinh sống, trong đó dân tộc M-ờng có số l-ợng đông nhất Tuy mỗi dân tộc có những nét văn hoá riêng, các phong tục tập quán, nét sinh hoạt, cách làm ăn sinh sống khác nhau Song họ đều có chung tinh thần yêu quê h-ơng đất n-ớc, trãi qua các cuộc
Trang 30kháng chiến chống kẻ thù xâm l-ợc đồng bào các dân tộc trên địa bàn huyện Ngọc Lặc đã cống hiến sức ng-ời, sức của cho tiền tuyến ở những thế kỷ tr-ớc cũng nh- giai đoạn sau này cho công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc
Trãi qua lịch sử, đ-a đến sự thay đổi về địa giới hành chính, tên gọi cũng thay đổi qua các thời kỳ, nh-ng truyền thống yêu n-ớc sẵn sàng hy sinh vì nghĩa lớn vì giang sơn xã tắc - độc lập dân tộc vẫn đ-ợc nhân dân nơi đây duy trì từ thế hệ này qua thế hệ khác mà đặc biệt và nổi trội hơn cả đó là tấm g-ơng hy sinh cống hiến của Lê Lai và Gia tộc ông cho quốc gia Đại Việt ở thế kỷ XV và ở những giai đoạn sau này
Không chỉ có những đóng góp cho khởi nghĩa Lam Sơn và v-ơng triều
Lê Sơ ở thế kỷ XV mà cho tới ngày nay con cháu trong Gia tộc Lê Lai vẫn cống hiến đóng sức ng-ời, sức của cho đất n-ớc ở thế kỷ XX cũng nh- thế kỷ XXI Trãi qua hơn 5 thế kỷ, với sự phát triển thì ngày nay con cháu Gia tộc Lê Lai đã di c- đến nhiều vùng đất khác nhau của đất n-ớc, nh-ng những truyền thống yêu n-ớc của miền đất quê cha đất tổ vẫn đ-ợc các thế hệ truyền nhau
đời đời xứng đáng với tinh thần yêu n-ớc của cả một Gia tộc
Trang 31Phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc đầu thế kỷ XV mà tiêu biểu đó
là cuộc khởi nghĩa Lam Sơn d-ới sự lãnh đạo của ng-ời anh hùng dân tộc Lê Lợi, từ núi rừng Lam Sơn Thanh Hoá đã nhen lên một ngọn lửa yêu n-ớc toả sáng khắp mọi miền Khởi nghĩa Lam Sơn từ lâu đã đi vào lịch sử, đi vào lòng ng-ời Việt Nam nh- một biểu t-ợng anh hùng bất khuất của xứ Thanh, của cả
đất n-ớc và dân tộc ta
Trãi qua hơn một ngàn năm Bắc thuộc, 20 năm chịu sự đô hộ của giặc Minh (1407-1427) đó là một thử thách to lớn mang ý nghĩa sống còn đối với dân tộc ta Với âm m-u của nhà Minh là không những chiếm n-ớc ta làm thuộc quốc mà còn muốn thực hiện dã tâm đồng hoá vĩnh viễn xoá bỏ n-ớc ta
và sáp nhập vào hẳn lãnh thổ của nhà Minh Trong những năm cai trị của giặc Minh thì chúng đã đ-a ra những chính sách cai trị tàn bạo dã man và thâm độc hòng đè bẹp ý chí quật c-ờng của nhân dân ta Nh-ng ở các vùng đồng bằng Bắc Bộ, vùng Đông Bắc, Tây Bắc và vùng Thanh Nghệ Tĩnh đã liên tiếp nổ ra nhiều cuộc khởi nghĩa nh-ng cuối cùng đã bị sức mạnh tàn bạo phi nghĩa của
kẻ thù đàn áp dìm trong biển máu
Trong giai đoạn lịch sử dân tộc đang trải qua những gian nan thử thách mang tính quyết định, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc trên đất Thanh Hoá thời điểm này không những chứng kiến các cuộc đấu tranh do các quý tộc Trần lãnh đạo nh- khởi nghĩa Trần Ngỗi, Trần Quý Khoáng diễn ra trong thời gian từ (1407-1414), cuộc khởi nghĩa của Đồng Mặc (1410) ở vùng th-ợng du Thanh Hoá Sau cuộc khởi nghĩa của Đồng Mặc, trên địa bàn phía Nam Thanh
Trang 32hoá lại diễn ra một cuộc nổi dậy với quy mô lớn d-ới sự lãnh đạo của ng-ời nông dân nghèo Nguyễn Chích trên vùng đất Đông Sơn của Thanh Hoá Đây cũng là thời điểm ghi dấu sự xuất hiện của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lam Sơn động chủ Lê Lợi khởi x-ớng và lãnh đạo bùng lên trên mảnh đất Lam Sơn thuộc miền Tây Thanh Hoá vào tháng Giêng năm 1418
Lam Sơn thuộc huyện L-ơng Giang phủ Thanh Hoá (ngày nay thuộc xã Xuân Lam huyện Thọ Xuân tỉnh Thanh Hoá) D-ới thời thuộc Minh, nhân dân Thanh Hoá cũng nh- các nơi khác trong cả n-ớc, bị bóc lột đến x-ơng tuỷ Ngoài thuế và lao dịch quân Minh còn chiếm đoạt ruộng đất của nhân dân để lập đồn điền Trong các sở đồn điền này, chúng huy động đa số thổ quân và một số ít quân Minh thuộc các vệ sở Thanh Hoá đi sản xuất l-ơng thực Không cam tâm trong cảnh mất n-ớc, nhân dân Thanh Hoá đã cùng nhân dân cả n-ớc không ngừng nổi dậy đấu tranh ở cả miền xuôi lẫn miền núi Trong suốt 20 năm đô hộ của nhà Minh, quân địch chỉ chiếm đ-ợc vùng Thanh Hoá ch-a đầy
đ-ợc nửa năm Điều đó chứng tỏ tinh thần yêu n-ớc và chí khí kiên c-ờng của nhân dân địa ph-ơng Khởi nghĩa Lam Sơn là một tiêu biểu mới rực rỡ hơn nữa
về truyền thống đấu tranh của nhân dân nơi đây
Lam Sơn nằm về tả ngạn sông Chu, cách thành phố Thanh Hoá ngày nay 50km, phía d-ới Bái Th-ợng 3km Đó là một vùng đồi thấp xen kẽ những dải rừng th-a và cánh đồng hẹp, phía trên tiếp giáp với núi rừng trùng điệp của miền th-ợng du Thanh Hoá, đầu nguồn các con sông Mã, sông Chu, ngày nay
là các huyện Th-ờng Xuân, Ngọc Lặc, Lang Chánh, Cẩm Thuỷ, Bá Th-ớc, Quan Hoá Trong những năm đầu khởi nghĩa, khi lực l-ợng mới tập hợp, còn non yếu thì núi rừng nơi đây đã trở thành nơi che chở, đùm bọc và nuôi nấng nghĩa quân thoát khỏi nhiều cuộc bao vây càn quét của địch, đồng thời tạo địa hình thuận lợi cho nhiều trận phục kích tiêu hao sinh lực địch
Trang 33Xung quanh Lam Sơn trong phạm vi vài chục dặm là bản làng của nhiều t-ớng lĩnh nghĩa quân Đó là các làng dọc sông Chu (hay sông L-ơng) nh- Hải Lịch (còn gọi là Hải Quát), Quần Đôi, Diên Hào, Mía (còn gọi là Thịnh Mỹ), Dao Xá, Mục Sơn, Bái Th-ợng, Bái Đô (nay là các xã Thọ Hải, Thọ Diên, Xuân Lam) C- dân ở đây quanh năm vất vả với đồng ruộng và sông n-ớc, nh-ng tất cả đều nhiệt tình hăng hái góp công vào cuộc khởi nghĩa
Về phía Tây và phía Bắc Lam Sơn là các bản làng của các dân tộc thiểu
số nh- ng-ời M-ờng, ng-ời Thái Sinh sống d-ới chân núi hệ Pù Rinh hoặc bên các ngọn suối đổ vào sông Chu nh- làng Đức Trai, Tép (còn gọi là Dựng Tú), Nguyệt ấn, Nh- áng, Xuân D-ơng, Xuân Mỹ thuộc huyện Ngọc Lặc, Th-ờng Xuân Đây là những ng-ời nông dân hiền lành cần cù chất phác, quanh năm chăm chỉ bên n-ơng rẫy và khe suối Giai đoạn chuẩn bị lực l-ợng
để khởi nghĩa là những năm gian khổ nhất của nghĩa quân, các bản làng trên đã
đùm bọc, che chở và nuôi nấng nghĩa quân, cùng Lê Lợi tham gia giết giặc cứu n-ớc tiêu biểu có gia đình phụ đạo Lê Lai ở Dựng Tú
Lam Sơn có sông Chu chảy qua, từ Lam Sơn trở xuống, sông Chu chảy qua các huyện Thọ Xuân, Thiệu Hoá đến ngã ba Bông nhập với sông Mã rồi xuôi ra biển Đây chính là huyết mạch giao thông quan trọng giữa miền núi với miền biển xứ Thanh Lam Sơn cũng liền kề với đ-ờng th-ợng đạo từ bắc vào nam, từ đông sang tây, từ căn cứ này nghĩa quân có thể tiến vào Nghệ An, sang Lào hoặc tiến ra Đông Quan mà không gặp trở ngại gì đáng kể về địa lí
Đây là điều kiện rất thuận lợi để nghĩa quân có thể toả xuống đồng bằng, có thể
di chuyển lên miền th-ợng l-u sông Mã và khi cần thiết rút lên miền Tây dựa vào thế núi rừng của hệ Pù Rinh để bảo toàn lực l-ợng, tranh thủ thời gian nuôi quân chuẩn bị phản công quân địch Đây chính là những yếu tố nổi bật của rừng núi và sông n-ớc Lam Sơn, biểu tr-ng cho ý trí quật c-ờng, tinh thần bền
bỉ và niềm tự hào của dân tộc ta ở thế kỷ XV
Trang 34Lê Lợi xuất thân từ một hào tr-ởng địa ph-ơng, đ-ợc thừa h-ởng những thành quả của ông cha để lại Lê Lợi đã đoàn kết thu phục lòng dân, chiêu hiền đãi sĩ, dung nạp những nhân vật có danh tiếng, liên kết các dòng họ có thế lực vùng L-ơng Giang - Lôi D-ơng Một nét đặc sắc nữa của khởi nghĩa Lam Sơn đó là ngoài việc thu hút các bậc hiền sĩ xứ Thanh còn thu hút với những bậc hiền tài -u tú có tâm huyết ngày đêm nung nấu cho vận mệnh tồn vong của dân tộc trên khắp mọi miền tổ quốc Không ít những bậc nhân tài nghĩa sĩ đã tìm về với mảnh đất Lam Sơn tập hợp d-ới ngọn cờ của “Lam Sơn
động chủ - Lê Lợi”, nguyện cùng dốc sức, dốc hết tâm huyết giành lại giang sơn cho dân tộc
Sự đoàn kết gắn bó giữa “Lam Sơn động chủ- Lê Lợi” cùng những cá nhân, gia đình, dòng họ trên vùng đất L-ơng Giang - Lôi D-ơng và nhiều con
em quý tộc của v-ơng triều tr-ớc đây, các lực l-ợng khác nhau trong xã hội chứng tỏ b-ớc chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa tuy quy mô buổi đầu còn mang tính địa ph-ơng nhỏ hẹp, nh-ng tinh thần của cuộc khởi nghĩa đã thể hiện những đặc điểm mang tính chất quốc gia, dân tộc với t- t-ởng đại đoàn kết toàn dân tộc cho sự nghiệp bảo vệ non sông đất n-ớc Chính vì vậy, nhân tài tuấn kiệt hội tụ về Lam Sơn không chỉ riêng con em vùng đất xứ Thanh, mà còn có sự tham gia của nhiều nhân vật có tâm huyết với vận mệnh của dân tộc trên nhiều vùng miền của đất n-ớc Mặt khác, lực l-ợng buổi đầu tụ nghĩa cho cuộc khởi nghĩa Lam Sơn là những ng-ời con -u tú từ nhiều địa ph-ơng xa gần, từ nhiều tầng lớp xã hội khác nhau, nh-ng cùng chung một chí h-ớng không phân biệt tầng lớp, giai cấp một bầu nhiệt huyết muốn đánh đuổi quân giặc để khôi phục nền độc lập dân tộc, cứu dân khỏi cảnh lầm than cơ cực Chính điều này là điểm nổi bật tạo ra sự khác biệt về tính chất cho cuộc đấu tranh nơi núi rừng Lam Sơn so với những cuộc đấu tranh tr-ớc đó và trong thời kỳ này Chúng ta thấy lần đầu tiên trong một cuộc khởi nghĩa chống ách
đô hộ của nhà Minh, một phong trào đấu tranh mà ở đó lực l-ợng gia nhập
Trang 35cuộc khởi nghĩa có sự đa dạng về thành phần tham gia, nh-ng không có sự xuất hiện những mâu thuẫn về giai cấp, tầng lớp
Khởi nghĩa Lam Sơn là sự cấu kết cao độ tinh thần dân tộc, là hệ quả
được tạo ra bởi chính tài năng và đức độ của “Lam Sơn động chủ - Lê Lợi”, một con ng-ời luôn biết trọng ng-ời hiền tài tuấn kiệt, không xem th-ờng kẻ trên, không khinh nhờn ng-ời d-ới, không phân biệt sang hèn, không phân
định đẳng cấp Chính cái uy danh, trí đức, nghĩa dũng của con ng-ời này đã là một tấm g-ơng sáng có sức hấp dẫn cấu kết mọi cá nhân, mọi tầng lớp lại với nhau d-ới ngọn cờ khởi nghĩa Lam Sơn Ngay từ giai đoạn đầu hình thành cuộc khởi nghĩa, nhân tố đoàn kết mang sắc thái dân tộc của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn chính là những yếu tố tạo sự khác biệt với các cuộc khởi nghĩa tr-ớc
là ở những đặc điểm ấy Vì vậy, đây chính là điểm khởi đầu có ý nghĩa quyết
định cho một phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc đi đến thắng lợi chính là khởi nghĩa Lam Sơn
Ngày 2 tháng 1 năm Mậu Tuất (tức 7 tháng 2 năm 1418), trong không khí thiêng liêng của ngày Tết cổ truyền dân tộc, tr-ớc non Lam, sông L-ơng của xứ Thanh, đất trời n-ớc Việt, Lê Lợi đã cùng toàn thể nghĩa quân Lam Sơn dựng cờ khởi nghĩa Lê Lợi tự x-ng là Bình Định V-ơng và truyền hịch kêu gọi nhân dân khắp nơi cùng đứng lên giết giặc cứu n-ớc Từ Lam Sơn, ngọn cờ khởi nghĩa do Lê Lợi phất cao đã trở thành ngọn cờ tiêu biểu cho truyền thống yêu n-ớc bất khuất và chính nghĩa, trở thành ngọn cờ tập hợp
đoàn kết của toàn dân tộc cùng đứng lên giành độc lập Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn bùng nổ, thực sự đã mở ra một thời kỳ mới trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc đầu thế kỷ XV Từ đây, cờ khởi nghĩa Lam Sơn trở thành biểu t-ợng khẳng định chân lý và sức mạnh của toàn dân tộc quyết tâm đánh đuổi quân thù ra khỏi bờ cõi
ở Hội thề Lũng Nhai năm 1416, Lê Lợi cùng với 18 ng-ời bạn thân tín
nhất thì giờ đây đã tập hợp thành lực l-ợng đông đảo ‚Đại việt sử ký toàn
Trang 36thư‛ chép lực lượng gồm: “30 quan võ, một số quan văn, 200 quân thiết đột,
200 nghĩa sĩ, 300 dũng sĩ, 4 con voi và quân khinh dũng cùng ng-ời già yếu đi
hộ vệ chỉ 1000 người‛ [18, 74]
Nghe tin Lê Lợi không chịu hàng phục, đã khởi binh truyền hịch ngay trên mảnh đất Lam Sơn, quân Minh lập tức tập trung phát binh đàn áp, hòng tiêu diệt nghĩa quân ngay từ buổi ban đầu mới thành lập Nh- vậy, chỉ ít lâu sau khi dấy cờ khởi nghĩa đã diễn ra cuộc chiến đấu không cân sức giữa một bên là nghĩa quân Lam Sơn mới thành lập còn gặp nhiều khó khăn với một bên là đội quân xâm l-ợc hùng hậu và thiện chiến Thế nh-ng, mọi cố gắng của bọn t-ớng tá, binh lính nhà Minh sau những lần tấn công quy mô vào đất Lam Sơn dù là cao nhất cũng không mang lại những kết quả gì Với những chiến thắng ở Lạc Thuỷ, M-ờng Mọt (1418), Mỹ Canh, M-ờng Chính (1419)
và những cuộc tiến công vào kẻ địch gây cho chúng nhiều tổn thất Từ Lam Sơn - Chí Linh - Mỹ Canh - M-ờng Chính đến Lô Sơn, nghĩa quân Lam Sơn
đã mở rộng địa bàn hoạt động ra khắp vùng Tây Bắc Thanh Hoá Lê Lợi và nghĩa quân đã xây dựng những căn cứ vững chắc trong lòng đồng bào các dân tộc cho cuộc khởi nghĩa đầy gian khó và oanh liệt này Đó chính là những minh chứng hùng hồn cho sự bất lực của giặc Minh trong việc tìm ra kế sách nhằm đàn áp và tiêu diệt ngọn cờ yêu n-ớc trên vùng đất Lam Sơn
Giai đoạn 1419 - 1420, mặc dù ch-a phải là giai đoạn cuộc khởi nghĩa Lam Sơn có những thuận lợi về chủ quan, về tính chất trên các chiến tr-ờng có lợi cho nghĩa quân đối với sự phát triển của cuộc khởi nghĩa Nh-ng nhìn chung, đến thời điểm này, khởi nghĩa Lam Sơn đã b-ớc đầu thể hiện sức mạnh, sức sống mãnh liệt, thể hiện một cách rõ ràng, cụ thể và xứng đáng đây linh hồn trong phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở thế kỷ XV Đây chính là ngọn cờ đầu tiên phong cho làn sóng giết giặc cứu n-ớc đầu thế kỷ
XV đ-ợc thể hiện trên nhiều ph-ơng diện nh-: Đội ngũ lãnh đạo đến lực l-ợng tham gia cuộc khởi nghĩa, tinh thần đoàn kết, khả năng chịu đựng các
Trang 37đòn tấn công ác liệt của quân địch, và khả năng phản kích đập tan mọi sự đàn
áp, truy quét và khủng bố của quân giặc
Giai đoạn 1920 - 1923, nhà Minh th-ờng xuyên huy động một lực l-ợng lớn tập trung càn quét vùng căn cứ của nghĩa quân, có đợt tới 10 vạn tên nh-ng không tiêu diệt đ-ợc nghĩa quân Trái lại chúng luôn bị quân ta phục kích tiêu diệt nh- trận Bồ Mộng, Quan Du tiêu diệt hơn 2000 quân địch, nh- trận ủng ái quân địch thua to Trần Trí phải chạy tháo thân Đặc biệt là phản công đánh tan liên quân Minh - Ai Lao thu đ-ợc nhiều vũ khí quân nhu Tháng 2 năm 1422 quân Minh do Mã Kỳ chỉ huy hợp với quân Ai Lao hai mặt tập kích doanh trại quân ở Quan Du gây cho ta những tổn thất nặng nề Lê Lợi phải bỏ Quan Du
cùng nghĩa quân rút lên Sách Khôi, quân Minh truy sát rất ác liệt ‚Đại việt sử
ký toàn thư‛ chép: ‚Tình thế nghĩa quân lúc này nguy hiểm Lê Lợi đã động viên t-ớng sĩ liều chết mở đ-ờng máu thoát vây Nghĩa quân đã chiến đấu rất anh dũng, giết chết tên tả tham t-ớng Phùng Quý cùng hơn 1000 tên địch và bắt
được hơn 100 con ngựa‛ [18, 249] Bọn Trần Trí, Mã Kỳ thất bại phải rút về
Đông Quan, quân Ai Lao tháo chạy về n-ớc
Mặc dù quân ta thắng lớn ở Sách Khôi nh-ng nghĩa quân không tránh khỏi những tổn thất Vì vậy, Lê Lợi cùng bộ tham m-u quyết định đ-a nghĩa quân về căn cứ Chí Linh, cũng cố và xây dựng lực l-ợng, đồng thời tạm hoà hiếu với giặc nhằm tranh thủ thời gian để xoay chuyển tình thế Tới khi Trần Trí bắt sứ giả Lê Trăn thì cuộc th-ơng l-ợng của nghĩa quân với quân Minh bị tan vỡ, Lê Lợi tuyệt giao với chúng Khi vũ khí quân l-ơng phục hồi đầy đủ Lê Lợi và bộ tham m-u đã có quyết định chuyển h-ớng mới cho cuộc khởi nghĩa với kế hoạch tiến vào Nghệ An của Nguyễn Chích, mở ra giai đoạn thứ hai cho cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
Chí Linh đã chứng kiến 3 lần giặc đến là 3 lần giặc thua Ngay từ trận đầu, với tấm g-ơng hy sinh cao cả của Lê Lai, Lê Lợi và nghĩa quân còn lại đã rút về căn cứ Chí Linh để bảo tồn lực l-ợng trở về Lam Sơn tiếp tục sự nghiệp Lần thứ
Trang 38nhất Chí Linh trở thành bức t-ờng che chở và nuôi d-ỡng nghĩa quân lần thứ hai, nghĩa quân bị quân Minh đánh úp sau l-ng không kịp đối phó và bị thiệt hại nặng Lê Lợi và nghĩa quân lại rút về Chí Linh Năm 1423 nghĩa quân Lam Sơn hoạt động ở vùng Sách Khôi quân Minh liền tấn công, nhận thấy không thể cầm
cự lâu dài với địch trên vùng đất này Lê Lợi và bộ tham m-u quyết định về Chí linh lần thứ ba Nh- vậy vào những lúc tình thế hiểm nghèo nhất nghĩa quân lại trở về với Chí Linh vừa bảo tồn lực l-ợng, vừa nhử địch vào đất hiểm dùng quân mai phục tiêu diệt sinh lực địch giành lại thế chủ động trên chiến tr-ờng
Với sáu năm hoạt động ở miền rừng núi Thanh Hoá, nghĩa quân Lam Sơn
đã trải qua các trận thử thách ác liệt, có lúc Lê lợi và nghĩa quân bị quân Minh dồn vào b-ớc đ-ờng cùng phải chọn lựa một trong hai giải pháp là đầu hàng hoặc liều chết giết giặc hoặc có ng-ời thay thế Lê lợi để m-u nghiệp lớn về sau Lê lai và những nghĩa sĩ của ông đã khẳng khái đứng ra gánh vác trách nhiệm này chính tấm g-ơng hy sinh cao cả ấy đã tránh cho cuộc khởi nghĩa khỏi bị tiêu diệt nhờ có tinh thần đoàn kết chiến đấu của “tướng sĩ một lòng phụ tử” tinh thần chịu đựng gian khổ “nếm mật nằm gai” với ý chí quyết tâm không đội trời chung với giặc, vì thế nghĩa quân lam sơn đã tr-ởng thành nhanh chóng đủ sức đ-a khởi nghĩa đến thắng lợi về sau, xoá bỏ ách thống trị ngoại bang trên lãnh thổ đại việt
2.2 Đóng góp của Lê Lai trong khởi nghĩa Lam Sơn
2.2.1 Lê Lai trong những ngày đầu của cuộc khởi nghĩa
Khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo là cuộc chiến tranh giải phóng mang tính nhân dân sâu sắc ngay từ những ngày đầu dựng cờ khởi nghĩa gi-ơng cao ngọn cờ độc lập dân tộc Lê lợi đã tập hợp đ-ợc đông đảo lực lực l-ợng yêu n-ớc tham gia Với tài năng và đức độ hơn ng-ời ông đã thu hút
đ-ợc nhiều bậc hiền tài trong n-ớc Trong đó Nguyễn Trãi là ng-ời tiêu biểu
Trang 39Lê Lợi đã v-ợt qua đ-ợc những hạn chế của tầng lớp xuất thân, đặt lợi ích dân tộc lên trên hết ông dốc hết gia tài, của cải động viên toàn Gia tộc cùng đánh giặc Bằng những việc làm vì n-ớc, bằng cung cách đối xử với mọi tầng lớp trong xã hội, ông đã gây đ-ợc lòng tin yêu với mọi ng-ời đặc biệt là đồng bào
các dân tộc ở miền Tây Thanh hoá nô nức tham gia nghĩa quân
Nhờ vậy mà lực l-ợng nghĩa quân nhanh chóng lớn mạnh ở hội thề lũng nhai năm 1416, Lê lợi và 18 ng-ời anh em thân tín đến khi khởi sự
năm 1418, ‚Đại việt sử ký toàn thư‛ chép lực lượng gồm: “30 quan võ, một số
quan văn, 200 quân thiết đột, 200 nghĩa sĩ, 300 dũng sĩ, 4 con voi và quân khinh dũng cùng người già yếu đi hộ vệ chỉ 1000 người‛ [18, 74]
Ngay từ Hội thề lũng Nhai (trên đất th-ờng xuân ngày nay) cho đến những năm sau đó, đồng bào các dân tộc đã tích cực gia nhập nghĩa quân sự
đóng góp của nhân dân thanh hoá trong giai đoạn chuẩn bị khởi nghĩa cho
đến khi nghĩa quân phải 3 lần rút về núi chí linh thật là to lớn Đồng bào các dân tộc miền núi, các quan lang đều theo lê lợi h-ởng ứng d-ới ngọn
cờ khởi nghĩa:
“Ng-ời kéo nhau đến ùn ùn
Ng-ời kéo nhau ra nh- ong nh- kiến
Đi theo chật suối, chật rừng‛ [5, 202]
Theo lời kêu gọi yêu n-ớc tha thiết của Lê Lợi, nhân dân nhiều làng xã xung quanh đã góp sức, góp của xây dựng lực l-ợng và căn cứ đánh giặc Nhiều hào kiệt khắp nơi đã âm thầm liên kết với Lê Lợi về đây dấy nghĩa đặc biệt có một gia đình phụ đạo thôn dựng tú, sách đức giang, huyện l-ơng giang (nay là xã kiên Thọ huyện ngọc lặc tỉnh thanh hoá) có 5 ng-ời là Lê Lạn, lê lai, lê lô, lê lộ, lê lâm, bấy giờ cả 5 ng-ời đều tham gia khởi nghĩa ngay từ những ngày đầu dấy binh ở miền rừng núi phía tây thanh hoá
Trang 40Trong đó Lê lai là ng-ời có mặt bên cạnh lê lợi, cùng gánh vác những khó khăn ngay trong những ngày đầu tiên của quá trình chuẩn bị gian nan cho Hội thề Lũng Nhai và cuộc khởi nghĩa này ông là một trong số 19 ng-ời tham dự hội thề lũng nhai tổ chức vào mùa xuân năm 1416 ở hội thề này lê lai có một vị trí cũng rất quan trọng nên danh sách trong Hội thề chúng ta thấy ông
đứng tên thứ hai sau lê lợi đây là Gia tộc yêu n-ớc mà hầu hết cả nhà đều theo việc nghĩa tham gia chuẩn bị cho khởi nghĩa Lam Sơn
‚Hội thề lũng nhai diễn ra vào một buổi sáng đầu tháng 2 năm bính thân, năm 1416‛ [38, 132] Lê lơị cùng 18 ng-ời bạn thân tín nhất đi sang
làng lũng nhai (tức lũng mi, tên nôm là làng mé thuộc xã ngọc phụng, huyện th-ờng xuân) làm lễ tế cáo trời đất, kết nghĩa anh em quyết tâm đánh giặc cứu n-ớc Làng lũng nhai, thuộc h-ơng lam sơn x-a, là địa điểm kín
đáo, ẩn sâu trong núi rừng nằm bên hữu ngạn sông âm và tả ngạn sông chu, cách lam sơn khoảng 10km về phía tây Lê lợi và 18 ng-ời yêu n-ớc đã chuẩn bị lễ thề từ tr-ớc Trong không khí trang nghiêm, Lê lợi trịnh trọng tuyên đọc lời thề:
‚niên hiệu thiên khánh thứ nhất, năm Bính thân tháng 2, qua ngày Kỷ mão là ngày sóc, đến ngày 12 là Canh dần
Phụ đạo lộ khả lam n-ớc an nam là Lê lợi cùng Lê lai, lê thận, lê văn an, lê văn linh, trịnh khả, tr-ơng lôi, lê liễu, bùi quốc h-ng, lê ninh, lê hiểm, vũ uy, nguyễn trãi, đinh liệt, lê nhân chú, lê bồi, lê lý,
đinh lan, tr-ơng chiến kính đem lễ vật, sinh huyết tấu cáo cùng hạo thiên th-ợng đế, hậu thổ hoàng địa và các tôn linh thần bậc th-ợng, trung, hạ coi sông núi ở các xứ n-ớc ta
Cúi xin chứng giám cho: