1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quan hệ giữa liên bang nga và hoa kỳ trong vấn đề kiểm soát và cắt giảm vũ khí hạt nhân từ năm 1992 đến năm 2008

120 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 553,63 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để khẳng định hoà bình và phát triển sẽ là xu thế chủ yếu của thế giới trong những thập niên tới, bên cạnh mối quan hệ hoà hoãn, hoà dịu giữa các n-ớc thì vấn đề kiểm soát và cắt giảm vũ

Trang 1

1

Bộ giáo dục và đào tạo

Tr-ờng đại học vinh

Trang 2

2

Lời cảm ơn

Để hoàn thành luận văn này, ngoài sự nỗ lực cố gắng của bản thân, tôi

đã nhận đ-ợc sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô giáo và những ng-ời thân

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với PGS Phan Văn Ban, ng-ời

đã trực tiếp h-ớng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong khoa lịch sử, đặc biệt là các thầy cô giáo trong tổ bộ môn lịch sử thế giới, khoa Sau đại Học tr-ờng Đại học Vinh, Viện nghiên cứu châu Âu, viện nghiên cứu Đông Bắc á, TTXVN, các cơ quan mà tác giả đến liên hệ t- liệu, đã tạo mọi điều kiện cũng nh- chỉ bảo tận tình giúp đỡ để tôi hoàn thành tốt luận văn

Xin bày tỏ lòng biết ơn gia đình và những ng-ời thân, đã tạo điều kiện giúp đỡ, động viên, khích lệ tôi về vật chất cũng nh- tinh thần để tôi có điều kiện hoàn thành công trình nghiên cứu này

Do nguồn tài liệu và thời gian hạn chế, hơn nữa bản thân mới b-ớc

đầu nghiên cứu một đề tài khoa học, chắc chắn luận văn khó tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận đ-ợc sự góp ý, chỉ bảo của các thầy cô giáo

và các bạn!

Vinh, tháng 12 năm 2009

Tác giả

Trang 3

3

Mục lục

Trang

Mở đầu 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 3

3 Đối t-ợng và phạm vi nghiên cứu 6

4 Nguồn tài liệu 8

5 Ph-ơng pháp nghiên cứu 8

6 Đóng góp của luận văn 8

7 Bố cục 9

nội dung Ch-ơng 1 Những nhân tố tác động đến mối quan hệ giữa Liên bang Nga và Hoa Kỳ sau chiến tranh lạnh 10

1.1 Nhân tố quốc tế 10

1.1.1 Tình hình thế giới sau Chiến tranh lạnh 10

1.1.2 Xu thế thế giới sau Chiến tranh lạnh 14

1.2 Nhân tố quốc gia 17

1.2.1 Chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ 17

1.2.2 Chính sách đối ngoại của Liên bang Nga 20

1.3 Nhân tố lịch sử 23

1.3.1 Những thành tựu đạt đ-ợc 23

1.3.2 Những vấn đề còn tồn đọng 27

Tiểu kết 31

Ch-ơng 2 Hợp tác và đấu tranh giữa Liên bang Nga và Hoa Kỳ trong vấn đề kiểm soát và cắt giảm vũ khí hạt nhân từ sau chiến tranh lạnh đến năm 2008 34

2.1 Vấn đề Hoa Kỳ rút khỏi Hiệp -ớc ABM 34

2.1.1 Hoa Kỳ rút khỏi Hiệp -ớc hệ thống phòng, chống tên lửa đạn đạo ABM 34

Trang 4

4

2.1.2 Thái độ của Liên bang Nga 36

2.2 Hoa Kỳ triển khai hệ thống phòng thủ tên lửa NMD và đối phó của Liên bang Nga 38

2.2.1 Hoa Kỳ triển khai kế hoạch phòng thủ tên lửa NMD 38

2.2.2 Liên bang Nga triển khai EMD 41

2.3 Quan hệ giữa Liên bang Nga và Hoa Kỳ trong một số Hiệp -ớc then chốt 46

2.3.1 Quan hệ Liên bang Nga và Hoa Kỳ trong vấn đề hạn chế tên lửa đạn đạo 46

2.3.2 Quan hệ giữa Liên bang Nga và Hoa Kỳ trong Hiệp -ớc cắt giảm vũ khí hạt nhân giai đoạn 2 (START - II) 1993 48

2.3.3 Quan hệ giữa Liên bang Nga và Hoa Kỳ trong Hiệp -ớc cắt giảm vũ khí hạt nhân giai đoạn 3 (START - III) 2002 54

Tiểu kết 65

Ch-ơng 3 Thái độ của Liên bang Nga và Hoa Kỳ về một số vấn đề vũ khí hạt nhân trên thế giới 68

3.1 Quan hệ Liên bang Nga và Hoa Kỳ trong một số vấn đề vũ khí hạt nhân 68

3.1.1 Thái độ của Liên bang Nga và Hoa Kỳ về vấn đề vũ khí hạt nhân của CHDCND Triều Tiên 68

3.1.2 Thái độ của Liên bang Nga và Hoa Kỳ trong vấn đề vũ khí hạt nhân của Iran 81

3.2 Thực trạng và triển vọng của vấn đề kiểm soát và cắt giảm vũ khí hạt nhân những năm đầu thế kỷ XXI 89

3.2.1 Thực trạng 89

3.2.2 Triển vọng 93

Kết luận 97

Tài liệu tham khảo 104

Phụ lục

Trang 5

5

Mở đầu

1 Lí do chọn đề tài

Hoa Kỳ là n-ớc đầu tiên chế tạo đ-ợc vũ khí hạt nhân và cũng là n-ớc

đầu tiên sử dụng nó trong cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai Sau chiến tranh Hoa Kỳ xem vũ khí hạt nhân như là “con bài” để khống chế các nước đồng minh và đặc biệt là gây áp lực đối với các n-ớc trong hệ thống xã hội chủ nghĩa Trong hoàn cảnh đó Liên Xô - một n-ớc đứng đầu hệ thống xã hội chủ nghĩa phải tìm thế mạnh cho bản thân và phe của mình Chính vì vậy, sau khi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc Liên xô cũng tăng c-ờng kỹ thuật hạt nhân và chế tạo vũ khí hạt nhân Năm 1949 Liên Xô đã phá vỡ thế độc quyền

về hạt nhân của Mỹ bằng việc thử thành công quả bom nguyên tử đầu tiên Trong Chiến tranh lạnh vũ khí hạt nhân đ-ợc xem là thế mạnh của mỗi bên

do vậy mà cuộc chạy đua vũ trang trong Chiến tranh lạnh diễn ra càng gay go phức tạp, nó không chỉ diễn ra trên lục địa, trên biển mà còn đ-ợc đẩy lên

thành cuộc “Chiến tranh giữa các vì sao”

Trong bối cảnh đó, bên cạnh việc chạy đua vũ trang, để giành lợi thế cho mình, cả Hoa Kỳ và Liên Xô đều đã đ-a ra vấn đề kiểm soát năng l-ợng nguyên tử và hạn chế vũ khí hạt nhân Tuy nhiên trong quá trình thoả thuận

và đàm phán mỗi bên đều muốn cắt giảm của nhau nh-ng không muốn đánh mất đi -u thế của mình, chính vì vậy mà về số l-ợng thì đ-ợc cắt giảm nh-ng chất l-ợng thì lại luôn đ-ợc mỗi bên nâng lên Do đó cuộc chạy đua vẫn diễn

ra quyết liệt, nó làm cho mỗi bên tham gia hao tốn rất nhiều tiền của Kết quả Chiến tranh lạnh kết thúc kéo theo sự sụp đổ và tan rã của Liên bang Cộng

hoà xã hội chủ nghĩa Xô Viết (Liên Xô) vào tháng 12/1991

Sau khi Liên Xô tan rã, Liên bang Nga là n-ớc kế thừa tới 70% kho vũ khí của Liên Xô cũ và trở thành một trong 5 c-ờng quốc về hạt nhân Bên cạnh việc kế thừa kho vũ khí, Nga còn phải kế thừa - thực thi những Hiệp -ớc

về kiểm soát và cắt giảm vũ khí hạt nhân mà tr-ớc đây Liên Xô đã kí, đồng

Trang 6

6 thời tiếp tục đàm phán thoả thuận với các c-ờng quốc hạt nhân khác đặc biệt

là Mỹ về vấn đề hạt nhân trong giai đoạn mới

Chiến tranh lạnh kết thúc, thế giới đang đứng tr-ớc nhiều nguy cơ trong

đó có nguy cơ về vũ khí hạt nhân, đặc biệt nguy hiểm hơn khi loại vũ khí này rơi vào tay lực l-ợng khủng bố Việc Hoa Kỳ luôn nêu nguy cơ về một cuộc chiến tranh hạt nhân mà vũ khí giết ng-ời hàng loạt là loại vũ khí chính đ-ợc

sử dụng Bên cạnh đó kỹ thuật hạt nhân không còn của riêng n-ớc nào thì nguy cơ khủng bố hạt nhân, những hành động bạo lực khác bằng vũ khí hạt nhân ngày càng cao Những điều này tác động không nhỏ đến nền kinh tế, chính trị và an ninh thế giới

Trong bối cảnh toàn cầu hoá, cuộc chạy đua kinh tế toàn cầu sẽ thay thế cho Chiến tranh lạnh và chạy đua vũ khí hạt nhân, các n-ớc chuyển từ đối

đầu sang đối thoại, hoà hoãn, đây là những thuận lợi cho việc cắt giảm các kho vũ khí hạt nhân chiến l-ợc

Sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc Hoa Kỳ càng lo sợ hơn tr-ớc sự phân tán kho vũ khí hạt nhân của Liên Xô cũ nên chính thức đ-a ra các kế hoạch

đối phó với vấn đề này Cụ thể năm 1992 Hoa Kỳ ngừng sản xuất vũ khí hạt nhân mới, can thiệp sản xuất vũ khí hạt nhân ở Triều Tiên, Iran Tiếp tục

đàm phán với Nga về các vấn đề hạt nhân Từ năm 1993 Hoa Kỳ đã kí một loạt các Hiệp -ớc và văn kiện quan trọng, chủ yếu với Nga Những Hiệp -ớc này không chỉ ảnh h-ởng trực tiếp đến quan hệ song ph-ơng của hai n-ớc mà còn có ý nghĩa quan trọng đến nền hoà bình và an ninh thế giới

Một phong trào đấu tranh vì nền hoà bình thế giới đang diễn ra rộng khắp, nổi bật trong phong trào đấu tranh đó là cuộc đấu tranh nỗ lực không ngừng của nhân dân yêu chuộng hoà bình vì một thế giới không có vũ khí hạt nhân Cuộc đấu tranh này diễn ra ở nhiều n-ớc và xuất hiện trên nhiều diễn

đàn, phong trào này đã thể hiện mối quan tâm chung của cộng đồng quốc tế tr-ớc nguy cơ đe doạ của vũ khí hạt nhân đối với hoà bình thế giới Phong

Trang 7

7 trào này có ảnh h-ởng không nhỏ đối với việc kí kết các Hiệp -ớc về kiểm soát và cắt giảm vũ khí hạt nhân

Để khẳng định hoà bình và phát triển sẽ là xu thế chủ yếu của thế giới trong những thập niên tới, bên cạnh mối quan hệ hoà hoãn, hoà dịu giữa các n-ớc thì vấn đề kiểm soát và cắt giảm vũ khí hạt nhân vẫn là vấn đề quan trọng đòi hỏi sự tham gia tích cực của các c-ờng quốc hạt nhân trên thế giới Phong trào này sẽ tiếp tục đ-ợc đẩy mạnh và tiến tới huỷ bỏ triệt để loại vũ khí giết ng-ời hàng loạt này

Nh- vậy kể từ khi Liên Xô tan rã, Nga là n-ớc kế thừa nhiều nhất kho

vũ khí của Liên Xô và cũng là n-ớc kế thừa các Hiệp -ớc mà Liên Xô đã kí, tiếp tục đàm phán và kí kết những Hiệp -ớc tiếp theo về vũ khí hạt nhân mà chủ yếu là với Mỹ, góp phần bảo vệ nền hoà bình cho nhân loại

Vì những lí do trên mà chúng tôi đã chọn đề tài: Quan hệ giữa Liên

bang Nga và Hoa Kỳ trong vấn đề kiểm soát và cắt giảm vũ khí hạt nhân từ năm 1992 đến năm 2008 làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình

2 Lịch sử vấn đề

Cho đến nay có nhiều công trình nghiên cứu của các học giả trong và ngoài n-ớc đề cập đến hoạt động của Liên bang Nga và Hoa Kỳ trong quá trình kiểm soát và cắt giảm vũ khí hạt nhân thời kì sau Chiến tranh lạnh Tuy nhiên, những công trình này mới chỉ đề cập đến những vấn đề, lĩnh vực riêng

lẻ hoặc ở một số giai đoạn nhất định Có một vài công trình của một số học giả đề cập đến những sự kiện lớn trong quá trình th-ơng l-ợng về kiểm soát

và cắt giảm vũ khí hạt nhân giữa Hoa Kỳ và Liên bang Nga Các công trình

đó ch-a mang tính hệ thống và đánh giá hết động cơ, vai trò của Liên bang Nga cũng nh- Hoa Kỳ đối với quá trình này trong suốt gần hai thập kỉ qua Mặc dù trong thời gian vừa qua việc kiểm soát và cắt giảm đã hạn chế đ-ợc phần nào kho vũ khí hạt nhân của cả Liên bang Nga và Hoa Kỳ, nh-ng tác

động của vấn đề vũ khí hạt nhân đối với tình hình an ninh chính trị thế giới

Trang 8

8 vẫn còn Những thành công của vấn đề kiểm soát và cắt giảm vũ khí hạt nhân

sẽ có ý nghĩa rất lớn đối với các vấn đề trong quan hệ quốc tế ngày nay

Vấn đề Liên bang Nga và Hoa Kỳ tham gia vào các cuộc đàm phán về kiểm soát và cắt giảm vũ khí hạt nhân đ-ợc đề cập trong các tác phẩm:

Cuốn “Hoà bình niềm mơ -ớc của nhân loại” của Bernat Lown, M.D và

Evgueni Chazov, M.D (Nhà xuất bản từ điển bách khoa Hà Nội) chủ yếu đề cập đến phải làm nh- thế nào để có một thế giới mà ở đó chỉ có tình hữu nghị

và đoàn kết Hoà bình là niềm mơ -ớc của toàn thể nhân loại chứ không phải của riêng ai Cuốn sách không chỉ đ-a ra cho chúng ta số liệu thống kê về những tổn thất do chiến tranh mang lại, mà còn nêu lên cách thức mà các dân tộc đấu tranh vì nền hoà bình không có vũ khí giết ng-ời hàng loạt Các dân tộc ở khắp nơi trên thế giới không những tiến hành chống chiến tranh, kêu gọi hoà bình mà còn củng cố niềm tin vĩnh cửu rằng những gì con ng-ời làm

ra, chế tạo ra thì con ng-ời cũng có thể kiểm soát, chế ngự đ-ợc nó

Trong cuốn “Chiến tranh lạnh và di sản của nó” của tác giả Trương

Tiểu Minh, một học giả Trung Quốc Cuốn sách do Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia dịch và xuất bản năm 2002 Theo tác giả cuộc chạy đua vũ trang

hạt nhân “là nội dung và ph-ơng thức chủ yếu của cuộc đấu tranh Đông -

Tây” Ngoài ra tác giả cũng phân tích vai trò của vũ khí hạt nhân trong quan

hệ Đông - Tây và hoà bình thế giới cả trong và sau thời kì chiến tranh lạnh Trong đó tác giả cũng giành một ch-ơng nói về vũ khí hạt nhân và Chiến tranh lạnh

Cuốn “Quan hệ Nga - Mỹ vừa là đối tác vừa là đối thủ” do tác giả

Nguyễn văn Lập chủ biên (Nhà xuất bản Thông tấn Hà Nội, 2000.) Chủ yếu

đề cập đến các toan tính của cả hai phía Hoa Kỳ và Liên bang Nga trong quá trình hợp tác sau sự kiện 11/9/2001 Hoa Kỳ muốn lợi dụng sự kiện này để thành lập một liên minh rộng lớn gồm nhiều n-ớc đặc biệt là các n-ớc lớn Phía Nga do đang đối mặt với vấn đề Chesnia nên phải đồng tình với Hoa Kỳ

Trang 9

9 trong cuộc chiến chống khủng bố Mặt khác, cuốn sách này cũng nêu lên những trở ngại trong mối quan hệ giữa Hoa Kỳ với Liên bang Nga xung quanh vấn đề bố trí hệ thống phòng chống tên lửa chiến l-ợc, kiểm soát và cắt giảm vũ khí hạt nhân chiến l-ợc những năm đầu thế kỉ Có thể nói tác phẩm đã trình bày khá rõ nét sự biến đổi trong mối quan hệ Nga - Mỹ kể từ sau sự kiện 11/9 Nh-ng tác phẩm vẫn thiên nhiều về các nhận định đối kháng giữa Nga và Hoa Kỳ trong nhiều lĩnh vực nh- kinh tế, chính trị, ngoại giao, quân sự mà không đi sâu vào vấn đề kiểm soát và cắt giảm vũ khí hạt nhân - một vấn đề nhạy cảm trong các vấn đề của quan hệ quốc tế

Cuốn “7 cuộc đàm phán siêu cấp” do Mộ Kiệt biên soạn (Nhà xuất bản

văn hoá thông tin Hà Nội, 2006.) Trình bày về những b-ớc ngoặt lịch sử quan trọng xuyên suốt thế kỉ XX, những cuộc đàm phán hoặc là m-u tính hại nhau hoặc đầy mùi thuốc súng giữa các nguyên thủ Bên cạnh đó cuốn sách còn đề cập đến vấn đề tai hoạ hạt nhân, cuộc khủng hoảng tên lửa Cuba, cuộc chạy

đua vũ trang hạt nhân hết hơi, kịch chiến trong vũ trang và mây đen tai hoạ hạt nhân Vì thế cuốn sách này không đi sâu vào nghiên cứu mối quan hệ giữa Liên bang Nga và Hoa Kỳ trong vấn đề vũ khí hạt nhân, điều mà luận văn quan tâm

Tác phẩm “Một b-ớc mở đầu tốt đẹp của cuộc đấu tranh loại trừ vũ khí

hạt nhân”, do Nhà xuất bản Sự thật xuất bản năm 1998 đã trình bày tổng quát

quá trình chạy đua vũ trang của chủ nghĩa đế quốc và cuộc đấu tranh của thế lực yêu chuộng hoà bình và tiến bộ xã hội trong thời kì chiến tranh lạnh, chống chạy đua vũ trang, đặc biệt là vũ khí hạt nhân Cuốn sách này cũng nêu rõ nguyên nhân và ý nghĩa thắng lợi của cuộc đấu tranh loại trừ vũ khí hạt nhân qua việc kí kết Hiệp -ớc giữa Hoa Kỳ - Liên Xô năm 1987 về huỷ

bỏ các tên lửa tầm trung và tầm ngắn Đồng thời cuốn sách cũng thể hiện quan điểm của chính phủ Việt Nam hoan nghênh việc kí kết Hiệp -ớc này và

Trang 10

10 coi đó là b-ớc ngoặt quan trọng trong việc mở đ-ờng đi tới loại bỏ vũ khí hạt nhân và tạo bầu không khí hoà dịu trong quan hệ quốc tế

Ngoài ra còn có một số các bài viết của các tác giả khác nh-:

“Hiệp -ớc về hạn chế và giảm bớt vũ khí chiến l-ợc với cuộc gặp cấp

cao Xô - Mỹ” của tác giả Thuỷ Vân, (Tài liệu tham khảo đặc biệt), phân tích

quá trình ngoại giao và đi đến kí kết Hiệp -ớc START của hai n-ớc Xô - Mỹ

Nguyễn Thị Thanh Thuỷ có bài viết mang tên “Quan hệ Mỹ - Nga trong

vấn đề vũ trang và giải trừ quân bị” (đăng trên Tạp chí châu Mỹ ngày nay số

1 - 2002), phân tích cuộc chạy đua vũ trang giữa hai siêu c-ờng Mỹ - Liên Xô (Nga) với quá trình kiểm soát và cắt giảm vũ khí hạt nhân

Tác giả Khôi Nguyên có bài “Hiệp -ớc cắt giảm vũ khí hạt nhân: ai

đ-ợc, ai mất?”, (Tạp chí Kiến thức quốc phòng), phân tích những tính toán

của Hoa Kỳ khi kí với Nga Hiệp -ớc cắt giảm vũ khí hạt nhân

Các công trình nghiên cứu trên đã đề cập đến các khía cạnh của vấn đề kiểm soát và cắt giảm vũ khí hạt nhân của Liên bang Nga và Hoa Kỳ, song

một công trình chuyên khảo về Quan hệ giữa Liên bang Nga và Hoa Kỳ

trong vấn đề kiểm soát và cắt giảm vũ khí hạt nhân từ năm 1992 đến năm

2008 thì ch-a có

Ngoài ra liên quan đến vấn đề này còn có các công trình nghiên cứu nh-: Luận án Tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Thanh Thuỷ, Đại học Quốc gia

Hà Nội “Hoa Kỳ với quá trình kiểm soát và cắt giảm vũ khí hạt nhân thời kì

Chiến tranh lạnh”, Luận văn thạc sĩ của tác giả Chu Văn Khởi, Đại học Vinh

“Hoa Kỳ với quá trình kiểm soát và cắt giảm vũ khí hạt nhân thời kì sau

Chiến tranh lạnh”; Các tạp chí: Tạp chí Cộng sản, Nghiên cứu quốc tế,

Nghiên cứu Châu Âu, tài liệu tham khảo đặc biệt do Thông tấn xã Việt Nam cung cấp

3 Đối t-ợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

Quan hệ hợp tác và đấu tranh của Nga và Mỹ trong vấn đề hạn chế vũ khí hạt nhân có ảnh h-ởng nh- thế nào đối với quan hệ song ph-ơng hai n-ớc

Trang 11

11 cũng nh- đối với an ninh - chính trị và hoà bình thế giới? Trả lời cho câu hỏi này là đối t-ợng và nghiên cứu chính của luận văn Ngoài ra luận văn còn góp phần luận giải về cuộc chạy đua vũ khí hạt nhân mới bên cạnh việc kiểm soát và cắt giảm Trên cơ sở đó luận văn rút ra bài học cho những vấn đề có liên quan đến vấn đề kiểm soát và cắt giảm vũ khí hạt nhân trong giai đoạn

hiện nay

Phạm vi nghiên cứu của đề tài chọn thời điểm từ năm 1992 vì lí do sau Cuối tháng 12/1991 Liên Xô tan rã kéo theo nó là sự phân tán của kho vũ khí hạt nhân, lúc này không còn là của một n-ớc Liên Xô nữa mà là của 4 n-ớc: Nga, Bêlarút, Ucraina và Karăcxtan, trong đó Nga sở hữu tới 70% kho vũ khí của Liên Xô cũ Cũng kể từ đó cục diện hai cực không còn, trật tự mới về kinh tế, chính trị ch-a đ-ợc xác lập Nh-ng Liên bang Nga một c-ờng quốc hạt nhân mới kế thừa và tiếp tục con đ-ờng của Liên Xô trong vấn đề kiểm soát và cắt giảm vũ khí hạt nhân Liên bang Nga đã tham gia kí một số các văn kiện đa ph-ơng và song ph-ơng về lĩnh vực này với không ai khác chính

là Hoa Kỳ Năm 2003 Liên bang Nga đã kí Hiệp -ớc cắt giảm vũ khí hạt nhân chiến l-ợc giai đoạn ba (START - III) với Hoa Kỳ Hiệp -ớc này đã đặt cơ sở cho việc tiếp tục đàm phán về cắt giảm vũ khí hạt nhân giữa Liên bang Nga và Hoa Kỳ cùng các c-ờng quốc hạt nhân khác nh- Iran, Triều Tiên, Trung Quốc trong giai đoạn hiện nay Cho đến nay vấn đề đang còn diễn ra hết sức phức tạp, ch-a xác định đ-ợc thời gian kết thúc, nh-ng do hạn chế về mặt thời gian cũng nh- đây là thời điểm thay đổi quyền lãnh đạo ở cả hai n-ớc, vì thế đề tài cũng chọn năm 2008 làm điểm dừng

Đây là đề tài thuộc chuyên ngành lịch sử, nghiên cứu các vấn đề có liên quan đến vũ khí hạt nhân, không đi sâu vào lĩnh vực khoa học và kỹ thuật quân sự Đề tài tập trung nghiên cứu quá trình Nga và Mỹ tham gia vào vấn

đề chạy đua vũ trang, tham gia cắt giảm vũ khí hạt nhân trên ph-ơng diện lịch sử quan hệ quốc tế và tác động của nó đối với tình hình an ninh - chính

Trang 12

12 trị và hoà bình thế giới Bên cạnh đó luận văn chỉ giới hạn nghiên cứu những vấn đề có liên quan đến vũ khí hạt nhân chứ không nghiên cứu các loại vũ khí thông th-ờng khác

4 Nguồn tài liệu

Để hoàn thành đề tài này chúng tôi chủ yếu dựa vào các nguồn t- liệu sau: Nguồn t- liệu gốc bao gồm: văn bản các Hiệp -ớc, các bài phát biểu của lãnh đạo hai n-ớc

Sách chuyên khảo về quan hệ quốc tế

Các công trình nghiên cứu, báo cáo khoa học trong và ngoài n-ớc

Các bài viết trên các tạp chí: Nghiên cứu Quốc tế, Nghiên cứu Châu Âu, Thông tin tham khảo Quan hệ quốc tế, Tạp chí Cộng sản, Quan hệ quốc tế, tài liệu tham khảo đặc biệt của thông tấn xã Việt Nam

Các luận văn tiến sĩ, luận văn thạc sĩ có liên quan đến đề tài

5 Ph-ơng pháp nghiên cứu

Để hoàn thành đề tài tốt nghiệp này chúng tôi tuân theo ph-ơng pháp luận của lí luận chủ nghĩa Mác - Lênin, t- t-ởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về công tác nghiên cứu khoa học Sử dụng ph-ơng pháp lịch sử và ph-ơng pháp lôgic kết hợp với ph-ơng pháp nghiên cứu quan hệ quốc tế, phân tích, tổng hợp, so sánh để làm rõ vấn đề nghiên cứu Việc nghiên cứu đ-ợc thực hiện trên cơ sở tập hợp những nguồn thông tin đáng tin cậy kết hợp với các ph-ơng pháp nghiên cứu trên Những thông tin này sẽ đ-ợc phân tích và tổng hợp để đ-a ra những nhận định và đánh giá cho vấn đề đ-ợc nghiên cứu trong luận văn

6 Đóng góp của luận văn

Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần hệ thống hoá các vấn đề có liên quan đến lĩnh vực vũ trang hạt nhân thời kì sau Chiến tranh lạnh Đồng thời luận văn góp phần luận giải về thực chất vai trò cũng nh- động cơ của Liên bang Nga và Hoa Kỳ trong vấn đề kiểm soát và cắt giảm vũ khí hạt

Trang 13

13 nhân cũng nh- những tác động của nó đối với các vấn đề trong quan hệ quốc

tế và an ninh chính trị thế giới Từ đó rút ra bài học cho vấn đề kiểm soát vũ khí hạt nhân trong giai đoạn hiện nay Ngoài ra luận văn góp phần tổng hợp các quan điểm của thế giới và Việt Nam đối với vấn đề vũ trang hạt nhân và

đấu tranh đòi huỷ bỏ vũ khí hạt nhân, chống chiến tranh hạt nhân giữ gìn an ninh chính trị, hoà bình khu vực cũng nh- trên toàn thế giới

Đồng thời chúng tôi cũng cung cấp thêm cho bạn đọc một hệ thống t- liệu khi có nhu cầu tìm hiểu về vấn đề kiểm soát và cắt giảm vũ khí hạt nhân

từ khi kết thúc Chiến tranh lạnh đến nay và góp phần cung cấp tài liệu giảng dạy cho các bộ môn có liên quan đến phần lịch sử thế giới hiện đại

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn gồm có ba ch-ơng:

Ch-ơng 1 Những nhân tố tác động đến mối quan hệ giữa Liên bang Nga và Hoa Kỳ thời kì sau Chiến tranh lạnh

Ch-ơng 2 Hợp tác và đấu tranh giữa Liên bang Nga với Hoa Kỳ trong vấn đề kiểm soát và cắt giảm vũ khí hạt nhân từ sau Chiến tranh lạnh đến năm 2008

Ch-ơng 3 Thái độ của Liên bang Nga và Hoa Kỳ về một số vấn đề vũ khí hạt nhân trên thế giới

Trang 14

14

Ch-ơng 1 Những nhân tố tác động đến mối quan hệ giữa Liên bang Nga và Hoa Kỳ thời kì

sau Chiến tranh lạnh

1.1 Nhân tố quốc tế

1.1.1 Tình hình thế giới sau Chiến tranh lạnh

Chiến tranh lạnh kết thúc kéo theo sự sụp đổ của Liên Xô và hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu; cùng sự suy yếu t-ơng đối của Hoa Kỳ là sự trỗi dậy của Tây Âu, Nhật Bản, Trung Quốc, sự phân hoá của các n-ớc trong thế giới thứ ba, tất cả những điều này đã ảnh h-ởng không nhỏ đến tầm nhìn chiến l-ợc của các quốc gia trên thế giới Chiến tranh lạnh kết thúc, các n-ớc không còn đứng trên lập tr-ờng đối đầu quyết liệt nh- tr-ớc nữa, thay vào đó

là đối thoại, là h-ớng tới “toàn cầu hoá”, theo nghĩa là một tiến trình phát triển mới về chất của nhân loại Thế giới sau chiến tranh lạnh đã thay đổi với những nét nổi bật sau:

Thứ nhất, thế giới phát triển nhanh chóng theo h-ớng đa cực, tuy nhiên trật tự đa cực ch-a hẳn đã hình thành mà nó đang còn trong giai đoạn quá độ sang trật tự mới Có ng-ời nhận định thời kì quá độ này có thể phải kéo dài trong nhiều năm, có thể 30 đến 50 năm, bởi sự biến đổi của cục diện thế giới lần này mang đặc điểm mới mà quan trọng là không phải trải qua chiến tranh như trước kia Thế giới đang trong tình hình “một siêu cường, nhiều cường quốc”, đó là Hoa Kỳ, Nga, Tây Âu, Nhật bản, Trung Quốc

Thứ hai, sự tan rã của Liên Xô đã tạo cho Hoa Kỳ một lợi thế tạm thời,

là cực duy nhất còn lại sau chiến tranh lạnh, Hoa Kỳ ra sức củng cố vị trí siêu c-ờng với m-u đồ bá chủ thế giới Mặc dù là cực duy nhất nh-ng tình hình thế giới không phải là một cực mà đã xuất hiện các trung tâm khác nh-: Nhật Bản, Tây Âu, Trung Quốc, hơn nữa sau Chiến tranh lạnh Hoa Kỳ đã bị suy

Trang 15

15 yếu t-ơng đối cho nên để thoả mãn tham vọng bá chủ là điều khó Không muốn thế giới phát triển theo chiều h-ớng đa cực nên Hoa Kỳ tăng c-ờng

điều chỉnh chính sách đối nội và đối ngoại, tăng c-ờng tiềm lực cạnh tranh, xây dựng trật tự thế giới đi theo quỹ đạo có lợi cho Hoa Kỳ

Ba là, Sau khi Liên Xô tan rã, mặc dù đ-ợc kế thừa phần lớn những di sản của Liên Xô nh-ng Liên bang Nga vẫn là n-ớc có tiềm lực yếu so với Hoa Kỳ và nhiều trung tâm mới nổi lên khác Chính vì vậy, trong điều kiện mới này Nga cũng muốn nhân cơ hội tận dụng thời gian hoà hoãn bắt tay với các n-ớc kể cả Mỹ để có điều kiện phát triển kinh tế, điều chỉnh chính sách

đối nội và đối ngoại nhằm tăng c-ờng vị thế của mình trên tr-ờng quốc tế và

ổn định tình hình trong n-ớc

Bốn là, hoà bình thế giới đ-ợc củng cố, nguy cơ chiến tranh đ-ợc đẩy lùi, nh-ng ở nhiều khu vực hoà bình vẫn bị đe doạ, đó là mâu thuẫn về sắc tộc, tôn giáo, tranh chấp về lãnh thổ luôn đ-ợc che đậy d-ới thời chiến tranh nay bộc lộ thành xung đột gay gắt nh-: Chiến tranh vùng Vịnh năm 1990 -

1991, chiến tranh Côsôvô năm 1999, cuộc chiến chống khủng bố năm 2001… phần lớn những tranh chấp này đều có căn nguyên lịch sử nên việc giải quyết không thể nhanh chóng và dễ dàng

Chiến tranh lạnh kết thúc tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các thế lực tôn giáo Hồi giáo, một trong ba tôn giáo lớn có mặt ở 75 quốc gia, với một tỷ tín đồ Đạo hồi là tôn giáo đang hoạt động sôi nổi nhất trong lĩnh vực chính trị thế giới, nhất là chủ nghĩa Hồi giáo cực đoan “giống nh- một cơn sóng khổng lồ không chỉ tung phá biên giới quốc gia và khu vực, làm rung động toàn bộ thế giới Hồi giáo mà còn ảnh h-ởng đến sự thay đổi

và phát triển của tình hình thế giới Thế lực của chủ nghĩa Hồi giáo cực đoan phát triển và lan rộng nhanh chóng, đó là ch-a kể đến sự cuồng nhiệt của các tôn giáo khác sau chiến tranh, nh- sự xung đột chủng tộc giữa tín đồ ấn Độ giáo và Hồi giáo ở Punjap tháng 11 và 12 năm 1992 sau đó lan rộng ra cả 2

Trang 16

16 n-ớc ấn Độ và Pakistan với hàng nghìn ng-ời bị thiệt mạng Hoặc sự hoạt

động với tham vọng ngày càng lớn của Giáo hội Thiên chúa trong vòng 15 năm qua với “điều mới mẻ hơn là sự gặp gỡ của Giáo hội với những phong trào có khuynh hướng chống đối chính trị ở Ba Lan, Tiệp Khắc và Rumani” Nh- vậy, Chiến tranh lạnh kết thúc đã không nh- sự mong đợi lạc quan của nhiều ng-ời là thế giới sẽ đ-ợc hoà bình và ổn định Sự đối đầu Đông - Tây về t- t-ởng, quân sự, kinh tế, văn hoá… từng chi phối tình hình thế giới suốt trong thời kì Chiến tranh lạnh đang nh-ờng chỗ cho sự cách biệt ngày càng tăng giữa thế giới phát triển và thế giới ch-a phát triển mà biểu hiện rõ nhất là mâu thuẫn Bắc - Nam ngày càng thêm sâu sắc

Sự sụp đổ của trật tự l-ỡng cực đã đẩy các quốc gia đặc biệt là các c-ờng quốc vào tình thế buộc phải nhìn nhận và xây dựng lại đ-ờng lối phát triển và vị thế chiến l-ợc của mình trong khi điểm tựa cho việc hoạch định chính sách là Trật tự thế giới cũ đã bị phá vỡ trong khi trật tự thế giới mới lại ch-a thực sự đ-ợc xác lập

Đối với vấn đề vũ khí hạt nhân, Chiến tranh lạnh kết thúc kéo theo sự chấm dứt của những khái niệm “cân bằng chiến lược” và “huỷ diệt lẫn nhau

có bảo đảm”, môi trường an ninh quốc tế đã xuất hiện nhiều điểm mới

Thứ nhất, Chiến tranh lạnh kết thúc, một c-ờng quốc hạt nhân là Liên Xô đã mất đi, Liên bang Nga một n-ớc kế thừa 70% cũng không đủ sức lôi kéo châu Âu và Hoa Kỳ vào cuộc chiến tranh toàn diện mới Nh-ng sau khi thực hiện “Hiệp ước cắt giảm vũ khí hạt nhân chiến lược giai đoạn một” thì Nga vẫn còn 6000 vũ khí hạt nhân chiến l-ợc, vẫn có khả năng làm cho Hoa

Kỳ và các n-ớc đối lập lo sợ Hơn nữa, xu thế phát triển quan hệ Hoa Kỳ - Liên bang Nga sau Chiến tranh lạnh hết sức phức tạp Căn cứ vào đánh giá về mối đe doạ từ n-ớc Nga, chính sách về kiểm soát và cắt giảm vũ khí hạt nhân chiến l-ợc của Hoa Kỳ là cả hai bên tiếp tục cắt giảm vũ khí hạt nhân chiến lược, tiếp tục đàm phán và kí kết “Hiệp ước cắt giảm vũ khí hạt nhân chiến lược giai đoạn hai”, thông qua biện pháp hợp tác, hạ thấp mối đe doạ từ Nga

Trang 17

17 Thứ hai, Chiến tranh lạnh kết thúc, mối đe doạ đến tình hình an ninh thế giới rất phức tạp, đa dạng nh-: mâu thuẫn khu vực trong thời kì Chiến tranh lạnh đến nay đ-ợc nới lỏng; một số n-ớc có thể tìm cách có đ-ợc loại vũ khí giết ng-ời hàng loạt mà tr-ớc đây chủ yếu chỉ có Hoa Kỳ và Liên Xô có nhằm giành lợi thế quân sự trong khu vực; một số n-ớc có khả năng nghiên cứu thì cũng không dễ gì từ bỏ tham vọng có trong tay loại vũ khí giết ng-ời hàng loạt này; sau khi Liên Xô tan rã có nhiều n-ớc có đ-ợc vũ khí hạt nhân, ngoài Liên bang Nga còn có Ucraina, Bêlarút, Karăcxtan, có khả năng những n-ớc đó buông lỏng kiểm soát vũ khí, nguyên liệu và kĩ thuật hạt nhân Vũ khí giết ng-ời hàng loạt và kĩ thuật nghiên cứu hạt nhân có khả năng sẽ đ-ợc phổ n điều này gây ra mối đe doạ không chỉ đối với Hoa Kỳ mà còn đe doạ

an ninh thế giới đặc biệt khi loại vũ khí này rơi vào tay các phần tử khủng bố Chính vì vậy, việc cắt giảm vũ khí cũng nh- kỹ thuật hạt nhân trở thành việc lớn và quan trọng hàng đầu Nhận thấy những điều đó, Hoa Kỳ cho rằng mối

đe doạ mới sau Chiến tranh lạnh có đặc điểm không thể đoán tr-ớc và khống chế đ-ợc, bởi Hoa Kỳ và các n-ớc đó không có đ-ờng dây nóng, thiếu cơ chế

đối thoại an ninh th-ờng trực Căn cứ vào đó sau Chiến tranh lạnh Hoa Kỳ đã

điều chỉnh -u tiên trong chính sách kiểm soát và cắt giảm vũ khí hạt nhân chiến l-ợc, từ chú ý và hạn chế cắt giảm vũ khí hạt nhân trong Chiến tranh lạnh chuyển sang quan tâm hàng đầu việc phổ biến vũ khí và kỹ thuật sát th-ơng hàng loạt, chú ý hơn đến đe doạ do nó gây ra, nghiêng về ngăn chặn thậm chí chủ tr-ơng chống phổ biến loại vũ khí này, đồng thời cùng Nga cắt giảm vũ khí hạt nhân chiến l-ợc

Thứ ba, cục diện quốc tế nhất siêu đa c-ờng sau Chiến tranh lạnh đã quyết định khi giải quyết an ninh và toàn cầu khu vực cần có sự ủng hộ và tham gia của nhiều n-ớc, cần mở rộng và xây dựng cơ chế đa ph-ơng trong lĩnh vực kiểm soát và cắt giảm vũ trang, như thúc đẩy đạt được “công ước vũ khí hoá học” và kéo dài vô thời hạn “Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt

Trang 18

18 nhân”, thúc đẩy đạt được “Hiệp ước cấm thử vũ khí hạt nhân toàn diện” Nói cách khác, đa ph-ơng trong chính sách kiểm soát và cắt giảm vũ khí hạt nhân chiến l-ợc đã đ-ợc nâng lên, lúc này không còn là hai siêu c-ờng Mỹ - Xô nữa mà là tất cả các quốc gia trên thế giới, kể cả những quốc gia không có vũ khí hạt nhân cũng có quyền bàn và đấu tranh vì vấn đề này

Nh- vậy, vấn đề kiểm soát và cắt giảm vũ khí hạt nhân thế giới thời kì sau Chiến tranh lạnh có nhiều thuận lợi hơn, đó là do sự thay đổi của tình hình thế giới sau Chiến tranh lạnh Sự đối đầu không còn và trên cơ sở những Hiệp -ớc đã kí, vấn đề kiểm soát và cắt giảm vũ khí hạt nhân sau Chiến tranh lạnh sẽ diễn ra trong bối cảnh có nhiều thuận lợi hơn

1.1.2 Xu thế thế giới sau Chiến tranh lạnh

Ngay từ khi vũ khí hạt nhân ra đời, một phong trào chống vũ khí hạt nhân và chạy đua vũ trang hạt nhân đã hình thành và phát triển trên nhiều n-ớc, nhiều diễn đàn quốc tế Phong trào này đã thể hiện một mối quan tâm chung của cộng đồng quốc tế tr-ớc nguy cơ đe doạ của vũ khí hạt nhân đối với hoà bình và an ninh thế giới Phong trào đã có tác động nhất định đối với việc kí kết các văn kiện về kiểm soát và cắt giảm vũ khí hạt nhân, vì thế đã góp phần giải trừ đ-ợc phần nào kho vũ khí hạt nhân trên thế giới Tuy nhiên, sau Chiến tranh lạnh kho vũ khí hạt nhân trên thế giới vẫn còn rất lớn, tiếp tục đe doạ nền hoà bình và an ninh thế giới Hơn nữa, những tiến bộ của khoa học kỹ thuật làm cho sự phổ biến hạt nhân tiếp tục gia tăng nhanh chóng Vì thế, vấn đề kiểm soát và cắt giảm vũ khí hạt nhân vẫn còn là một vấn đề quan trọng, đòi hỏi sự tích cực tham gia của các c-ờng quốc hạt nhân và các n-ớc trên thế giới Phong trào đấu tranh chống vũ khí hạt nhân vì thế tiếp tục đ-ợc

đẩy mạnh để tiến tới huỷ bỏ loại vũ khí huỷ diệt này

Sau Chiến tranh lạnh, trên thực tế vấn đề giải trừ vũ khí hạt nhân vẫn nằm trong sự quan tâm của cộng đồng quốc tế D-ới sự bảo trợ của Liên hợp quốc, ngày 11 - 5 – 1995, Hội nghị quốc tế về việc xem xét lại Hiệp -ớc

Trang 19

19

“không phổ biến vũ khí hạt nhân” (NPT) đã quyết định Hiệp -ớc này sẽ có giá trị vĩnh viễn Đồng thời Hiệp -ớc NPT thiết lập một hệ thống giám sát quốc tế do IAEA điều hành Lúc này Hiệp -ớc NPT đã có sự tham gia của

188 n-ớc trong đó có tất cả 5 c-ờng quốc hạt nhân là Mỹ, Nga, Anh, Pháp, Trung Quốc Sau đó, tháng 9 - 1996, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã thông qua Hiệp -ớc cấm thử vũ khí hạt nhân toàn diện (CTBT) với 158 phiếu thuận,

3 phiếu trống và 5 phiếu trắng Hiệp -ớc CTBT cấm tất cả các vụ thử vũ khí hạt nhân, kể cả các vụ thử nghiệm vì mục đích hoà bình Ngoài ra tại khoá họp 59 (10 - 2004), Đại hội đồng Liên hợp quốc đã thông qua 55 nghị quyết

về an ninh và giải trừ quân bị toàn cầu Các nghị quyết liên quan đến vũ khí hạt nhân kêu gọi tất cả các n-ớc tiến hành th-ơng l-ợng đa ph-ơng một công -ớc quốc tế về cấm phát triển, sản xuất, thử nghiệm, tàng trữ, chuyển giao, triển khai, đe doạ hoặc sử dụng vũ khí hạt nhân tiến tới loại trừ hoàn toàn loại

đ-ợc mục đích không phổ biến vũ khí hạt nhân cần ngăn chặn việc phát triển

vũ khí hạt nhân ngay tại các quốc gia đang sở hữu loại vũ khí nguy hiểm này” Các đại biểu cũng kêu gọi chính phủ và nhân dân các nước tích cực tham gia vào cuộc đấu tranh chống vũ khí hạt nhân, xây dựng một thế giới không có vũ khí hạt nhân [90]

Trong số những tiếng nói phản đối vũ khí hạt nhân, đáng chú ý là kiến nghị của 60 t-ớng sĩ và đô đốc hải quân đã về h-u ở 17 n-ớc trên thế giới (Hoa Kỳ, Nga, Anh, Pháp, ấn Độ, Pakistan, Nhật Bản, Canada, Đan Mạch,

Bồ Đào Nha, Na Uy, Hy Lạp, Hà Lan, Sri Lanca, Joocđani, Tanzania và

Trang 20

20 Gana) Nhiều ng-ời trong số những t-ớng lĩnh này từng làm Tổng thống, Tổng tham m-u tr-ởng các lực l-ợng vũ trang, Thứ tr-ởng bộ quốc phòng

Họ đã cùng kí tên trong bản tuyên bố chung ngày 5 - 12 - 1996 Bản tuyên bố

có đoạn viết “chúng tôi những quân dân chuyên nghiệp đã cống hiến cả đời mình vì an ninh của tổ quốc và nhân dân chúng tôi, tin rằng sự tiếp tục tồn tại của vũ khí hạt nhân trong kho của các c-ờng quốc hạt nhân và việc các n-ớc khác đang tìm cách có đ-ợc vũ khí hạt nhân chính là một mối đe doạ lớn đối với hoà bình và an ninh thế giới cũng nh- sự tồn tại của các dân tộc mà chúng tôi đang bảo vệ” [89] Là những ng-ời có vị trí trong quân đội hoặc giữ những trọng trách có liên quan đến vũ khí hạt nhân và an ninh quốc gia,

họ hiểu rõ hơn ai hết tính chất vô cùng nguy hiểm của chiến tranh hạt nhân

đối với hoà bình, an ninh thế giới và sự sống còn của nhân loại Vì thế trong bản tuyên bố, họ cảnh báo mối hiểm hoạ tiếp tục của vũ khí hạt nhân đối với

sự tồn tại văn minh nhân loại chừng nào loại vũ khí có tính huỷ diệt này ch-a

bị loại bỏ hoàn toàn Theo đánh giá của các cựu sĩ quan quân sự này, những văn kiện về kiểm soát và cắt giảm vũ khí hạt nhân trong thời kì Chiến tranh lạnh là những “động thái tích cực” nhưng “chưa đạt được một sự giải trừ vũ khí hạt nhân thực sự” Họ đề ra biện pháp cấp bách để làm giảm nguy cơ đe doạ của vũ khí hạt nhân đối với thế giới Đó là: 1) Tiếp tục cắt giảm mạnh kho vũ khí hạt nhân của các n-ớc trên thế giới; 2) Xoá bỏ tình trạng sẵn sàng chiến đấu của vũ khí hạt nhân ở tất cả các n-ớc có loại vũ khí này; 3) xây dựng một chính sách hạt nhân lâu dài của quốc tế dựa trên nguyên tắc tiếp tục và tiến tới xoá bỏ hoàn toàn vũ khí hạt nhân Đồng thời, xây dựng một ch-ơng trình thanh sát hạt nhân trên phạm vi toàn thế giới để ngăn chặn việc chế tạo vũ khí hạt nhân mới, tiếp tục thành lập các khu vực phi hạt nhân, xây dựng các biện pháp củng cố lòng tin giữa các n-ớc, kí các Hiệp -ớc về giải trừ quân bị, tiến tới một thế giới không có vũ khí hạt nhân [89]

Trang 21

21 Nh- vậy, phong trào chống vũ khí hạt nhân tiếp tục đ-ợc duy trì sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc Các văn kiện của Liên hợp quốc về giải trừ vũ khí hạt nhân, Hội nghị thế giới về chống bom A và bom H, tuyên bố phản đối vũ khí hạt nhân của 60 t-ớng lĩnh từ 17 n-ớc có thể coi là những sự kiện tiêu biểu Tuy nhiên, vấn đề giải trừ vũ khí hạt nhân vẫn còn nan giải Có quan niệm cho rằng: “Quan niệm đe doạ hạt nhân dường như đã ăn sâu vào lòng người, khó có thể thay đổi được” mặc dù không ai nghi ngờ về tính huỷ diệt của loại vũ khí này Đây đ-ợc coi là một lí do để vũ khí hạt nhân tiếp tục tồn tại Hoa Kỳ và Liên bang Nga là hai c-ờng quốc hạt nhân hàng đầu và là hai n-ớc có kho vũ khí hạt nhân lớn nhất Vậy họ tiếp tục duy trì một lực l-ợng hạt nhân lớn nh- vậy để làm gì nếu nh- không phải để tiếp tục duy trì thực hiện chính sách hạt nhân trong quan hệ quốc tế? Ngoài các c-ờng quốc hạt nhân, nhiều n-ớc không có vũ khí hạt nhân cũng muốn có đ-ợc thứ vũ khí này vì họ coi đó là “thủ đoạn quan trọng để tăng c-ờng thực lực của bản thân

và địa vị trên tr-ờng quốc tế” [30; 228] Vì vậy, vấn đề giải trừ vũ khí hạt nhân cần kết hợp với việc giải quyết những vấn đề lớn trong quan hệ quốc tế Những vấn đề này bao gồm thiết lập một cơ chế giám sát có hiệu quả đối với việc thực hiện các Hiệp -ớc NPT và Hiệp -ớc CTBT; đảm bảo an ninh và chủ quyền cho các n-ớc vừa và nhỏ, các n-ớc không có vũ khí hạt nhân; thực hiện các biện pháp xây dựng lòng tin giữa các quốc gia và đảm bảo lợi ích của các n-ớc trong các quan hệ song ph-ơng và đa ph-ơng

Sau Chiến tranh lạnh, phong trào đấu tranh chống vũ khí hạt nhân tiếp tục đ-ợc duy trì Đây là thuận lơi cho các cuộc đàm phán về cắt giảm vũ khí hạt nhân trong giai đoạn hiện nay

1.2 Nhân tố quốc gia

1.2.1 Chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ

Thế giới sau Chiến tranh lạnh biến đổi từng ngày, nó đòi hỏi cộng đồng quốc tế tham gia vào quá trình hình thành nên một trật tự thế giới mới với

Trang 22

22 những đặc thù riêng và nó cũng có tác động không nhỏ đến chính sách đối ngoại của các quốc gia Trong bối cảnh ấy, những ng-ời hoạch định chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ vẫn tiếp tục tham vọng bá quyền của mình Các cuộc tranh luận về vai trò của Hoa Kỳ trên tr-ờng quốc tế đã diễn ra hết sức sôi nổi trong nội bộ chính quyền Hoa Kỳ Bởi rõ ràng là, khi chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, Hoa Kỳ không còn cớ m-ợn ngọn cờ chống chủ nghĩa cộng sản để hoạt động trên tinh thần củng cố uy quyền của một c-ờng quốc hạt nhân nh- thời Chiến tranh lạnh ở khắp nơi trên thế giới nữa Nh-ng Chiến tranh lạnh kết thúc cũng mang lại một khoảng trống nhất

định cho Hoa Kỳ, mà theo một học giả Hoa Kỳ thì “người Mỹ không thích những khoảng trống” Chính vì vậy, giới cầm quyền Hoa Kỳ cho rằng Hoa

Kỳ phải nắm lấy quyền kiểm soát thế giới, hay nói cách khác, với những -u thế của mình, Hoa Kỳ cần phải giữ vai trò quan trọng của mình trong việc kiến tạo một trật tự thế giới mới Trong diễn văn nhậm chức ngày 20 - 1 - 1993, Tổng thống Hoa Kỳ B Clintơn đã nói: “niềm dân chủ của chúng ta không nên chỉ là niềm ganh tỵ của thế giới mà còn phải là đầu máy của cỗ xe đổi mới Không có cái gì trái của Hoa Kỳ mà lại không thể cứu chữa đ-ợc bằng cái đ-ợc gọi là đúng với Hoa Kỳ Vì vậy ngày hôm nay chúng ta cầu nguyện cho kỉ nguyên bế tắc trôi dạt qua đi và một mùa đổi mới sẽ bắt đầu trên toàn lãnh thổ Hoa Kỳ” [26; 27] Tại thời điểm này, nội tình Hoa Kỳ gặp ít nhiều khó khăn, đặc biệt là vấn đề kinh tế, vì trải qua hơn 40 năm, với gánh nặng

“chạy đua vũ trang” và “bao” chi tiêu quân sự hầu khắp thế giới với chi tiêu cho quân sự mỗi năm là 50 đến 55% chi phí quân sự trên toàn thế giới, vì thế Hoa Kỳ bị giảm thế mạnh so với các c-ờng quốc khác Mặt khác, Hoa Kỳ

đang phải đối mặt với Nhật Bản, Đức là hai n-ớc phát xít bại trận đang lớn mạnh, khối thị tr-ờng chung châu Âu đang trở nên rất mạnh, cuộc “Chiến tranh kinh tế” mang tính chất toàn cầu đang diễn ra sôi nổi, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ cũng đang diễn ra… muốn vươn lên kịp các nước khác Hoa Kỳ phải thoát ra khỏi thế đối đầu và có cục diện ổn định

Trang 23

23 Trong nhiệm kỳ Tổng thống của G Bush (cha) 1988 - 1992 tình hình kinh tế xã hội Hoa Kỳ đã không đ-ợc cải thiện, thậm chí tình hình khủng hoảng kinh tế, nạn thất nghiệp còn tăng lên, ngân sách quốc gia luôn trong tình trạng bị thâm hụt

Chính vì vậy, khi lên làm Tổng thống, B Clintơn một ng-ời xuất thân trong cái nôi của Đảng dân chủ đã đặt vấn đề kinh tế lên hàng đầu Vì thế, chính sách đối ngoại trực tiếp liên quan đến thay đổi xã hội và kinh tế Hoa

Kỳ làm ông quan tâm hơn

Cũng từ khi Chiến tranh lạnh kết thúc, Hoa Kỳ giảm tốc độ phát triển hệ thống phòng chống tên lửa đã dự tính từ “Sáng kiến phòng thủ chiến lược” của chính quyền Reagân thành “Hệ thống tiến công có hạn phòng hộ toàn cầu”, từ hệ thống tiến công nhằm vào hàng ngàn tên lửa của Liên Xô đổi thành phát triển hệ thống phòng thủ tên lửa để đối phó với cuộc tiến công tên lửa hạn chế Trong nhiệm kì Tổng thống của mình, B Clintơn đã thẩm tra toàn diện “sáng kiến phòng thủ quốc phòng” đ-ợc thực hiện trong 10 năm, cuối cùng Cục đề x-ớng phòng thủ chiến l-ợc đ-ợc đổi thành Cục phòng thủ tên lửa đan đạo Theo báo cáo của Cục tình báo Trung -ơng Hoa Kỳ năm

1993 cho rằng, trong 15 năm, Iran, Irắc, Bắc Triều Tiên và Li Bi có nguyện vọng phát triển tên lửa chiến l-ợc tầm xa nhằm vào Hoa Kỳ, nh-ng hầu nh-

họ không có nhu cầu phát triển; phát triển tên lửa tầm trung và tầm ngắn cũng đủ thoả mãn nhu cầu an ninh của họ [69] Do đó, từ năm 1993 đến năm

1995, kinh phí Hoa Kỳ dùng để nghiên cứu và phát triển hệ thống phòng thủ tên lửa liên tục giảm, chi phí cho hệ thống phòng, chống tên lửa quốc gia giảm t-ơng đối nhiều Điều này chứng tỏ Hoa Kỳ đã quan tâm đến vấn đề kiểm soát và cắt giảm vũ khí hạt nhân chiến l-ợc sau Chiến tranh lạnh khi mà môi tr-ờng quốc tế đã thay đổi, cuộc chạy đua vũ trang sẽ dần đ-ợc thay thế bằng chạy đua kinh tế, điều đó đang diễn ra mạnh mẽ trên phạm vi toàn thế giới

Trang 24

24 Nh- vậy, chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến nay là luôn tìm cách khẳng định và duy trì địa vị lãnh đạo thế giới của mình Xuất phát từ nội lực kinh tế, Hoa Kỳ cũng đã tạo cho mình một chính sách an ninh quốc gia phù hợp với lợi ích kinh tế, đảm bảo cho nền kinh tế, an ninh và quốc phòng mạnh hơn bất cứ một quốc gia nào trên thế giới, đặc biệt Hoa Kỳ rất chú ý đến thế nào để giảm bớt kho vũ khí hạt nhân trên thế giới cũng nh- kho vũ khí hạt nhân mà mình đang sở hữu, giảm bớt gánh nặng về chi phí tiền của, tạo đà cho nền kinh tế phát triển mạnh mẽ cho phù hợp với xu thế toàn cầu và đa cực hoá đang không ngừng phát triển

1.2.2 Chính sách đối ngoại của Liên bang Nga sau Chiến tranh lạnh

Năm 1992, B Enxin trở thành Tổng thống đầu tiên của Liên bang Nga, một bộ máy chính quyền mới đ-ợc thành lập, n-ớc Nga mới chuyển đổi cơ cấu chính trị theo chế độ tam quyền phân lập Họ “Đoạn tuyệt hệ tư tưởng Chủ nghĩa cộng sản” để xây dựng nước Nga thành một “cường quốc dân chủ” Trong chính sách đối ngoại của mình, những ng-ời đứng đầu chính phủ Nga lúc này đ-a việc thiết lập liên minh chặt chẽ với các n-ớc Ph-ơng Tây

mà tr-ớc hết là với Mỹ, bởi họ cho rằng chính sách đối ngoại đó sẽ tao cho n-ớc Nga có nhiều điều kiện thuận lợi để cải cách kinh tế, chính trị, xã hội Nh-ng sau 8 năm, với chính sách đối nội và đối ngoại của chính quyền

B Enxin, chỉ số GDP hàng năm của Liên bang Nga luôn ở mức âm (ngoại trừ năm 1997 đạt 0,4%); hoạt động khủng bố ở Tresnia với những nguy cơ nghiêm trọng đe doạ an ninh quốc gia, trên tr-ờng quốc tế hình ảnh n-ớc Nga mặc dù đã đ-ợc cải thiện, song vẫn còn ở mức mờ nhạt và yếu so với các

đối tác trong nhóm G7, nhất là xu h-ớng bành trướng của khối NATO… Tr-ớc tình hình nh- vậy, ngay sau khi lên nắm c-ơng vị Tổng thống Liên bang Nga vào ngày 26 - 3 - 2000, chính quyền Tổng thống V Putin đã có thay đổi căn bản trong chính sách đối ngoại của n-ớc Nga

Trang 25

25 Trong văn bản “Chiến lược an ninh quốc gia Nga”, đây là văn bản hệ thống các quan điểm chính trị cơ bản trong chính sách của nhà n-ớc Liên bang Nga về đảm bảo an ninh cho cá nhân, xã hội và nhà n-ớc, bảo vệ đất n-ớc tr-ớc những mối đe doạ từ bên ngoài và bên trong trong mọi lĩnh vực của cuộc sống Chiến l-ợc này cũng xác định vị trí của n-ớc Nga trên tr-ờng quốc tế, các lợi ích quốc gia, các nguy cơ và những biện pháp cụ thể để đảm bảo an ninh quốc gia Nga [19]

Trong văn bản “Học thuyết quân sự của Liên bang Nga” được công bố ngày 21 - 4 - 2000 xác định các cơ sở quân sự - chính trị, quân sự - chiến l-ợc và quân sự - kinh tế của việc đảm bảo an ninh quốc phòng cho n-ớc Nga Văn bản đề cập đến vấn đề vũ khí hạt nhân, trong điều 8 phần 1 “Cơ sở quân sự - chính trị” đã khẳng định “An ninh quân sự của Liên bang Nga đ-ợc bảo đảm bởi toàn bộ những lực l-ợng, ph-ơng tiện và tiềm năng Nga có trong tay, Liên bang Nga giữ cho mình quyền sử dụng vũ khí hạt nhân để đáp lại việc vũ khí hạt nhân và các loại vũ khí giết ng-ời hàng loạt đ-ợc sử dụng để chống lại Nga hay các đồng minh của Nga, và để đáp lại cuộc xâm l-ợc có quy mô lớn với việc sử dụng vũ khí thông th-ờng trong những tình huống nguy hiểm đối với an ninh quốc gia Nga” [19]

Văn kiện có ý nghĩa quan trọng nhất, là b-ớc tiến đáng kể nhất trong lĩnh vực đối ngoại của Nga là “Chiến lược đối ngoại của Liên bang Nga”, công bố ngày 28 - 6 - 2000 gồm 5 phần Chiến l-ợc này đã trình bày những luận điểm chung, khái quát tình hình thế giới và những chính sách đối ngoại của Nga trong việc giải quyết những vấn đề toàn cầu cũng nh- các -u tiên khu vực Chiến lược cũng ghi rõ: “Một đường lối đối ngoại thành công của Nga phải đ-ợc xây dựng trên cơ sở tuân thủ sự cân bằng giữa các mục tiêu và khả năng đạt đ-ợc các mục tiêu đó và -u tiên tối cao trong đ-ờng lối đối ngoại của Nga là bảo vệ con người, xã hội và nhà nước Nga”

Trang 26

26 Trên thực tế, lúc này chúng ta thấy, ngoại trừ kho vũ khí hạt nhân, các tiêu chí thể hiện sức mạnh c-ờng quốc của Nga đang ở mức rất thấp Do vậy, Tổng thống Nga V Putin quan tâm tr-ớc hết đến hiệu quả các hoạt động ngoại giao với các n-ớc, các khu vực khác nhau trên thế giới mà tr-ớc hết là trong không gian hậu Xô viết

Trong chính sách đối ngoại với Mỹ, Tổng thống Nga cũng có những

động thái hết sức linh hoạt, tránh đối đầu và chạy đua vũ trang với Mỹ Không đồng tình việc Mỹ đơn ph-ơng rút khỏi hệ thống phòng thủ chống tên lửa đan đạo (ABM), việc quân Mỹ có mặt tại Grudia, việc Mỹ gọi các n-ớc Irăc, Iran, Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên là trục ma quỷ… Nhưng Nga lại phản ứng khá thận trọng, có chừng mực và cố tạo đ-ợc bầu không khí bớt căng thẳng hơn với Mỹ để có đ-ợc môi tr-ờng quốc tế thuận lợi cho mục tiêu phát triển kinh tế đất n-ớc Tuy nhiên, trong quan hệ với Mỹ, Nga vẫn bị

Mỹ lấn l-ớt, chèn ép (vấn đề xoá bỏ ABM để thực hiện NMD, vấn đề cắt giảm vũ khí hạt nhân…) do vậy sau một thời gian ngắn quan hệ Nga - Mỹ thật sự là “đối tác chiến lược”, thì hiện nay lại đang diễn biến khá phức tạp, khó dự báo Đặc biệt khi Mỹ triển khai kế hoạch NMD quan hệ Nga - Mỹ gần nh- quay lại thời kì Chiến tranh lạnh

Tóm lại, có thể thấy chính sách đối ngoại của Nga d-ới thời Tổng thống

V Putin đã đ-ợc điều chỉnh khá rõ rệt theo h-ớng linh hoạt hơn, chú trọng hiệu quả thực tế hơn Tổng thống V Putin thật sự vào cuộc trong những vấn

đề quốc tế nóng bỏng và phức tạp, vừa chú trọng sao cho giải quyết những vấn đề đó phù hợp với những lợi ích quốc gia thiết thực của Nga vốn đang bị rơi vào thế rất bất lợi Ông M Maghêlôp, chủ tịch Uỷ ban đối ngoại hội đồng Liên bang Nga có nhận xét rất đúng: “Đặc điểm chủ yếu trong chính sách đối ngoại của Tổng thống Putin là thực dụng tối đa và từ bỏ ảo t-ởng, dù ảo t-ởng đó rất dễ chịu” Trong khi luôn khẳng định nước Nga sẽ và đã là một

đất n-ớc vĩ đại, một c-ờng quốc, Tổng thống V Putin nhấn mạnh: “Trong

Trang 27

27 thế giới hiện đại, vị thế c-ờng quốc của một n-ớc không chỉ thể hiện ở sức mạnh quân sự, mà còn ở khả năng trở thành n-ớc đối đầu trong việc phát triển và ứng dụng các công nghệ tiên tiến, bảo đảm sức sống cao cho nhân dân, bảo vệ vững chắc an ninh của mình và tranh đấu cho lợi ích quốc gia của mình trên trường quốc tế”

Trong suốt quá trình làm Tổng thống từ năm 2000 đến cuối năm 2008, Tổng thống Nga V Putin luôn có chính sách đối ngoại nhằm bảo vệ và nâng cao vị thế của Nga trên tr-ờng quốc tế, thậm chí chính sách đối ngoại đó còn

là chính sách vừa mềm dẻo vừa cứng rắn với ph-ơng Tây và Mỹ

vũ trang, Hiệp -ớc NPT có hiệu lực trong vòng 25 năm kể từ tháng 3 - 1970 Tuy nhiên, sau các Hiệp -ớc đã kí thì vũ khí hạt nhân vẫn không ngừng tăng lên cả về số l-ợng lẫn chất l-ợng Mặt khác, từ cuối thập niên 60 đầu thập niên 70 của thế kỉ XX, Liên Xô đã đạt đ-ợc sự cân bằng về sức mạnh hạt nhân với Hoa Kỳ, đồng thời mối quan hệ giữa ph-ơng Đông và ph-ơng Tây đã đ-ợc cải thiện ở mức độ “hoà hoãn” Do ảnh hưởng của việc cải thiện quan hệ chính trị và thực tế cân bằng hạt nhân chiến l-ợc nên khống chế vũ khí hạt nhân trong thập niên 70(XX) đã đạt đ-ợc những thành quả t-ơng đối lớn Ngày 25 - 6 – 1972, Hoa Kỳ và Liên Xô đã tiến hành th-ơng l-ợng nhằm hạn chế vũ khí tiến công chiến lược, “Hiệp ước về hạn chế hệ thống

Trang 28

28 phòng, chống tên lửa (ABM)” đã được kí với nội dung: Hiệp ước tên lửa chống tên lửa quy định, mỗi bên có thể có hai hệ thống tên lửa chống tên lửa, một xung quanh thủ đô và một xung quanh căn cứ tên lửa chiến l-ợc, bán kính bố trí mỗi hệ thống không quá 150 km, dàn phóng tên lửa chống tên lửa

và đầu đạn của mỗi hệ thống không đ-ợc quá 100 tên lửa chống tên lửa, hai bên sử dụng kỹ thuật của bên mình để kiểm tra, không quấy nhiễu vệ tinh của đối ph-ơng vận hành [23; 605]

Hiệp -ớc ABM đ-ợc xem là “hòn đá tảng” của sự ổn định chiến l-ợc trên thế giới Tuy nhiên nó còn ở mức điều chỉnh chiến l-ợc, phạm vi và tốc

độ chạy đua vũ trang hạt nhân Về mặt quôc tế, đây đ-ợc xem là điểm khởi

đầu cho quá trình hạn chế và giảm bớt vũ khí tiến công chiến l-ợc của các c-ờng quốc hạt nhân mà tr-ớc tiên là Hoa Kỳ và Liên Xô

Cùng ngày 25 - 6 - 1972, Hoa Kỳ và Liên Xô cũng kí “Hiệp định tạm thời về một số biện pháp trong lĩnh vực hạn chế vũ khí tiến công chiến l-ợc (SART - 1) Hiệp định quy định hạn chế sản xuất tên lửa đạn đạo liên lục địa (ICBM) và tên lửa đan đạo phóng ra từ tầu ngầm trong vòng 5 năm, đ-a ra thời gian không hạn định đối với việc hạn chế các hệ thống chống tên lửa đạn

đạo (ABM) và những biện pháp hạn chế vũ khí chiến l-ợc tiến công quy

định, việc đổi cũ thay mới cũng bị hạn chế

Kết quả của Hiệp định này đã giảm bớt tình hình căng thẳng trong quan

hệ quốc tế

Với những thoả thuận đạt đ-ợc năm 1972, việc đảm bảo chắc chắn sẽ không nổ ra một cuộc chiến tranh hạt nhân huỷ diệt vẫn ch-a đ-ợc bảo đảm Nên mùa xuân năm 1973 Hoa Kỳ và Liên Xô đã tiếp tục xúc tiến cho việc chuẩn bị hội nghị th-ợng đỉnh lần thứ hai, với mong muốn tổ chức hội nghị cấp cao nhất để kí Hiệp -ớc không sử dụng vũ khí hạt nhân làm cho vấn đề kiểm soát và cắt giảm vũ khí hạt nhân đạt kết quả thoả mãn hơn nữa

Trang 29

29 Ngày 14 - 6 – 1974, Hiệp -ớc hạn chế vũ khí chiến l-ợc giai đoạn hai (SART - 2) đã đ-ợc kí với nội dung: tổng số vũ khí hạt nhân chiến l-ợc của mỗi bên là 2250 chiếc, các ph-ơng tiện mang đầu đạn bao gồm máy bay ném bom chiến l-ợc trang bị tên lửa tìm diệt không đ-ợc quá 1320 chiếc, tổng số tên lửa v-ợt đại châu và tên lửa đạn đạo phóng từ tàu ngầm không quá 1200 chiếc, tên lửa v-ợt đại châu nhiều đạn không quá 820 chiếc, số l-ợng tên lửa v-ợt đại châu hạng nặng là 308 chiếc Đây là Hiệp -ớc có phạm vi rộng lớn hơn Hiệp -ớc tạm thời Nh-ng đây lại là Hiệp -ớc rất khó để thực hiện đúng

và thông qua

Trong thời gian vừa qua, Hoa Kỳ đã cùng các c-ờng quốc hạt nhân đặc biệt là Liên bang Nga th-ơng l-ợng về vấn đề kiểm soát và cắt giảm vũ khí hạt nhân, nh-ng trên lời nói thì Hoa Kỳ kêu gọi “giảm bớt một cách căn bản” nh-ng chủ yếu lại muốn giảm bớt tiềm năng vũ khí hạt nhân chiến l-ợc của Liên Xô, còn Hoa Kỳ lại bắt đầu nghiên cứu hệ thống chống tên lửa có quy mô rộng lớn và có hiệu quả cao với những ph-ơng tiện đ-ợc bố trí trên vũ trụ

Đây là việc làm trái với Hiệp ước ABM, Hoa Kỳ đã thực hiện dự án “Sáng kiến phòng thủ chiến lược”, đó là chương trình SDI - một kế hoạch của quân

sự hoá vũ trụ, nhằm phục vụ chiến lược “răn đe hạt nhân” theo thuyết “hoà bình thông qua sức mạnh” của Hoa Kỳ [51]

Trong những năm từ 1985 đến 1991, các cuộc th-ợng l-ợng về Hiệp -ớc START đã đ-ợc đẩy từng b-ớc qua các cuộc gặp cấp cao Xô - Mỹ Điển hình

là Hiệp -ớc INF kí ngày 8 - 12 - 1987 tại Oasinhtơn Đây là b-ớc tiến đầu tiên trên con đ-ờng giải trừ quân bị thực sự, Hiệp -ớc này đã làm giảm bớt nguy cơ của chiến tranh hạt nhân, cũng có thể ổn định chiến l-ợc phù hợp với lợi ích mỗi bên cũng nh- hoà bình an ninh thế giới

Cũng từ năm 1990 trở đi tình hình thế giới có nhiều thay đổi, quân đội nhiều n-ớc do Hoa Kỳ cầm đầu thắng trong chiến tranh Vùng Vịnh, Hội

đồng t-ơng trợ kinh tế, tổ chức Vacsava theo nhau giải thể, đối đầu giữa hai

Trang 30

30 khối quân sự lớn ở châu Âu không còn nữa, kinh tế Liên Xô trong bối cảnh sụp đổ, Goocbachôp nôn nóng muốn đạt đ-ợc Hiệp -ớc cắt giảm vũ khí hạt nhân để dựng lại hình ảnh của mình mong thoát khỏi tình cảnh khó khăn trong n-ớc

Ngày 3 - 7 - 1991, hai c-ờng quốc hạt nhân Xô - Mỹ đã chính thức kí

“Hiệp ước cắt giảm vũ khí tiến công chiến lược” với nội dung: Hiệp -ớc quy

định trong 7 năm mỗi bên cắt giảm vũ khí chiến l-ợc còn 1600 Vũ khí của Liên Xô từ mức hiện có 2500 giảm bớt 36%, Hoa Kỳ từ 1800 cắt giảm 11% Trong đó tên lửa v-ợt đại châu hạng nặng của Liên Xô cắt giảm 50%, Hoa

Kỳ cắt giảm 35% Hiệp -ớc còn quy định, đối với tên lửa tìm diệt trên không

có tầm bắn 600 km mỗi bên có thể bố trí 880 chiếc

Đối với việc thực hiện Hiệp -ớc START - I, chính quyền G Bush đã từng b-ớc thực hiện cam kết trong Hiệp -ớc Từ tháng 9 - 1991, Hoa Kỳ tiến hành rút vũ khí hạt nhân đ-ợc bố trí ở các n-ớc đồng minh Ngày 27 - 9 -

Sau Hiệp -ớc START - I, số l-ợng vũ khí hạt nhân chiến l-ợc đã đ-ợc cắt giảm t-ơng đối về số l-ợng, là cơ sở, tiền đề cho việc th-ơng l-ợng kí kết

Trang 31

31 các Hiệp -ớc tiếp theo, tiến tới cắt giảm hoàn toàn loại vũ khí giết ng-ời hàng loạt này

Nh- vậy, Hiệp -ớc cắt giảm vũ khí hạt nhân chiến l-ợc lần này đ-ợc kí kết trong bối cảnh cuộc Chiến tranh lạnh chuẩn bị kết thúc, nó không chỉ có

ý nghĩa về mặt quân sự mà cả về mặt chính trị, đánh dấu mối quan hệ giữa Hoa Kỳ với Liên Xô và các n-ớc trên thế giới đang b-ớc vào thời kì mới Theo nh- Tổng thống G Bush (cha), lần hội đàm này “đánh dấu sự chấm dứt thời đại lâu dài Xô - Mỹ thù địch lẫn nhau và mở đầu xây dựng một mối quan hệ mới”

Hiệp -ớc cắt giảm vũ khí hạt nhân chiến l-ợc START - I đ-ợc đánh giá

là Hiệp -ớc rất quan trọng nh-ng vẫn ch-a làm thay đổi hẳn khối l-ợng kho

vũ khí của Hoa Kỳ và Liên Xô, một khối l-ợng đủ để huỷ diệt thế giới, nh-ng hiệp -ớc này có ý nghĩa rất lớn mà theo hãng IAN của Liên Xô nhận xét: Hiệp -ớc START - I không phải là giai đoạn cuối cùng mà chỉ là trung gian trên con đ-ờng khó khăn đi đến giải trừ vũ khí hạt nhân chiến l-ợc và tiến tới một thế giới không có vũ khí hạt nhân vẫn đang còn là niềm mong

đợi của nhân loại yêu chuộng hoà bình trên thế giới

Mặc dù ch-a làm đ-ợc những điều nh- mong muốn, nh-ng các Hiệp -ớc về cắt giảm vũ khí hạt nhân trong thời kì Chiến tranh lạnh cũng làm đ-ợc việc, đó là kho vũ khí hạt nhân trên thế giới có phần giảm sút, thế giới đ-ợc thở phào sau những ngày tháng nín thở vì sợ một cuộc chiến tranh hạt nhân

sẽ nổ ra và đây sẽ là giai đoạn trung gian đ-a các c-ờng quốc hạt nhân xích lại gần nhau tạo tiền đề cho vấn đề cắt giảm hoàn toàn vũ khí hạt nhân ở giai

Trang 32

32 n-ớc đối với vấn đề hạt nhân, giảm bớt nguy cơ bùng nổ chiến tranh hạt nhân Đồng thời, các văn kiện này ở những mức độ khác nhau có tác dụng giảm bớt căng thẳng mối quan hệ song ph-ơng và đa ph-ơng Ngoài ra nó có tác động tích cực khác thể hiện qua sự hoan nghênh của d- luận quốc tế Tuy nhiên, các văn kiện này không đạt đ-ợc sự nhất trí hoàn toàn của các c-ờng quốc hạt nhân khác Pháp và Trung Quốc không tham gia vào văn kiện nào

về kiểm soát và cắt giảm vũ khí hạt nhân trong thời kì Chiến tranh lạnh là một ví dụ điển hình Nguyên nhân chính là do sự chênh lệch về t-ơng quan lực l-ợng hạt nhân, do những tính toán khác nhau trong lợi ích an ninh quốc gia của các n-ớc trong việc sở hữu vũ khí hạt nhân, và do những bất đồng trong quan hệ song ph-ơng giữa các n-ớc

Các Hiệp định tạm thời về hạn chế vũ khí chiến l-ợc giai đoạn một (SART - I), Hiệp -ớc hạn chế vũ khí chiến l-ợc giai đoạn hai (SART - II), Hiệp -ớc huỷ bỏ vũ khí hạt nhân tầm trung và tầm ngắn (INF) và Hiệp -ớc cắt giảm vũ khí chiến l-ợc giai đoạn một (START - I) trên thực tế đã có tác dụng cắt giảm một số l-ợng lớn vũ khí hạt nhân của Hoa Kỳ và Liên Xô, các văn kiện này từng b-ớc hạn chế cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân giữa hai siêu c-ờng Mỹ - Xô Tuy nhiên, đây chỉ là những văn kiện song ph-ơng giữa hai n-ớc, ch-a có sự tham gia của các quốc gia hạt nhân khác trên thế giới Chính vì vậy, để đạt đ-ợc vấn đề kiểm soát, cắt giảm tiến tới một thế giới không có vũ khí hạt nhân còn cần nhiều cuộc đàm phán, nhiều Hiệp -ớc và nhiều n-ớc tham gia hơn nữa

Sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc, tổng số l-ợng vũ khí hạt nhân của hai siêu c-ờng có giảm xuống, tuy nhiên nguy cơ đe doạ về hạt nhân đối với nền hoà bình thế giới vẫn ở mức cao Tờ báo hàng ngày “Châm ngôn của Hoa Kỳ” cho rằng: “Chiến tranh lạnh kết thúc lại làm tăng thêm nguy cơ vũ khí hạt nhân ở Hoa Kỳ” [23; 642]

Trang 33

33 Sau khi Liên Xô giải thể, trên thế giới xuất hiện thêm bốn c-ờng quốc hạt nhân là: Liên bang Nga, Bêlarút, Ucraina và Karăcxtan, với số l-ợng hạt nhân còn rất lớn Tổng số hạt nhân của Hoa Kỳ và bốn n-ớc thuộc Liên Xô

cũ năm 1992 là 51.340 và năm 1993 là 47.831 Ngoài ra tổng vũ khí hạt nhân của ba n-ớc Anh, Pháp và Trung Quốc năm 1992 là 1.175 và năm 1993 là 1.160 [88]

Càng nghiêm trọng hơn là “làn gió hạt nhân” đã nổi lên, đem đến sự đe doạ trực tiếp đối với hoà bình thế giới Theo đánh giá của cục tình báo Trung -ơng Hoa Kỳ, cộng đồng các quốc gia độc lập có gần 2000 chuyên gia cao cấp nắm trong tay bản thiết kế và kỹ thuật chế tạo vũ khí hạt nhân đứng tr-ớc

đe doạ thất nghiệp, nên họ rất muốn chạy sang các n-ớc muốn phát triển và chế tạo vũ khí hạt nhân

Trong thực tế kỹ thuật hạt nhân đã lan nhanh sang nhiều n-ớc nh-: Triều Tiên, Irắc, Iran, ấn Độ… Tháng 6 - 1991, Cục tr-ởng cục tình báo Trung -ơng Hoa Kỳ tuyên bố Triều Tiên “có thể chế tạo một quả bom nguyên tử trong vòng 6 tháng” điều này đã làm cho d- luận ph-ơng Tây xôn xao

Chính phủ ấn Độ lâu nay đã từng tuyên bố, một ấn Độ hùng mạnh cần phải có vũ khí hùng mạnh, chính vì vậy, ấn Độ tăng c-ờng nghiên cứu kỹ thuật hạt nhân và trở thành n-ớc có kỹ thuật hạt nhân hàng đầu trong các n-ớc thuộc thế giới thứ ba Tháng 6 - 1995, Thủ t-ớng ấn Độ tuyên bố rằng:

“Chúng tôi không muốn lựa chọn quyền sản xuất, chúng tôi phải nghiên cứu tr-ớc tình hình giải trừ quân bị hạt nhân thế giới hiện nay, sau đó mới quyết

định ph-ơng châm hành động về sau của chúng tôi” [23; 647]

Ngoài ra một số n-ớc khác trên thế giới cũng đang nhanh chóng nghiên cứu và phát triển loại vũ khí giết người hàng loạt này Theo “Tuần báo phòng vệ” của Anh, loại tên lửa tầm trung và tầm xa của 16 nước đang trong sử

Trang 34

34 dụng, trong đó có Iran, Siri, Arâp Theo tin tức n-ớc ngoài Braxin, Achentina

đều đã từng phát triển kỹ thuật hạt nhân

Hoa Kỳ còn cho rằng: “Trong 20 năm tới, nhiều n-ớc hiện nay không có bom nguyên tử có khả năng sản xuất bom nguyên tử Đầu thế kỹ XXI, châu

Âu, châu á, Trung Đông và khu vực khác sẽ có hơn 40 n-ớc có kĩ thuật chế tạo bom nguyên tử trong vài năm” [23; 651]

Bên cạnh đó, kỹ thuật hạt nhân cũng không ngừng lan sang các n-ớc khác, mà nguy hiểm nhất là hiện nay nhân loại đang đứng tr-ớc nguy cơ của cuộc chiến tranh khủng bố, nếu loại vũ khí nguy hiểm này mà rơi vào tay lực l-ợng khủng bố thì vấn đề gì xảy ra nhân loại cũng khó có thể dự đoán đ-ợc Chính vì vậy, để ngăn chặn nguy cơ về vũ khí hạt nhân tr-ớc hết phải ngăn chặn nguy cơ lan nhanh của kỹ thuật hạt nhân, điều này còn quan trọng hơn

là cắt giảm những kho vũ khí đã có

Tình hình phổ biến vũ khí hạt nhân vẫn còn rất nghiêm trọng Phổ biến hạt nhân là sản phẩm của “răn đe hạt nhân” trong thời kì Chiến tranh lạnh, là một di sản tồi tệ của Chiến tranh lạnh để lại Điều này có ảnh h-ởng không nhỏ đến hoà bình và an ninh của nhân loại

Nh- vậy sau thời kì Chiến tranh lạnh, mặc dù đã đ-ợc cắt giảm nh-ng tổng số vũ khí hạt nhân trên thế giới vẫn còn rất lớn cộng với sự lan nhanh của kỹ thuật hạt nhân nên thế giới vẫn ch-a thoát khỏi nguy cơ của cuộc chiến tranh hạt nhân huỷ diệt Chính vì vậy, nguy cơ đe doạ của vũ khí hạt nhân đối với hoà bình và an ninh thế giới vẫn còn tồn tại Do đó, vấn đề cắt giảm tiến tới triệt tiêu hạt nhân, một thế giới không có vũ khí hạt nhân vẫn còn là một vấn đề bức xúc, đòi hỏi sự tham gia nhiệt tình của cộng đồng quốc

tế, đặc biệt là các c-ờng quốc hạt nhân phải nổ lực hơn nữa trong các cuộc

đàm phán về vấn đề kiểm soát và cắt giảm vũ khí hạt nhân những năm tiếp theo

Trang 35

35

Tiểu kết

Chiến tranh lạnh kết thúc, bên canh cuộc chạy đua vũ khí hạt nhân giữa hai siêu c-ờng Xô - Mỹ, hai c-ờng quốc đứng đầu hai cực trong trật tự Ianta Trong bối cảnh chạy đua đó, để giành -u thế cho mình, một mặt hai n-ớc tăng c-ờng kỹ thuật hạt nhân nhằm phát triển nghiên cứu ra các loại vũ khí tiên tiến hơn để uy hiếp đối ph-ơng, mặt khác cả hai bên cũng tính đến tính huỷ diệt của loại vũ khí này bởi khi cuộc chiến tranh hạt nhân nổ ra thì không

có ng-ời thắng mà cũng không có kẻ bại, hơn nữa hai đối thủ cũng muốn tìm cách kìm chân lẫn nhau thông qua các cuộc th-ơng l-ợng về kiểm soát và cắt giảm vũ khí hạt nhân và để tìm thế mạnh cho mình Chính vì vậy, thông qua các cuộc đàm phán mà chủ yếu là các cuộc đàm phán song ph-ơng giữa hai siêu c-ờng Xô - Mỹ, vấn đề vũ khí hạt nhân đã đ-ợc kiểm soát và cắt giảm một phần Điều này đã làm cho thế giới giảm nguy cơ về một cuộc chiến tranh hạt nhân, đồng thời tạo tiền đề cho các cuộc th-ơng l-ợng về cắt giảm

vũ khí hạt nhân thời kì sau Chiến tranh lạnh

Cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân giữa các c-ờng quốc hạt nhân mà tr-ớc hết là Hoa Kỳ và Liên Xô đã đẩy nhân loại đứng tr-ớc một cuộc chiến tranh hạt nhân nguy hiểm ch-a từng có trong lịch sử Nếu cuộc chiến tranh hạt nhân xảy ra, chỉ cần một nửa số l-ợng hạt nhân đang tàng trữ trong các kho

vũ khí của Hoa Kỳ hoặc Liên Xô cũng đủ để huỷ diệt toàn bộ cuộc sống của con ng-ời trên trái đất

Nguy hiểm hơn là sự lan nhanh của kỹ thuật hạt nhân, một số n-ớc ch-a

có vũ khí hạt nhân cũng muốn có trong tay loại vũ khí giết ng-ời hàng loạt này Điều này càng làm cho nền hoà bình và an ninh thế giới bị đe doạ

Trong sự so sánh t-ơng quan lực l-ợng của các bên cộng với các c-ờng quốc hạt nhân chỉ muốn sử dụng loại vũ khí này để đe doạ các n-ớc và nô dịch đồng minh chứ bản thân mình cũng không muốn bị loại vũ khí này tàn phá Thêm vào đó, tr-ớc sự nguy hiểm của vũ khí hạt nhân, ngay từ khi vũ

Trang 36

36 khí hạt nhân mới ra đời phong trào đấu tranh nhằm ngăn chặn sự phát triển của vũ khí hạt nhân, phong trào đó ngày càng phát triển mạnh mẽ

Tr-ớc tình hình đó, các c-ờng quốc hạt nhân đã phải ngồi vào bàn đàm phán để bàn về vấn đề kiểm soát và cắt giảm vũ khí hạt nhân chiến l-ợc, làm dịu tình hình căng thẳng, tránh nổ ra một cuộc chiến tranh huỷ diệt, bảo đảm môi tr-ờng an ninh quốc tế thuận lợi nhất trong không khí đối thoại hợp tác, bảo đảm môi tr-ờng an ninh quốc tế

Với việc kí kết các Hiệp -ớc và Hiệp định về kiểm soát và cắt giảm vũ khí hạt nhân chiến l-ợc nh- Hiệp -ớc ABM, Hiệp định tạm thời SART - I, Hiệp -ớc SART - II và Hiệp -ớc START - I đã hình thành thế cân bằng hạt nhân chiến l-ợc quân sự chung giữa Hoa Kỳ với Liên Xô - giữa hai c-ờng quốc hạt nhân nói riêng và trên toàn thế giới nói chung Những thành tựu này làm thay đổi tính chất và quy mô của cuộc chiến tranh với việc sử dụng loại

vũ khí giết ng-ời hàng loạt và thay vào đó là sự kiềm chế lẫn nhau, cùng nhau đi đến một thế giới hoà bình hơn Mặt khác, các Hiệp -ớc này cũng làm giảm nguy cơ nổ ra một cuộc chiến tranh hạt nhân với sự huỷ diệt vô cùng lớn “không có người chiến thắng và cũng không có kẻ chiến bại”, tiến tới thúc đẩy tiến trình cắt giảm và kiểm soát vũ khí hạt nhân trên quy mô toàn thế giới

Tuy vậy, đây mới chỉ là những Hiệp -ớc có tính chất b-ớc ngoặt trong lịch sử hạn chế và kiểm soát vũ trang hạt nhân, nh-ng nó ch-a làm thay đổi hoàn toàn quan niệm của các quốc gia đang sở hữu và những quốc gia khu vực muốn có loại vũ khí này trong tay để tạo sức mạnh quân sự và thoả mãn những điều kiện về kinh tế, chính trị xã hội với các n-ớc khác

Trong khi đó, cho đến năm 1990, trong kho vũ khí hạt nhân trên thế giới, số vũ khí hạt nhân chiến l-ợc do Hoa Kỳ và Liên Xô sản xuất và dự trữ, bao gồm vũ khí hạt nhân và công cụ vận chuyển hạt nhân chiếm hơn 96% l-ợng vũ khí hạt nhân trên toàn thế giới

Trang 37

37 Nh- vậy, cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân của Hoa Kỳ và Liên Xô có

ảnh h-ởng rất lớn và sâu rộng Cùng với sự mở rộng nhanh chóng của kho vũ khí hạt nhân, nguy cơ nổ ra chiến tranh hạt nhân cũng tăng lên Điều này không những ảnh h-ởng đến hoà bình và an ninh thế giới, mà nó còn ảnh h-ởng đến chính bản thân các n-ớc đã sản sinh ra nó Do chạy đua sản xuất

vũ khí hạt nhân, sự phát triển về kinh tế của Hoa Kỳ và Liên Xô vì thế mà bị

ảnh h-ởng

Do những ảnh h-ởng của cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân, vấn đề cắt giảm vũ khí hạt nhân một cách triệt để, loại trừ hoàn toàn thứ vũ khí huỷ diệt này, chúng ta còn phải chờ đợi sự thay đổi trong t- duy các nhà chính trị, sự thay đổi của tình hình thế giới sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc

Vấn đề hạt nhân do cuộc Chiến tranh lạnh để lại là một khó khăn mà các nhà chính trị thế giới, nhân dân yêu chuộng hoà bình trên toàn thế giới phải

đối mặt, nó không thể đ-ợc giải quyết một cách đơn giản Trở về một thế giới không có vũ khí hạt nhân vẫn còn là một mục tiêu xa vời, giữ sức mạnh uy hiếp ở mức thấp nhất có lẽ là mục tiêu có thể thực hiện đ-ợc trong t-ơng lai gần Dù thế nào đi nữa, trong thời gian sau Chiến tranh lạnh chúng ta vẫn còn phải đối mặt với sự uy hiếp hạt nhân có những nét t-ơng tự và có những nét khác nhau so với thời Chiến tranh lạnh Việc kiểm soát và cắt giảm vũ khí hạt nhân vẫn còn nhiều nan giải, cần sự tham gia của cả nhân loại, đặc biệt là sự tham gia tích cực của các c-ờng quốc hạt nhân mà đứng đầu là hai siêu c-ờng Hoa Kỳ và Liên bang Nga

Trang 38

38 Ch-ơng 2

Hợp tác và đấu tranh giữa Liên bang Nga với Hoa Kỳ trong vấn đề kiểm soát và cắt giảm vũ khí hạt nhân

từ sau Chiến tranh lạnh đến năm 2008

2.1 Vấn đề Hoa Kỳ rút khỏi Hiệp -ớc ABM

2.1.1 Hoa Kỳ rút khỏi Hiệp -ớc hệ thống phòng, chống tên lửa đạn

đạo (ABM)

Tên lửa đan đạo là một trong những loại vũ khí hạt nhân chiến l-ợc đ-ợc Hoa Kỳ và Liên Xô phát triển từ những năm 50 của thế kỉ XX Việc đàm phán về vũ khí hạt nhân chiến l-ợc cũng nh- các hệ thống chống tên lửa đạn

đạo đ-ợc phía Mỹ nêu ra trong các cuộc tiếp xúc cấp cao Mỹ - Xô từ cuối năm 1963 Tuy nhiên lúc này Liên Xô vẫn ch-a quan tâm lắm tới các cuộc

đàm phán về vấn đề hệ thống phòng thủ tên lửa

Mặc dù còn bất đồng về vấn đề cắt giảm hệ thống phòng thủ chiến l-ợc, nh-ng ngày 11 - 2 – 1971, Hoa Kỳ cùng với Liên Xô và 66 n-ớc khác đã tham dự và kí Hiệp -ớc cấm thử, tàng trữ và sử dụng vũ khí hạt nhân và các loại vũ khí huỷ diệt hàng loạt khác d-ới đáy đại d-ơng Chủ tr-ơng hoà dịu trong quan hệ Mỹ - Xô đã làm cho các cuộc đàm phán về vấn đề này đi đến kết quả b-ớc đầu Đó là việc đi đến kí kết Hiệp -ớc hạn chế hệ thống phòng thủ chống tên lửa đạn đạo (ABM) và Hiệp định tạm thời về hạn chế vũ khí chiến l-ợc, cả hai văn kiện này cùng đ-ợc kí ngày 26 - 5 - 1972

Trong lời nói đầu, Hiệp -ớc ABM nêu rõ việc Hoa Kỳ và Liên Xô kí văn kiện này xuất phát từ nhận thức rằng “Một cuộc Chiến tranh hạt nhân sẽ có hậu quả huỷ diệt đối với tất cả loài người” Vì vậy, hai nước phải có những

“biện pháp hiệu quả để hạn chế các hệ thống chống tên lửa đạn đạo nhằm hạn chế cuộc chạy đua vũ khí tiến công chiến l-ợc và cắt giảm nguy cơ của một cuộc chiến tranh hạt nhân” [88; 109]

Trang 39

39 Hiệp -ớc ABM đ-ợc kí năm 1972 là giai đoạn đỉnh cao của thời kì Chiến tranh lạnh giữa Hoa Kỳ và Liên Xô sau một chặng đ-ờng dài chạy đua

vũ khí hạt nhân Hiệp -ớc ABM quy định hai bên không đ-ợc xây dựng và triển khai hệ thống chống tên lửa đạn đạo nhằm vào nhau Hiệp -ớc ABM dựa trên thuyết “huỷ diệt lẫn nhau”, theo đó với một khả năng đe doạ hạt nhân t-ơng xứng, Hoa Kỳ và Liên Xô không dám tấn công lẫn nhau và cả hai

sẽ đều bị tàn phá và huỷ diệt tr-ớc sự trả đũa của nhau Từ đó đến nay, không

kể đến các yếu tố khác, cân bằng chiến l-ợc hạt nhân trên toàn cầu là nhờ nhiều vào Hệ thống phòng, chống tên lửa đạn đạo ABM

Tuy nhiên, sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc Hoa Kỳ đã tiến hành các cuộc đàm phán với Liên bang Nga, bày tỏ muốn rút khỏi Hiệp -ớc ABM, nh-ng không nhận đ-ợc sự đồng ý, ủng hộ của Liên bang Nga Đến ngày 13

- 1 - 2001, Hoa Kỳ ngang nhiên tuyên bố rút khỏi Hiệp -ớc hệ thống phòng, chống tên lửa đạn đạo (ABM) Vậy tại sao Hoa Kỳ tuyên bố rút khỏi Hiệp -ớc ABM khi mà Hiệp -ớc này vẫn còn có giá trị và hiệu lực? Các nhà lãnh

đạo Hoa Kỳ đã đ-a ra những lí do để trả lời cho câu hỏi trên nh- sau:

Hoa Kỳ muốn rút khỏi Hiệp -ớc hệ thống phòng, chống tên lửa đạn đạo

là để chống lại nguy cơ từ những kẻ khủng bố quốc tế và những n-ớc không l-ơng thiện có ý định tấn công Hoa Kỳ

Sự hạn chế của hệ thống phòng, chống tên lửa đạn đạo, Hoa Kỳ cho rằng

hệ thống này chỉ đủ sức ngăn cản một số l-ợng không đáng kể đầu đạn hạt nhân Mặt khác Hoa Kỳ còn cho rằng, tên lửa tiến công chiến l-ợc của Nga

dễ dàng v-ợt qua tên lửa đạn đạo của Hoa Kỳ

Hiệp -ớc hệ thống phòng, chống tên lửa đạn đạo đã kí kết đ-ợc 27 năm, thế giới đã có những thay đổi to lớn, Chiến tranh lạnh kết thúc, Nga và Hoa

Kỳ không còn là đối thủ tiềm tàng của nhau mà cả hai n-ớc đã có nhiều vấn

đề, nhiều mối đe doạ chung Vì vậy, cần phải xem xét, sửa đổi lại Hiệp -ớc

hệ thống phòng, chống tên lửa đạn đạo [62]

Trang 40

40

Rõ ràng, sự giải thích của chính phủ Hoa Kỳ khi rút khỏi Hiệp -ớc ABM là không có sức thuyết phục Do vậy, có thể nhận thấy bản chất của vấn đề không phải là ở chỗ đang tồn tại các mối đe doạ bằng tên lửa đạn đạo

mà thực chất của vấn đề là ở chỗ lợi ích của những tổ hợp công nghiệp quân

sự và tổ hợp tài chính có liên quan đến ch-ơng trình ABM Các tổ hợp công nghiệp và tài chính đã nhận đ-ợc những khoản lợi nhuận khổng lồ trong quá trình thực hiện “Cuộc Chiến tranh giữa các vì sao” Họ thấy rằng cần phải tiếp tục vận hành ch-ơng trình đó thì mới sản sinh ra lợi nhuận tiếp theo [61] Nh- vậy, chúng ta thấy Hiệp -ớc ABM có liên quan đến lợi ích chiến l-ợc lớn của chính phủ Hoa Kỳ trong những năm đầu thế kỉ XXI Cắt giảm

vũ khí hạt nhân chiến l-ợc và cấm thiết lập hệ thống tên lửa đạn đạo là mặt quan trọng của hệ thống kiểm soát vũ trang hạt nhân Hoa Kỳ đơn ph-ơng rút khỏi Hiệp -ớc ABM khiến cơ sở luật pháp của hệ thống phòng chống tên lửa

đạn đạo mà hai n-ớc Hoa Kỳ và Liên Xô kí năm 1972 không còn nữa Hoa

Kỳ có thể mặc sức phát triển hệ thống phòng, chống tên lửa quốc gia NMD

và Hệ thống phòng chống tên lửa khu vực TMD Đồng thời việc làm này của Hoa Kỳ tiếp tục thách thức vị trí n-ớc lớn của Nga và các c-ờng quốc hạt nhân trên thế giới Hoa Kỳ rút khỏi Hiệp -ớc là muốn tự do phát triển vũ khí hạt nhân, đây có thể cũng là nguyên nhân để các n-ớc khác cũng tính đến việc phát triển thêm hoặc tìm cách có loại vũ khí giết ng-ời hàng loạt này

Điều này rất có thể sẽ dẫn đến một cuộc chạy đua vũ trang mới trên toàn cầu

2.1.2 Thái độ của Liên bang Nga khi Hoa Kỳ rút khỏi Hiệp -ớc ABM

Tuyên bố rút khỏi Hiệp -ớc ABM của Tổng thống Mỹ G Bush đ-ợc đ-a

ra khi vòng tham khảo ý kiến mới nhất giữa Nga và Mỹ về vấn đề ổn định chiến l-ợc toàn cầu vừa kết thúc tại Matxcơva với lập tr-ờng hai bên vẫn trái ng-ợc nhau về Hiệp -ớc ABM Nga một lần nữa khẳng định lập tr-ờng tr-ớc sau nh- một là duy trì ABM, coi đây là “hòn đá tảng” duy trì sự ổn định, an ninh chiến l-ợc toàn cầu

Ngày đăng: 16/10/2021, 22:49

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w