Đối với việc tìm hiểu t- duy tiểu thuyết, ở đây áp dụng cho tr-ờng hợp Nguyễn Huy Thiệp, theo chúng tôi có hai con đ-ờng đi đến kết luận: thứ nhất, đó là cách tìm hiểu trực tiếp tư tưởng
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo
Tr-ờng đại học vinh -***** -
Nguyễn Mạnh hà
T- duy tiểu thuyết trong
truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
luận văn thạc sĩ ngữ văn
Trang 2Vinh – 2009
Bộ giáo dục và đào tạo
Tr-ờng đại học vinh -***** -
Nguyễn Mạnh hà
T- duy tiểu thuyết trong truyện ngắn
Nguyễn Huy Thiệp
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60.22.34
luận văn thạc sĩ ngữ văn
Ng-ời h-ớng dẫn khoa học: pgs.ts Đinh Trí Dũng
Vinh – 2009
Trang 3
Hµ TÜnh, ngµy 16/12/2009
T¸c gi¶
Trang 4Mục lục
Trang
Mở đầu 1
1 Lí do chọn đề tài 3
2 Lịch sử vấn đề 3
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 10
4 Ph-ơng pháp nghiên cứu 10
5 Đối t-ợng nghiên cứu và phạm vi khảo sát 10
6 Cấu trúc luận văn 10
Ch-ơng 1 Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp trong bối cảnh đổi mới của tiểu thuyết, truyện ngắn Việt Nam sau 1986 11
1.1 Khái niệm t- duy tiểu thuyết 7
1.2.Nguyễn Huy Thiệp - g-ơng mặt nổi bật của truyện ngắn Việt Nam sau 1986 8
Ch-ơng 2 Những biểu hiện của t- duy tiểu thuyết trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp 33
2.1 Một thế giới hiện thực trần trụi, mang đậm chất văn xuôi 33
2.2 Rút ngắn khoảng cách trần thuật 74
2.3 Giọng điệu và ngôn ngữ 84
2.4 Tính chất đa thanh trong tổ chức văn bản 89
Ch-ơng 3 Tổ chức văn bản - một ph-ơng diện độc đáo thể hiện t- duy tiểu thuyết trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp 91
3.1 Khái niệm văn bản 91
3.2 Đặc điểm tổ chức câu văn trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp 92
3.3 Những dạng thức tổ chức văn bản truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp 95
3.4 Văn bản truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp từ góc độ phong cách 103
kết luận 121
Tài liệu tham khảo 123
Phụ lục 137
Trang 5Mở đầu
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Nguyễn Huy Thiệp là hiện t-ợng văn học xuất hiện sau 1975 ở Việt Nam Hiện t-ợng văn học này dầu đã đ-ợc nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, tuy nhiên d-ới một cái nhìn có tính hệ thống, có khả năng bao quát để làm bật rõ thực chất Nguyễn Huy Thiệp (con đ-ờng tiếp cận từ góc độ t- duy có thể nói là khả quan nhất) vẫn ch-a thấy có, ngoại trừ luận văn của Lê Thanh Nga - nhìn Nguyễn Huy Thiệp d-ới góc độ trần thuật
1.2 T- duy tiểu thuyết là khái niệm xuất hiện nhiều trong nghiên cứu -
phê bình văn học Nh-ng, theo những tài liệu mà chúng tôi đọc đ-ợc, hiện vẫn ch-a có một sự minh định cần thiết nào Hầu hết mọi ng-ời đều tạm ngầm quy -ớc với nhau Xác định đề tài, tr-ớc hết chúng tôi muốn xác lập các bình diện của khái niệm và lựa chọn Ngụyễn Huy Thiệp - một tác giả theo chúng tôi thể hiện khá rõ t- duy tiểu thuyết làm đối t-ợng phân tích Khi tiến hành nghiên cứu tác giả Nguyễn Huy Thiệp d-ới góc nhìn này, cũng là để rõ thêm về khái niệm
1.3 Từ chỗ triển khai các nội dung quan trọng trong khuôn khổ của đề tài,
đề tài còn h-ớng tới một h-ớng đi thông thoáng trong việc nghiên cứu các tác giả sau 1975, đặc biệt là các tác giả văn xuôi
2 Lịch sử vấn đề
Trong không khí các nhà văn đang hoà mình vào ngày hội t-ng bừng của
đất n-ớc những năm đổi mới, đang nô nức kiếm tìm một h-ớng đi cho sáng tạo nghệ thuật, Nguyễn Huy Thiệp lặng lẽ xuất hiện giữa làng văn nh- một sự tuyên chiến với “nghệ thuật kinh viện” Mở đầu - tính sự ghi nhận “Nguyễn Huy
Thiệp”, tháng 06 năm 1987, T-ớng về h-u ra mắt độc giả trên báo Văn nghệ đã
đưa tên tuổi tác giả vào một “tầm ngắm” quan tâm đặc biệt Giữa lúc người đọc ch-a hết bàng hoàng, sửng sốt thì trên tờ báo quen thuộc, ông cho đăng liên tiếp
các truyện: Muối của rừng, Chảy đi sông ơi, Con gái thủy thần, Chút thoáng
Xuân H-ơng, Kiếm sắc, Vàng lửa, Phẩm tiết… Điều đặc biệt đối với sáng của
Nguyễn Huy Thiệp là: “càng viết dư luận càng mạnh, truyện chưa ra thì người
đọc đã kháo nhau, truyện đăng rồi thì tranh nhau tìm đọc, đọc rồi thì tranh nhau bình phẩm, bàn tán, chốn phòng văn cũng nh- chốn vỉa hè đâu đâu cũng kháo chuyện… Văn đàn thời đổi mới đã khởi sắc bỗng khởi sắc hẳn.” [134, 06] Trong quá trình bình phẩm về truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, ít hoặc nhiều ng-ời ta đã đề cập đến vấn đề t- duy tiểu thuyết Bởi lẽ, t- duy tiểu thuyết - một
Trang 6khái niệm của hệ hình (paradigme) t- duy, chỉ xuất hiện d-ới thời hiện đại (Milan Kundera) Nguyễn Huy Thiệp có đ-ợc may mắn sống d-ới thời điểm thời
đại mới mở ra, cách viết của ông thể hiện rõ sự thay đổi trong t- duy về nghệ thuật, về cách nhìn đối với cuộc đời; một khi t- duy thay đổi thì sự mã hoá t- duy đó, tức ngôn ngữ, cũng phải thay đổi theo (ngôn ngữ là sự trực tiếp của t- t-ởng - V.I Lenin; ngôn ngữ là nơi ẩn chứa nhãn quan, nơi chuyển tải mạch ngầm t- t-ởng, thái độ của ng-ời sáng tạo (ý của F de Saussure)) Khi tìm hiểu tác phẩm, ng-ời tìm hiểu không có con đ-ờng nào khác ngoài việc thông qua lớp
vỏ ngôn ngữ, do đó, ít hay nhiều, trực tiếp hay gián tiếp, ng-ời tìm hiểu đã đề cập đến vấn đề t- duy của ng-ời sáng tạo Việc tìm hiểu t-ơng tự đối với sáng tác Nguyễn Huy Thiệp cũng không ngoại lệ
Đối với việc tìm hiểu t- duy tiểu thuyết, ở đây áp dụng cho tr-ờng hợp Nguyễn Huy Thiệp, theo chúng tôi có hai con đ-ờng đi đến kết luận: thứ nhất,
đó là cách tìm hiểu trực tiếp tư tưởng nhà văn, đại khái muốn nói rằng “nó muốn nói gì vậy” (Đặng Anh đào) thông qua thế giới của nó, thái độ của nó là như thế nào; thứ hai, tìm hiểu gián tiếp, thông qua các tín hiệu, các thủ pháp mà nó (nhà văn - một từ trung tính) sử dụng (những thủ pháp đó là có sự thay đổi so với tr-ớc đây) Dĩ nhiên cách phân chia nh- thế chỉ mang tính chất t-ơng đối, thậm chí, nếu sát sao có thể cho là khập khiễng, vì khi đề cập vấn đề thứ nhất là đề cập liên quan đến vấn đề thứ hai và ng-ợc lại Tuy nhiên, để dễ hình dung và thể hiện phần nào đó sự rạch ròi chúng tôi vẫn mạnh dạn tiến hành Các ý kiến đánh giá về Nguyễn Huy Thiệp, nh- đã nói, ít nhiều đều đề cập đến t- duy tiểu thuyết,
về cơ bản đã đ-ợc nhà báo Phạm Xuân Nguyên tập hợp trong cuốn Đi tìm
Nguyễn Huy Thiệp Thế nh-ng, chúng tôi không đủ điều kiện để xem xét hết tất
cả các ý kiến (hơn nữa cũng rất nhiều ý kiến cục bộ chỉ tìm hiểu riêng từng tác phẩm) mà chỉ chọn lọc một số tiêu biểu
- Về con đ-ờng thứ nhất:
Mở đầu là bài Tôi không chúc bạn thuận buồm xuôi gió (09/1987) của
Hoàng Ngọc Hiến - ng-ời có công giới thiệu Nguyễn Huy Thiệp Tác giả Hoàng Ngọc Hiến đã mạnh dạn chỉ ra bản chất “người” trong truyện ngắn Nguyễn Huy
Thiệp Theo ông đó là con người của cuộc sống hôm nay “sòng phẳng, tính toán
phân minh”, nhưng vẫn lấp lánh những vẻ đẹp ẩn kín Nói như thế có nghĩa là
Hoàng Ngọc Hiến đã cho thấy tác giả Nguyễn Huy Thiệp mô tả thế giới đang diễn ra, cái hiện tại ch-a hoàn thành Từ cách nhìn nhận đó, Hoàng Ngọc Hiến đi
tới xây dựng khái niệm “Thiên tính nữ” đề cao “cái tâm” người viết Quan điểm
này về sau “được” Nguyễn Đăng Mạnh đối thoại (dưới một hình thức đính chính mềm mỏng) bằng một bài viết đăng trên TC Cửa Việt năm 1992 Nguyễn Đăng Mạnh khẳng định, cái con ng-ời mà Nguyễn Huy Thiệp cần tìm đến đó là con người hồn nhiên, “vô sự với tạo hoá”
Trang 7Tháng 08/1988, vẫn Hoàng Ngọc Hiến, ông viết: T- duy tiểu thuyết và
folklore hiện đại, nhân đọc mấy truyện lịch sử của Nguyễn Huy Thiệp, trong đó
có đoạn: “Lòng nhân ái truyền thống có thể gói gọn trong một câu: “Hãy thương yêu đồng loại” nhưng lòng nhân ái hiện đại cũng như những tình cảm hiện đại khác - chứa chất nghịch lí: “Không được thương con người” nhưng “Không thể không thương con người”” [134, 356] Trên cơ sở áp dụng lí thuyết của M Bakhtin, ông cho rằng Nguyễn Huy Thiệp đã dùng t- duy tiểu thuyết để xây dựng các nhân vật lịch sử khiến họ không có khoảng cách với ng-ời viết dù đó là Gia Long hay Nguyễn Huệ Bằng việc chỉ ra những bỗ bã, có khi quá trớn trong tác phẩm, Hoàng Ngọc Hiến còn đẩy quan điểm của mình lên và cho rằng đó là
sự bỗ bã hậu hiện đại, nói khác đi, đó là thái độ hậu hiện đại, một trạng thái
nhân thế đang phổ biến trên thế giới cũng nh- ở Việt Nam
Greg Lockhart trong bài Tại sao tôi dịch truyện Nguyễn Huy Thiệp ra
tiếng Anh? (1989) đã cho rằng Nguyễn Huy Thiệp có đóng góp cho văn học thế
giới Tác giả chứng minh bằng việc nêu lên tính chất nhân bản: “Anh muốn trình bày một quan điểm sống mới trong cung cách đối nhân xử thế không chỉ của từng số phận riêng lẻ, mà còn là của cả dân tộc, rộng ra là của cả thế giới”; nêu lên “cách nhìn xã hội Việt Nam và cả thế giới cùng với cách viết của anh ấy rất
là bình đẳng và dân chủ” [134, 112]
Nguyễn Thanh Sơn trong bài Đọc truyện Nguyễn Huy Thiệp (1995) lại
tr-ớc sau khẳng định Nguyễn Huy Thiệp là nhà văn viết về thực tại, do đó ông nói: “đọc các truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp cũng giống như một cuộc vật lộn với chính bản thân mình” Ông viết, ở một đoạn khác: “Ông lôi tuột chúng ta xuống từ khoảng trống lửng lơ giữa trời và đất, buộc chúng ta phải đối mặt với mình, với một thế giới “không có vua”, dạy chúng ta “những bài học nông thôn”, bắt buộc chúng ta phải hiểu rằng, tr-ớc khi muốn nhìn lên bầu trời thì phải nhìn mặt đất đã” [134, 119] Với việc khẳng định Nguyễn Huy Thiệp là nhà văn viết cuộc sống “trên mặt đất”, ông dẫn lại lời Nguyễn Huy Thiệp “căm thù sâu sắc những kết thúc truyền thống”, biến nó thành lập luận của mình “hay chính xác hơn, ông căm thù tất cả những bức màn thói đạo đức giả đã căng ra tr-ớc mắt con người, không cho họ nhìn vào sự thật (…) đó là sự tức giận cần thiết của ng-ời cầm bút tr-ớc sự thiếu vắng của một nền văn hoá chiều sâu, một nền văn hoá mang nặng cái Tâm của người làm văn hoá” [134, 121]
- Con đ-ờng thứ hai:
Đặng Anh Đào trong Khi ông t-ớng về h-u xuất hiện đã viết: “Cái nhìn
dân chủ hoá của ng-ời kể chuyện, ở đây chính là chỗ: tin rằng mình không mách n-ớc cho ai, lên lớp cho ai, thậm chí, ở nhiều chỗ, đứng thấp hơn nhân vật và bạn
đọc” [134, 23] Mặc dù nhận xét chỉ áp dụng cho truyện T-ớng về h-u, nh-ng
thực ra đó là quan điểm thống nhất của Đặng Anh Đào đối với việc nhìn nhận
Trang 8sáng tác Nguyễn Huy Thiệp nói chung khi mà tác giả này liên tục có những bài viết về Nguyễn Huy Thiệp vẫn trong tr-ờng nhìn đã áp dụng
T-ơng tự nhận xét của Đặng Anh Đào, nhận xét của Trần Đạo cũng chỉ
nói về T-ớng về h-u, ông tập trung ở lối hành văn: T-ớng về h-u - một tác phẩm
có tính nghệ thuật thế nh-ng soi chiếu với toàn bộ sáng tác Nguyễn Huy Thiệp
thì ta thấy đấy lại là cách đánh giá chung Trần Đạo viết: “Lối hành văn tạo nên một thế giới ngổn ngang sự kiện, sự việc, một thế giới tan rã thành muôn mảnh, một thế giới chỉ có những hiện tại vụn vặt lơ lửng bên nhau”[ 134, 44] Từ đó
ông kết luận: “Tính chất nghệ thuật của T-ớng về h-u là ở chỗ khơi đ-ợc thế
giới… Chẳng giải thích dài dòng, chẳng dùng những tính từ đao búa, chỉ viết những lời ai ai cũng hiểu đ-ợc, mà tạo đ-ợc cả một bầu không khí điên đầu, cả một thế giới trong đó không ai có thể hiểu ai” [134, 48]
Tác giả V-ơng Anh Tuấn viết về truyện lịch sử của Nguyễn Huy Thiệp,
bài Lịch sử trong quan niệm của Nguyễn Huy Thiệp (9/1988), chỉ ra bản chất
lịch sử (trong văn của tác giả này): “Nguyễn Huy Thiệp quan niệm lịch sử cũng chỉ -ớc lệ, có tính t-ơng đối, có tính hạn chế chủ quan và khách quan do thời đại lịch sử quy định”; “Nguyễn Huy Thiệp đã nghiêng về phía “dân gian” hóa, cá nhân hóa lịch sử Đây là quá trình, theo anh, làm cho lịch sử “gần đúng” hơn, nh-ng nó cũng dẫn đến tình trạng là cái lịch sử “khả tri” được trở thành những
hiện tượng, sự kiện được cảm nhận bởi từng con người cá nhân” [134, 339]
Thực chất vấn đề là tác giả đã chỉ ra độ mở của truyện ngắn, có đ-ợc do sự vận dụng tư duy tiểu thuyết “rút khoảng cách với các thần tượng”, tức đồng quan
điểm với Hoàng Ngọc Hiến, tạo nên sự đối thoại giữa tác giả và độc giả Theo cách diễn giải của Thái Hòa: “chính khi người đọc phản ứng mạnh mẽ với Nguyễn Huy Thiệp tức cũng tự trình bày một cách hiểu, một quan niệm về cuộc sống, về văn ch-ơng nghệ thuật” [134, 95]
Đặng Anh Đào trong bài Biển không có thuỷ thần đã xây dựng thuật ngữ:
“phản cổ tích” đối với sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp Tiếp đó trong bài: Kiếp
luân hồi của Nguyễn Trãi qua Nguyễn Thị Lộ, Đặng Anh Đào lại xây dựng thêm
một thuật ngữ nữa “lịch sử giả” Thực chất hiện tượng “phản cổ tích” và “lịch sử
giả” là những dạng khác nhau của hình thức “nhại” thể hiện tính đối thoại rất rõ
trong quan niệm của ng-ời sáng tạo với truyền thống, tức là muốn trình bày, bộc
Trang 9sau, lẳng lặng trình bày các sự việc, lẳng lặng ném ra các câu đối thoại khiến người đọc lạnh toát người trước tính cách nhân vật” [134, 89]
Trong bài: Có nghệ thuật Ba - rốc trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
hay không?(1989), tác giả Thái Hoà tr-ớc sau thống nhất chứng minh trong
truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp có nghệ thuật Ba - rốc Ông nêu lên bốn luận
điểm: có một bề rậm rạp và một bề sâu thẳm trong các truyện; sự vận động và chuyển hoá của các chi tiết trong một chỉnh thể và trong tổng thể; những nghịch
lí về thiện - ác, chân - giả và đẹp - xấu và thế giới là một kịch tr-ờng, ai sắm vai nào sẽ đ-ợc h-ởng công vai đó Những thao tác của Nguyễn Hoà cùng những phân tích tất yếu đã cho thấy sự nhất quán của ông trong việc khẳng định có nghệ thuật Ba - rốc trong truyện Nguyễn Huy Thiệp Một khi thừa nhận truyện Nguyễn Huy Thiệp có nghệ thuật Ba - rốc cũng có nghĩa là thừa nhận truyện Nguyễn Huy Thiệp mang cảm quan hậu hiện đại, bởi hậu hiện đại là sự phá vỡ
hệ thống, xé lẻ các tình tiết, sự rời rạc trong ngôn ngữ, trong giao tiếp, trong khi nghệ thuật Ba - rốc quan niệm thế giới nh- một kịch tr-ờng, cảm hứng năng
động chuyển hoá gây cảm giác khác th-ờng và sự ẩn tàng một chiều sâu cần giải mã, mà khi tác phẩm mang cảm quan hậu hiện đại có nghĩa là tác phẩm đó thể hiện t- duy không khoảng cách đối với thế giới đ-ợc nhìn ngắm, nói rộng ra, là t- duy tiểu thuyết
Đông La cũng bắt gặp nhiều nhà nghiên cứu khác ở chỗ khẳng định bút pháp, lối viết mà Nguyễn Huy Thiệp lựa chọn, chỉ có điều tác giả này lại nhấn
mạnh hơn bằng hai từ “ma lực”: Về cái “ma lực” trong truyện ngắn Nguyễn Huy
Thiệp (1999) Tác giả tr-ớc hết nêu lên đặc điểm truyện Nguyễn Huy Thiệp đó
là truyện “không có cốt truyện”, là “chuyện của nhiều vấn đề”, “cấu trúc ít cái bóng dáng chặt chẽ, khuôn mẫu truyện ngắn cổ điển”, “truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp có kết cấu nh- kết cấu của tiểu thuyết, nó lỏng lẻo nh- chính cái lỏng lẻo của cuộc sống” [134, 138]; tiếp đó tác giả đi đến tìm hiểu cách viết, đó là cách viết: “không dài dòng, lê thê (…) sự vật, sự việc, cảnh tượng qua đó xuất hiện rất nhanh nhưng lại đầy ấn tượng và sống động”[134, 140]; tác giả ngợi ca giọng văn Nguyễn Huy Thiệp là giọng “triết lí thâm nho” Bằng quan điểm
“đánh giá tác phẩm toàn diện”, tác giả Đông La đi đến khâu kết bằng việc khẳng
định cái Tâm của ng-ời viết, theo Đông La cái Tâm của ng-ời viết là ở chỗ ông
đóng vai trò nh- một ng-ời bác sĩ nhận ra cái banh nhọt của đứa trẻ, rồi nhổ đi
và rắc thuốc vào đấy chứ không phải dỗ đứa trẻ bằng một cái kẹo
Bên cạnh những bài viết đ-ợc tập hợp trong Đi tìm Nguyễn Huy Thiệp,
còn có nhiều bài viết khác, đ-ợc đăng tải trên các báo, tạp chí, đ-ợc thông qua trong các hội thảo, in trong sách:
- Các bài viết theo con đ-ờng thứ nhất:
Trang 10Năm 1989, nh- một sản phẩm của quá trình làm công tác s-u tầm, nghiên
cứu văn hoá, Đỗ Lai Thuý viết Con ng-ời và những cái nhìn con ng-ời trong văn
hoá chủ yếu tập trung làm rõ những quan điểm (cũng nh- những hạn chế) của
Trần Đức Thảo, trong đó ông lấy tác phẩm Nguyễn Huy Thiệp làm cái nhìn Theo Đỗ Lai Thuý: “Sự đồng nhất tư duy chính trị và tư duy nghệ thuật khiến văn học ta, có thời, cũng phủ nhận con người muôn thuở, tính người nói chung.”
[192, 125] Ông cho rằng Nguyễn Huy Thiệp, bằng cái nhìn con ng-ời, đã mở ra
một “xu hướng vận động mới của văn học Việt Nam”, “dám nhìn con người như
nó vốn có với những khả năng và hạn chế của nó” Để chứng minh cho luận
điểm đ-a ra, Đỗ Lai Thuý tập trung vào ng-ời kể chuyện ở ngôi thứ nhất - ng-ời
kể chuyện vốn thịnh hành ở thế kỷ XVIII, ông cho rằng đó là “cái nhìn con
ng-ời từ bên trong”
Trần Văn Toàn trong bài Nhà văn Viêt Nam - những giới hạn và sứ mệnh
(Ngữ văn học, Tuyển tập của các nhà nghiên cứu trẻ Đại học s- phạm Hà Nội, số
01/ 2006, bài viết này cũng đăng trong cuốn: Văn học Việt Nam sau 1975 -
Những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy) đã cố gắng tìm câu trả lời từ truyện ngắn
Nguyễn Huy Thiệp Theo tác giả “nhà văn, để đưa ra câu trả lời của mình dù muốn hay không cũng cần phải có một sự đính chính kh-ớc từ, đối thoại với những câu trả lời đối diện với anh ta từ nhiều hướng” và “bằng cách trả lời các câu hỏi này họ để lại trong tác phẩm chân dung tinh thần của mình” [195, 27]
Đi sâu vào phân tích truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, tác giả chỉ ra nhà văn tỏ ra nghi ngờ năng lực nhận thức hiện thực của văn ch-ơng, nhà văn muốn ng-ời đọc tránh những ngộ nhận v-ơng giả, nhà văn chỉ cho ng-ời đọc biết thân phận cô
đơn là điều không thể tránh khỏi của giới họ
- Các bài viết theo con đ-ờng thứ hai:
Phạm Phú Phong, trên TC Sông H-ơng số 01/ 2002, viết: Giọng điệu văn
ch-ơng Nguyễn Huy Thiệp Tác giả Phạm Phú Phong cho rằng giọng điệu văn
ch-ơng Nguyễn Huy Thiệp là giọng đa thanh Ông chứng minh luận điểm của mình bằng hai nội dung chính: thông qua việc tác giả sử dụng hình ảnh, thái độ, quan niệm, ngữ cảnh… và thông qua giọng điệu của nhân vật Ông kết luận:
“Mỗi truyện của anh không chỉ gây một ấn tượng duy nhất mà từ hệ thống hình t-ợng đến giọng điệu văn ch-ơng đã tạo đ-ợc một mạch t- t-ởng - nghệ thuật phát triển theo cấp số nhân” [145]
Cũng trên tạp chí đó, số 05/ 2003 Nguyễn Đăng Điệp - một ng-ời nghiên cứu đã quá quen với thao tác đi tìm giọng điệu, đã triển khai một bài viết khá
dài, nhan đề: Cuốn theo chiều văn Nguyễn Huy Thiệp Tác giả cho rằng giọng
điệu trong văn Nguyễn Huy Thiệp là giọng đa thanh Để đi đến kết luận đó, tác giả xây dựng những luận điểm tiền đề: tr-ớc hết là kết cấu chung của tác phẩm -
Trang 11kết cấu mang sức nén của tiểu thuyết tr-ờng thiên; tiếp đó, theo lôgic trò chơi mà tác giả đ-a ra - Nguyễn Huy Thiệp tự thiết lập một mô hình nghệ thuật riêng, không giống truyền thống, “viết những gì cảm thấy”; rồi, bằng ngôn ngữ quan phương “tiếp cận đối tượng theo lối suồng sã”
Lê Huy Bắc, trong hội thảo Văn học Việt Nam sau 1975 - Những vấn đề
nghiên cứu và giảng dạy” tổ chức năm 2005 tại trường ĐHSP Hà Nội, có tham
luận nhan đề: “bậc hiền triết - con chó xồm” hay kĩ thuật nhại của Nguyễn Huy
Thiệp Thao tác mà Lê Huy Bắc triển khai trong tham luận của mình là đi tìm
các biểu hiện của nghệ thuật nhại, từ nghệ thuật nhại đó, nh- một sự tất yếu, tác giả đi đến kết luận - một thao tác tìm hiểu - nhãn quan của Nguyễn Huy Thiệp (cũng là cái cách nhìn của Lê Huy Bắc?) Tác giả viết: “Nhân gian nhìn lên t-ởng t-ợng ra mọi thứ để trời là trời mây là mây Hơn thế nữa mây có lúc mang hình thù ng-ời hay bất cứ vật thể nào mà con ng-ời thấy t-ơng đồng Nh- thế vũ trụ và cả các nguyên tắc sống xung quanh ta đều xuất phát từ một hay nhiều ý niệm nhất định nhằm để phục vụ cuộc sống con ng-ời với -ớc vọng sao cho sống tốt đẹp hơn Nhân sinh là bất biến Chỉ có quan niệm về nhân sinh mới thay
đổi.”[117, 326] Tác giả triển khai tiếp, một cách triển khai khá thú vị, dựa trên một đoạn văn của Nguyễn Huy Thiệp: “đám mây có thể là “bậc hiền triết” nhưng thoáng chốc lại có thể là “con chó xồm””
Trên website www.tienve.org, Châu Minh Hùng viết bài: Cuộc tìm kiếm
hình thức đa thanh mới của văn xuôi hiện đại qua tổ chức truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, trong đó có đoạn: “trong lòng cuộc sống không có cuộc đối
thoại nào hoàn tất khi các quan niệm, t- t-ởng cá nhân luôn có ý thức nổi loạn, chống lại quan niệm tư tưởng chung” [87] Từ đó tác giả chỉ ra tính không hoàn tất của đối thoại Trên cơ sở lí luận chung ấy, áp dụng cho tr-ờng hợp Nguyễn Huy Thiệp, tác giả khái quát lên ba vấn đề cơ bản: thứ nhất, nhà văn đứng ngang hàng với nhân vật; thứ hai: thế giới cuộc sống trong truyện Nguyễn Huy Thiệp là một thế giới không có tôn ti, trật tự; thứ ba: thế giới đ-ợc nhìn nhận sự thật bên trong của con ng-ời
Nh- vậy, tr-ớc hết, có thể thấy rằng, truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp thu hút khá nhiều cây bút, có nhiều quan điểm bổ sung cho nhau, có những quan
điểm trái ng-ợc nhau (nhất là những bài viết về bộ ba truyện lịch sử, ở đây chúng tôi không nêu hết vì yêu cầu tập trung của đề tài) Các bài viết cũng gặp nhau ở chỗ: khẳng định cái tài của Nguyễn Huy Thiệp, khẳng định Nguyễn Huy Thiệp
là ng-ời thay đổi cách viết, thay đổi cách nhìn đối với cuộc đời, đối với văn học - những biểu hiện quan trọng của t- duy, đối với Nguyễn Huy Thiệp, do tính thời
đại, là t- duy tiểu thuyết Tuy nhiên, một sự nghiên cứu hệ thống, tập trung d-ới
Trang 12một cái nhìn nhất quán vẫn ch-a thấy có Với việc hiểu khái niệm (t- duy tiểu thuyết), cùng với việc lĩnh hội kết quả của những nhà nghiên cứu đi tr-ớc, chúng tôi mạnh dạn đi vào khai thác vấn đề
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xác định khái niệm t- duy tiểu thuyết
- Khảo sát, phân loại các biểu hiện của t- duy tiểu thuyết trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp trên hai nội dung chính: những biểu hiện của t- duy tiểu thuyết trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp; tổ chức văn bản - một ph-ơng diện độc đáo thể hiện t- duy tiểu thuyết trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
5 Đối t-ợng nghiên cứu và phạm vi khảo sát
- Với đề tài T- duy tiểu thuyết trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp,
chúng tôi chọn đối t-ợng nghiên cứu là t- duy tiểu thuyết và t- duy tiểu thuyết trong truyên ngắn Nguyễn Huy Thiệp
- Phạm vi khảo sát của chúng tôi là những truyện ngắn của Nguyễn Huy
Thiệp trong Tuyển tập truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp (Anh Trúc tuyển chọn),
Nxb Văn hoá - Thông tin, 2002; bổ sung thêm 5 truyện ngắn trong tuyển tập cùng tên do Đỗ Hồng Hạnh tuyển chọn, Nxb Văn hoá Sài Gòn, 2005
- Tổ chức văn bản - một ph-ơng diện độc đáo thể hiện t- duy tiểu thuyết
trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
Trang 13Ch-ơng 1
Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp trong bối cảnh đổi mới của tiểu thuyết, truyện ngắn Việt Nam sau 1986
1.1 Khái niệm t- duy tiểu thuyết
1.1.1 Khái niệm tiểu thuyết và khái niệm truyện ngắn
1.1.1.1 Khái niệm tiểu thuyết
Tiểu thuyết và truyện ngắn là hai thể loại khác nhau trong loại hình tự sự Tiểu thuyết là thể loại có nguồn gốc xa x-a khi con ng-ời biết ý thức về cá nhân
Nó là thể loại xuất hiện khá sớm Tuy nhiên, đến ngày nay vẫn còn quá nhiều
định nghĩa về nó Một cách chung nhất có thể hiểu về tiểu thuyết là: “tác phẩm
tự sự cỡ lớn có khả năng phản ánh hiện thực đời sống ở mọi giới hạn không gian” [67, 328]
Vẫn một quan điểm t-ơng tự với nhóm tác giả cuốn Từ điển thuật ngữ văn
học, trong giáo trình Lí luận văn học tập 2, nhóm tác giả Trần Đình Sử, Ph-ơng
Lựu, Nguyễn Xuân Nam định nghĩa tiểu thuyết: “là hình thức tự sự cỡ lớn đặc biệt phổ biến trong thời cận đại và hiện đại Với những giới hạn rộng rãi trong hình thức trần thuật, tiểu thuyết có thể chứa đựng lịch sử của nhiều cuộc đời, những bức tranh phong tục đạo đức xã hội, miêu tả cụ thể các điều kiện sinh hoạt giai cấp, tái hiện nhiều tính cách đa dạng” (tr 225)
Lại Nguyên Ân cũng đ-a ra định nghĩa không khác với hai quan điểm trên
dù rằng ông dùng lời lẽ khác: “là tác phẩm tự sự trong đó sự trần thuật tập trung vào số phận cá nhân trong quá trình hình thành và phát triển của nó; sự trần thuật
ở đây đ-ợc khai triển trong không gian và thời gian nghệ thuật đến mức đủ để truyền đạt cơ cấu của nhân cách” [7, 313]
Nh- vậy, có thể thấy rằng đặc điểm nổi cộm của tiểu thuyết đó chính là tính quy mô của nó Quy mô này do bản chất phản ánh của thể loại quy định: nó
là thể loại tồn tại dựa trên sự khai thác “con người cá nhân” Đặc tính này đã quy
định các phạm trù quan trọng khác nh- kết cấu, cốt truyện, nhân vật, không gian, thời gian Đây chính là nguyên nhân khiến Henri Bénac khái quát ngắn gọn:
“tiểu thuyết là câu chuyện kể trải dài trên một độ dài thời gian, cho phép tường thuật lại sự diễn biến của một nhận thức, khác với truyện ngắn, truyện ngắn không trình bày tâm lí đầy đủ của các nhân vật” [17, 724]
Trang 141.1.1.2 Khái niệm truyện ngắn
Khái niệm truyện ngắn cũng nh- khái niệm tiểu thuyết là có rất nhiều
định nghĩa Thoạt kỳ thuỷ truyện ngắn “là chuyện kể ngắn về một cuộc phiêu lưu
đ-ợc kể lại lần đầu tiên cho những ng-ời cùng thời nghe (tin, tin thời sự trong báo chí)” [17, 611] Truyện ngắn được hiểu là “tác phẩm tự sự cỡ nhỏ” [67, 370], [7, 345], là “hình thức ngắn của tự sự” [160, 240] Nội dung của nó “bao trùm hầu hết các ph-ơng diện của đời sống: đời t-, thế sự hay sử thi, nh-ng cái độc
đáo của nó là ngắn Truyện ngắn đ-ợc viết ra để tiếp thu liền một mạch, đọc một hơi không nghỉ” [67, 370]
Chính vì lí do như vậy mà truyện ngắn “thường hướng tới việc khắc hoạ một hiện t-ợng, phát hiện một nét bản chất trong quan hệ nhân sinh hay đời sống tâm hồn con người” [160, 241] Câu chuyện được kể trong truyện ngắn thường cũng chỉ “diễn ra trong một thời gian không gian hạn chế” để nhằm “nhận ra một điều gì đó sâu sắc về cuộc đời và tình người” [67, 371] Và, kết cấu của nó cũng “thường không nhiều tầng nhiều tuyến” [7, 347] Yêu cầu của việc viết đối với truyện ngắn tối cần là phải súc tích, chi tiết cô đọng “Tôi tin rằng một truyện ngắn có thể là cốt lõi đến độ không thừa dù chỉ là một dấu phẩy” (Gi Borges) [15, 11]
Như vậy, đặc điểm quan trọng nhất của truyện ngắn là sự tập trung: “ít sự kiện, ít nhân vật, ít miêu tả, nh-ng tất cả các chi tiết đều góp phần làm cho câu chuyện đạt tới hiệu quả mong muốn, đều duy trì sự hồi hộp chờ đợi của ng-ời
đọc” [17, 612]
1.1.1.3 Những khác biệt và t-ơng đồng giữa truyện ngắn và tiểu thuyết
Hẳn nghe “tư duy tiểu thuyết trong truyện ngắn ” ai cũng không khỏi ngạc nhiên và tự hỏi: chuyện gì đang xảy ra? Tiểu thuyết là tiểu thuyết, truyện ngắn là truyện ngắn Đã là t- duy tiểu thuyết thì bao giờ chả phải nói đến sự vận dụng nó trong nội bộ thể loại tiểu thuyết Nói nh- vậy không sai, nh-ng xem ra không tránh khỏi thiển cận Khái niệm t- duy tiểu thuyết, trong cách hiểu của chúng tôi, không bó hẹp trong khuôn khổ thể loại - nơi cơ sở hình thành khái niệm (t- duy tiểu thuyết) Nói t- duy tiểu thuyết đã v-ợt thoát khỏi phạm vi thể loại tiểu thuyết thì lí do nào đảm bảo cho nh- vậy? Nghĩa là, với truyện ngắn ở
đây, điều gì giữa truyện ngắn và tiểu thuyết có những t-ơng đồng để nhìn thấy khái niệm t- duy tiểu thuyết trong nó Một thao tác tất yếu phải tiến hành đó là
đối sánh tiểu thuyết và truyện ngắn Trong tiến hành thao tác đối sánh, những -u việt của thể loại tiểu thuyết cũng đ-ợc nêu lên - điều phải bàn tr-ớc khi có những luận chứng về t- duy tiểu thuyết
Trang 15Phân biệt truyện ngắn và tiểu thuyết thiết nghĩ cần dựa trên hai căn cứ: thứ nhất căn cứ vào định nghĩa thể loại; thứ hai căn cứ vào các đặc tr-ng thuộc về thi pháp của hai kiểu (thể) loại
Theo Từ điển thuật ngữ văn học tái bản năm 2006 của nhóm tác giả Lê Bá
Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi chủ biên, thể loại là: “dạng thức của tác phẩm văn học, đ-ợc hình thành và tồn tại t-ơng đối ổn định trong quá trình phát triển lịch sử của văn học, thể hiện sự giống nhau về cách tổ chức tác phẩm, về
đặc điểm của loại hiện t-ợng đời sống đ-ợc mô tả và về tính chất của mối quan
hệ của nhà văn đối với các hiện tượng đời sống ấy” [67, 299] Định nghĩa này có hai đặc điểm: thứ nhất, chỉ dạng thức của tác phẩm văn học hình thành và tồn tại t-ơng đối ổn định trong quá trình phát triển của lịch sử văn học; thứ hai, thể hiện
ở sự giống nhau về: cách thức tổ chức tác phẩm, đặc điểm loại hiện t-ợng đời sống đ-ợc mô tả, tính chất của mối quan hệ giữa tác giả và hiện t-ợng đời sống
đ-ợc mô tả Vậy thì nếu áp dụng định nghĩa này để phân biệt tiểu thuyết và truyện ngắn chúng ta chỉ thấy chúng khác nhau ở cách thức tổ chức tác phẩm (tức là các đặc điểm khác đều giống nhau) Mà ngay từ “cách thức tổ chức tác phẩm” (giữa truyện ngắn và tiểu thuyết) cũng đang có nguy cơ xoá nhoà ranh giới bởi lẽ quy định của ph-ơng thức viết (yêu cầu thời hiện đại) yêu cầu tiểu thuyết phải dồn nén trong lúc truyện ngắn gia tăng tính đa thanh, tính mở
Cũng ở công trình vừa nêu, các tác giả định nghĩa về truyện ngắn (ở trang
370): “tác phẩm tự sự cỡ nhỏ Nội dung của thể loại truyện ngắn bao trùm các
ph-ơng diện của đời sống: đời t-, thế sự hay sử thi, nh-ng cái độc đáo của nó là ngắn Truyện ngắn đ-ợc viết ra để tiếp thu liền một mạch, đọc một hơi không nghỉ”, định nghĩa tiểu thuyết (trang 328): “tác phẩm tự sự cỡ lớn có khả năng phản ánh hiện thực đời sống ở mọi giới hạn không gian và thời gian Tiểu thuyết
có thể phản ánh số phận của nhiều cuộc đời, những bức tranh phong tục, đạo đức xã hội, miêu tả các điều kiện sinh hoạt giai cấp, tái hiện nhiều tính cách đa dạng” Theo hai định nghĩa này thì truyện ngắn và tiểu thuyết về căn bản khác
nhau ở một bên “tự sự cỡ nhỏ”, một bên “tự sự cỡ lớn” (tự sự cỡ nhỏ, cỡ lớn chỉ
là một cách nói) theo đó sẽ khác nhau về độ dài (dung l-ợng) Nếu nh- theo những điều nêu trên thì truyện ngắn và tiểu thuyết xem ra khó phân biệt (Nguyên Ngọc khi đọc (ông đã dịch ra tiếng Việt) tác phẩm của Milan Kundera, chịu ảnh h-ởng t- t-ởng của ông này, đã khẳng định truyện ngắn và tiểu thuyết không phân biệt nhau) Phải thừa nhận một thực tế, truyện ngắn và tiểu thuyết có nhiều
điểm chung, nh-ng t- duy trên nét lớn, chúng ta cũng có thể nhận thấy những
điểm phân biệt (theo quan niệm này (sự khác biệt) mà Thuận - tác giả trẻ đang
Trang 16sống tại Paris (đã viết các tiểu thuyết Phố Tầu, Pari 11- 8, T mất tích…) đã kịch liệt phản đối Nguyên Ngọc bằng một loạt bài in trên website: http://
Vietnamnet.vn):
Thứ nhất, về việc phản ánh đời sống: tiểu thuyết và truyện ngắn đều phản
ánh đời sống d-ới góc độ đời t-, nh-ng tiểu thuyết đi sâu phản ánh số phận cuộc
đời còn truyện ngắn thiên về một đoản khúc, một nhát cắt Chính vì đặc điểm này mà dẫn đến sự khác biệt về ngoại diên của tiểu thuyết và truyện ngắn: tiểu
thuyết số l-ợng câu chữ th-ờng nhiều (dài), thậm chí bề bộn (Sông Đông êm
đềm, Chiến tranh và hoà bình); truyện ngắn số l-ợng câu chữ ít (ngắn) Belinski
nói: "tiểu thuyết là sử thi của đời tư” Nếu hiểu theo Belinski thì cũng phải nhận thấy rằng ông đang chỉ ra một dạng thức tự sự, trong đó sự trần thuật tập trung vào số phận của một cá nhân trong quá trình hình thành và phát triển của nó Chúng ta từng biết tiểu thuyết hình thành khi vận mệnh con ng-ời, mối liên hệ của nó với đời sống nhân dân đ-ợc ý thức và đó là một hình thức để kh-ớc từ khỏi sử thi, khỏi anh hùng ca Điều này giải thích vì sao tiểu thuyết thế giới đã
để lại một gia tài đồ sộ với những tên tuổi Stendhal, H Balzac, V Hugo, L Tolstoi, M Solokhov… - một nền tiểu thuyết cổ điển rực rỡ Ngay cả khi nó thoát khỏi phạm trù cổ điển của nó, nó đi tìm hình thức mới thì cũng mang theo một điệu bộ cồng kềnh Có thể thấy trong tiểu thuyết M Proust, James Joyce ở Việt Nam, nói về sự phản ánh số phận con ng-ời của tiểu thuyết có thể lấy dẫn
dụ khá dễ, nh- những sáng tác của các nhà văn hiện thực 1930 - 1945: Ngô Tất
Tố (Tắt đèn - số phận chị Dậu), Nguyễn Công Hoan (B-ớc đ-ờng cùng - số phận anh Pha), Vũ Trọng Phụng (Số đỏ - sự v-ơn lên của thằng Xuân), Nguyên Hồng (Bỉ vỏ - cuộc đời Tám Bính) Còn truyện ngắn phản ánh một nhát cắt đời sống?
điều này có thể thấy ngay trong cách định nghĩa của các nhà văn, chẳng hạn Tô Hoài: “truyện ngắn là cách cưa lấy một khúc đời sống” [135, 08], có ng-ời đã ví von khá thú vị: “… trong trận võ đài xảy ra giữa cái văn bản hấp dẫn và độc giả của nó, truyện ngắn thắng nhờ cú đo ván (còn tiểu thuyết thắng nhờ đánh kéo dài
để lấy điểm)” (Julio Cortázar) và: “một truyện ngắn hay thì phải gọn sắc, thấu cáy, và không khoan thứ ngay từ câu đầu tiên” [27] Một loạt tác giả cùng tác
phẩm của họ có thể kể tên ra đây: A.P Chekhov (Anh béo và anh gầy - gặp gỡ tình cờ giữa anh béo và anh gầy nơi nhà ga), ở Việt Nam: Nam Cao (Một bữa no
- bà lão một lần thăm cháu ăn quá no), Nguyễn Tuân (Chữ ng-ời tử tù - Huấn
Cao cho viên quản ngục chữ trong tù), Nguyễn Quang Sáng (Chiếc l-ợc ngà -
Trang 17sau tám năm ông Sáu về thăm nhà (bé Thu không chịu nhận ba, khi nhận ra ba
thì đúng lúc ông Sáu phải trở lại chiến tr-ờng), Nguyễn Minh Châu (Bến quê -
Nhĩ ốm nặng không đi đến bến sông Hồng được) vv…
Thứ hai: trên cơ sở tái hiện cuộc sống d-ới góc độ đời t-, cả truyện ngắn
và tiểu thuyết đều thể hiện chất văn xuôi Nh-ng, ở tiểu thuyết là sự bề bộn, sự phức tạp Nó có thể khai thác mọi ngõ ngách của cuộc đời, không giới hạn không gian thời gian, nó đi sâu vào đời sống nội tâm con ng-ời, phát hiện những mâu thuẫn phức tạp, thậm chí còn khai thác nó nh- một quá trình, nó chấp nhận
mọi kiểu ngôn ngữ có thể… Ta có thể thấy rất nhiều kiểu ngôn ngữ trong Số đỏ
(Vũ Trọng Phụng) mà Đỗ Đức Hiểu gọi là “những lớp sóng ngôn từ”, ngôn ngữ của me Tây, ngôn ngữ của lang băm, ngôn ngữ của bọn đầu đ-ờng xó chợ, kể cả ngôn ngữ đầy tính chất khẩu ngữ cũng được đưa vào, ví dụ: đéo mẹ, tí tì ti vv… Còn truyện ngắn do chỗ nó tái hiện một nhát cắt nào đó của đời sống nên chất văn xuôi không phức tạp nh- tiểu thuyết Chất văn xuôi th-ờng chỉ giới hạn trong một phạm vi không gian, thời gian nào đó, giới hạn trong một khoảnh khắc
nào đó, chẳng hạn: giới hạn trong không gian một con đò nh- Sang sông của Nguyễn Huy Thiệp, không gian chật chội của ga tàu nh- Anh béo và anh gầy của
Sê khốp Chính trong chất văn xuôi này mà ta nhận thấy truyện ngắn và tiểu thuyết còn khác nhau ở: một bên (tiểu thuyết) phản ánh tâm lí, thậm chí quá trình tâm lí còn một bên chỉ tái hiện hiện thực với t- cách là một mảnh cắt nào
đó bắt chộp đ-ợc (Dĩ nhiên điều này trong xu thế hiện đại, nhất là khi trào l-u tiểu thuyết Mới ở Pháp đ-ợc khởi x-ớng cũng ch-a hoàn toàn)
Thứ ba: tiểu thuyết và truyện ngắn đều có khả năng tổng hợp thể loại Tiểu thuyết thể hiện điều này rất rõ Trong tiểu thuyết có thể bắt gặp thơ, hình thức trữ tình, ký, tự truyện, th- từ, mẫu quảng cáo, mẫu tin Truyện ngắn cũng thể hiện tính chất tổng hợp nhưng “nó năng động hơn” (Vương Trí Nhàn) do chỗ nó là thể loại ngắn, nó chỉ tái hiện một khúc đoạn trong đời sống (thông qua nhân vật, nhân vật trong một tình huống nào đó sẽ biểu hiện ra bên ngoài thế giới bên trong của mình, chẳng hạn sự vui mừng (nhân vật đọc thơ, truyện ngắn có thơ, ví
dụ M-a, Vàng lửa của Nguyễn Huy Thiệp), sự ngạc nhiên tr-ớc cảnh đẹp (qua con mắt nhân vật, truyện ngắn xen hình thức trữ tình ví dụ Lặng lẽ Sa Pa của
Nguyễn Thành Long), nó th-ờng phụ thuộc lớn vào trạng huống tâm lí nhất định của tác giả (chẳng hạn khi tác giả đang say s-a, chìm trong cái đẹp, cái nên thơ, truyện ngắn đẫm chất trữ tình, hay khi tác giả muốn biến tấu một khúc đoạn đau
Trang 18khổ nào đó tác giả đã qua, truyện ngắn giàu chất ký vv…), nó có thể thoát ra khỏi trạng huống đó và kết thúc
Thứ t-: truyện ngắn và tiểu thuyết trần thuật với khoảng cách gần Đặc
điểm này trên thực tế không giúp phân biệt đ-ợc truyện ngắn và tiểu thuyết Bởi
lẽ đó là một tiêu chí về cơ bản phân biệt tiểu thuyết (và qua đó là truyện ngắn) với sử thi Sử thi trong quá trình miêu tả, ng-ời miêu tả luôn phải giữ một khoảng cách với điều đ-ợc miêu tả, đó là tâm thế của cháu con đối với đấng, bậc, nói theo M Bakhtin đó là “độ lùi sử thi” Còn tiểu thuyết là cái nhìn xoi mói, có thể lật đối t-ợng theo mọi bề để mô tả, có thể phỉ báng nó, có thể phân xuất trong nó những lớp sóng nội tâm (tiểu thuyết phức điệu của Ph Dostoievsky, chẳng hạn
Anh em nhà Cazamadop) Còn truyện ngắn dù th-ờng tác giả đứng bên ngoài
quan sát nh-ng cũng không tôn đối t-ợng thành những kẻ bề trên, thậm chí còn mô tả một cách trần trụi, đó là ch-a kể đến những truyện ngắn mà các tác giả đã
đi vào nội tâm nhân vật để đan lồng các bè ngôn ngữ, chẳng hạn truyện ngắn Chí
Phèo của Nam Cao Tuy nhiên tinh ý cũng có thể thấy: tiểu thuyết do chỗ -u tiên
phản ánh số phận, cuộc đời nên với khoảng cách trần thuật gần nó tái hiện đ-ợc nội tâm nhân vật, phản ánh đ-ợc nội tâm nhân vật; còn truyện ngắn thì điều này không cơ bản và không nhất thiết
“Mọi sự so sánh đều khập khiễng” Những kết quả so sánh có đ-ợc trên
đây chỉ mang tính chất t-ơng đối chứ ch-a hẳn đã là sự phân biệt rạch ròi, quy những điểm có đ-ợc về hệ thống thi pháp hết sức chặt chẽ (của mỗi thể loại) Có thể do những nhập nhằng thể loại nh- phân tích ở đây mà M Bakhtin dù từng khẳng định: “tôi cho rằng có tồn tại ở mức độ cao vấn đề về thể loại” nhưng cũng không quên trước sau: “tôi từ chối đưa ra định nghĩa thể loại” [103]
1.1.2 Khái niệm t- duy tiểu thuyết
T- duy tiểu thuyết là khái niệm đ-ợc dùng nhiều trong phê bình - nghiên
cứu văn học Tuy nhiên, một sự minh định cần thiết về nó vẫn ch-a thấy đ-ợc xuất hiện Với việc nhận ra điều đó, trong bài viết này, chúng tôi cố gắng xác
định một số đặc điểm
Khái niệm t- duy tiểu thuyết không chỉ dùng ở phạm vi tiểu thuyết với t- cách là thể loại đã sản sinh ra khái niệm (nghĩa hẹp) Khái niệm t- duy tiểu thuyết còn đ-ợc hiểu là hệ hình (paradigme, cách hiểu và vận dụng của Trần
Đình Sử) t- duy (theo nghĩa rộng) Theo sự xác định của Milan Kundera khái niệm này ra đời trong thời hiện đại “Thời hiện đại không chỉ bắt đầu với Descartes mà còn bắt đầu với Cervantès và Rabelais” [131, 331] Dĩ nhiên cách
Trang 19hiểu ở đây của Kundera là rất biện chứng khi ông này quan niệm tiểu thuyết khác với chúng ta và nhiều ng-ời từng hiểu Nói đến t- duy tiểu thuyết là nói đến tâm thế tr-ớc hiện thực hiện hữu, nó là cái nhìn xoá bỏ khoảng cách (không chỉ hiểu ở nghĩa vật chất là khoảng không gian) giữa chủ thể và đối t-ợng Nói một cách dễ hiểu, nếu t- duy sử thi biểu hiện một khoảng cách lí t-ởng giữa chủ thể
và đối t-ợng - theo M Bakhtin là “khoảng cách sử thi” [10] biểu hiện tâm thế của kẻ cháu con tr-ớc ông cha, đấng, bậc - thì t- duy tiểu thuyết xoá bỏ điều đó Tr-ớc khi đi vào những biểu hiện của nó, chúng ta hãy cùng đặt ra câu hỏi và lí giải: tại sao lại có điều nh- vậy?
T- duy tiểu thuyết cũng nh- t- duy sử thi có nguồn gốc từ triết học đời sống, nghĩa là khi có nhận thức về con ng-ời, về cuộc sống Suy đến cùng, triết học đó bắt nguồn từ lao động (dẫn dụ gốc: từ loài v-ợn, nhờ lao động mà con ng-ời sinh ra đ-ợc xem nh- minh chứng dễ thấy) Chính lao động đã làm cho bộ
óc của con ng-ời ngày càng hoàn thiện và những chân trời bồi đắp vẫn mở ra mãi mãi Đến l-ợt nó, bộ óc lại phục vụ cho chân tay làm thành một mối quan hệ quấn quyện Và, kẻ chịu dao động đến tận cùng vẫn là kẻ -u t- kia Do đó có thể
đ-a ra một phán đoán phản ánh trực tiếp rằng: t- duy sử thi và t- duy tiểu thuyết
có cùng cơ sở là (nguyên lí) t- duy của con ng-ời bắt nguồn từ hành động, trong
đó, nhạy cảm và đặc thù nhất là hành động sáng tạo khoa học Dĩ nhiên khi chúng tôi nói t- duy sử thi, ở tr-ờng hợp này, là nói t- duy sử thi hiểu theo nghĩa
hệ hình t- duy, d-ới một thời đại đã khai sáng T- duy sử thi có nguồn gốc từ những khám phá cơ học của khoa học Mầm mống của câu chuyện này bắt nguồn từ trong cội rễ của những phát hiện của Newton - các định luật cơ học về chuyển động và t-ơng tác giữa các vật thể trong không gian - để đến lúc Laplace nghiên cứu về thiên văn và kết luận: “nếu biết trước trật tự vũ trụ tại một thời
điểm nhất định sẽ có thể tiên đoán chính xác trật tự vũ trụ tại bất cứ thời điểm nào khác” [115] nguyên lí này đ-ợc ng-ời ta thừa nhận và gọi tên là nguyên lí tất
định Chính điều này đã làm cho bộ óc tham khám phá của con ng-ời thêm đ-ợc
cổ suý Ng-ời ta kì vọng về việc hiểu trọn vẹn về đối t-ợng, có thể tách đối t-ợng khỏi mình để ngắm nghía và kết luận về nó Đó chính là nguyên nhân dẫn
đến cái nhìn duy lí về sự vật - hiện t-ợng, về con ng-ời - một b-ớc đột phá của diễn trình t- duy nhân loại (trên cơ sở tạo nên bộ mặt của nửa cuối thế kỉ XIX và nửa đầu XX với những thành quả khoa học kĩ thuật) và những hậu hoạ khủng
khiếp nó mang lại Tác giả cuốn Cuộc phiêu l-u t- t-ởng văn học Âu châu thế kỉ
XX 1900 - 1959 đã diễn tả lại tâm lí của ng-ời Tây âu tr-ớc khi họ b-ớc vào
cuộc chiến tranh thế giới thứ hai, họ hồn nhiên cảm t-ởng nh- đi picnic trong sự
Trang 20kì thú và khám phá mãi đến khi chứng kiến sự không đùa giỡn của đạn bom họ mới vỡ lẻ và hoảng loạn Đó cũng là nguyên nhân để văn học thế giới xuất hiện những hiện t-ợng nh- J P Sartre, Albert Camus, Ph Kafka - những nhà văn hiện sinh đau đớn tr-ớc thân phận con ng-ời Nh-ng những lí thuyết cơ học lập tức bị phản bác bởi những khám phá của ngành l-ợng tử mà đại diện là W Heisenberg W Heisenberg nêu lên nguyên lí về tính bất định (của thế giới l-ợng tử) Nguyên lí này về sau đ-ợc Niels Bohr ủng hộ và bảo vệ Nguyên lí bất
định nói rằng: “bạn không thể tiên đoán chính xác vị trí của một hạt cơ bản tại một thời điểm cho tr-ớc giống nh- các nhà thiên văn tiên đoán chính xác vị trí của một ngôi sao tại một thời điểm cho tr-ớc” [115] Nguyên lí bất định là sự khẳng định tính t-ơng đối của giá trị và theo đó là sự phá vỡ hệ thống Điều mà các nhà l-ợng tử đem đến cho nhân loại là nhận thức về cái t-ơng đối của giá trị Chúng ta biết đỉnh cao của t- duy duy lí là cuộc khủng hoảng làm sầu não lòng ng-ời và để từ đó ng-ời ta nhận thức ra rằng chỉ còn nỗi đau, những trạng thái tâm lí của con ng-ời là hằng số Con ng-ời tự nghiền ngẫm lại mình - điều này cho thấy cá nhân rất quan trọng Một khi cá nhân đ-ợc tôn lên ở ngôi vị thì hẳn nhiên ý thức về dân chủ (theo nghĩa đích thực của khái niệm) sẽ đ-ợc khải thị Cùng với việc mọi giá trị có thể đặt câu hỏi, còn lại chỉ là nỗi buồn khắc khoải riêng của thân phận ng-ời, ý thức tự tôn, tự nhìn nhận lại mình của con ng-ời lên cao hơn bao giờ hết Cùng trong thời gian đó, “phát hiện con người” của bác sĩ Freud (khám phá ra tiềm thức, những ẩn ức) đã cộng thêm vào chấn động và hoang mang của lòng ng-ời làm cho ng-ời ta tin rằng không thể có một sự hiểu biết tận cùng về con ng-ời đ-ợc (Tình hình trong ngành vật lí l-ợng tử cũng
chứng tỏ điều hoài nghi này: Einstein bằng việc đ-a ra thuyết t-ơng đối: Thuyết
t-ơng đối đặc biệt (1905) và thuyết t-ơng đối tổng quát (1916) khẳng định sự
xác định (chống lại nguyên lí bất định) do vậy ông bắt buộc phải vào cuộc với một ng-ời khổng lồ sừng sững Niels Bohr khi ông này cảm thấy đã bị tổn th-ơng lòng tự trọng khoa học Kết quả của sự “ăn miếng trả miếng” ở Niels Bohr là Einstein liên tiếp thất bại bởi những thí nghiệm t-ởng t-ợng của ông không thành công đ-ợc Sự nghiệp đang dở dang thì Einstein qua đời Quan điểm mà Einstein giữ vững trong cuộc tranh luận bất hủ với Niels Bohr là việc ông cho rằng cái bất định (mà ng-ời khác gọi) kia chỉ là sự rối loạn l-ợng tử Dù vậy đi chăng nữa (trên thực tế đến nay cuộc tranh luận vẫn ch-a ngã ngũ) thì về bản chất sự tác động đến lòng ng-ời cũng không khác nhau là mấy - hoài nghi, đặt lại giá trị, chứng minh bằng những giá trị mới sâu sắc hơn)
Trang 21Với sự tác động trên đây, t- duy tiểu thuyết đ-ợc hiểu trên các biểu hiện (đối sánh với t- duy sử thi): 1, T- duy sử thi khẳng định sự tất định, t- duy tiểu thuyết thì ng-ợc lại khẳng định sự bất định Đối với t- duy sử thi: Mỗi khi khẳng
định sự tất định lập tức chúng ta hiểu ngay rằng đã tách biệt chủ thể và khách thể, bên trong và bên ngoài, xấu và tốt, nói rộng ra, đó là sự phân cực và l-ỡng
giá, khẳng định một chân lí đúng, chân lí độc tôn Hẳn ai trong chúng ta cũng
biết tuyên ngôn nổi tiếng của Descartes: “Tôi tư duy vậy tôi tồn tại” Mà đã nói:
“tôi tư duy” tức là “tôi” tư duy về cái gì đó Cái gì đó ở đây, trong quan điểm Descartes, tách khỏi chủ thể một cách cơ giới T- duy sử thi bằng việc tách biệt các giá trị, tạo dựng khoảng cách nh- trên đã chứng tỏ rõ ràng rằng mọi sự vật có
sự hoàn tất khép kín Đối với t- duy tiểu thuyết thì ng-ợc lại không khẳng định
sự hoàn tất khép kín, từ đó không khẳng định sự phân cực, biệt lập các giá trị mà
xem các giá trị chỉ có tính chất t-ơng đối, do đó đ-a đến quan niệm tính đa chân
lí, hay tính đa nguyên Bùi Văn Nam Sơn, một trí thức thành danh d-ới nền Tây
học, trực tiếp là nền triết học Đức, trong T-ơng lai của khai sáng ở một mối quan
tâm khác cũng khẳng định: “xã hội được khai sáng không đồng nghĩa với “đại
đồng”, “đại thuận”, “đại trị”, trái lại xem tranh chấp và bất đồng là hình thức bình th-ờng của giao tiếp xã hội; các yêu sách về tính chính đáng (legitimationen) tối hậu, chung tất cả là không thể có được” [76, 83] T- duy tiểu thuyết quan niệm rằng khó có thể l-ờng tr-ớc những biến động của cuộc đời, của ngoại giới (xin l-u ý đây không phải là một quan niệm bi quan mà có từ thực chứng) nhất là những biến động trong lòng ng-ời, điển hình cho điều đó là những biến thái đang diễn ra trong kiếp hiện sinh 2, Đối với t- duy sử thi vì khẳng định tính hoàn tất khép kín, tức là nhìn nhận khoảng cách giữa chủ thể và ngoại giới nên con ng-ời có tính đại diện Tính đại diện ở đây biểu hiện nh- những công thức cơ giới: một ng-ời xem ngắm coi nh- kết quả xem ngắm của nhiều ng-ời (bởi lẽ sự vật đ-ợc hoàn tất, con ng-ời đ-ợc cơ cấu hoàn tất); một ng-ời - đối t-ợng xem ngắm là sự đại diện cho nhiều ng-ời, cho tập thể (vì lẽ đó mới có cái gọi là con ng-ời đại diện cho phẩm tính cộng đồng) Về cách nhìn này trong văn học, ở thể loại sử thi được gọi là “khoảng cách sử thi”: khoảng cách thời gian giữa thời đại đ-ợc nói trong tác phẩm và thời đại phản ánh nó vào tác phẩm (theo M Bakhtin khoảng cách này là hàng triệu năm); khoảng cách tâm thế, nh- đã nói, đó là tâm thế của cháu con đối với cha ông, đấng, bậc Chính vì đặc thù này (đặc thù của loại hình) mà phải chăng ng-ời ta mặc nhiên thừa nhận t- duy sử thi thành một khái niệm của hệ hình (kiểu t- duy)? Và tiểu thuyết cũng vậy? Đặc điểm của tiểu thuyết là phản ánh cái đang diễn ra, cái hiện
Trang 22thực ch-a hoàn thành, vì miêu tả cái đang diễn ra nên nó không có khoảng cách nh- sử thi Và có lẽ bởi vậy (sự liên đới khái niệm) mà nhà bác học M Bakhtin
dù chỉ nghiên cứu tiểu thuyết nh-ng đã phải trả giá bằng những tháng ngày đen tối bị l-u đày trong một bối cảnh nhạy cảm của n-ớc Nga d-ới thời xô viết? Tất nhiên cách nghiên cứu của M Bakhtin, xin nhấn mạnh, là nghiên cứu d-ới cái nhìn đồ chiếu triết học (nhiều ng-ời gọi ông là nhà triết học chứ không phải nhà nghiên cứu văn học thuần nghĩa) Nói những điều này có nghĩa là về khái niệm
đang bàn, hiểu theo nghĩa rộng, có nguồn gốc từ trong thể loại, loại hình văn học
- nghĩa hẹp Trở lại với việc đối sánh t- duy tiểu thuyết và t- duy sử thi Nh- đã nói t- duy tiểu thuyết nhìn nhận sự vật t-ơng đối, con ng-ời cũng t-ơng đối với vô vàn giá trị, khoảnh khắc, do đó t- duy tiểu thuyết đ-a đến sự giác ngộ về cá nhân, thức tỉnh ý thức bình đẳng và dân chủ; t- duy tiểu thuyết không khẳng
định khoảng cách tuyệt đối cơ giới giữa chủ thể và sự vật, từ đó thừa nhận giá trị
đ-ợc nhìn thấy là giá trị t-ơng đối, có góp phần của màu sắc cá nhân, của sự cảm thụ cá nhân Điều này đã dẫn đến hệ quả là sự phong phú của tính cách mà phản
ánh rõ nét nhất là trong văn ch-ơng: nhiều cách viết của nhiều ng-ời; có thể viết
về một đối t-ợng nh-ng ở mỗi cây bút là mỗi sự khám phá khác biệt, không trùng lặp Từ đó lại dẫn đến hệ quả tất yếu là sự mở rộng đề tài, chủ đề trong tác phẩm văn học Điều này đã giải toả mối lo âu không đâu “tiểu thuyết đã chết”
“nhân vật đã chết” của sự phát triển lên đến đỉnh cao tư duy duy lí trước đó 3, T- duy sử thi nhấn mạnh tính hệ thống, tính mạch lạc tuân thủ nên giọng điệu ở
đó là giọng điệu sùng kính, linh thiêng, việc thuật sự việc chỉ đơn giản là thuật sao cho đúng, cho thật, cho hay, tức là yếu tố cảm nhận, sáng tạo cá nhân không
đ-ợc chú trọng Còn t- duy tiểu thuyết do phá vỡ tính hệ thống, nhìn nhận các yếu tố đơn lẻ có khi ngẫu nhiên, sự không l-ờng tr-ớc nên giọng điệu ở đây là giọng điệu xoi mói, mỉa mai pha chút xót xa, cay đắng Cuộc đời không bao giờ
có câu nói cuối cùng, câu nói của tôi về cuộc đời chỉ là một cách cảm, nghĩ của riêng cá nhân tôi mà thôi Nh- vậy ở đây yếu tố cá nhân sáng tạo đ-ợc đề cao (tôn sự chủ động, những trực cảm cá nhân lên) Điều này bắt gặp rất rõ ràng trong văn ch-ơng
Trên cơ sở quan niệm là hệ hình t- duy và đã tiến hành thao tác phân xuất,
ta hãy cùng phóng chiếu vào các tác phẩm văn ch-ơng để cùng nhận diện các biểu hiện của nó Tr-ớc hết cần khẳng định rằng khi đã là hệ hình t- duy thì không cứ riêng gì tiểu thuyết mà với hầu hết thể loại đều vận dụng t- duy tiểu thuyết, chẳng hạn thơ, kịch, truyện Đối với thơ đó là sự lộn ngửa đối t-ợng ra
mà nói - xin đ-ợc lấy riêng ở văn học Việt Nam - sự đ-a vào thơ những sắc thái
Trang 23thông tục nh- tiếng n-ớc đái của phụ nữ trong bồn cầu (Ngọn cỏ - Nguyễn Thị
Hoàng Bắc) hoặc thơ của nhóm Mở Miệng (Bùi Chát, Lí Đợi); trong kịch có thể thấy ở kịch Nguyễn Huy Thiệp; ở truyện ngắn có thể thấy ở hàng loạt truyện ngắn của các tác giả viết sau 1975: Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Hồ Anh Thái, Tạ Duy Anh… 1, Biểu hiện đầu tiên cần chú ý của tư duy tiểu thuyết là sự trần thuật không khoảng cách, nói khác đi là sự trần thuật ở điểm nhìn hiện tại, ở cái ch-a hoàn thành/ 2, Giọng điệu và ngôn ngữ: nh- đã nói, giọng điệu đó là giọng điệu xoi mói, giễu cợt, có sắc điệu xót xa, là chất giọng của đời th-ờng của ngôn ngữ đời th-ờng vốn sinh động và giàu sắc thái, không thuần khiết/ 3, biểu hiện thứ ba của t- duy tiểu thuyết trong văn ch-ơng là sự bất định, nói rõ
hơn đó là những dự cảm của tác giả về cuộc đời (theo Milan Kundera là sự hiển
minh của l-ỡng lự), của cái tôi thử nghiệm (vì trên đời này có rất nhiều cái tôi)
của tác giả trong hành trình tác phẩm; có thể bắt gặp trong tác phẩm những bất trắc, những sự không đoán l-ờng, những chân thật của cõi lòng kiếp hiện sinh Với việc khẳng định tính đa chân lí, xoá bỏ khoảng cách, khẳng định cá nhân nh- đã nói trên, t- duy tiểu thuyết đã làm cho văn học mở rộng đề tài, chủ đề, tránh đ-ợc sự nhàm chán đơn điệu, tác phẩm trở nên phong phú - đây là một trong những hệ quả khả thi của t- duy tiểu thuyết/ 4, biểu hiện thứ t- đó là sự tự
do, kết cấu mở của tác phẩm: kết cấu mở đ-ợc hiểu là việc nhà văn “tạo ra tác
phẩm của mình giống nh- cuộc sống anh ta miêu tả nó cứ tự nhiên tuôn chảy,
độc lập với anh ta”(Koginov) [41]cáigốc rễ của kết cấu mở là: cuộc sống đang diễn tiến; nh- vậy, kết cấu mở là sự mở rộng biên giới khỏi tác phẩm, tác phẩm kết thúc không phải là đã có sự hoàn tất cũng nh- cuộc sống không bao giờ hoàn
tất vậy (điều này có sự t-ơng đồng với thuyết liên văn bản - cho thấy nhân loại
đã phát triển đến đỉnh cao của nhận thức: mỗi văn bản là sự ghép nhập của những văn bản có tr-ớc và sau nó, nó nh- là một bản hoa ghép (lí thuyết của Kristeva năm 1966); lí thuyết liên văn bản phản bác lại thuyết văn bản đã tỏ ra
độc tôn tr-ớc đó rằng, văn bản, sự sáng tạo cũng chỉ có giá trị t-ơng đối (ở đây chúng tôi không có dịp bàn kĩ)) Kết cấu mở của tác phẩm có liên quan chặt chẽ
đến tính bất định, đặc điểm đ-ợc nêu ra tr-ớc đó/ Và chính kết cấu ấy đã làm nên đặc điểm thứ năm: tính đa thanh Tính đa thanh của tác phẩm là dĩ nhiên vì: thứ nhất, nhà văn phản ánh cuộc sống tại thời điểm hiện tại trong một trạng huống tâm lí nhất định của anh ta mà cuộc sống thì không đứng yên do đó một
sự vật - hiện t-ợng ở thời điểm này thì thế này nh-ng ở thời điểm khác thì thế khác; thứ hai, nh- đã nói, không có chân lí phổ quát, do đó yếu tố cá nhân, trạng thái tâm lí, những cảm nhận khó nắm bắt của cá nhân đ-ợc chủ trọng do đó có
Trang 24sự đối thoại tất yếu với ng-ời khác dù muốn dù không (bởi ng-ời khác ch-a hẳn
đã nghĩ nh- anh, kể cả cố hiểu anh đến mấy cũng không thể trùng khít trong suy nghĩ và diễn giải); thứ ba, có thể biểu hiện trên hai bình diện: nhà văn khắc hoạ nhân vật trong tác phẩm, nh-ng là con ng-ời không hoàn tất kiểu nh- lão Khúng của Nguyễn Minh Châu, Thuỷ của Nguyễn Huy Thiệp (vì không có một sự hoàn tất nào một khi đã thay đổi tâm thế, một khi con ng-ời bình đẳng tr-ớc con ng-ời; nhà văn dù tạo nên nhân vật nh-ng câu hỏi về nó ch-a hẳn đã một bề trong kiểm soát - đây đ-ợc xem nh- hệ quả tất yếu của quá trình viết: các quan
hệ đời sống không tách biệt chằn chặn và, sự bất lực, những giới hạn của ngôn ngữ - tức, nhà văn vẫn không thôi đối thoại với nó)/ nhà văn sáng tạo nên nhân vật của mình bao giờ cũng có những toan tính phản ánh, trong khi không phải mọi vấn đề đều cho phép ông ta nói ra một cách mồn một, ông ta buộc lòng phải
sử dụng lối nói ám dụ, nh-ng đây không phải là ám dụ theo lối -ớc lệ cổ điển (kiểu phúng dụ), mà ám dụ v-ợt thoát từ sự xoi mói về nhân vật, vỗ vai nhân vật (lão Khúng của Nguyễn Minh Châu - một biểu t-ợng về ng-ời nông dân, Nguyễn Huy Thiệp m-ợn đề tài dục tính kiến giải về văn hoá), sắc thái ám dụ có khi còn nhiều bình diện nên ng-ời đọc khó đ-a ra câu hỏi cuối cùng, thậm chí còn tự buộc mình vào cuộc đối thoại với nhà văn mà gã này đ-a ra một cách nửa vời, nh- trêu ng-ơi Giống nh- phản ứng dây chuyền, tính đa thanh của tác phẩm lại dẫn đến hệ quả tất yếu: sự đồng sáng tạo - một khái niệm của tiếp nhận văn học Ng-ời đọc, tr-ớc hết, nhìn trên lí luận chung, là một mắt khâu trong việc tạo
thành tác phẩm văn học: từ văn bản đến tác phẩm văn học Nh- vậy, tác phẩm
văn học nếu nhìn trong quá trình, phụ thuộc khá lớn vào sự đánh giá của ng-ời
đọc Khi tiếp cận tác phẩm, với những tác phẩm đa thanh trong sự quan tâm của chúng tôi, ng-ời đọc buộc lòng phải đặt mình vào cuộc đối thoại mà nhà văn tạo dựng dù muốn dù không Ng-ời đọc đ-a ra kiến giải về nhân vật, về cuộc đối thoại trong tác phẩm nh-ng đó là kiến giải của một trong những kiến giải Kiến giải đó, thậm chí, gây bất ngờ cho kẻ chủ tr-ơng (nhà văn) Vậy là, sự giàu có của tác phẩm hẳn nhiên đ-ợc tính đến Ngoài ra, một câu chuyện thú vị khác trong chiều diễn suy cũng xin đ-ợc kể: từ việc hiểu nhân vật, hiểu cuộc đối thoại, người đọc mang tham vọng “tìm hiểu” nhà văn, tìm hiểu xem ông ta muốn nói gì Tất nhiên lại là một công đoạn không mấy dễ dàng, những đối cực sẽ xuất hiện Và, vậy là anh ta lại tự đặt mình vào trong cuộc đối thoại bất tận với nhà văn, một con ng-ời tồn tại thực bằng sinh thể sinh học (điều này giúp ta hiểu vì sao nhà văn nhà thơ (dĩ nhiên họ muốn nói gì cũng là qua tác phẩm) bị quản thúc, chẳng hạn Đặng Hoàng H-ng, Nguyễn Huy Thiệp một thời)
Trang 25Trên đây là những thuyết minh của chúng tôi về t- duy tiểu thuyết - một khái niệm hiểu trên hai nghĩa trong đó bao quát là nghĩa chỉ hệ hình t- duy: nó là một kiểu t- duy xuất hiện và phát triển ở thời hiện đại
1.2 Nguyễn Huy Thiệp - g-ơng mặt nổi bật của truyện ngắn Việt Nam sau
1986
1.2.1 Bức tranh chung của tiểu thuyết, truyện ngắn Việt Nam sau 1986
Sau năm 1975, hiện thực đất n-ớc có nhiều thay đổi Tình hình đó đã khiến văn học nghệ thuật nói chung, văn học nói riêng chuyển sang một h-ớng
đi mới Nhen nhóm từ một số tác phẩm của một số nghệ sĩ, nở rộ sau 1986 với mốc quan trọng Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, văn học Việt Nam đã dần
định hình một xu hướng tiếp cận và khám phá hiện thực mới Mở đầu, khi “bối cảnh sử thi” đã không còn, một hiện thực mới thế chỗ, yêu cầu cấp bách cần phải thay đổi đã bắt buộc các nhà văn phải dùng “lối nói trực diện” để thông cáo và
tuyên ngôn Mùa ký - phóng sự ra đời vì thế Xin đ-ợc nói rằng, tr-ớc khi đề cập
một số thành tựu nổi bật của truyện ngắn, tiểu thuyết thì cần phải đề cập đến
mùa ký - phóng sự này Vì: nó được xem như “bước đệm” để các nhà văn “giã từ
vũ khí” với những cách viết thiếu “chân thực đời thường” Các tác phẩm ký -
phóng sự nổi bật có thể kể: Tháng ba ở Tây Nguyên (Nguyễn Khải), Rất nhiều
ánh lửa (Hoàng Phủ Ngọc T-ờng), Suy nghĩ trên đ-ờng làng (Hồ Trung Tú), Cái
đêm hôm ấy đêm gì? (Phùng Gia Lộc), Ng-ời không cô đơn (Minh Chuyên), Tiếng kêu cứu của một vùng văn hoá (Võ Văn Trực) Các tác phẩm ký - phóng
sự đã tạo nên một sức mạnh thuyết phục thúc đẩy hai thể loại anh em là tiểu thuyết và truyện ngắn phát triển
Bắt đầu từ những năm đầu 80, tiểu thuyết, truyện ngắn Việt Nam b-ớc vào chuyển đổi Những tác phẩm đánh dấu mốc quan trọng có lẽ là: tập truyện ngắn
Bến quê (1985, Nguyễn Minh Châu), Đứng tr-ớc biển (1982), Cù lao Tràm
(1985) (Nguyễn Mạnh Tuấn), Mùa lá rụng trong v-ờn (1985, Ma Văn Kháng),
Thời xa vắng (1986, Lê Lựu), sau đó là T-ớng về h-u, Con gái thuỷ thần, Không
có vua, Những bài học nông thôn những truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, Thiên sứ (1989, Phạm Thị Hoài), rồi Nỗi buồn chiến tranh (1990, Bảo Ninh), Bến không chồng (D-ơng H-ớng), Mảnh đất lắm ng-ời nhiều ma (Nguyễn Khắc
Tr-ờng) Các tác giả nổi bật kế tiếp có thể kể: Tạ Duy Anh, Hồ Anh Thái, Nguyễn Bình Ph-ơng, Thuận, Nguyễn Ngọc T- Nhìn một cách khái quát nh- vậy để thấy đ-ợc thành tựu của tiểu thuyết, truyện ngắn Việt Nam và thấy đ-ợc chỗ đứng của Nguyễn Huy Thiệp trên văn đàn Nguyễn Huy Thiệp là tác giả truyện ngắn (ng-ời ta vẫn gọi ông nh- vậy) nh-ng đã để lại dấu mốc quan trọng
Trang 26đối với tiểu thuyết, truyện ngắn nói chung Dù đến sau nh-ng ông có công đẩy cách tiếp cận hiện thực lên một tầm mới - với nghĩa hiện thực vốn có, hiện thực nh- tôi thấy, đồng thời đ-a vào đó một cách viết khá táo bạo và phù hợp Nghĩa
là, ông kế thừa những ng-ời tr-ớc đó chỉ có điều cách làm của ông có vẻ triệt để hơn, táo bạo hơn Sau Nguyễn Huy Thiệp, các tác giả văn xuôi dù ít dù nhiều cũng bị ám ảnh bởi ông Tr-ớc hết, với sự xuất hiện của ông, ng-ời ta không thể viết nh- tr-ớc nữa (cảm quan hậu hiện đại nh- một b-ớc dự cảm mới của Nguyễn Huy Thiệp, ít hoặc nhiều lay động tâm trí ng-ời sáng tác) Thêm nữa, một cách viết ám ảnh cũng là điều cần thiết đối với việc tiếp cận và phản ánh hiện thực mới Có thể thấy bóng dáng của Nguyễn Huy Thiệp trong một số tác phẩm của một số cây bút nh- Bảo Ninh, Nguyễn Việt Hà, Đỗ Hoàng Diệu Lại nữa, việc tác giả sau 1986 th-ờng vận dụng lối cắt xén văn bản, theo chúng tôi,
điều này đã đ-ợc manh nha từ trong sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp với việc ném vào truyện những thơ, tiểu sử, câu chuyện (đ-ợc đ-a vào bằng hình thức
“bắt” vào một yếu tố nào đó rồi triển khai)
Về truyện ngắn Việt Nam sau 1986, có thể nói rằng, truyện ngắn (đặt trong bối cảnh chung) đã phát triển mạnh mẽ, số l-ợng tác phẩm nhiều, xuất hiện nhiều tác giả mới Các tên tuổi có thể điểm qua: Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Tạ Duy Anh, Hồ Anh Thái, Nguyễn Thị Thu Huệ, Võ Thị Hảo, Phan Thị Vàng Anh, Hoà Vang, Ngô Tự Lập, Trần Thuỳ Mai, Dạ Ngân, Nguyễn Ngọc T-, gần đây có Nguyễn Ngọc Thuần Nhìn chung truyện ngắn Việt Nam sau
1986 đã có nhiều biến đổi so với tr-ớc Tr-ớc hết ng-ời viết truyện ngắn ý thức
được việc cần phải thay đổi tư duy Đó là tư duy về “hiện thực đang sinh thành”
Điều này ngoài trực cảm của nhà văn còn đ-ợc sự cho phép (và yêu cầu) của
Đảng: nói thẳng, nói sự thật Hiện thực thay đổi buộc lòng t- duy, cách nghĩ, cách làm phải thay đổi Không thể lấy con mắt cũ để nhìn cuộc đời mới, càng không thể lấy cái nhìn cũ để đo hiện thực mới Có lẽ vì vậy mà các hành động
“ngoài văn bản” của một số nhà văn đã chứng tỏ sự cần thiết Nguyễn Khải từ bỏ
“cái thời lãng mạn”, Lê Lựu buồn chán với lối viết “công việc”, “sự vụ”, Nguyễn Khắc Trường quyết đoán đoạn tuyệt với bút danh “Thao Trường” Mạnh mẽ hơn, Nguyễn Minh Châu còn “hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh hoạ” (1987)
Bên cạnh đổi mới t- duy về hiện thực, các nhà văn còn thay đổi cách nhìn nhận về văn ch-ơng và nhà văn Văn ch-ơng không phải là thứ quá đỗi thiêng liêng, làm xong phải r-ng r-ng xúc động, cũng không phải là nơi chứa những lời phán truyền mà văn ch-ơng chỉ là sản phẩm của một con ng-ời hiện thực nói
Trang 27những điều từ riêng suy nghĩ của mình mà thôi Nói nh- Nguyễn Huy Thiệp: tôi thì dạy khôn đ-ợc ai Các tác giả truyện ngắn sau 1986 đa số đều cho rằng văn ch-ơng chỉ là một công việc của những ng-ời đa cảm, hay chuốc vào mình những hệ luỵ, rồi sám hối, có khi vì thế mà trở thành “kẻ lạc lõng giữa đời” (Tạ
Duy Anh), “có khi nhếch nhác” (Nguyễn Huy Thiệp), có khi vô tích sự (Tâm
hồn chó, Hoà Vang) Mà, ngẫm cũng đúng, có ai cần một nhà văn đâu! Tất cả là
tại bởi cái “đã mang lấy nghiệp vào thân” (Rồi từ đó tìm cách - bằng lí luận - hợp thức hoá, tỏ cho mình là hoàn toàn có lí do để tồn tại một cách trịnh trọng)
Thay đổi về t- duy, văn học buộc lòng phải thay đổi cảm hứng Giờ đây văn học không còn lấy cảm hứng sử thi - lãng mạn nữa mà là “những cảm hứng mới về sự thật” (Phong Lê) Những đề tài lớn thuộc về dân tộc, về con người công dân nh-ờng chỗ cho những đề tài về con ng-ời đời t- - thế sự ở đó có con ng-ời trong các mối quan hệ với gia đình, bạn bè, với quá khứ, với chính mình Không phải ngẫu nhiên, bên cạnh những đề tài nói về con ng-ời cá nhân - những dục vọng nhân tính, những dằng xé phức tạp nh- tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, văn học sau 1986 có một luồng -u tiên cho mảng hạnh phúc gia đình, viết về ng-ời phụ nữ của các cây bút nữ Nguyễn Thị Thu Huệ, Võ Thị Hảo, Phan Thị Vàng Anh, Trần Thuỳ Mai
Các biểu hiện về mặt hình thức thể hiện cũng là một điểm đáng chú ý của truyện ngắn Việt Nam sau 1986 Nhiều h-ớng tìm tòi mới cũng đã đ-ợc công khai thể hiện D-ới ảnh h-ởng của triết học và t- duy ph-ơng Tây, truyện ngắn
đã mang vào mình nhiều hình thức nh- cắt dán, lồng ghép, đồng hiện, sử dụng dòng ý thức, sử dụng cái kỳ ảo, hình thức nhại, thậm chí còn tạo ra một hình thức mới đó là giả lịch sử, giả cổ tích Các khuôn mẫu của truyện ngắn truyền
thống gần nh- bị phá vỡ: hình thức truyện ngắn có độ dài nh- tiểu thuyết Tiếng
thở dài qua rừng kim t-ớc (Hồ Anh Thái), Cánh đồng bất tận (Nguyễn Ngọc
T-), Bóng đè (Đỗ Hoàng Diệu); hình thức truyện có kết cấu theo lối ch-ơng hồi:
T-ớng về h-u, Giọt máu (Nguyễn Huy Thiệp); hình thức truyện ngắn Mini
Như vậy, sau 1986, truyện ngắn Việt Nam có nhiều biến chuyển mới, “tập trung đ-ợc nhiều nhất yếu tố có tính cách tân trong văn xuôi thời đổi mới, và nhiều kết tinh hơn hẳn so với các thể loại khác” [18, 217] Chính sự vận động ban đầu ấy đã tạo động lực cho một nền truyện ngắn (nếu có thể nói nh- vậy) vận hành suôn sẻ, nhiều thành tựu, đặc biệt đã tiếp sức cho những ng-ời cầm bút tiếp theo, làm cho họ có đủ sự quyết đoán, tự tin để thực hiện cuộc cách tân
Trang 28trong ý đồ trên ph-ơng diện thể loại - truyện ngắn của thế hệ trẻ, truyện ngắn các tác giả 8X
1.2.2 Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp - luồng sinh khí mới trên văn đàn sau
1986
Nguyễn Huy Thiệp bắt đầu có tên tuổi trên văn đàn là nhờ dấu mốc T-ớng
về h-u, tháng 6 năm 1987 Đây là lí do vì sao chúng tôi chọn T-ớng về h-u làm
khởi điểm hiện t-ợng Nguyễn Huy Thiệp khi tiến hành phần mở đầu Trên thực
tế, sáng tác Nguyễn Huy Thiệp có từ tr-ớc đó Số tết Đinh Mão báo Văn nghệ,
tháng 01 năm 1987, Nguyễn Huy Thiệp đăng chùm truyện Những truyện kể bất
tận trong thung lũng Hua Tát Chùm truyện sẽ nhanh chóng bị lãng quên nếu
không có những cú “bồi” sau đó Nó cũng giống như sự nghiệp của Nam Cao hay Vũ Trọng Phụng Phải đến sáu tháng sau, 20 - 06, cũng trên tờ Văn nghệ,
Nguyễn Huy Thiệp mới đ-ợc ng-ời ta chú ý Truyện T-ớng về h-u nhanh chóng
trở thành truyện ngắn đ-ợc quan tâm nhất lúc bấy giờ D- luận bắt đầu những công việc quen thuộc của họ: chăm chú và tìm hiểu cái tên “Nguyễn Huy Thiệp” Không để người ta đợi lâu, Nguyễn Huy Thiệp liên tục xuất hiện trên
Văn nghệ với các tác phẩm: Muối của rừng (18 - 08 - 1987), Con gái thuỷ thần
(06 - 02 - 1988) Báo Ng-ời Hà Nội cho đăng Chút thoáng Xuân H-ơng… Nhà
xuất bản Trẻ vội vàng in tác phẩm của ông; nhà xuất bản Đà Nẵng cũng làm nh-
vậy; một số tờ báo ở n-ớc ngoài giới thiệu tên tuổi Bộ ba truyện lịch sử: Kiếm
sắc, Vàng lửa, Phẩm tiết cũng xuất hiện ngay trong tháng 04 năm 1988 Tiếp sức
cho những thành công, Nguyễn Huy Thiệp liên tục đem đến cho ng-ời đọc các
sự khám phá của mình Và thế là một loạt tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp đ-ợc
ng-ời ta biết đến
Ngay khi Nguyễn Huy Thiệp xuất hiện trên Văn nghệ, tờ báo này đã trở
thành trung tâm bàn luận về Nguyễn Huy Thiệp Các tên tuổi phê bình nh- Chu Huy, Nguyễn Hoà, Đặng Anh Đào, Phùng Văn Tửu, V-ơng Trí Nhàn lập tức thử bút Theo thống kê ch-a đầy đủ, tính từ giữa năm 1987 đến giữa năm 1989
đã có trên bảy m-ơi bài viết về Nguyễn Huy Thiệp Quả là một hiện t-ợng hiếm thấy của văn ch-ơng Việt Nam từ tr-ớc đến nay
D- luận chung đều nh- vô tình thống nhất gọi Nguyễn Huy Thiệp bằng cái định danh: “hiện tượng Nguyễn Huy Thiệp” Nếu làm phép thống kê để “bắt quả tang” rằng người ta đã gọi: “hiện tượng Nguyễn Huy Thiệp” thì con số ắt hẳn lên đơn vị chục Nguyễn Hải Hà và Nguyễn Thị Bình trong một bài viết có tính thống kê, ngay từ đầu nh- để ng-ời đọc hiểu cho công việc mình làm, đã khẳng định (khá rối rắm) : “Ngay trong năm 1987 đã xuất hiện “hiện tượng văn
Trang 29học” mới gây chấn động dư luận Đó là tên tuổi Nguyễn Huy Thiệp Có thể nói Nguyễn Huy Thiệp là mới thật là mới là độc đáo, chỉ mình anh cũng đủ tạo nên một đời sống văn học sôi động kéo dài cả mấy năm trời và còn nóng bỏng đến tận hôm nay” [134, 517]
Quả thật, Nguyễn Huy Thiệp đã đem đến những cái mới cho văn ch-ơng nước nhà giai đoạn Đổi Mới, nói như sự hân hoan của Vương Trí Nhàn: “Nguyễn Huy Thiệp hai lần mới” Cái mới đó, cái làm nên sinh khí đó theo chúng tôi là do
ở việc ông đ-a đến một sự thức nhận mới về thực tại, cùng với lối viết đầy ám
ảnh X-a nay ghi nhận thành công của nhà văn có rất nhiều tiêu chí, có khi ng-ời
ta tự đ-a ra những tiêu chí nguỵ biện Thế nh-ng, tựu trung, theo chúng tôi, đó là
hai tiêu chí: lối viết và hiệu ứng của lối viết Thông th-ờng chúng ta chú ý đến
hiệu ứng tr-ớc Cũng một cách nhìn mới về con ng-ời, về thực tại sau 1975 nh-ng nếu Nguyễn Minh Châu sâu sắc một cách thâm trầm thì Nguyễn Huy Thiệp lại sắc sảo một cách gai góc Nếu văn Nguyễn Minh Châu tạo điều kiện cho ng-ời đọc l-ời nghĩ thì văn Nguyễn Huy Thiệp bắt tất cả mọi ng-ời tiếp cận
đều phải dồn mình lên, đọc, nghĩ gấp gáp Nó cứ làm ng-ời đọc bứt rứt, khó chịu, có khi muốn đập bàn, quát tháo Nếu văn ch-ơng nằm ở ý nghĩa tác động
đến ng-ời đọc thì quả thật Nguyễn Huy Thiệp đã rất thành công Dĩ nhiên để làm
đ-ợc điều đó cần có một hiệu ứng lối viết t-ơng xứng, tức cái nội dung để cho phép cái lối viết đó đ-ợc thực hiện ở Nguyễn Huy Thiệp, hiệu ứng song hành với lối viết là cái tàn nhẫn, ghê ghê, là trạng thái nhân sinh của con ng-ời sau đổi mới Do đó, không nhầm lẫn và cực đoan khi cho rằng, Nguyễn Huy Thiệp là một hiện t-ợng văn học bởi ông đã đem đến sự xáo trộn trong lòng ng-ời, đã làm cho ng-ời ta phải ray rứt vì một lối viết x-ng x-ng, không bắt ai phải suy nghĩ nh-ng không thể không có ai không suy nghĩ
1.2.3 Sơ l-ợc quá trình sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp
1.2.3.1 Đôi nét về nhà văn Nguyễn Huy Thiệp
Từ tr-ớc đến nay mỗi khi tìm hiểu sáng tác của một nhà văn, nhà thơ những ng-ời còn tiếp tục công việc viết lách, ng-ời ta th-ờng e ngại khi đi vào vấn đề con ng-ời tiểu sử Thế nh-ng, một thực tế hiển nhiên rằng, quá trình sống
và suy ngẫm đã để lại dấu ấn sâu đậm trong sáng tác của họ Tìm hiểu con ng-ời tiểu sử họ, không phải là việc làm tương đương với “tuyên án nhà văn” mà là để biện minh và làm sáng rõ họ Không thể có một tác phẩm viết trên không, càng không thể có một tác phẩm của một ng-ời chây l-ời tr-ớc cuộc sống Những nơi
đã qua, những địa danh đã đến, những biến động trong cuộc đời, kể cả những
Trang 30cuộc tình ngắn ngủi cũng rõ hình rõ nét trong tâm trí của những kẻ đa mang Không cực đoan tr-ớc bất cứ một ph-ơng pháp nào, nh-ng chừng đó lí lẽ (xin không đ-a ra dẫn chứng vì quá dễ thấy) có lẽ cũng đủ để chứng minh rằng lý thuyết phê bình tiểu sử (Sainte - Beuve) xem ra không phải là không có căn cứ và hạt nhân để tồn tại
Nguyễn Huy Thiệp - bông hoa nở muộn trên văn đàn, sinh ngày 29 - 04 -
1950 tại Thanh Trì - Hà Nội Ông là ng-ời đã trải qua nhiều địa diểm sống Thuở nhỏ ông cùng gia đình l-u lạc khắp chốn nông thôn đồng bằng Bắc Bộ, từ Thái Nguyên qua Phú Thọ đến Vĩnh Phúc Năm 1960, ông cùng gia đình về lại quê quán và định c- tại xóm Cò, làng Kh-ơng Hạ, Hà Nội Năm 1970, ông tốt nghiệp khoa Sử tr-ờng ĐH s- phạm Hà Nội và tình nguyện lên Tây Bắc (tỉnh Sơn La) dạy học m-ời năm Từ năm 1980, ông chuyển về công tác tại Bộ Giáo dục, sau đó làm tại công ty Kỹ thuật trắc địa bản đồ - cục Bản đồ cho đến khi về h-u Hiện nay, Nguyễn Huy Thiệp đang sống tại Hà Nội Quá trình sinh sống tại các vùng đất khác nhau đã làm cho Nguyễn Huy Thiệp có đ-ợc một cái nhìn khá thực tế Nguyễn Huy Thiệp vốn là ng-ời -u t-, ông hay suy nghĩ và đặt ra câu hỏi đối với những vấn đề thực tại đập vào tr-ớc mắt Điều dễ nhận thấy ở Nguyễn Huy Thiệp là sự gần gũi và quen biết với ng-ời dân lao động Không phải ngẫu nhiên mà trong truyện ông cứ nhận mình: “mẹ tôi là nông dân, còn tôi sinh ra ở nông thôn” bằng một nỗi niềm đau đáu (Thuỵ Khuê gọi ông là “con người nông dân”) Những ng-ời dân hiền lành đáng th-ơng -? Thực tại đổi thay trong vẫy vùng dục vọng và giả dối -? M-ời năm trên Tây Bắc, sau đó rời xa là quảng thời gian để giúp ông có đ-ợc sự thấm hiểu về cuộc đời Thiên truyện đầu tiên Nguyễn Huy Thiệp viết gửi báo là bản tình ca về núi rừng Tây Bắc - một cuộc hành h-ơng trong tâm t-ởng - nơi những linh hồn vẫn ngày đêm thấp thoáng trên khau cút nhà sàn Và nữa, một số truyện ngắn khác ông đã khéo lồng vào hình ảnh con ng-ời trẻ tuổi nông dại, tâm hồn trong trắng, có khi thoáng qua nh- nỗi niềm đau khổ do cay cú với đời sống trên mảnh đất có nhiều s-ơng giăng và mờ mờ huyền thoại
Không phải là một ng-ời đã trải qua những năm tháng nhọc nhằn và đặc biệt là với bệnh tạng hay ngẫm suy, xét hỏi tr-ớc nhiều hiện thực hiển nhiên hẳn
Nguyễn Huy Thiệp không thể viết đ-ợc những T-ớng về h-u, Những bài học
nông thôn, Con gái thuỷ thần, Những ng-ời thợ xẻ, Những ng-ời muôn năm cũ
Trong những tác phẩm đó bao giờ cũng ẩn chứa một con ng-ời đau đớn và dằn vặt tr-ớc hiện tình con ng-ời nh- rơi vào thực trạng khốn cùng, không biết vùng quẫy đi đâu, không biết lựa chọn con đ-ờng nào, gần nh- không có con đ-ờng
Trang 31để lựa chọn Một tất yếu do sự tiếp cận tịnh tiến những diễn biến nội tâm, những
đối cực, những trăn trở tr-ớc các lựa chọn có thể, nhân vật (con ng-ời) ở đây đã
trở thành nhân vật tự đối thoại, một kiểu nhân vật - chủ thể rất lí thú và ám ảnh
Dĩ nhiên trong quá trình đó, Nguyễn Huy Thiệp đã chứng tỏ cho chúng ta thấy sức hấp dẫn của ngòi bút của ông - một lối viết x-ng x-ng, cứ thản nhiên trần thuật, mà trần thuật những diễn biến nội tâm (theo lối khách quan nh- ông) đâu phải dễ dàng Thật là văn đàn n-ớc ta từ sau Đổi mới lại nay khó kiếm ra một kiểu “giọng”, một kiểu trần thuật như thế
Cũng nh- nhiều nhà văn khác ở n-ớc ta d-ới nền văn hoá ph-ơng Đông, Nguyễn Huy Thiệp chịu ảnh h-ởng khá sâu đậm của giáo dục gia đình Ông ngoại của ông là một ng-ời am hiểu Nho học, mẹ của ông là ng-ời kính sùng Phật giáo Đọc truyện của Nguyễn Huy Thiệp đôi chỗ ta bắt gặp một vị giáo thâm nho, có người cho ông là “giỏi võ Tàu” (mà nói đâu xa với một số tác phẩm
nh- T-ớng về h-u, Không có vua chẳng phải cách kết cấu mang dáng dấp của
tiểu thuyết ch-ơng hồi đó sao?); đôi chỗ ta thấy thấp thoáng những bóng hình của Phật Phật trong tác phẩm của ông nh- sự cứu rỗi những con ng-ời ngập trong bùn lầy n-ớc đọng Có khi là một bức t-ợng tinh xảo, có khi là đầm sen thanh tịnh, có khi là triết lí “dục tính là nhân tính” hay “hạnh phúc là gì nếu chẳng phải là sự tịnh tâm”
Đặt niềm tin và tình yêu với cây bút trẻ từng trải, trong một bài viết ý nhị
có sắc màu sách vở, năm 1988, Văn Tâm kết thúc: “Kìa, nhà văn trẻ Nguyễn Huy Thiệp chưa đến tuổi bốn mươi mà đã “mặt phong trần nắm nám mùi dâu”
đang gò l-ng đạp chiếc xe trên đoạn đ-ờng ngoại ô lầm bụi, cái xe đạp “cai lục bộ” lọc xọc, bộ quần áo xoàng xĩnh, cái mũ nan rẻ tiền đội cũng được mà vứt cũng được… Anh đang đi đến một cơ quan sản xuất vật chất của Bộ Giáo dục để làm những công việc không liên quan mấy đến văn ch-ơng, cũng không liên quan đến chuyên môn sử học của anh: cộng cộng, trừ trừ, sắp sắp xếp xếp… để rồi khi chiều xuống đêm buông vắng lặng (…) anh lại miệt mài viết, tiếp tục mơ màng trò chuyện cùng ta.” [134, 303]
Chúng tôi cho rằng quá trình sống này đã để lại dấu ấn rõ nét trong tác phẩm của ông Đó là cái lí chừng mực biện chứng của tr-ờng phái phê bình tiểu
sử nh- chúng tôi đã nói từ đầu
1.2.3.2 Quá trình sáng tác và những thành công
Nói đến Nguyễn Huy Thiệp tr-ớc hết ng-ời ta nghĩ ngay đến một ng-ời viết truyện ngắn dầu ông thể nghiệm tài bút của mình trên nhiều thể loại Không biết đã từ bao, người ta mệnh danh cho ông cái tên khả kính: “ông vua truyện
Trang 32ngắn Việt Nam hiện đại” Có lẽ trong lịch sử văn học nước nhà kể từ khi bắt đầu b-ớc vào quỹ đạo hiện đại chỉ có hai tr-ờng hợp ng-ời ta gọi bằng cái tên: “vua”
Dĩ nhiên tr-ờng hợp thứ nhất thì đã ngã ngũ, giới phê bình hầu hết đã quen tai:
“ông vua phóng sự Bắc Kỳ”; còn trường hợp thứ hai thì vẫn còn nhiều nghi hoặc,
điều đó xuất phát từ sự mến mộ tự phát của bạn đọc đối với một nhà văn gai góc Nhìn trên sự thật thì Nguyễn Huy Thiệp không phải là ng-ời viết ào ạt Tác phẩm của ông công bằng mà nói cũng chỉ đếm đ-ợc trên đầu ngón tay Theo tổng hợp mới nhất của Đỗ Hồng Hạnh (Nxb Văn hoá Sài Gòn, 2006) thì Nguyễn Huy Thiệp có 42 truyện ngắn, bổ sung 5 truyện so với tuyển tập tr-ớc đó của Anh Trúc (Nxb Văn hoá - Thông tin, 2002) Xin đ-ợc dẫn ra các tác phẩm mà Nguyễn Huy Thiệp đã xuất bản:
- Về truyện ngắn: Những ngọn gió Hua Tát (tập truyện ngắn, 1989);
T-ớng về h-u (tập truyện ngắn, 1989); Nguyễn Huy Thiệp - tác phẩm và d- luận
(1990); Con gái thuỷ thần (tập truyện ngắn, 1992); Nh- những ngọn gió (tuyển tập, 1995); Tuyển tập Nguyễn Huy Thiệp (1996, 2002, 2005)
- Về tiểu thuyết: Tiểu Long nữ (2005); Tuổi hai m-ơi yêu dấn; Gạ tình lấy
điểm (2007)
- Về phê bình - tiểu luận: các tác phẩm đăng báo và tạp chí d-ới các bút
danh khác nhau tập hợp thành tuyển Giăng l-ới bắt chim (2005)
Ngoài ra Nguyễn Huy Thiệp còn viết một số tác phẩm kịch: Xuân Hồng,
Còn lại tình yêu, Gia đình, Nhà tiên tri, Hoa sen nở ngày 29 tháng 4, Mồ nhà văn
Tuy nhiên, sau khi chứng kiến một thời gian dài “vang bóng”, người đọc
đã đặt câu hỏi: Nguyễn Huy Thiệp nay ở đâu? Công chúng yêu văn ông vẫn kiên nhẫn dõi theo ông ng-ời ta tìm ông trên các sạp báo, các quầy sách mới Thế
rồi họ gần nh- thất vọng vì những tác phẩm của ông (Tiểu Long Nữ, Tuổi hai
m-ơi yêu dấu, Gạ tình lấy điểm) không nh- ng-ời ta đón đợi Hồi đáp với độc
giả, Nguyễn Huy Thiệp nói, đó là vì quá trình chậm chạp của in ấn làm cho tính thời sự của tác phẩm qua đi, lúc tính thời sự qua đi ng-ời ta mới đem tác phẩm ra
bàn thì thật không công bằng Khi nghe những than phiền “Nguyễn Huy Thiệp
đã khác”, Nguyễn Huy Thiệp lên tiếng rằng ng-ời đọc không hiểu ông, tất cả
những gì ông làm là để khẳng định ông đang sống, đang thay đổi (bởi cuộc sống
- nh- ông nói cần phải không ngừng làm mới mình), ngay cả việc ông, Nguyễn Việt Hà và hoạ sĩ Lê Thiết C-ơng chung nhau mở bản thảo tranh cũng là việc
ông đang làm mới mình, nghĩa là, ông đang sống ông nói, rồi tôi sẽ viết nh-ng
Trang 33khác tr-ớc rất nhiều, còn khác thế nào tôi ch-a thể nói Đứng về phía tâm lí ng-ời đọc thì lời hứa ấy gần nh- chỉ là sự chống chế (tất nhiên sẽ khích lệ tinh thần bao dung trong lương tri mỗi người) nhằm cứu chuộc cho ông khỏi “khoảng lặng” hiện tại
Nh-ng, dù nói gì đi nữa cũng phải công bằng thừa nhận những đóng góp của ông cho văn ch-ơng hiện đại n-ớc nhà Nếu nói sự mở đầu phong trào Thơ mới gắn với Thế Lữ, L-u Trọng L-, văn học hiện thực phê phán gắn với Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, rồi Vũ Trọng Phụng, Nam Cao thì cũng có thể nói văn ch-ơng thời Đổi mới gắn với những tên tuổi nh- Nguyễn Huy Thiệp Không phải ngẫu nhiên mà đến mãi hôm nay (khoảng hơn 20 năm) ng-ời ta vẫn nghiên cứu
về sáng tác của ông Ng-ời ta tìm hiểu tác phẩm của ông trên nhiều góc độ
Nguyễn Huy Thiệp còn là một trong số ít những nhà văn Việt Nam đ-ợc giới nghiên cứu n-ớc ngoài chú ý Tác phẩm của ông đ-ợc dịch ra nhiều thứ tiếng nh-: tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Italia Một số nhà xuất bản ở Đan Mạch, Thuỵ Điển, Mĩ đang xúc tiến việc dịch và in tác phẩm của ông Ông còn đ-ợc mời sang Pháp và Italia nói chuyện Cách đây một năm, ngày 26/01/2008, tại Italia, Nguyễn Huy Thiệp đã đ-ợc nhận giải th-ởng Nonino Risit d´Âur Prize Nhà văn đạt giải Nobel tr-ởng ban giám khảo V.S Naipaul chính tay trao tặng cho ông Khi nhận giải th-ởng này, Nguyễn Huy Thiệp không muốn chia sẻ cùng ai vì theo ông “Con gà còn tức nhau tiếng gáy nữa là…”
Nguyễn Huy Thiệp trong lễ nhận giải th-ởng Nonino ở ý ngày 26.1.2008 ( ảnh lấy từ website: nguoibanduong.net)
Trang 34Những thành công mà Nguyễn Huy Thiệp có đ-ợc hiện tại cũng có nhiều quan điểm, tuy nhiên chúng tôi đứng từ sự ghi nhận khách quan chứ không đứng
từ quan điểm đánh giá Và do vậy, chúng tôi khẳng định, đó thực sự là những thành công Đây cũng là một phần khá quan trọng để hình dung diện mạo Nguyễn Huy Thiệp Ng-ời ta khi quan sát diễn trình văn học n-ớc nhà, không thấy Nguyễn Huy Thiệp đã không chỉ e ngại mà (có ng-ời) còn quyết đoán khẳng định “Nguyễn Huy Thiệp là một hiện tượng đã chết” Nhưng, chính cái
“đã chết” ấy đã trở thành một lí do để chúng tôi khai thác luận văn (bởi như thế nghĩa là bộ mặt của Nguyễn Huy Thiệp có thể hình dung đ-ợc rồi; đã đến lúc chúng ta cần nhìn nhận Nguyễn Huy Thiệp một cách điềm tĩnh, khái quát, thấy
đ-ợc thực chất, đánh giá những nét đ-ợc và ch-a đ-ợc của ông, loại trừ những thiên kiến)
1.2.4 T- duy tiểu thuyết - một ph-ơng diện nổi bật của truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
Nh- chúng tôi đã nêu ở phần mở đầu, truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp xét trên góc độ t- duy tiểu thuyết - hình thức này hay hình thức khác - đ-ợc nhiều cây bút phê bình đề cập Nói nh- thế cũng có nghĩa là ghi nhận t- duy tiểu thuyết là một biểu hiện khả dĩ trong truyện ngắn của nhà văn này Tr-ớc khi tiến hành đề tài, với việc muốn hiểu, tiến tới minh định khái niệm t- duy tiểu thuyết, sau đó muốn áp dụng vào đối t-ợng cụ thể là Nguyễn Huy Thiệp, chúng tôi đã vô tình bắt gặp những xác định của những nhà nghiên cứu uy tín gọi truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp mang t- duy tiểu thuyết: Hoàng Ngọc Hiến, Nguyễn Đăng Mạnh, Nguyễn Đăng Điệp ý kiến của những nhà nghiên cứu này một mặt đã góp thêm động lực thúc đẩy chúng tôi mạnh dạn triển khai đề tài, mặt khác cũng
là một hình thức ghi nhận điểm độc đáo có thể thâu góm các đặc điểm khác của truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp là t- duy tiểu thuyết Nói khác đi t- duy tiểu thuyết là nét lớn, bao trùm, nổi bật của truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp ở đó ta bắt gặp cái vỗ vai suồng sã đối với nhân vật; ở đó chỉ có con ng-ời bằng x-ơng bằng thịt với những dục vọng nhân tính, những đam mê, có khi do tê tái giữa đời th-ờng mà chìm vào những miền cảm thức; không có thánh nhân, không có những con ng-ời đạo mạo, mũ cao áo rộng; khốn cùng giữa đời th-ờng nhiều lúc không biết trốn chạy vào đâu để tìm lẽ sống Để cho tất cả đ-ợc hiện lên, lối văn lạnh lùng, tỉnh táo và trung tính với điều đ-ợc kể cũng là bình diện cần nhắc tới và chú ý
Trang 35Tuy nhiên, nhìn lại những đánh giá về Nguyễn Huy Thiệp trong suốt thời gian từ khi ông xuất hiện đến nay, chúng tôi thấy dù hầu nh- các bình diện mà Nguyễn Huy Thiệp muốn chuyển tải đều đã đ-ợc ng-ời đọc khai thác, nh-ng d-ới một cái nhìn thống nhất mọi bình diện d-ờng nh- ch-a thấy có, ngoại trừ luận văn của Lê Thanh Nga (nhìn nhận Nguyễn Huy Thiệp d-ới góc độ kỹ thuật trần thuật) Dựa trên nhận thức đó, chúng tôi xác định đề tài luận văn là đi sâu phân tích biểu hiện cũng nh- -u thế của t- duy tiểu thuyết trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp và sẽ tiến hành các thao tác:
Tr-ớc hết, quan điểm của chúng tôi cho rằng, chính tính nội dung - nếu có thể nói nh- vậy - quy định cách thức văn bản: độ dài ngắn, sự tổng hợp thể loại,
bố cục, sự diễn đạt thành câu Tất nhiên, đã là một hình thức bao giờ cũng là
hình thức - nội dung do đó các bình diện liên quan đến văn bản cũng là thể hiện
các ph-ơng diện nội dung Cụ thể xét trong tr-ờng hợp đề tài, các bình diện liên quan đến văn bản tr-ớc hết là hệ quả tất yếu của chính tính phản ánh và thể hiện của nội dung t- duy tiểu thuyết, thứ hai, bản thân nó đã cho thấy sự phản ánh và thể hiện nội dung t- duy tiểu thuyết Do vậy, chúng tôi đi tuần tự theo các b-ớc
Trong quá trình tiến hành thao tác luận văn, chúng tôi có liên hệ tới những sáng tác tr-ớc và sau Nguyễn Huy Thiệp (Nam Cao, Vũ trọng Phụng, Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, Lê Lựu, Ma Văn Kháng, Phạm Thị Hoài, Hồ Anh Thái, Tạ Duy Anh, Nguyễn Bình Ph-ơng) nhằm mục đích luận chứng cho luận
điểm đưa ra đồng thời qua đó “phác” một cái nhìn về vị trí Nguyễn Huy Thiệp trên văn đàn thời đổi mới
Thực hiện đề tài, chúng tôi không nhằm mục đích đánh giá khác (đánh giá lại) về Nguyễn Huy Thiệp, mà (quan trọng hơn) chỉ muốn cung cấp thử nghiệm một cách nhìn (một thao tác) về một đối t-ợng văn học khá quen thuộc, từ đó có cái nhìn quy chiếu rộng hơn sang các đối t-ợng khác khi tiến hành nghiên cứu lâu dài
Trang 36Ch-ơng 2 Những biểu hiện của t- duy tiểu thuyết trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
2.1 Một thế giới hiện thực trần trụi, mang đậm chất văn xuôi
2.1.1 Thế giới hiện thực trần trụi, mang đậm chất văn xuôi
Chất văn xuôi là cách gọi có tính -ớc định, đối lập với chất trữ tình Chất
văn xuôi là “một sự tái hiện cuộc sống không thi vị hoá, lãng mạn hoá, lí tưởng hoá” [160, 231] Nếu chất trữ tình là đặc hữu của thể loại thơ thì ngược lại, chất văn xuôi là sở quyền của các thể loại văn xuôi, tiêu biểu là tiểu thuyết Chất văn xuôi biểu hiện ở các ph-ơng diện: phản ánh các yếu tố ngổn ngang, bề bộn của cuộc đời; cho thấy sự tiếp xúc tối đa với thời hiện tại ch-a hoàn thành Và, với
đặc tính của thế giới này là vậy nên nó (chất văn xuôi) thể hiện rõ nét nhất ở việc
tập trung vào con ng-ời cá nhân – đời t- - thế sự Vì sao vậy? Vì tại đây con
ng-ời đ-ợc nhìn nhận với tất cả các mối quan hệ thực chất nhất của nó, đó là vùng được gọi là “hậu trường của nhân vật” Tại hậu trường này, con người được
đặt trong các mối quan hệ hằng ngày với những ng-ời trong gia đình (trong cuộc sống th-ờng nhật, đối diện với cái ăn, cái mặc, ngôn ngữ giao tiếp, các nhu cầu…), với những người xung quanh cùng chung địa lí và những hoạt động của cuộc sống; từ đó cho thấy mối quan hệ giữa con ng-ời với chính bản thân (cái thực chất con ng-ời: đạo đức, phẩm chất, nguyện vọng, lối sống, cách ứng xử, cách nhìn về cuộc đời…)
Chất văn xuôi trong tác phẩm Nguyễn Huy Thiệp là một ph-ơng diện khá nổi bật Điều này có đ-ợc là do chỗ, tác giả Nguyễn Huy Thiệp quan niệm một cách viết khác, quan niệm cách viết biểu hiện một thế giới nh- chính thế giới ngoài cuộc đời (nhìn ở phương diện phản ánh) Ông đã từng nói: “Tôi có may mắn là thời thơ ấu tôi gắn bó với nông thôn (…) Tôi được họ dạy bằng thứ ngôn
từ thiết thực kiểu nh- sau: - Cu ai nấy đái – Trâu thì lấy dây mà dắt, ng-ời thì lấy
… mà lôi - Mặt nào ngao ấy – Sướng con cu mù con mắt” Sau này khi đọc thứ văn ch-ơng bác học tôi không tìm thấy thứ ngôn từ thiết thực ấy nữa Tôi rất phân vân: giữa cách diễn đạt nông dân kia với cách diễn đạt bác học thì nên lựa
Trang 37chọn cách diễn đạt nào?” [184, 10] Thực tình đó chỉ là một cách nói Bởi vì, đọc tác phẩm của ông ng-ời ta thừa hiểu ông đã chọn con đ-ờng nào Chỉ có con
đ-ờng đó ông mới khác các nhà văn đi tr-ớc, nghĩa là ông mới đ-ợc ng-ời ta thừa nhận Cùng với quan niệm viết, bút pháp Nguyễn Huy Thiệp áp dụng còn khá nghiêm khắc nên thế giới trong tác phẩm càng trở nên trần trụi Trên cái nhìn tổng thể, thế giới hiện thực trần trụi trong tác phẩm Nguyễn Huy Thiệp thể hiện ở những bình diện sau: Thâu góm tất cả các bình diện t-ơi nguyên, ngổn ngang, phồn tạp của đời sống, không giới hạn các phạm vi không gian; đem vào tác phẩm thứ ngôn ngữ của đời sống - ngôn ngữ chỉ có thể có trong văn học sau
1975 Và, với việc phản ánh một thế giới phức tạp nh- vậy, tác phẩm Nguyễn Huy Thiệp đã cho thấy t- t-ởng giải thiêng
Các độc giả của Nguyễn Huy Thiệp, sau khi đọc các tác phẩm của ông, hầu hết đều tự nhận là có cảm giác ghê ghê, có khi tê tái Một sự thực nh- chính cuộc đời này, không màu mè, không tô vẽ, có khi trần trụi, có khi tàn nhẫn tồn tại ở bất cứ nơi đâu trong không gian: thị thành cũng nh- nông thôn, gia đình cũng nh- dòng họ, ngoài bến sông cũng nh- giữa cánh rừng xa, nơi mênh mông ruộng đồng cũng nh- ngoài bãi cát trắng mịn, giữa phố chợ ồn ào cũng nh- trong căn phòng hoa lệ, nghiêm trang Đó là cảnh một gia đình sống trong giàu có nhờ
sự sắp xếp, tính toán, đặc biệt là nhờ công việc nuôi chó béc giê bằng mẫu thai
nhi của ng-ời vợ - bác sĩ (T-ớng về h-u); là cảnh chàng thanh niên (Hạnh) thò
tay vào cống lõng bõng phân ng-ời để tìm chiếc nhẫn vàng cho con gái bà goá
bụa quyền quý (Huyền thoại phố ph-ờng); là cảnh sống quẩn quanh, chật hẹp với những con ng-ời vất vả, nghèo khổ nh-ng đáng th-ơng (Những bài học nông
thôn); là cảnh mọi ng-ời trong gia đình sống tuỳ tiện, ô trọc (em chồng sàm sỡ
chị dâu, bố chồng xem trộm con dâu tắm, anh em mạt sát, xúc phạm nhau, cha
con có khi bằng vai phải lứa) (Không có vua); là cảnh một gia đình cả mấy đời sống mang nhiều tội lỗi: tham lam, lừa lọc, nhẫn tâm, ham mê sắc dục (Giọt
máu); là cảnh bọn ng-ời đánh cá trên sông hễ buột miệng là văng tục, ứng xử thô
lỗ (Chảy đi sông ơi); là cảnh “một tay anh chị” (Bường) sẵn sàng thể hiện sự
bặm trợn, đểu cáng của mình ngay giữa đại ngàn chỉ mấy con ng-ời với nhau; là cảnh bà cụ hơn tám m-ơi (cụ Xoan) vạch đôi vú teo tóp nhìn về bức t-ợng trên
đỉnh đồi gần di tích Phồn X-ơng (M-a Nhã Nam); là cảnh ng-ời đàn ông (ông
Móng) chuyên “thẩm định” một loại hàng hoá đặc biệt: “phân người” vv Tất cả làm nên một thế giới “như món nộm suồng sã”, thế giới phá vỡ mọi trật tự
Nh-ng cần phải khẳng định, rằng chất văn xuôi không đồng nghĩa với sự trần tục, dĩ nhiên sự trần tục là một điểm quan trọng, là để khu biệt với chất trữ
Trang 38tình Nếu chất văn xuôi là tất cả những gì bề bộn, phức tạp, là cuộc sống không tô vẽ thì cũng phải thừa nhận trong chất văn xuôi có những yếu tố có “tính trữ tình”, chẳng hạn những phút con người chìm đắm trong thế giới tâm linh hay trong những miền cảm thức Tất nhiên những trạng thái này phải nằm trong bối cảnh chung, đó là: con ng-ời đang trong môi tr-ờng hiện thực với những sự chèn
ép từ cuộc sống Chẳng hạn giây phút Hiếu, trong truyện Những bài học nông
thôn, sau khi đi xem thả diều về, một mình đi vào thôn: “Tôi đi một mình trên
con đ-ờng lạ vào thôn Bóng tối chập choạng Không gian tràn ngập một thứ tình cảm dịu dàng mà bí ẩn Cây loà xoà bên đ-ờng Tôi không xác định đ-ợc thời gian sống hiện tại của mình Trong tôi không hề có hình ảnh nào của thành phố tôi hằng sống, thậm chí tôi quên mất cả khuôn mặt thân yêu của bố mẹ tôi”, rồi sau đó anh đi về căn nhà: “Tôi buồn ngủ rã rời Tôi chẳng nhớ tôi đã ngủ khi nào Khi tỉnh dậy tôi thấy bàng hoàng vì sự tĩnh lặng tuyệt vời của căn nhà vắng Chẳng ai có nhà Tôi đi rửa mặt rồi đi ngó nghiêng khắp mọi nơi D-ới nhà ngang, mấy thúng gạo trắng xếp chồng lên nhau bên cối giã gạo ( ) Ngoài sân
có mấy con gà đang mổ thóc Tĩnh lặng Không một tiếng động.”; hay những
trạng thái tinh thần khác th-ờng của Ch-ơng trong Con gái thuỷ thần; hoặc trạng
thái của Đề Thám: “Đề Thám đón Xoan lên con ngựa ô rồi thúc ngựa vào rừng
Đêm trong rừng mênh mông và h- ảo lắm Tiếng côn trùng rỉ rắc Mùi h-ơng rừng nồng nàn Bóng tối sẫm đen trên các tán lá cây, sẫm đen nơi hốc đá, sẫm
đen cả trên mặt đất Rừng vô tình, vô cảm, thản nhiên, lạnh lùng, tàn nhẫn Tất cả đều đẩy con ng-ời về nơi tận cùng ý thức cá nhân chính nó Con ng-ời tự co lại nh- con sâu, cái kiến, thúc thủ trong phần sinh linh và bé mọn, vừa cô đơn, vừa bất lực; nó chớp đôi mắt phấp phỏng lo âu trong tâm hồn nó và tự hỏi mình:
là ai? đi đâu? thế nào? làm gì? tiến đến đâu? bao giờ thành tựu? bao giờ kết
thúc?” (M-a Nhã Nam) Nghĩa là, nếu truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, nh- có
ng-ời nói, vừa biểu hiện chất văn xuôi đậm đặc vừa có chất trữ tình dịu dàng êm
ái thì hai đặc điểm này không xung khắc nhau, ng-ợc lại chúng thống nhất Điều này chúng tôi sẽ còn đề cập ở các phần trình bày sau
Chất văn xuôi trong tác phẩm Nguyễn Huy Thiệp không chỉ thể hiện ở những đề tài trực diện nói về đời sống hiện tại mà còn thể hiện ở những đề tài có tính ám chỉ Cụ thể đó là đề tài lịch sử Lịch sử trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp đó là lịch sử giả tạo, lịch sử chỉ là cái cớ để từ đó ông triển khai một quan niệm về nhân sinh (quan niệm về con ng-ời của ông), về cuộc đời Do đó, có thể nói lịch sử trong truyện Nguyễn Huy Thiệp chính là một dạng biểu t-ợng Biểu t-ợng này thể hiện trên các mặt: thứ nhất - cái cơ sở (giá trị gốc của bất kì biểu
Trang 39t-ợng nào) đó là nền cảnh, con ng-ời thuộc về thời quá khứ, thuộc về lịch sử; thứ hai, khi khảo sát kĩ nền cảnh, đặc điểm con ng-ời thuộc về lịch sử đó thì chúng
ta thấy đó chỉ là một cái cớ khéo léo mà thôi
Nói đến lịch sử là nói đến khoảng cách - khoảng cách giữa hôm qua (sự kiện lịch sử) và hôm nay (thời đại của ng-ời viết) Nắm đ-ợc tính chất quan trọng đó, Nguyễn Huy Thiệp đã đẩy câu chuyện về thời quá khứ gắn với những tên tuổi, những thời đại đã qua (Nguyễn ánh, Nguyễn Du, Nguyễn Huệ) Nh-ng không thể đi tìm sử trong văn Nguyễn Huy Thiệp đ-ợc Lịch sử là dĩ thành bất biến, là sự thật, việc thật Thế nh-ng, trong các truyện ngắn lịch sử của mình, Nguyễn Huy Thiệp đã đặt nhân vật của mình vào một bầu không khí mang màu sắc huyền thoại Điều này tr-ớc hết thể hiện ở ng-ời trần thuật, một kiểu trần thuật thiếu tin cậy (do vậy mà giọng văn th-ờng tỉnh táo, đôi khi nh- bông đùa):
“Ông Quách Minh, Ngụ ở Tu Lý, huyện Đà Bắc viết thư cho tôi” (Vàng lửa)
Đặc biệt nhà văn đã h- cấu nên những tình tiết li kì trong tác phẩm - những tình tiết đọc không phải để mà tin: Đặng Phú Lân “nhặt hòn đá ở mạn thuyền ném
con vịt giời bay qua”; Nguyễn ánh lấy kiếm của Đặng Phú Lân chém một nhát
đứt cây đại “vòng gốc như cột nhà”; Nguyễn ánh chém đầu Lân máu phun ra
“trắng như nhựa cây, một lúc sau thì bệt lại” (Kiếm sắc) Đặc biệt là chuỗi tình
tiết li kì xung quanh Ngô Thị Vinh Hoa từ lúc đẻ ra “trên nóc nhà đám mây ngũ sắc (…) hương thơm ngào ngạt” đến khi lớn lên “nói câu nào thiêng câu ấy” cho
đến khi chết “bồng trên tay một đứa bé còn sống” (Vàng lửa)
Ngoài ra Nguyễn Huy Thiệp còn lựa chọn kiểu kết thúc mang tính đối thoại cao, điều này trái về bản chất với lịch sử - lịch sử là hằng số, kết thúc của
lịch sử chỉ có một giá trị Tiêu biểu đó là tr-ờng hợp truyện ngắn Vàng lửa với ba
đoạn, mỗi đoạn nhà văn gửi gắm một dụng ý Bên cạnh đó, truyện về lịch sử của Nguyễn Huy Thiệp còn có cách kết thúc rất khó hiểu, kiểu kết thúc phi logic, tạo
sự hoài nghi cho bạn đọc, đó là tr-ờng hợp Kiếm sắc (chúng tôi sẽ phân tích ở
ch-ơng 3)
Mỗi sự kiện lịch sử bao giờ cũng đ-ợc nhìn nhận d-ới con mắt của số
đông Cách nhìn của số đông tất nhiên là khác nhau nh-ng ở mức độ nào đó, về cơ bản t-ơng đồng, nhất quán Nguyễn Huy Thiệp đã nắm bắt đ-ợc điều này và
ông đã gián tiếp thông qua cách nhìn nhận ấy để khắc hoạ các hình t-ợng nhân vật lịch sử Mới xem qua ta cứ ngỡ đó là cách nhìn của chính nhà văn Trong cách nhìn nhận của lịch sử, của quần chúng, Nguyễn ánh là nhân vật tàn nhẫn,
độc ác, Nguyễn Huệ là vị vua anh minh, hiền đức… Trong truyện ngắn Nguyễn
Trang 40Huy Thiệp ta cũng bắt gặp điều này Nguyễn ánh làm cho dân Đàng Trong
“khiếp sợ”, ánh hèn mạt: “mở tiệc ăn mừng khi Nguyễn Huệ chết”, ánh hám sắc: muốn chiếm đoạt Vinh Hoa, ánh tàn ác: “muốn chôn các danh sĩ Bắc Hà”,
ánh giết kẻ trung thành dù chỉ làm không tròn một việc (Kiếm sắc) Nguyễn Huệ diệt quân Mãn Thanh, tìm cách an dân, nâng niu trân trọng vẻ đẹp của Vinh
Hoa (Phẩm tiết) Thông qua cách nhìn nhận này, nhà văn đã tạo độ tin cậy cho
ng-ời đọc Thế nh-ng, bên cạnh đó, nhà văn còn sử dụng cách nhìn của riêng mình Từ đây, những điểm đặc sắc của các nhân vật lịch sử, theo chúng tôi, đ-ợc hiện lên rõ nét
Khi miêu tả các nhân vật lịch sử, Nguyễn Huy Thiệp không miêu tả họ nh- những bức t-ợng đã hoàn thành chỉ việc chiêm ng-ỡng và tái hiện mà ông miêu tả họ ở dạng ch-a hoàn thành
Tr-ớc hết, ta thấy nhân vật lịch sử ở đây tuyệt nhiên không còn khoảng cách với chúng ta - ng-ời tiếp nhận Đọc nhân vật lịch sử mà cảm t-ởng nh-
đang xem ngắm một con ng-ời giữa cuộc đời này: họ đi đứng, nói c-ời nh- chính chúng ta vậy Quang Trung một vị vua “áo vải cờ đào” đánh Bắc dẹp Đông nhưng khi tức giật quát mắng như một kẻ thấp hèn “Thằng Khải kia, tài bằng cái
đấu, khinh ta quá chừng!…” Đứng trước vẻ đẹp của Vinh Hoa, nhà vua “thốt nhiên rung mình, hoa mắt, đánh rơi cốc rượu quý cầm tay” Có lúc Quang Trung hiện lên ở tư thế tầm thường “Nhà vua đang đêm xoã tóc, đi chân đất, vừa đi vừa
vấp, chạy vào báo với Vinh Hoa việc Khải mất” (Phẩm tiết) Nguyễn ánh hiện
lên trong t- thế một con ng-ời trần tục Căm tức Vũ Văn Hoàn, ánh quát mắng:
“Thắng khốn nạn theo voi ăn bã mía kia, đểu cáng chừng nào Mày mượn danh
ta để ăn cướp với chơi gái à? … Thằng mặt xanh kia! Kề miệng lỗ còn dê ư? Ta cho cắt dái mày! Ta cho mày ăn cứt” Gia Long Nguyễn ánh cũng biết rung cảm tr-ớc cái đẹp - “nước thơm từ cung xuân Vinh Hoa tiết ra thơm ngát như mùi hoa sữa” - “Nhà vua thở dài, ngã quay ra đất, ngất lịm đi”, và cũng ham muốn chiếm
đoạt nó “ta muốn sở hữu nàng …” Khi nghe tiếng đàn Vinh Hoa, lòng rung cảm của nhà vua lại một lần nữa được nhà văn miêu tả: “Nhà vua mơ màng, gục đầu
xuống bàn ngủ thiếp đi” (Phẩm tiết) Nguyễn Trãi x-a nay th-ờng đ-ợc miêu tả
là vĩ nhân, là nhà chính trị, nhà văn lỗi lạc, nh-ng trong văn Nguyễn Huy Thiệp,
ông hiện ra là một con ng-ời cô đơn khủng khiếp, một con ng-ời lịch lãm
“Nguyễn ngõ lời cầu hôn với nàng giản dị và mạch lạc”, một tình yêu si cuồng
“Nguyễn vùi đầu vào bộ ngực mảnh khảnh của nàng” (Nguyễn Thị Lộ)