Các nhà phê bình, nghiên cứu từ trước đến nay đều thừa nhận những đóng góp của ông cho văn học nước nhà, từ việc thể hiện tốt và tương đối toàn diện chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam
Trang 1bộ giáo dục và đào tạo Tr-ờng đại học vinh
==== ====
Nguyễn thị thiên
Mô hình phản ánh hiện thực
trong dấu chân ng-ời lính của nguyễn minh châu
và nỗi buồn chiến tranh của bảo ninh
Chuyên ngành: Lý luận văn học Mã số: 60.22.32
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Phản ánh trong văn học là một trong những vấn đề cơ bản, được quan tâm bàn thảo rất nhiều trong lịch sử phát triển của mĩ học và lí luận văn học, nhất là mĩ học và lí luận văn học mácxít, và những quan niệm về phản ánh trải qua các thời kì khác nhau ít nhiều vẫn được điều chỉnh, bổ sung Trong thực tiễn sáng tác, trong từng giai đoạn cụ thể của lịch sử, trước yêu cầu của hiện thực cuộc sống, của bạn đọc và cả ý thức của bản thân người sáng tác, mô hình phản ánh trong tác phẩm cũng có những thay đổi nhất định
để phù hợp với tình hình cụ thể Phản ánh trong văn học nhiều khi trở thành một trong những tiêu chí để nhận diện lí tưởng thẩm mĩ của thời đại Tìm hiểu
mô hình phản ánh hiện thực trong một thời điểm nào đó qua khảo sát một hay nhiều văn bản nghệ thuật là góp thêm tiếng nói xác định lí tưởng thẩm mĩ của giai đoạn văn học ấy
1.2 Dấu chân người lính của Nguyễn Minh Châu và Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh là hai tác phẩm tiêu biểu viết về đề tài chiến tranh của
văn học Việt Nam trước và sau 1975, hiển nhiên đã được nhiều người quan tâm nghiên cứu Tuy vậy trên thực tế cho đến nay chưa có một công trình nào đặt vấn đề nghiên cứu mô hình phản ánh hiện thực trong hai tác phẩm, nhất là trong thế đối sánh, để nhận ra những nét khác biệt trong nhận thức về hiện thực chiến tranh giữa một bên là trong tình hình nóng bỏng của hiện thực ấy, với một bên là một hiện thực đã được chiêm nghiệm trong một độ lùi nhất định của lịch sử
1.3 Tìm hiểu mô hình phản ánh hiện thực trong Dấu chân người lính và Nỗi buồn chiến tranh cũng là dịp để người nghiên cứu thấy được sự vận động
Trang 3của tư duy tiểu thuyết, của ý thức thẩm mĩ trong sự phát triển thể loại của tiểu thuyết Việt Nam trước và sau 1975, nghĩa là trước một bước ngoặt lớn lao của lịch sử
2 L ch s vấn đề
2.1 Nguyễn Minh Châu là một trong các nhà văn lớn của văn học Việt Nam hiện đại nửa sau thế kỉ Các nhà phê bình, nghiên cứu từ trước đến nay đều thừa nhận những đóng góp của ông cho văn học nước nhà, từ việc thể hiện tốt và tương đối toàn diện chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam trong chiến đấu đến việc đi sâu khám phá những vấn đề thuộc chiều sâu đời tư của con người, những thành công của ông về phương diện nghệ thuật cũng như vai tr tiên phong của chính nhà văn trong phong trào đổi mới văn nghệ Các ý kiến đó thể hiện trong một số công trình như:
1 inh Trí Dũng (1995), Ngu n inh Châu v s tr n tr c a t
ng i b t tr ch nhi , Kỷ yếu Hội thảo 5 năm ngày mất Nguyễn Minh
Châu, Hội văn nghệ Nghệ An
2 T.S Nguyễn Trọng Hoàn , iế t c h nh tr nh c Ngu n Minh Châu [25, 9]
3 Nguyễn Thị Tuyết Mai 6 , C n người tr ng tru n ng n Ngu n Minh Châu, uận văn thạc sĩ, ại học Vinh, Nghệ An
4 Nguyễn ăng Mạnh, Trần Hữu Tá 197 , Hư ng i v tri n v ng c a Ngu n inh Châu, V n ngh (360)
5 Phạm Thị Thanh Nga 5 , Nh ng c ch tân ngh thu t tr ng tru n
ng n Ngu n inh Châu sau 5, uận văn thạc sĩ, ại học Vinh, Nghệ An
6 Nguyên 1989 , Ngu n inh Châu v nh ng tr n tr tr ng i
i tư du ngh thu t, ạ chí V n h c, (2)
Nhìn chung, các tác giả đều đánh giá cao những đóng góp của Nguyễn Minh Châu đối với nền văn học nước nhà trên cả bình diện nội dung lẫn hình
Trang 4thức nghệ thuật thể hiện trong sang tác của nhà văn này Ngọc Trai trong S khám phá con người Vi t Na qua tru n ng n đã nhận ra nét đặc sắc trong
sáng tác của Nguyễn Minh Châu “Thành công chủ yếu của Nguyễn Minh Châu là đã đem đến cho người đọc một cái nhìn mới đối với hiện thực Anh
có lối nhìn sâu sắc và toàn diện đối với con người và hiện thực Dưới ng i bút tài hoa của anh, cái hiện thực nhiều chiều, nhiều vẻ gợi sức liên tưởng thật xa
và rộng” [25, 274] Song, bài viết này chưa chú ý đến những thành công nghệ thuật của tác giả trong việc thể hiện hiện thực đó
Cũng trên tinh thần ấy, Hoàng Thị Văn trong Cả hứng nhân ạ c a Ngu n inh Châu qua hai tru n ng n Cỏ lau và Phiên chợ Giát đ nhận ra
tấm l ng của tác giả đối với những con người bình thường trong x hội Qua
việc phân tích hai nhân vật ực và l o Khúng, bài viết đã cho người đọc thấy
sự đổi mới trong cách cảm nhận con người của nhà văn: “qua những trang viết, nhà văn gửi lại cuộc đời tấm lòng ưu ái đối với con người lam lũ, chịu nhiều hi sinh mất mát, nhà văn gửi lại những hiểu biết, khám phá sâu sắc của mình về thế giới nội tâm con người, về những số phận và những cuộc đời buồn vui, dang dở” [25, 206] Tác giả có đề cập đến nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật, tuy vậy, chưa bàn giải một cách kĩ lưỡng những thủ pháp nghệ thuật miêu tả con người khác như kết cấu, ngôn ngữ, giọng điệu
Phạm Quang Long trong Thái c a Ngu n inh Châu ối v i c n người: niề tin ha lẫn v i l âu đã cho rằng: “Theo tôi, cống hiến lớn nhất ở
ông là sự thức tỉnh một ý thức mới, đúng đắn hơn trong cách nhìn nhận đánh giá về con người” [25, 267]
Nhìn chung, các tác giả đều thấy được giá trị của những tác phẩm của Nguyễn Minh Châu ở mục đích sáng tác vì con người Các ý kiến đều thống nhất khẳng định những tác phẩm của ông có giá trị vì con người, phản ánh
Trang 5những tâm tư khát vọng rất bình thường nhưng giàu tính nhân văn Nhưng để
đi vào lí giải cội nguồn của vấn đề thì chưa công trình nào bàn tới một cách
hệ thống
Trong quá trình nghiên cứu, nhiều người cũng nhìn thấy những đóng góp đáng kể của nhà văn này trên phương diện nghệ thuật Với những tác phẩm sáng tác trước năm 1975, phần lớn các ý kiến đều cho rằng, thành công của Nguyễn Minh Châu ở chỗ, đ xây dựng được những tính cách điển hình trong hoàn cảch điển hình, xây dựng được hình ảnh đẹp về tổ quốc và nhân dân:
“chưa bao giờ những hình tượng tập thể, hình tượng Tổ quốc, nhân dân và những hình tượng tiêu biểu cho nhân dân, tổ quốc hiện lên trong văn học rực
rỡ và đẹp đẽ đến như thế” [25, 340] Các ý kiến chủ yếu khẳng định những đổi mới nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu trong những sáng tác sau 1975
Trong luận văn Nh ng c ch tân ngh thu t tr ng tru n ng n Ngu n inh Châu, tác giả Phạm Thị Thanh Nga đã đi vào tìm hiểu những đổi mới của cây
bút này trên các phương diện như: nghệ thuật trần thuật, nghệ thuật xây dựng nhân vật và nghệ thuật xây dựng tình huống, cốt truyện Từ việc tìm hiểu trên, tác giả đi đến kết luận: phong cách trần thuật của Nguyễn Minh Châu đ có sự thay đổi căn bản Hệ thống nhân vật đ có sự đổi mới về kiểu loại và biện pháp thể hiện Cốt truyện đ có cách tân so với cốt truyện truyền thống Từ
đó, tác giả cho rằng: những thành công bước đầu của ông đ góp phần mở ra giai đoạn mới trong văn học nước nhà iểm đáng ghi nhận của luận văn là đã nhận ra sự đổi mới của Nguyễn Minh Châu trên một số phương diện Do phạm vi nghiên cứu của đề tài là nghệ thuật nên luận văn chưa đi vào khai thác vấn đề khác như số phận con người trước và sau chiến tranh trong các tác phẩm của ông như thế nào
Trong cùng mạch tìm hiểu những đổi mới nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu, tác giả Trịnh Thu Tuyết đi vào vấn đề cốt truyện, tìm hiểu kĩ ba kiểu
Trang 6cốt truyện chủ yếu trong sáng tác của nhà văn này ó là cốt truyện xây dựng dựa trên nguyên tắc luận đề, cốt truyện sinh hoạt thế sự, cốt truyện dựa vào những số phận đời tư Tác giả nhận thấy: “cốt truyện của Nguyễn Minh Châu
đ có sự nới lỏng đến mức nhiều lúc dường như không c n truyện chỉ là những mảnh đời vụn vặt, những trạng thái tâm lí vu vơ đó là những thể nghiệm mới mẻ, độc đáo đưa văn học về gần với đời sống” [25, 324] Bài viết
đ làm sáng tỏ ba kiểu cốt truyện chủ yếu của truyện ngắn Nguyễn Minh Châu qua việc đi vào tìm hiểu những tác phẩm cụ thể Nhưng nhìn chung, tác giả chưa làm rõ sự thay đổi cốt truyện trong sáng tác của ông trong sự đối chiếu với những tác phẩm trước 1975 Nghệ thuật xây dựng các loại cốt truyện trên cũng chưa được phân tích kĩ
Có thể thấy, trong nhiều công trình khác nhau, các tác giả đều có chung nhận định, Nguyễn Minh Châu là cây bút có nhiều hướng tìm tòi trong việc đổi mới nghệ thuật tự sự, tạo những hướng đi mới mẻ cho văn học Việt Nam hiện đại
Với việc quan tâm tìm hiểu, khẳng định giá trị sáng tác của Nguyễn
Minh Châu, dư luận cũng dành cho Dấu chân người lính sự đánh giá tâm
Trang 7“những nhược điểm của Nguyễn Minh Châu không có gì đáng trầm trọng, trong khi đó anh lại có những mặt mạnh của một cây bút văn xuôi: vốn sống giàu có, khả năng khám phá và hiểu biết tính cách nhiều loại người, khả năng miêu tả và tái hiện thực dưới hình thái cụ thể, cảm tính của nó,
v.v ” [25, 57] ây là sự khái quát chung cho Dấu chân người lính GS đã
nhận thấy những mặt tích cực cũng như hạn chế của ng i bút Nguyễn Minh Châu trong tác phẩm Bài viết chỉ ra những hạn chế về phương diện kết cấu của tác phẩm mà chưa chú ý đến ưu điểm của sự lựa chọn kiểu kết cấu theo trình tự thời gian vào việc thể hiện diễn biến của câu chuyện, từ đó làm nổi bật cảm hứng sử thi Chỉ ra được những điển hình của tác phẩm nhưng GS không chủ trương đi vào tìm hiểu nghệ thuật miêu tả những điển hình ấy Tuy vậy, ý kiến của GS đ gợi nhiều ý tưởng cho người nghiên cứu trong quá trình triển khai đề tài
Trong Dấu chân người lính c a Ngu n inh Châu, GS Hà Minh ức
đặt tiểu thuyết này bên cạnh những tác phẩm viết về chiến tranh ở thời kì này
như r n hố ng của Trần ăng để thấy được sự thay đổi phạm vi hiện
thực trong tiểu thuyết “lúc trước là một trận công đồn nhỏ và ngày nay là một chiến dịch lớn, hiện đại” [25, 63] từ đó đi đến kết luận “phản ánh một chiến dịch lớn trong khuôn khổ một thiên tiểu thuyết là một việc khó và Nguyễn Minh Châu đ thành công” [25, 63] Ý kiến của GS đã chỉ rõ sự thay đổi
phạm vi hiện thực trong Dấu chân người lính ó là nét mới trong sáng tác
này Tuy nhiên, trong công trình này, GS Hà Minh ức mới đề cập đến phạm
vi đề tài c n một số phương diện khác thuộc nghệ thuật của tác phẩm chưa được ông đề cập đến
Ở bài viết Dấu chân người lính ngh ến nh ng cuốn ti u thu ết l n ứng ng v i dân t c, v i thời ại, tác giả Trần Trọng ăng àn đ khẳng
định thành công của tiểu thuyết này trong việc xây dựng nhân vật điển
Trang 8hình - hình tượng người anh hùng cách mạng Ngoài ra, c n một số bài viết liên quan đến tác phẩm này như: h ng hí hu ền di u v h h ng c a t thời h ng chiến tr ng Dấu chân người lính c a Ngu n inh Châu [25, 78],
Nh ng cố g ng l n the Dấu chân người lính c a Ngu n inh Châu [25, 83], Dấu chân người lính t i Những người đi từ trong rừng ra, ngh về Ngu n inh Châu [25, 101]
Nhìn chung những ý kiến khác nhau của các nhà nghiên cứu đ ghi nhận
những đóng góp của Dấu chân người lính, kể cả về nội dung và nghệ thuật
dựa trên những tiêu chí thẩm mĩ của con người ở thời điểm hiện tại Cũng trên
cơ sở đó, họ cũng chỉ ra những hạn chế của cuốn tiểu thuyết Những hạn chế
đó, một mặt có nguyên nhân từ phía người viết, nhưng mặt khác, chúng ta thấy đó chính là hạn chế của nền văn nghệ ra đời, tồn tại trong điều kiện chiến tranh, chịu sự chi phối của quan niệm thẩm mĩ, mô hình phản ánh hiện thực của văn nghệ trước 1975 Với một nhà văn luôn trăn trở, tìm t i để làm tr n vai tr của người nghệ sĩ như Nguyễn Minh Châu, việc khắc phục những hạn chế đó trong yêu cầu mới, trong điều kiện mới của văn học là điều không khó
và thực tế ông đ ngày càng thành công trên đường viết văn của mình
Bảo Ninh là một trong những cây bút viết về chiến tranh trong thời hậu chiến để lại nhiều ấn tượng trong l ng người đọc trong và ngoài nước Trong những công trình khác nhau, một số nhà nghiên cứu đã đi vào tìm hiểu tác phẩm của ông và chỉ ra những đóng góp của tác giả này đối với sự vận động và phát triển của văn học nước nhà
Luận văn thạc sĩ Đề t i chiến tranh chống tr ng tru n ng n Bả Ninh, ưu Thị Thanh Trà, ại học Vinh 6 , đã nhìn nhận việc thể hiện
chiến tranh của Bảo Ninh trong quan hệ với nhân cách con người, chiến tranh
và tình yêu, từ đó cho người đọc thấy được những biểu hiện mới trong cách nhìn nhận đối với đề tài này ó là một trong những điểm mới của nhà văn
Trang 9Tuy nhiên, do giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài nên tác giả chưa đi vào tìm hiểu các vấn đề liên quan của tác phẩm như kết cấu, nghệ thuật xây dựng nhân vật, ngôn ngữ, giọng điệu
Về phương diện nghệ thuật, khoá luận tốt nghiệp Nhân v t tr ng v n
u i Bả Ninh của ê Thị an Anh, ại học Vinh 7 , đã đi vào khám phá
thế giới nhân vật Tác giả đặc biệt chú ý người lính và phụ nữ dưới các góc nhìn khác nhau, trên cơ sở đó thấy được sự đổi mới của Bảo Ninh trong cách nhìn nhận và thể hiện con người trong văn học sau 1975 Khoá luận này cũng
đi vào những nghệ thuật thể hiện nhân vật trong văn xuôi Bảo Ninh như: thể hiện nhân vật qua ngoại hình, qua việc sử dụng yếu tố tâm linh, qua sử dụng ngôn ngữ, qua việc tổ chức thời gian, không gian uận văn chỉ chú ý đến những nhân vật trong các mối quan hệ khác nhau như người lính trong quan
hệ với cộng đồng, người lính dưới góc nhìn cá nhân mà chưa đề cập đến đặc điểm nổi bật của các loại nhân vật như nhân vật dị thường, nhân vật bị chấn thương, nhân vật lạc loài
Sáng tác của Bảo Ninh chủ yếu viết về đề tài chiến tranh Qua tìm hiểu, các tác giả đều nhận thấy ông đ có những cách nhìn mới về hiện thực này Chiến tranh được nhìn nhận chủ yếu qua số phận con người, chiến tranh với tính chất hai mặt của nó Những cách tân trong nghệ thuật tự sự của ông cũng
đ góp phần đem lại cho văn học nước nhà luồng sinh khí mới
Nỗi buồn chiến tranh thể hiện nỗ lực của Bảo Ninh trong việc đổi mới
mô hình phản ánh hiện thực trong văn học sau 1975 Và đ có không ít ý kiến đánh giá cao những thành công của tác phẩm
Nhà nghiên cứu ỗ ức Hiểu trong hi h hi n ại đ viết: “trong văn học mấy chục năm nay, có thể hân h n c a t nh u tên khác của Nỗi buồn chiến tranh - TG) là cuốn tiểu thuyết hay về tình yêu, quyển tiểu thuyết
Trang 10về tình yêu xót thương nhất” và cho rằng “Nỗi buồn chiến tranh thể hiện một
điểm nhìn mới về cuộc chiến tranh kéo dài ba mươi lăm năm” [24, 265]
Dung Nguyên trên www.sachhay.com khẳng định Nỗi buồn chiến tranh được coi là một cột mốc sáng chói của văn học thời kì đổi mới Nỗi buồn chiến tranh không chỉ lạ về hình thức mà c n mới mẻ về nội dung so với thời
điểm nó ra đời”
Nguyễn Thanh Sơn trên www.tanviet.net khẳng định “Tác phẩm đ tạo nên những huyền thoại, trong khi bản thân nó cũng là một huyền thoại ặng
lẽ, nhưng không vì thế mà kém thuyết phục, tác phẩm tự chọn cho mình một
số phận, tạo nên một điểm nhìn hoàn toàn mới về một miền quá khứ chưa hề
xa xôi”
ây là những nhận định đánh giá chung nhất giá trị của Nỗi buồn chiến tranh, chưa có tác giả nào đi sâu tìm hiểu kĩ lưỡng, bài bản về những giá trị
của tác phẩm
Trên http thachpx.googlepages.com, Nguyễn uân Thạch đ có cái nhìn
tổng quát về Nỗi buồn chiến tranh viết về chiến tranh thời h u chiến t ch ngh a anh h ng ến nhu c u i i b t h Trong đó, tác giả đ thấy rõ
những thách thức của lối viết đến những mạch ngầm của văn bản Trong bài viết, tác giả cũng tìm hiểu thế giới nhân vật tiểu thuyết, biểu tượng và ý nghĩa của nó Từ đó, ông khái quát cái nhìn mới về hiện thực chiến tranh và
con đường viết về chiến tranh trong thời hậu chiến và khẳng định: “trong Nỗi buồn chiến tranh, Bảo Ninh đ xác lập một cái nhìn mới về hiện thực lịch
sử - hiện thực chiến tranh, mới trong sự đối chiếu với văn học hiện thực x hội chủ nghĩa trong chiến tranh và trước 1986 Cái mới ở đây được xác định không chỉ ở việc anh đưa vào trong tác phẩm của mình những chất liệu hiện thực chưa từng có trong văn học chiến tranh dẫu điều này cũng có giá trị thẩm mĩ riêng mà trước hết thể hiện ở việc anh đ tìm đến một phương pháp
Trang 11tiếp cận hiện thực khác với phương pháp điển hình hóa trong văn học hiện thực truyền thống” “Riêng Bảo Ninh, anh đ đẩy những khuynh hướng nghệ thuật của những nhà văn trước đến một chiều kích mới Anh quyết liệt từ bỏ hình thức tiểu thuyết hiện thực truyền thống theo kiểu tiểu thuyết - kí sự như
Đất tr ng để theo đuổi tiểu thuyết tâm lí” Bài viết đ phát hiện những nét độc đáo của Bảo Ninh trong Nỗi buồn chiến tranh so với những tác phẩm
khác trong cách cảm nhận và thể hiện hiện thực Riêng vấn đề nhân vật, tác giả đ chỉ ra các loại nhân vật và ý nghĩa của những loại nhân vật đó mà chưa
đi vào xem xét cách nhà văn xây dựng nhân vật như thế nào Tất cả các vấn
đề đều ở mức độ khái quát
Khoá luận tốt nghiệp Quan ni ngh thu t về c n người tr ng Nỗi
buồn chiến tranh c a Bả Ninh của Nguyễn Thị Thu Hằng, ại học Vinh
3 , khẳng định, tác phẩm này đ tiếp tục một quan niệm nghệ thuật: Con người hành động của văn học giai đoạn 1945 - 1975 ồng thời, tác giả chỉ ra quan niệm mới của Bảo Ninh trong tiểu thuyết về con người, đó là con người
tự sám hối, con người phức tạp trong mối quan hệ đa chiều Tác giả đã đi vào phân tích nghệ thuật biểu hiện quan niệm nghệ thuật về con người trong tác phẩm như: cách xây dựng nhân vật chính, xây dựng thời gian, không gian Ngoài ra, những nghệ thuật đặc sắc như kết cấu lồng ghép, kĩ thuật d ng ý thức, độc thoại nội tâm chưa được nói đến
Các tác giả đều đ nhận thấy sự khác biệt của Nỗi buồn chiến tranh so
với những tác phẩm khác trong cùng thời điểm ở góc độ tiếp cận cũng như thể hiện hiện thực Từ những mạch ngầm của văn bản các nhà nghiên cứu cũng
đ có những suy nghĩ về cách tiếp cận và thể hiện hiện thực của những tác phẩm sau 1975
Trang 12Bên cạnh những ý kiến đánh giá cao tác phẩm, cũng không ít nhà phê
bình coi Nỗi buồn chiến tranh là “điên loạn”, “rối bời”, “lố bịch hóa hiện
thực”, “bôi nhọ quân đội” Tuy nhiên, đến thời điểm hiện tại, chúng ta thấy những giá trị của cuốn tiểu thuyết về mặt nội dung cũng như nghệ thuật đáng được khẳng định
Có nhiều ý kiến của nhiều tác giả về Nỗi buồn chiến tranh, và như ta
biết, các ý kiến ấy là kết quả có được của nhiều cách tiếp cận khác nhau Tuy nhiên, chúng tôi đều nhìn thấy trong đó những gợi ý nhất định trong quá trình thực hiện đề tài
Như vậy, các nhà nghiên cứu đ có nhiều ý kiến khác nhau xung quanh
hai tiểu thuyết Dấu chân người lính và Nỗi buồn chiến tranh , nhưng chưa có công trình hay bài viết về mô hình phản ánh hiện thực qua hai tiểu thuyết một
cách đầy đủ, hệ thống Tiến hành đề tài này, chúng tôi đi vào giải quyết vấn
đề trên tinh thần đó
3 Đối tượng nghiên cứu
Như tên đề tài đã xác định, đối tượng nghiên cứu của đề tài là mô hình
phản ánh hiện thực trong Dấu chân người lính và Nỗi buồn chiến tranh
4 Nhiệm vụ và mục đích nghiên cứu
4.1 uận văn đi vào tìm hiểu những vấn đề liên quan phản ánh hiện thực, mô hình phản ánh hiện thực trong văn học Việt Nam
4.2 i vào tìm hiểu mô hình phản ánh hiện thực trong hai tiểu thuyết
Dấu chân người lính và Nỗi buồn chiến tranh để thấy được đặc sắc của hai
tác phẩm cũng như đặc điểm phong cách nghệ thuật của hai tác giả thể hiện trong những tác phẩm ấy
4.3 Từ những mô hình phản ánh hiện thực tiêu biểu trong hai tiểu thuyết trên, luận văn chỉ ra quan điểm thẩm mĩ khác nhau Việt Nam trước và sau
Trang 131975, từ đó thấy được sự vận động của văn học nước nhà trước và sau thời kì đổi mới
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp nghiên cứu hình thức
5.2 Phương pháp nghiên cứu x hội học
5.3 Phương pháp nghiên cứu phân tâm học
5.4 Phương pháp nghiên cứu văn hóa – lịch sử
6 Phạm vi khảo sát
Phạm vi khảo sát đã được thông báo rõ, cụ thể trong tên đề tài, đó là hai
tiểu thuyết Dấu chân người lính của Nguyễn Minh Châu và Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh
7 Đóng góp của luận văn
Trên cơ sở khảo sát Dấu chân người lính và Nỗi buồn chiến tranh, luận
văn chỉ ra mô hình phản ánh hiện thực trong hai tiểu thuyết, đồng thời qua
đó chỉ ra sự vận động tư duy nghệ thuật của tiểu thuyết Việt Nam trước và sau 1975
8 Cấu trúc luận văn
Tương ứng với nhiệm vụ, mục đích đã đề ra, ngoài phần u, ết
lu n, và T i li u tha hả , luận văn của chúng tôi gồm có 3 chương:
Chư ng : t số vấn ề lí thu ết liên quan ến ề t i
Chư ng 2: h nh hản nh hi n th c tr ng Dấu chân người lính c a Ngu n inh Châu
Chư ng 3: h nh hản nh hi n th c tr ng Nỗi buồn chiến tranh c a
Bả Ninh
Trang 14Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1 hái niệm phản ánh và m h nh phản ánh hiện th c
Phản ánh là thuộc tính chung, phổ biến của mọi đối tượng vật chất Nó là năng lực giữ lại, tái hiện lại của hệ thống vật chất này những đặc điểm của hệ thống vật chất khác Phản ánh ý thức là hình thức phản ánh mới, cao nhất Nó chính là nguồn gốc của nhận thức con người Thông qua phản ánh, con người thu nhận được những kiến thức về tự nhiên, x hội, con người
Chính vì phản ánh là nguyên lí chung, phổ biến của mọi đối tượng vật chất nên nó là một trong những lí thuyết được nhiều người quan tâm Phản ánh cũng là nguyên lí tổng quát, chi phối quá trình sáng tác nghệ thuật Thông qua hình thức này, ý tưởng của các nhà làm nghệ sĩ được tái hiện, bộc lộ, phơi bày Như vậy, có thể nói, phản ánh là một trong những vấn đề quan trọng của văn học, nghệ thuật Nó giúp chúng ta hiểu được bản chất của từng đối tượng trong quan hệ với chính nó và với những đối tượng khác Trong luận văn này, chúng tôi đi vào tìm hiểu bản chất của vấn đề phản ánh trong nghệ thuật nói chung, trong văn học nói riêng
ặc trưng của văn học là phản ánh hiện thực Tuy nhiên, từng thời kì lịch sử, từng trào lưu nghệ thuật, từng phương pháp sáng tác có kiểu phản ánh hiện thực khác nhau, nó tạo nên những khuôn mẫu, những mô hình phản ánh không giống nhau Tìm hiểu những mô hình phản ánh khác nhau đó chúng ta cũng thấy được sự vận động, biến đổi của văn học trong tiến trình phát triển
Trang 15Theo i n iếng Vi t, mô hình là: “hình thức diễn đạt hết sức gọn
theo một ngôn ngữ nào đó các đặc trưng chủ yếu của một đối tượng, để nghiên cứu đối tượng ấy” [50, 638] Như thế, mô hình phản ánh hiện thực có nghĩa là những hình thức diễn đạt hiện thực một cách đặc trưng bản chất, chủ yếu nhất của nghệ thuật Mỗi tác giả trong một giai đoạn văn học nhất định đều lựa chọn cho mình những mô hình phản ánh thích hợp để nghiên cứu đối tượng một cách sâu sắc nhất Thông qua việc tìm hiểu vấn đề phản ánh, mô hình phản ánh hiện thực của các tác phẩm văn học, người đọc hiểu rõ hơn về hiện thực được nói đến trong tác phẩm, cũng như tình cảm, thái độ của nhà văn trước hiện thực đó
1.2 S phát triển của lí thuyết phản ánh trong l ch s mĩ học, lí luận
và th c tiễn sáng tác văn học
1.2.1 Trên thế giới
Mặc dù khái niệm phản ánh xuất hiện khá muộn, nhưng từ xa xưa, phản ánh trong văn nghệ đ trở thành một trong những vấn đề trung tâm của nhiều nhà triết học, mĩ học Ngay từ thời cổ đại, nó đã được nhắc đến bởi ocrate, Platon, Arixtote…
Xocrat (469 – 399 TCN cho rằng: “Nghệ thuật chính là sự bắt chước tự nhiên” Còn Platon (427 – 347 TCN) lại cho thế giới của các sự vật cảm biết
là không nhận thức được, không đúng đắn Ông đề cao thế giới của ý niệm:
“thế giới ý niệm là thế giới của của những cái phi cảm tính, phi vật thể, là thế giới của đúng đắn chân thực, và các sự vật của cảm biết chỉ là cái bóng của ý niệm” [46,69] Platon đề cao thuyết trực cảm nên ông đề cao nhận thức ý niệm Nhận thức của con người, trong quan niệm của ông là nhận thức ý niệm chứ không phải là sự nhận biết hiện thực khách quan Theo ông, thế giới tự nhiên – thế giới của những vật cảm tính – bắt nguồn từ những thực thể tinh
Trang 16thần tức là những ý niệm; vật thể cảm tính chỉ là cái bóng của ý niệm Chính
vì thế, nghệ thuật cũng là sự phản ánh lại những ý niệm, theo đó sự sáng tạo của người nghệ sĩ là sự bắt chước lại một sự bắt chước khác, phản ánh lại cái được phản ánh
Aristote (384 – 322 TCN) – nhà tư tưởng vĩ đại nhất của thời cổ đại đ đối lập quan điểm của mình với quan điểm của Platon Ông thừa nhận sự tồn tại khách quan của thế giới vật chất Thế giới vật chất là đối tượng thực tế của nhận thức, là nguồn gốc của cảm giác Aristote cũng khẳng định kinh nghiệm, kiến thức con người có được là do khả năng bắt chước tự nhiên Nghệ thuật cũng chính là sự mô phỏng tự nhiên: “sử thi, bi kịch cũng như hài kịch và thơ
ca tụng tửu thần, đại bộ phận nhạc sáo, nhạc đàn, lục huyền – tất cả những cái
đó, nói chung, đều là những nghệ thuật mô phỏng” [3,11] Sự mô phỏng ở đây cũng được ông nói rõ, đó không chỉ là nội dung, đối tượng miêu tả mà c n là phương tiện, cách thức Người ta có thể “mô phỏng các sự vật, hiện tượng bằng các màu sắc hay hình dáng, một số người thì dựa vào tài nghệ, số khác dựa vào kĩ năng, số khác nữa thì dựa vào thiên bẩm” [3, 1 ] Nghệ thuật cũng vậy, “sự mô phỏng thể hiện trong tiết tấu, trong ngôn từ, trong giai điệu, hoặc chỉ dùng một thứ, hoặc bằng cả mấy thứ” [3, 12]
Như vậy, luận điểm trung tâm của các nhà triết học, mĩ học về vấn đề phản ánh nghệ thuật là đề cao học thuyết “bắt chước”, “mô phỏng” Mối quan
hệ giữa nghệ thuật và hiện thực cũng được xác lập và được coi là mối quan hệ khăng khít ây là những cơ sở cho các nhà khoa học về sau nghiên cứu về vấn đề này
Cuối thời kỳ Trung cổ, Tômát acanh 1 5 – 1 74 nổi lên như nhà thần học lớn nhất Tômát acanh cũng coi nghệ thuật là sự mô phỏng, sứ mệnh cơ bản của nghệ thuật là khả năng giúp con người nhận thức được sự
Trang 17vật Cái đẹp chính là hình tượng phản ánh một cách đầy đủ, trọn vẹn nhất của một sự vật, thậm chí trong trường hợp chính bản thân sự vật ấy không đẹp Bước qua một số yếu tố không hợp thời khi kế thừa tư tưởng mĩ học, tiếp nhận những hạt nhân hợp lí của học thuyết “bắt chước”, các nhà mĩ học Phục hưng đề cao vẻ đẹp tự nhiên, say sưa khám phá vẻ đẹp riêng ấy ó là những
“cái đẹp bắt rễ ngay chính bản chất của sự vật” iều đáng nói ở đây là những nhà mĩ học đ thấy được nghệ thuật chịu sự tác động lớn của quy luật khách quan nên họ đ i hỏi nghệ thuật phải: “phát hiện ra những quy luật khách quan
đó và phải chịu sự điều khiển của chúng” [64, 111] Rõ ràng, họ đ thấy cái đẹp nằm trong bản chất của sự vật chứ không phải ở lực lượng siêu nhiên, thần bí, hay trong ý niệm nào Chính vì vậy, các nghệ sĩ luôn thể hiện nghệ thuật với những gì chính xác nhất Vẻ đẹp nguyên sơ, thánh thiện của hiện thực tự nhiên được họ đề cao Nó được cảm nhận, miêu tả, thể hiện sinh động trong từng tác phẩm nghệ thuật qua cách thể hiện đầy sáng tạo chứ không đơn giải chỉ là sự sao chép tự nhiên như vốn có ây là điểm khác biệt quan trọng nhất giữa mĩ học Phục hưng với mĩ học cổ đại trước đó Tuy nhiên, mặt hạn chế của mĩ học thời kì này là nhấn mạnh việc vào phản ánh hiện thực đời sống nhưng những mâu thuẫn x hội chưa được các nhà triết học, mĩ học chú
ý đến trong quá trình nghiên cứu mối quan hệ thẩm mĩ của nghệ thuật đối với hiện thực
Mĩ học cổ điển ra đời từ thế kỉ VII trên cơ sở chủ nghĩa duy lí của triết học N.Boileau (1636 - 1711 là đại diện tiêu biểu cho mĩ học cổ điển Thuyết bắt chước thiên nhiên được ông hoàn toàn ủng hộ Tuy nhiên, nó cũng được nhìn nhận dưới tinh thần của chủ nghĩa duy lí nên: “thiên nhiên phải được thanh khiết hóa, phải giải thoát khỏi tính thô lỗ nguyên sơ của nó, phải được hình thành do sự hoạt động, điều chỉnh của lí trí” [64, 122] Thiên nhiên với
vẻ nguyên sơ không còn được đề cao Vai tr của lí trí được nâng lên iểm
Trang 18tiến bộ trong quan niệm mĩ học của ông thể hiện ở chỗ, đ đề cập đến sự khái quát hóa và điển hình hóa trong nghệ thuật Tuy nhiên, hạn chế của ông là đ phủ nhận việc hình thành tính cách trong quá trình vận động của nó Mối quan
hệ giữa tính cách và hoàn cảnh không được chú ý thay vào đó là chủ trương xây dựng sự tĩnh hóa tính cách Những tiến bộ của mĩ học thời kì này đ có ảnh hưởng lớn đến những mĩ học gia ở giai đoạn sau
Mĩ học khai sáng thế kỉ VIII đ đạt những thành tựu nhất định, góp phần đưa hoạt động nghiên cứu và sáng tạo văn học nghệ thuật đạt đến những giá trị cao hơn
D.Diderot (1713 – 1784) là nhà mĩ học khai sáng tiêu biểu của Pháp - đứng
trên lập trường duy vật, đưa ra luận điểm xuất phát “những gì gặp thường xuyên trong tự nhiên là hình mẫu đầu tiên cho nghệ thuật”, từ đó cho rằng sự hài hoà của bức tranh đẹp nhất chẳng qua chỉ là sự bắt chước vụng về tính hài hoà của tự nhiên, tài năng của hoạ sĩ phụ thuộc vào mức độ khắc phục sự khác biệt ấy vì thiên nhiên đẹp hơn nghệ thuật Ông cho tiêu chuẩn để đánh giá một tác phẩm nghệ thuật là xem nó phù hợp với tự nhiên ở mọi nơi và tất
cả hay không Bởi, với ông tự nhiên đ trở thành mẫu mực trước tiên của nghệ thuật iều đáng chú ý là tự nhiên mà ông nói đến ở đây không chỉ giới hạn là “những gì xung quanh con người mà không phải do con người tạo ra”
mà nó được hiểu bao gồm cả giá trị tự nhiên và x hội Trong quá trình mô tả thiên nhiên ông cũng đề xướng “dù là thiên nhiên đẹp, là chân lí chăng nữa, cũng không nên bắt chước quá sát” [64, 146] Rõ ràng, ông đ chủ trương người nghệ sĩ phải tái hiện chân thực hiện thực nhưng một mặt ông lại có ý khước từ sự mô phỏng tự nhiên ấy Mặc dù, quan điểm của ông về nghệ thuật
c n có nhiều mâu thuẫn nhưng D.Diderot đ góp phần đặt nền móng cho nghệ thuật hiện thực chủ nghĩa
Trang 19Trái với D.Diderot, I.F.Sile – nhà mĩ học tiêu biểu cho chủ nghĩa khai sáng ức lại chống lại thuyết bắt chước Ông chủ trương gắn liền các ý niệm với các hình thức cảm tính Ông không cho nghệ thuật đồng nhất với hiện thực và chân lí Cái mới của Sile là chỗ ông đề cao vai tr của chủ thể trong sáng tạo nghệ thuật: “nghệ thuật phải có hai đặc tính” “một là phải tự nâng mình lên cao hơn hiện thực và hai là phải ở trong giới hạn của thế giới thuộc giác quan” [64, 177] I.F.Sile muốn dung hoà giữa hiện thực và lí tưởng, đồng thời đề cao vai tr của người nghệ sĩ ây là quan điểm tiến bộ có ảnh hưởng lớn đến quá trình phát triển của mĩ học sau này
Tiếp nối mĩ học của I.F.Sile, IV.Goeths coi nghệ thuật phải gắn bó với cuộc sống, với mọi sự tồn tại, phát triển của kinh tế, chính trị, x hội Ông cho rằng, tương ứng với một nền kinh tế, x hội nhất định thì có nền văn nghệ tương ứng và khẳng định rằng, nghệ thuật phải bắt nguồn từ thiên nhiên và thiên nhiên là nguyên liệu của sáng tạo nghệ thuật IV.Goeth cũng là người coi trọng vai tr tích cực, chủ động của chủ thể thẩm mĩ Ông cho sự bắt chước tự nhiên, sự sao chép hiện thực khách quan một cách nô lệ, mù quáng
là điều nghệ thuật cần né tránh Những tư tưởng mĩ học của IV.Goeths được coi là đỉnh cao của chủ nghĩa duy vật trước Marx
Hêgen (1770 - 1831 là một trong những triết gia cổ đại của chủ nghĩa cổ điển ức và của toàn nhân loại Hệ thống mĩ học của ông gồm ba phần Phần một chủ yếu đề cập đến học thuyết về cái đẹp nói chung Phần hai là học thuyết về những hình thái đặc biệt của nghệ thuật C n phần ba trình bày học thuyết về những ngành nghệ thuật riêng biệt Hêgen cho, cái đẹp là sự thể hiện đặc biệt của ý niệm tuyệt đối dưới một hình thức cụ thể, cảm tính Nghệ thuật chính là sự phát triển tự thân của khái niệm Quan niệm của ông đầy chất lí tính Hêgen cũng gắn cái đẹp với tự nhiên, đồng thời có sự phân biệt
Trang 20cái đẹp trong tự nhiên với cái đẹp trong nghệ thuật Cái đẹp trong nghệ thuật được ông đồng nhất với “lí tưởng” Như vậy, ông đ chú ý đến sự sáng tạo trong nghệ thuật và khẳng định đặc trưng của nghệ thuật là sự sáng tạo ra “lí tưởng” Mĩ học Hêgen được coi là đỉnh cao của mĩ học cổ điển ức, là một trong những nguồn lí luận trực tiếp quan trọng cho mĩ học Marx- Lênin
Sự ra đời của chủ nghĩa Marx tạo nên những biến đổi lớn trong đời sống tinh thần của nhân loại Marx và Angghen đ kế thừa những công trình của các bậc tiền bối, phát huy thành tựu khoa học của giai đoạn trước để hình thành hệ thống tư tưởng riêng của mình, trong đó có mĩ học Cơ sở lí luận của chủ nghĩa Marx là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử
ó cũng chính là cơ sở cho sự hình thành và phát triển của mĩ học macxit uất phát điểm của những luận điểm mĩ học Marx và Angghen là dựa trên những vấn đề cơ bản của triết học như: mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, vật chất và ý thức, bản chất và hiện tượng
Marx và Engenl chú trọng ý nghĩa nhận thức của nghệ thuật Vì thế, họ
ca ngợi những tác phẩm của Banzac Những tác phẩm của ông đ phản ánh được hiện thực bề bộn của cuộc sống Tác phẩm của Banzac là sự tổng hợp của kiến thức liên ngành, vì thế, nó có giá trị nhận thức to lớn, đem lại những hiểu biết phong phú cho người đọc Mối quan hệ giữa văn học và hiện thực cũng được hai ông quan tâm Cả hai đều chú ý đến tính giai cấp của nền văn nghệ trong x hội có giai cấp: “khi mà mâu thuẫn giai cấp đ tự phơi bày, đấu tranh giai cấp đã được ý thức đầy đủ, thì tính giai cấp nói chung, và tính giai cấp của văn nghệ nói riêng, cũng sẽ công khai tự giác hơn” [46, 79] Những
tư tưởng mĩ học của Marx và Engenl là nền tảng cho sự phát triển của mĩ học
về sau
Lênin đ phát triển tư tưởng của Marx và Engenl Ông đ đưa ra những quan niệm đúng đắn, góp phần giải quyết nhận thức về mối quan hệ giữa văn
Trang 21học và hiện thực, gồm các vấn đề như: phản ánh với nhận thức, phản ánh với biểu hiện, phản ánh với sáng tạo Ông đã đề cao vai tr của hiện thực đối với văn nghệ Hiện thực là nguồn gốc của nhận thức, vì thế “đời sống là mảnh đất màu mỡ nuôi dưỡng nghệ thuật và đồng thời là chìa khoá giải thích được những những hiện tượng phức tạp của nghệ thuật” [33, 63] Trong vấn đề phản ánh với biểu hiện, ông thừa nhận: “văn nghệ không chỉ biểu hiện khát vọng của con người, mà con biểu hiện toàn bộ thế giới chủ quan của con người: thế giới quan, cá tính, lí tưởng, ước mơ ” [33, 67] ênin cũng đã cho phản ánh luôn đi kèm với sáng tạo ặc biệt, ông coi trọng vai tr của chủ thể trong sáng tạo nghệ thuật, vì thế đã phê phán sự sao chép trong đơn thuần trong văn học: “hình ảnh có thể phản ánh vật thể một cách trung thực, hoặc nhiều hoặc ít nhưng ở đây mà giống hệt thì thật là ngu xuẩn” [33, 161] Có thể nói, với ênin, tư tưởng văn nghệ của giai cấp vô sản đ được hình thành một cách đầy đủ, hoàn chỉnh Tư tưởng của ông đ thể hiện rõ quan điểm về những vấn đề cơ bản của văn nghệ, trở thành nền tảng cho sự sáng tác nghệ thuật nói chung, văn học nói riêng
Những nhà mĩ học giai đoạn sau đ phát triển tư tưởng của Marx, Engenl, Lênin
G.V.Plekhanov cho rằng đấu tranh giai cấp là đối tượng cơ bản của phản ánh nghệ thuật, đồng thời, nó cũng là yếu tố quyết định sự phát triển của văn học nghệ thuật Tuy nhiên quan niệm về vấn đề văn học phản ánh hiện thực của ông c n nhiều điểm chưa thuyết phục
Sang thế kỉ , nhà mĩ học Hugari – G.Lukacs đ có cái nhìn toàn diện hơn về vấn đề này Ông cho rằng, mỗi tác phẩm văn học đều có sức sống riêng, thể hiện một phong cách độc đáo Hiện thực khách quan không chỉ là đối tượng duy nhất của nghệ thuật Sự phản ánh trong nghệ thuật được khách
Trang 22thể hóa là kết quả của sự phản ánh đúng đắn Giữa các chi tiết nghệ thuật và chi tiết trong đời sống không có sự liên quan với nhau Ý kiến này hoàn toàn trái ngược với yêu cầu chi tiết chân thực của chủ nghĩa hiện thực Như vậy, điểm đáng ghi nhận trong quan niệm của nhà mĩ học này là, ông đ chú ý tới mối quan hệ giữa văn học và hiện thực, đề cao vai tr của chủ thể sáng tạo Tuy nhiên, ông chưa phân biệt rõ ràng giữa chủ thể phản ánh nghệ thuật và chủ thể nhận thức luận nói chung
Khác với G ukacs, C.Caudwell – nhà mĩ học người Anh đ cho rằng, phản ánh nghệ thuật là sự thể hiện các đối tượng tạo ra những ảo ảnh của hiện thực ối tượng phản ánh của nghệ thuật là hiện thực bên trong, c n hiện thực bên ngoài chỉ là đối tượng của phản ánh khoa học Ông đ lí giải được mối quan hệ giữa chủ thể phản ánh và chủ thể nhận thức thẩm mĩ ồng thời C.Caudwell cũng thấy được tác phẩm nghệ thuật là sự suy tư và gợi nhớ về hiện thực, không đơn giản là bản sao hiện thực Như vậy, theo ông, tiêu chí để đánh giá giá trị của một tác phẩm nghệ thuật là sự sáng tạo của chủ thể thẩm
mĩ và sự tác động của nó đối với người tiếp nhận như thế nào
Những ý kiến của G ukacs, C.Caudwell đ góp phần giải quyết vấn đề phản ánh trong văn nghệ
1.2.2 Ở Việt Nam
Ở Việt Nam, vấn đề phản ánh trong văn nghệ đ từng được một số nhà nghiên cứu đề cập nhưng chủ yếu tập trung ở những bài viết nhỏ, những cuộc tranh luận văn học, nghệ thuật Trong lịch sử, dường như chưa có công trình nào quy mô, đưa ra cái nhìn toàn diện và tập trung về vấn đề này
Những thế kỉ trước, vấn đề phản ánh của văn nghệ đ được một số tác giả đề cập đến như: ê Qúy ôn, Ngô Thì Nhậm, Nguyễn Văn Siêu Lê Quý
ôn cho rằng: “thơ tả cảnh lầu son gác tía thì thường nhớp nhúa, thơ viết về lều tranh quán chợ thì dễ thanh tao” Trong ý kiến của mình, ê Quý ôn đã
Trang 23có sự phân biệt đối tượng miêu tả của văn chương Nguyễn Văn Siêu cho rằng
“văn chương có loại đáng thờ và có loại không đáng thờ oại không đáng thờ
là loại chỉ chuyên chú văn chương, loại đáng thờ là loại chuyên chú con người”, chính là ông đang nói đến mục đích của việc sáng tác văn chương Văn chương chân chính phải phục vụ con người Thời kì này cũng đ có một
số ý kiến khẳng định vai tr của chủ thể sáng tạo Lê Quý ôn quan niệm:
„thơ phát khởi từ trong l ng người ta” Nói như thế có nghĩa là tác giả này chú
ý đến vai tr và ý thức chủ thể sáng tạo Theo ông, vai tr chủ thể sáng tạo là đầu mối tiền đề tạo nên giá trị nội dung và bản chất nghệ thuật trong thi ca
C n Ngô Thì Nhậm nhấn mạnh “h y xúc động hồn thơ cho ngọn bút có thần” hay: “Mây gió cỏ hoa xinh tươi kỳ diệu đến đâu, hết thảy đều từ trong l ng
mà nảy ra” iều đó có nghĩa là ông khẳng định thơ nói riêng, nghệ thuật nói chung bắt nguồn từ bên trong con người chứ không phải từ hiện thực Rõ ràng, các tác giả văn học trung đại đ có những ý kiến khác nhau xung quanh vấn đề phản ánh của thơ ca Nhưng nhìn chung, các ý kiến này mang tính đơn
lẻ, chưa trở thành hệ thống Bàn đến vấn đề phản ánh hiện thực một cách rõ ràng, cụ thể ở Việt Nam phải bắt đầu từ đầu thế kỉ với cuộc tranh luận giữa hai phái “nghệ thuật vị nghệ thuật” và “nghệ thuật vị nhân sinh” do Hoài Thanh và Hải Triều đứng đầu Hoài Thanh và phái “nghệ thuật vị nghệ thuật” quan tâm trước hết ở bản chất thẩm mĩ của văn chương, đ i hỏi văn chương phải mang trong mình vẻ đẹp tự thân; c n Hải Triều và những người cùng phái mong muốn nghệ thuật phải gắn với đời sống x hội, coi gốc gác của văn chương ở trong x hội, văn chương phụng sự nhân sinh, do đó đề cao nhiệm
vụ “tả chân” của văn học Như vậy, lần đầu tiên trong lịch sử văn học Việt Nam, với cuộc tranh luận này, vấn đề cơ bản của phản ánh trong văn học nghệ thuật cũng được đặt ra Tuy nhiên, do những điều kiện cụ thể của thời cuộc, vấn
Trang 24đề này vẫn chưa được giải quyết một cách thỏa đáng Nhưng cuộc tranh luận đ góp phần làm cơ sở cho việc xác lập mối quan hệ này trong giai đoạn sau Sau cách mạng tháng Tám 1945, văn học phát triển trong điều kiện đất nước có chiến tranh Nhiệm vụ chủ yếu của nó trong giai đoạn này là phản ánh cuộc cách mạng của dân tộc, ca ngợi tinh thần chiến đấu của nhân dân, cổ
vũ cách mạng ối tượng phản ánh của văn nghệ được xác định là hiện thực khách quan Nó trở thành tiêu chí đánh giá các tác phẩm văn học giai đoạn này ồng thời, do sự tác động của lí tuận phản ánh của ê nin, ảng đã có những ý kiến về lí luận phản ánh con người trong quan hệ với cuộc sống mới Con người có vai tr cải tạo x hội, con người được nhìn nhận trong sự vận động, phát triển Những nhân vật điển hình trong văn học được miêu tả dựa trên nguyên tắc ấy
Mĩ học, lí luận văn học giai đoạn này, một mặt, chịu ảnh hưởng của mĩ học macxit, một mặt, do yêu cầu của ngọn cờ độc lập dân tộc nên đ có sự phát triển có tính đặc thù Những đặc thù đó được quy định ngay từ đề cương văn hoá 1943 Và từ đó, ít có sự biến đổi cho đến sau 1986 Tuy nhiên, đó là
về mặt lí thuyết, c n trong thực tế sáng tác, vẫn có số ít tác giả cựa quậy để thoát khỏi ràng buộc của hệ thống quan niệm ấy
Vấn đề phản ánh trong văn học nghệ thuật ngày càng được nhiều người quan tâm, luận giải một cách cởi mở Vẫn trên cơ sở triết học phản ánh luận Mác ênin, nhưng Phương ựu đ giải quyết mối quan hệ này theo cách khác Ông cho rằng, vận dụng phản ánh luận vào văn học nghệ thuật, không phải chỉ là sự minh họa giản đơn cho việc phản ánh, mà là xuất phát từ khâu phản ánh triển khai thành một hệ thống quan hệ biện chứng: phản ánh với nhận thức, phản ánh với biểu hiện, phản ánh với sáng tạo, phản ánh với tác động và thông báo v.v Từ luận điểm trên, chúng ta thấy, điểm đáng chú ý
Trang 25của G.S Phương ựu là đ coi phản ánh không phải là sự sao chép thông thường mà đó là cả quá trình sáng tạo
Vào những năm đổi mới, hiện thực đất nước đ có nhiều thay đổi, cuộc sống của con người cũng ngày càng phức tạp hơn Trước thực tế đó, lí luận phê bình cũng có những quan niệm mới về mối quan hệ giữa văn học và hiện
thực Trong đó, bài viết của ê Ngọc Trà trên báo V n ngh số 1988 nêu
ba vấn đề và đều gây chú ý: văn học và nhiệm vụ phản ánh hiện thực, vai tr của chủ thể sáng tạo trong văn học, các tác giả kinh điển bàn về văn học phản ánh hiện thực Trong đó, ông khẳng định phản ánh hiện thực chỉ là thuộc tính chứ không phải nhiệm vụ của văn học bởi vì, xét từ góc độ lí luận phản ánh,
“toàn bộ nội dung của tác phẩm văn học - kể cả tư tưởng, tình cảm của nhà văn và hiện thực được mô tả trong đó - xét đến cùng cũng chỉ là phản ánh của đời sống x hội Ở đây, phản ánh hiện thực là thuộc tính chứ không phải là nhiệm vụ của văn học”, “c n trên bình diện lí luận nghệ thuật khác với bình diện phản ánh , văn học trước hết không phản ánh hiện thực mà là nghiền ngẫm về hiện thực” Không phủ nhận nguyên lí văn học phản ánh hiện thực, nhưng ê Ngọc Trà muốn hướng mọi người đến nhiệm vụ đích thực của văn học: “ ừng xem đây là nhiệm vụ quan trọng nhất, nhiệm vụ hàng đầu và bao trùm của nó” bởi bản chất của văn học là “hành động tự nhận thức của nhà văn” vì vậy nội dung của tác phẩm văn học cũng “chứa đựng trước hết không phải hiện thực được phản ánh mà là tư tưởng, tình cảm của nhà văn” Trên cơ
sở đó, ông chỉ ra những sai lầm, lệch lạc của lí luận trong suốt thời kì trước là quá nhấn mạnh bản chất phản ánh và nhiệm vụ mô tả hiện thực của nhà văn, coi nhẹ sự tìm t i những tư tưởng, quan niệm của nhà văn về cuộc đời Nhấn mạnh vai tr của chủ thể sáng tạo, ê Ngọc Trà đ phê phán lí luận giai đoạn trước, do quá coi trọng đặc tính phản ánh và mô tả hiện thực của văn học, dẫn đến những lệch lạc trong cách hiểu về bản chất hoạt động sáng tạo nghệ thuật,
Trang 26coi nhẹ những tìm t i, những thể nghiệm, sự thể hiện, gi i bày của cá nhân nghệ sĩ
Những ý kiến của ê Ngọc Trà dẫu chưa luận giải một cách kĩ lưỡng về mặt học thuật, nhưng rõ ràng đ thể hiện quan niệm mới, tiến bộ về lí luận phản ánh
Nhìn chung, phản ánh trong văn nghệ là một trong những vấn đề phức tạp từ trước cho đến nay Từ Tây sang ông, từ cá nhân đến những trường phái cụ thể đều có những ý kiến khác nhau, thể hiện quan điểm của mình trước vấn đề quan trọng của văn học nói riêng, văn nghệ nói chung Sự khác nhau đó là do sự chi phối của lịch sử, đặc trưng nghệ thuật của từng trào lưu, trường phái ở những giai đoạn phát triển nhất định Tuy nhiên, ở thời điểm nào thì các nhà nghiên cứu cũng thừa nhận vấn đề văn học phản ánh hiện thực một cách khách quan
1.3 Vài nét về s vận động của m h nh phản ánh hiện th c trong văn học Việt Nam
Phản ánh hiện thực là một trong những mục đích của văn học Ở mỗi giai đoạn khác nhau, văn học có mô hình phản ánh riêng
1.3.1 Trong văn học dân gian, đặc biệt là truyện cổ tích, tác giả dân gian
cũng đã đi vào phản ánh hiện thực của x hội Truyện cổ tích phản ánh số phận của những con người nhỏ bé, qua đó, thể hiện ước mơ, khát vọng của họ
về một x hội công bằng, tốt đẹp ể phản ánh hiện thực x hội phong kiến, truyện cổ tích thường xây dựng nhân vật theo mô hình chung ó là kiểu nhân vật chức năng Kết cấu theo kiểu nhất định, dựa vào sự phát triển của số phận nhân vật Truyện cổ tích bao giờ cũng kết thúc có hậu Yếu tố thần kì là đặc điểm không thể thiếu trong mô hình phản ánh hiện thực của loại văn học này Văn học viết trung đại, ngoài mục đích tải đạo, tỏ chí cũng có không ít
tác phẩm viết để phản ánh hiện thực, tiêu biểu là các tác phẩm Tru n iều
Trang 27của Nguyễn Du, Chinh h ngâ của oàn Thị iểm, Hoàng L nhất thống chí của Ngô Gia Văn Phái, Thượng inh í s của ê Hữu Trác Những tác
phẩm này đ phản ánh hiện thực bằng các cách khác nhau, tuy nhiên giữa chúng có điểm chung Văn học đ xây dựng những nhân vật điển hình theo quan điểm đạo đức phong kiến Bút pháp ước lệ, tượng trưng là nghệ thuật đặc trưng của văn học trung đại, được các tác giả sử dụng để phản ánh hiện thực bên cạnh bút pháp tả thực
Văn học Việt Nam hiện đại trước 1945 đã phản ánh hiện thực bằng cách
sử dụng mô hình hình bản than hiện thực, kể cả văn học hiện thực và văn học
l ng mạn, nhất là truyện ngắn và tiểu thuyết Các nhà văn hiện thực đ sử dụng các phương pháp điển hình trong việc xây dựng nhân vật và hoàn cảnh Nhân vật điển hình được thể hiện trong các tác phẩm này là những người nông dân, quan lại, địa chủ, tầng lớp thị dân… Hoàn cảnh điển hình được nói đến là làng quê cụ thể hay một khu phố nhất định nào đó Nó tù túng, chật hẹp, kìm h m số phận con người Văn học hiện thực phê phán cũng ưu tiên những chi tiết chân thực Các nhà văn giai đoạn này đ cố gắng khắc họa những nét bản chất nhất của cuộc sống Qua các tác phẩm, họ muốn khẳng định con người là nạn nhân của hoàn cảnh Còn văn học l ng mạn lại đi vào thể hiện cái tôi cá nhân cô đơn của con người trước thời cuộc Văn học thể hiện sự đối lập đến mức tuyệt đối giữa tính cách và hoàn cảnh, lí tưởng và hiện thực Các nhà văn thường dung thủ pháp lí tưởng hoá hoặc phóng đại chân dung nhân vật hay cảnh đời ào đó phù hợp với lí tưởng thẩm mĩ chủ quan của họ Kết thúc truyện thường nhẹ nhàng, dễ d i Các xung đột chủ yếu được giải quyết bằng lí do nội tâm, ảo tưởng đẹp đẽ Văn học l ng mạn phản ánh hiện thực theo kiểu này là do xuất phát từ quan điểm nghệ thuật vị nghệ thuật và chủ nghĩa duy tâm chủ quan ó chính là cơ sở triết học và mĩ học quy định đặc trưng thẩm mĩ của chủ nghĩa l ng mạn
Trang 28Văn học giai đoạn 1945 – 1975 đi tìm lối biểu đạt riêng để phù hợp với đối tượng phản ánh Cuộc chiến đấu và xây dựng đất nước là đối tượng chủ yếu mà các nhà văn thể hiện trong tác phẩm Văn học vẫn sử dụng nguyên tắc điển hình trong sáng tác Con người điển hình trong văn học giai đoạn này có đặc điểm khác với điển hình của văn học hiện thực phê phán Cách mạng x hội chủ nghĩa ở Việt Nam đ i hỏi văn học xây dựng những kiểu mẫu con người mới: con người trong tư thế tiến công và cải tạo x hội Con người mới trong cách mạng x hội chủ nghĩa như một cá nhân tự giác, chủ động Văn học hiện thực phê phán Việt Nam thời kì 193 - 1945 với anh Pha của Nguyễn Công Hoan, chị Dậu của Ngô Tất Tố, Chí Phèo của Nam Cao… cũng mang một số phận Nhưng số phận của họ chưa chứng minh được sự chuyển mình lớn lao, tất yếu của thời cuộc Những nhân vật này đang mang tính thụ động Họ như là nạn nhân của hoàn cảnh Các nhà văn chưa nhìn họ với cái nhìn biện chứng, cách mạng về con người Văn học cách mạng nhìn nhận cuộc sống, con người dưới ánh sáng của một cái nhìn động, đ i hỏi một kiểu mẫu người hoàn toàn khác
Con người trong chiến tranh đ i hỏi phải luôn gắn bó với tập thể Bởi vậy, xây dựng nhân vật tập thể anh hùng là xu hướng chung của văn học lúc này
Việc ca ngợi vẻ đẹp của quần chúng làm nên âm điệu mới cho các tác phẩm
Hoàn cảnh điển hình trong văn học 1945 - 1975 là nơi tuyến lửa, nơi có công trường, nông trường đang ra sức xây dựng chủ nghĩa x hội ó là những nơi tập trung những vấn đề của đời sống cách mạng
Bên cạnh nguyên tắc điển hình, văn học 1945 - 1975 cũng ưu tiên cho những chi tiết chân thực Các chi tiết của đời sống được đưa vào tác phẩm làm cho hiện thực như đang sống động trước mắt, mang dáng vẻ khách quan Nhà văn không hề giấu giếm việc đưa những sự kiện, những con người thật
ấy vào trong tác phẩm của mình Không những thế, họ c n xem đó như yêu
Trang 29cầu cần thiết phải có của văn học vì nó đáp ứng nhu cầu hiện thực nóng bỏng, thuyết phục người nghe bằng hiện thực khách quan Sự chân thực của các chi tiết luôn làm cho văn học luôn mang hơi thở của thời đại
Văn học Việt Nam từ 1945 đến 1975 mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng l ng mạn Nó tập trung phản ánh những sự kiện trọng đại của cả dân tộc, cộng đồng: vấn đề giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng chủ nghĩa x hội với cảm hứng ngợi ca mạnh mẽ để cổ vũ tinh thần của nhân dân, phấn đấu cho sự nghiệp của nước nhà Các nhà văn đưa vào tác phẩm những hình ảnh lớn lao, kì vĩ Ngôn ngữ, giọng điệu luôn mang âm hưởng ngợi ca, tôn kính, tự hào Cảm hứng l ng mạn, nhất là chất trữ tình cách mạng là một trong những thành tố quan trọng của văn học
Những nguyên tắc sáng tác của chủ nghĩa hiện thực được các nhà văn sử dụng một cách linh hoạt để phù hợp với từng giai đoạn phát triển cụ thể của văn học nước nhà Những nguyên tắc thẩm mĩ này đ trở thành tiêu chí đánh giá chất lượng sáng tác, đồng thời, nó là công cụ của thẩm bình văn chương trong một giai đoạn dài Tuy nhiên, một khi hiện thực thay đổi thì hệ hình tư duy nghệ thuật cũng có những biến đổi nhất định cho phù hợp với nhu cầu thẩm mĩ của văn học trong giai đoạn mới Nó chứng tỏ quy luật tồn tại và phát triển của văn học trong những giai đoạn khác nhau
1.3.2 Sau 1975, cuộc kháng chiến của dân tộc đ kết thúc thắng lợi, mở
ra một thời kì mới trong lịch sử dân tộc, đồng thời tạo ra những chặng đường mới cho sự phát triển của văn học Văn học Việt Nam dần thoát khỏi quỹ đạo của chiến tranh Khuynh hướng sử thi và cảm hứng l ng mạn trong văn học giai đoạn này không c n là cảm hứng chủ đạo ối tượng phản ánh của văn học giờ đây không chỉ là cuộc kháng chiến mà còn là hiện thực cuộc sống đời thường sau chiến tranh với những vấn đề phức tạp Chính vì thế, kiểu phản ánh của văn học chiến tranh không c n phù hợp với đối tượng mới Các nghệ
Trang 30sĩ đ khước từ kiểu phản ánh của văn học truyền thống, đi tìm cho mình phương thức khái quát hiện thực riêng Văn học nói chung, văn nghệ nói riêng, đ có những tìm t i, cách tân táo bạo trong cách phản ánh hiện thực, từ
hệ đề tài, các kiểu kết cấu, chủ đề, cốt truyện, nhân vật đến giọng điệu và ngôn ngữ, nghệ thuật trần thuật… Vấn đề đời tư của con người được quan tâm sâu sắc Văn học đề cập đến những khát vọng của con người, về tình yêu, hạnh phúc cá nhân Vấn đề tình yêu nhục thể cũng được đưa vào tác phẩm một cách không ngần ngại Không chỉ sử dụng kiểu kết cấu theo thời gian mà văn học c n có những kiểu kết cấu mới như: kết cấu tâm lí, kết cấu phân mảnh Bên cạnh cốt truyện giàu tính kịch là những cốt truyện tâm trạng Nhiều cốt truyện kết thúc lỏng lẻo, lắp ghép được sử dụng Kết thúc truyện có khi hoàn chỉnh, có hậu nhưng cũng có những kết thúc bỏ ngỏ Nghệ thuật đồng hiện, độc thoại nội tâm, d ng ý thức, lắp ghép, sử dụng huyền thoại, nghệ thuật gián cách, đa giọng điệu là những phương thức được các nhà văn giai đoạn này ưa dùng Ngôn ngữ gần gũi tới mức tối đa với đời sống ộc thoại nội tâm là một trong những phương thức trần thuật chủ yếu của văn học thời kì đổi mới Các nhà văn thường sử dụng giấc mơ thông qua kĩ thuật d ng
ý thức để thể hiện nội tâm của con người
Sự cách tân trong mô hình phản ánh hiện thực đ làm nên bước nhảy vượt bậc, đưa văn học sau 1975 rẽ sang một hướng đi phù hợp với quy luật tồn tại và phát triển của nền văn học trong thời đại mới Những tên tuổi như Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng, Nguyễn Việt Hà, Nguyễn Bình Phương,
Tạ Duy Anh, Hồ Anh Thái, Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài… là những người có công đầu trong sự cách tân ấy, làm cho nền văn học nước nhà đáp ứng được nhu cầu tiếp nhận của độc giả hiện đại
Như vậy, theo d ng thời gian, văn học Việt Nam đ có những chuyển biến trong việc xây dựng mô hình phản ánh hiện thực mới để phù hợp với đối tượng phản ánh, phù hợp với nhu cầu thẩm mĩ của công chúng bạn đọc ở
Trang 31những thời điểm nhất định Sự thay đổi này phản ánh những quy luật phát triển tất yếu của tư duy nghệ thuật trong những thời điểm cụ thể và chứng tỏ khả năng của người nghệ sĩ trong việc nắm bắt quy luật ấy
1.4 Nguyễn Minh Châu - đại diện xuất sắc của chủ nghĩa hiện th c
xã hội chủ nghĩa và Bảo Ninh - tác giả tiêu biểu của văn học thời k đổi mới
Nguyễn Minh Châu sinh ngày 3 – 10 – 193 trong gia đình nông dân tại Quỳnh Hải, Quỳnh ưu, Nghệ An Cả cuộc đời của người nghệ sĩ này là minh chứng cho tấm gương khổ luyện, tự học không mệt mỏi Nguyễn Minh Châu nhập ngũ ở tuổi Bốn mươi năm, từ anh lính trẻ mới nhập ngũ đến một đại
tá già dặn, từ chiến trường nam ra bắc, từ thời kháng chiến chống Pháp đến kháng chiến chống Mĩ, Nguyễn Minh Châu đ từng nếm trải những buồn vui của cuộc đời người lính, đ thực sự trưởng thành trong chiến trận Những trải nghiệm về cuộc sống cùng với thực tế chiến tranh đ đi qua là chất liệu quý cho cuộc đời viết văn của ông
Trong suốt cuộc đời, Nguyễn Minh Châu luôn đặt mối quan tâm đặc biệt đối với số phận con người Chính điều này đ thôi thúc nhà văn đi tìm những điều ẩn dấu trong cuộc sống của họ Những trang viết trước 1975, theo xu thế chung của thời đại, Nguyễn Minh Châu đ tập trung thể hiện vẻ đẹp của con người trong chiến tranh ó là những vẻ đẹp của lí tưởng, hành động và sự hi sinh cao cả, là những hạt ngọc lung linh, không tì vết Người đọc nhận thấy, Nguyễn Minh Châu trân trọng và chiêm ngưỡng vẻ đẹp trong sáng của con người, thể hiện cảm hứng ngợi ca, cảm phục đối với cả tập thể và cá nhân
Cửa s ng và Dấu chân người lính là những tác phẩm xuất sắc của văn học kháng chiến chống Mĩ ảnh tr ng cuối r ng cũng đ một thời làm rung
động bao người lính bởi vẻ đẹp l ng mạn nhưng hào hùng của thế hệ thanh niên đi làm nhiệm vụ cho đất nước Với những tác phẩm ấy, Nguyễn Minh
Trang 32Châu là một trong những nhà văn gắn ng i bút của mình với mô hình phản ánh hiện thực của văn học nước nhà giai đoạn 1945 - 1975 Các nhân vật điển hình trong những tác phẩm được xây dựng trên nguyên tắc lí tưởng hoá Hoàn cảnh điển hình làm nền cho sự xuất hiện của các nhân vật anh hùng Cốt truyện đơn tuyến theo trình tự thời gian chiếm ưu thế Ngôn ngữ và giọng điệu đều mang tính ngợi ca Nhân vật chủ yếu trong những tác phẩm là người lính, những cô thanh niên xung phong Những trang viết của ông trong những năm kháng chiến đ tập trung ngợi ca chủ nghĩa anh hùng cách mạng, thực sự trở thành động lực cho nhiều thế hệ chiến đấu
Tuy nhiên, là một nhà văn luôn trăn trở về vai tr của nghệ thuật, giá trị đích thực của những tác phẩm văn chương, Nguyễn Minh Châu nhận thấy, rốt cuộc, những hình thức phản ánh bấy lâu nay chỉ là những đơn vị nghệ thuật đầy ước lệ, hoàn toàn gián cách với cuộc sống hiện thực ó chẳng qua là thứ văn nghệ minh họa Ông nhận ra thực chất của thứ văn chương ca tụng một chiều với những khuôn khổ có sẵn Thực tế cuộc sống con người không đơn giản, một chiều mà bao giờ cũng vậy, nó có tính hai mặt, vừa tốt vừa xấu, vừa
có ánh sáng và có bóng tối Nếu viết như những tác phẩm trong thời gian qua, ông thấy, đó “chưa phải là sự quan tâm thường trực của người viết, chưa tâm huyết, càng chưa phải là cái điều chiêm nghiệm có tính triết học của cả một đời người viết văn” [34, 25] Trong thời kì này, Nguyễn Minh Châu đi vào phản ánh vẻ đẹp đời thường của con người trong mối quan hệ với gia đình, bạn bè iều này làm nên sự khác biệt trong văn chương của ông so với những sáng tác cùng thời Trong quá trình sáng tạo, ông vẫn mong muốn có được sự đổi thay nhất định trong tác phẩm của mình Tuy nhiên, sự thay đổi này khó có thể thực hiện trong thực tế đời sống văn nghệ đương thời
Nguyễn Minh Châu luôn mong muốn được khám phá những giá trị đích thực của cuộc sống, những vẻ đẹp phong phú trong đời sống con người bằng
Trang 33lối viết đẹp, đầy chất thơ Tuy vậy, đó không phải là lối viết dễ d i, thi vị hoá hiện thực Chủ trương cởi trói cho văn nghệ trong những năm đất nước đổi mới đ tạo điều kiện cho cây bút này có cơ hội phát huy hết tài năng và tâm huyết của mình Nguyễn Minh Châu đ tìm t i, khám phá những cái mới bằng những phương thức khái quát hiện thực riêng Cốt truyện không đơn giản, một chiều mà thay vào đó là những dựa trên nguyên tắc luận đề, cốt truyện sinh hoạt thế sự, cốt truyện đời tư Khi là tình huống thắt nút, có lúc tác giả lại dùng tình huống tương phản, tình huống luận đề Tác phẩm của ông trong thời gian này gần gũi với đời sống hơn Ngôn ngữ, giọng điệu cũng gần với ngôn ngữ hằng ngày Nhịp điệu trần thuật chậm lại và có sự đan xen các yếu tố phân tích, triết lí, những xung đột nội tâm Nhiều tác phẩm đa giọng điệu bởi tính chất bình đẳng, không có khoảng cách giữa người trần thuật và đối tượng trần thuật Nhân vật tư tưởng, nhân vật tính cách là những kiểu nhân vật phổ biến Nhân vật được khám phá ở chiều sâu tư tưởng Vùng tâm linh, vô thức của con người được đi sâu và thể hiện bằng những thủ pháp như phân thân,
giấc mơ, ảo giác Nhân vật người hoạ sĩ trong Bức tranh, Quỳ trong Người
àn bà trên chuyến t u tốc h nh, lão Khúng trong hi n chợ Gi t là những
nhân vật tiêu biểu, được khắc họa theo phương pháp nói trên Những phương thức này đ góp phần thể hiện cuộc sống con người trong mối quan hệ phong phú, đa dạng Những trang văn của Nguyễn Minh Châu đẹp bởi giá trị đích thực của nó Có thể nói, ông là một trong những người tiên phong trong phong trào đổi mới của văn học Việt Nam sau 1975 Những tác phẩm như
Người n b tr n chu ến t u tốc h nh, Cỏ lau, ến h ch qu ra, hi n chợ Giát, cho ta thấy rõ điều đó
Nhà văn Bảo Ninh tên thật là Hoàng Ấu Phương, sinh tại huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An, quê ở x Bảo Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình Ông vào bộ đội năm 1969, từng chiến đấu tại chiến trường Tây Nguyên cho đến năm 1975 Cũng như Nguyễn Minh Châu, Bảo Ninh là một trong
Trang 34những nhà văn – người lính đ từng dấn thân trong lửa đạn Những năm tháng chiến tranh đ để lại cho ông những kí ức khó phai mờ về cuộc chiến của dân tộc, những kỉ niệm đẹp của người lính trong trận mạc cũng như những kỉ niệm đau buồn mà đời người lính phải trải qua
Ông được mọi người biết đến sau truyện ngắn rại bả ch l n, in năm
1987 Tác phẩm của ông chủ yếu là truyện ngắn như: H N i l c h ng giờ,
h c dấu ạn thu ền, V c ng ưa cũ, iếng v c c a quân â l ng…
Nhưng nhắc đến Bảo Ninh bạn đọc trong nước cũng như ở nước ngoài phải
nhớ đến cuốn tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh
Cũng như những nhà văn khác cùng thời điểm, Bảo Ninh nhận thấy phải
có sự đổi mới với văn học “Mỗi thầy một khác, nhưng tựu trung đều kêu gọi
và thôi thúc chúng tôi hãy khác đi, hãy mau mau đổi mới, h y mạnh dạn cách tân, h y từ bỏ lối m n trong suy nghĩ” [64, 4] Sự đổi mới của Bảo Ninh bộc
lộ rõ trong cách cảm nhận và thể hiện chiến tranh Vẫn viết về đề tài này,
nhưng cái mới của ông trong Nỗi buồn chiến tranh thể hiện ở chỗ đ nhìn
nhận cuộc chiến tranh dưới nhiều góc độ Chiến tranh không chỉ có những vinh quang mà đằng sau đó là những mất mát, đau thương, ám ảnh cuộc sống con người sau ngày trở về Về cách thể hiện, Bảo Ninh biết đến như một phong cách khác lạ, một cách rất riêng của ông trong việc tiếp cận chủ nghĩa anh hùng cá nhân Bảo Ninh đ có những cách tân mới mẻ trong việc khai thác hiện thực từ việc tạo ra những tình huống giả định về một tự sự hai lần
hư cấu, đến nguyên tắc kết cấu của tác phẩm, việc xử lí các chất liệu hiện thực
trong Nỗi buồn chiến tranh Những thủ pháp nghệ thuật như d ng ý thức,
ghép mảnh được nhà văn sử dụng có hiệu quả Kết cấu lồng ghép được phát huy một cách tối đa Nhà văn Nguyên Ngọc coi tác phẩm này là “thành tựu
cao nhất của văn học thời kì đổi mới” Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh đ
thực sự gây ra cú sốc cho văn học nước nhà, mở ra hướng đi mới, báo hiệu một lối viết mới đầy những tìm t i, mới lạ
Trang 35Như vậy, từ Dấu chân người lính của Nguyễn Minh Châu đến Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh là cả quá trình dài trong sự phát triển của văn học
dân tộc Nó chứng tỏ bước thay đổi của người nghệ sĩ trong cách nhìn nhận về hiện thực đời sống để thể hiện nó trong văn học, sự thay đổi của tư duy tiểu thuyết và đó cũng là sự biến đổi của phương thức phản ánh hiện thực trong giai đoạn mới
Chương 2
MÔ HÌNH PHẢN ÁNH HIỆN THỰC TRONG
DẤU CHÂN NGƯỜI LÍNH CỦA NGUYỄN MINH CHÂU
Văn học Việt Nam 1945 - 1975 nói chung, văn học kháng chiến chống
Mĩ nói riêng của chúng ta do ra đời, tồn tại và phát triển trong điều kiện đặc biệt của hai cuộc chiến tranh nên nó chịu sự chi phối của lịch sử, giá trị thẩm
mĩ của thời đại này Trong đó, mỗi nhà văn sẽ có những lựa chọn và sáng tạo riêng trong cách phản ánh hiện thực cuộc sống để tác phẩm của mình có sức
sống, thu hút bạn đọc Dấu chân người lính là một tác phẩm tiêu biểu cho văn
học nước nhà trong những năm kháng chiến chống Mĩ cứu nước, đánh dấu sự trưởng thành của nhà văn Nguyễn Minh Châu
2.1 Phản ánh theo nguyên tắc điển hình hóa
Từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa điển hình là “hình tượng nghệ thuật đặc sắc, độc đáo được miêu tả sinh động, hấp dẫn, khái quát được những nét bản chất nhất, quan trọng nhất của con người và đời sống” [21, 98 - 99] iển hình là sự kết hợp độc đáo giữa khái quát hóa và cá biệt hóa, giữa cái chung và cái riêng Nhờ phương pháp điển hình, các nhà văn đ phản ánh hiện thực một cách có chiều rộng và chiều sâu trong dạng khái quát và bản chất nhất của đối tượng
Trang 362.1.1 Xây dựng tính cách điển hình
Tính cách điển hình là sự tổng hợp của tính cách chung của hàng triệu con người trong một con người cụ thể tiêu biểu cho một lớp người nào đó trong x hội: “cái chung trong một con người tạo nên cái chung của toàn bộ nhân loại tức là những gì có trong hàng triệu con người có thể có trong nhân cách của mỗi người, điều đó lặp lại, tái tạo ở mức độ này hay khác dưới hình thức x hội này hay khác trong đời sống con người” [14, 7] Cái chung của toàn nhân loại được thể hiện trong tâm lí, tình cảm con người, trong cả lĩnh vực đạo đức, trí tuệ, trong mọi hoạt động thực tiễn cũng như trong những chi tiết nhỏ hằng ngày Nó là sự đúc kết tạo nên những cái chung nhất cho lớp người, mẫu người cụ thể nào đó trên cơ sở những cái cá biệt của từng cá nhân Chính vì thế, “trong nhiều trường hợp điển hình văn học là sự khái quát những nét của nhiều người tạo nên hình tượng của một người” [14, 221] Văn học hiện thực phê phán đ xây dựng được những nhân vật điển hình theo quan niệm nghệ thuật con người của văn học giai đoạn này như Chí Phèo, Thị Nở, uân Tóc ỏ ó là những người tha hoá, nạn nhân của x hội thực dân nửa phong kiến đương thời ây dựng những điển hình nghệ thuật này, các tác giả nhằm lên án x hội “chó đểu” đ huỷ hoại nhân hình và nhân tính con người Nhân vật như chị Dậu, anh Dậu, cái Tí điển hình cho những phẩm chất tốt đẹp không bị thay đổi trước sức ép của những thế lực hung bạo Văn học hiện thực phê phán cũng xây dựng được những nhân vật đại diện cho tầng lớp thống trị như Bá Kiến, Nghị Hách, Nghị Quế Nhìn chung, những điển hình này đã đáp ứng yêu cầu điển hình hoá của văn học đương thời, qua đó các tác giả thể hiện quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học trước 1945
Văn học giai đoạn 1945 - 1975 đặc biệt chú ý đến con người lí tưởng, con người với những phẩm chất cách mạng Họ là những người đại diện cho
Trang 37cộng đồng thực hiện nhiệm vụ với đất nước Nếu điển hình trong văn học trước 1945 gắn với ý nghĩa phê phán x hội thì những nhân vật tiêu biểu của văn học giai đoạn này chủ yếu để ngợi ca lí tưởng cách mạng
ây dựng nhân vật anh hùng là một trong những thành công của Nguyễn Minh Châu trong Dấu chân người lính Mong muốn và cố gắng xây dựng
kiểu nhân vật này là một trong những vấn đề các nhà văn thời kì này luôn trăn trở Nhưng thực tế thực hiện được điều đó không phải dễ “phần lớn các tiểu thuyết này, chủ nghĩa anh hùng cách mạng vẫn c n thể hiện tản mạn, thiếu
những đỉnh cao”[ 5, 66] “Với Dấu chân người lính, Nguyễn Minh Châu đ
góp phần quan trọng vào việc đẩy những hình tượng người anh hùng cách mạng trong văn học lên gần với những điển hình mà công chúng đang chờ đợi” [25, 66] Bằng những trải nghiệm của một nhà văn, một người lính từng lăn lộn khắp nhiều chiến trường, Nguyễn Minh Châu đ xây dựng hình tượng những người anh hùng, tiêu biểu cho con người Việt Nam trong kháng chiến chống Mĩ, từ cụ già đến thanh niên, từ nam đến nữ… ó là vẻ đẹp của Kinh
và ượng, ữ và Khuê, Cận và Vượng, Nết và Phát, Moan và Hiền, bác ảo,
cụ Phang Mỗi người một vẻ, họ đến với chiến trường từ những vùng quê khác nhau, hoàn cảnh không giống nhau nhưng đều cùng chung một ý tưởng, một quyết tâm, một mục đích, đó là đánh Mĩ, thống nhất nước nhà Nổi bật trong những anh hùng đó, chúng ta phải kể đến Kinh, chính ủy trung đoàn Kinh tiêu biểu cho đội ngũ cán bộ đ từng trải từ trong kháng chiến chống Pháp: “Kinh đ có mặt trong suốt chiến dịch iện Biên Phủ” [11, 132] Tinh thần cách mạng của người chính ủy ấy lại một lần nữa được phát huy cao độ trong cuộc đụng độ với giặc Mĩ tại chiến trường này
Ở ông, tập trung đầy đủ những phẩm chất của người anh hùng cần có Chính uỷ Kinh thực sự là một điển hình theo quan niệm nghệ thuật của văn
Trang 38học giai đoạn 1945 – 1975 Kinh xuất hiện với tư cách con người quần chúng, con người cộng đồng, con người mang tính chất sử thi
Chính uỷ Kinh gắn bó với quần chúng suốt cuộc kháng chiến Ông đã cùng ăn, cùng ngủ, cùng chiến đấu với các chiến sĩ từ trong kháng chiến chống Pháp, và ngay cả ở cuộc chiến này cũng vậy à một chính uỷ nhưng ông luôn lo lắng cho anh em như tình thương của người mẹ, từ miếng cơm đến giấc ngủ ặc biệt, là người của thế hệ trước nhưng ông luôn chân thành
và khiêm tốn với lớp trẻ Trong suy nghĩ và hành động, ông luôn cố xoá nhoà khoảng cách giữa hai thế hệ để có thể gần gũi với quần chúng hơn
Viết về đời tư của con người này, tác giả cũng không ngoài mục đích khẳng định con người quần chúng, con người sống vì lí tưởng cách mạng trong Kinh Kinh gác mọi chuyện gia đình, riêng tư, dành hết thời gian cho cách mạng: “Kinh bận họp đến nỗi có lá thư của vợ cũng để quên trong túi áo,
m i mấy ngày sau mới mở ra đọc” [11, 368] Gặp con giữa chiến trường nhưng do bận nhiều việc, những cuộc gặp gỡ, hội ý, hội báo, các cuộc họp nên “Kinh hầu như chỉ có thì giờ gặp con trong chốc lát như tiếp một cán bộ cấp dưới nào đó, hỏi han dăm ba câu” [11, 68] Và “ ữ đến chào Kinh giữa lúc ông đang bận hội ý công việc” [11, 85] ặc biệt, khi biết tin con hi sinh, người chính uỷ ấy cố giấu nỗi đau, tổ chức cuộc họp thản nhiên khiến mọi người đều cảm động và kính phục Khi nói về chuyện riêng tư của nhân vật, bao giờ tác giả cũng đặt bên cạnh một sự kiện liên quan đến cuộc chiến, đến công việc chung như việc tổ chức cuộc họp, cuộc hội ý, cuộc họp báo Tác giả
để cho nhân vật lựa chọn, giải quyết công việc chung, tạm gác việc riêng lại Với cách thể hiện này, Nguyễn Minh Châu đ nhìn chính uỷ Kinh như con người lí tưởng, luôn đặt lợi ích của cộng đồng, của đất nước lên trên hết
Trang 39Qua việc miêu tả của nhà văn, nhân vật Kinh c n nổi lên là một điển hình của con người mang tầm vóc sử thi Chính uỷ này vừa khoẻ mạnh, nhanh nhẹn, dứt khoát, đồng thời dũng cảm trong các trận đánh: “ông ta đánh nhau xông xáo lắm đấy” [11, 135], “Kinh trở nên hoạt bát chưa từng thấy … Kinh liền phổ biến kế hoạch tránh oanh tạc trong khi cấp cứu và lấy thương binh” [11, 160] Ông luôn nắm bắt nhanh các vấn đề, hoàn tất công việc chuẩn bị chỉ trong nửa ngày mà “tất cả các khối việc ấy, đáng lí một trận đánh “điểm” trong hoàn cảnh bình thường phải làm mất vài ngày” [11, 155]
Anh hùng nhưng vị chính ủy già này cũng hết sức l ng mạn ó cũng chính là nét đẹp chung của những người lính cụ Hồ “Ông ngâm những bài thơ tự mình sáng tác để ca ngợi tinh thần bộ đội và những người chiến sĩ giao liên âm thầm phục vụ bộ đội trong rừng sâu” [11, 43]
Dưới ng i bút của Nguyễn Minh Châu, vẻ đẹp của chính ủy Kinh không chỉ có thế Nét đặc biệt của nhân vật này là ở chỗ, ông luôn tỏ rõ sự cầu tiến, luôn lắng nghe, tiếp thu ý kiến của quần chúng, sẵn sàng nghe ý kiến của quần chúng về mình mà không trù, không giận: “từ lần đó Kinh nảy ra cái ao ước được nghe tất cả mọi người trong trung đoàn nói về những ưu điểm và khuyết điểm của ông, được đặt mình dưới con mắt nhận xét của mọi chiến sĩ, được thử thách trước họ Ông tin nếu được như vậy, ông sẽ trở nên một chính ủy vô cùng sáng suốt và làm việc tốt hơn” [11, 38] Nét đẹp này của người chính ủy không phải ai cũng có được, đặc biệt đối với l nh đạo “Nó đ i hỏi một sự cố gắng lớn lao, một sự tu dưỡng kiên trì có khi c n khó khăn hơn cả việc hi sinh tính mạng” [ 5, 69] Nhân vật Kinh là điển hình cho những người lính của thế
hệ trước, chính vì vậy Nguyễn Minh Châu đ tập trung thể hiện vẻ đẹp của con người từng trải, dày dặn kinh nghiệm, suốt đời gắn bó với vận mệnh đất nước Chính ủy Kinh là một người anh hùng tiêu biểu của cuộc kháng chiến chống Mĩ Nguyễn Minh Châu đ tập trung xây dựng thành công hình ảnh
Trang 40người cán bộ chính trị đứng đắn và chân thực thành một “mẫu mực về người cán bộ chính trị trong quân đội” [11, 87]
Nếu Kinh là đại diện cho thế hệ cha anh đi đánh giặc thì ữ là hình ảnh trung tâm của thế hệ trẻ nối tiếp truyền thống đó ữ là cố gắng đầu tiên của tác giả để vươn tới một hình tượng, trong đó “chứa đựng cả niềm vui và nỗi buồn, cả hoài b o và lí tưởng của cả một thế hệ tuổi trẻ” [ 5, 85] ữ là anh hùng điển hình cho lớp trí thức trẻ tham gia chiến đấu Nguyễn Minh Châu dành những trang văn dạt dào cảm xúc về vẻ đẹp vừa l ng mạn vừa hào hùng của nhân vật này Ở ữ có cái đẹp của tình cha con ngoài mặt trận, tình đồng đội trong chiến đấu, và một tình yêu thầm kín, thiết tha của tuổi trẻ Tất cả đều được chiếu sáng bởi lí tưởng anh hùng
ữ là hình ảnh của lớp học sinh mới rời ghế nhà trường đi chiến đấu bởi vậy anh mang trong mình tâm hồn, tính cách, lối suy nghĩ của cậu học sinh chưa từng trải Cách ăn nói của ữ có khi hoa văn một cách sách vở Anh thao thao về khói lửa, đọc những câu thơ hay về khói như: “Nửa năm hương lửa đang nồng”, “Khói Cam Tuyền mờ mịt thức mây” ữ rất ấn tượng về những làn khói của bếp lửa giữa rừng Trường Sơn và có những ý nghĩ xa vời, lãng mạn: “những cái bếp lửa trong rừng này, về sau chúng mình không dễ
mà quên được đâu Vì đó là mái bếp và ngọn lửa của hàng vạn ngôi nhà đem tới đây Sau này trong các trung đoàn và sư đoàn của chúng ta đ từng đặt gót chân qua đây, thể nào cũng có một vài người viết văn chống Mĩ, làm sao người ta lại không thể không nhắc tới những bếp lửa và đám khói chúng ta đốt lên trong các khu rừng của d y Trường Sơn hôm nay?” [11, 72 - 73] Hành động của nhân vật này mang tính bồng bột của tuổi trẻ ữ cùng với lũ bạn “rất hăng”, bỏ nhà đi nhưng không biết mình sẽ đi đâu, chỉ biết đất nước đang cần tới họ Hành động của ữ l ng mạn kiểu “xếp bút nghiên” nhưng rất đáng trân trọng “Nó không phải là ngọn lửa rơm trong chốc lát mà