1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghệ thuật so sánh trong ký sông đà và miền cỏ thơm

127 119 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 127
Dung lượng 545,43 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Về ph-ơng diện hình thức nghệ thuật, ngôn ngữ nghệ thuật, đặc biệt là nghệ thuật sử dụng các biện pháp tu từ trong tác phẩm của Nguyễn Tuân và Hoàng Phủ Ngọc T-ờng là điểm thu hút nhiều

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo tr-ờng đại học vinh

Trang 2

Ch-ơng 1- Giới thuyết một số vấn đề liên quan đến đề tài 25

Trang 3

3.1.1 Từ chỉ quan hệ so sánh rất phong phú 65 3.1.2 Kết cấu so sánh làm thành phần phụ của câu 66 3.1.3 Nghệ thuật so sánh kết hợp với nghệ thuật nhân hóa 68

ở vế ĐSS/BSS (vế A)

3.1.4 Nghệ thuật so sánh kết hợp với nghệ thuật ẩn dụ 69 3.1.5 Hình ảnh ĐSS/BSS và hình ảnh làm CSS đều mang tính cụ thể 72 3.1.6 Dùng lối so sánh gây ấn t-ợng mạnh 74 3.1.7 Lấy đặc điểm ngoại hình của con ng-ời làm CSS 75

và những nét sinh hoạt văn hóa của vùng miền núi Tây Bắc

3.2 Những điểm khác biệt về nghệ thuật so sánh trong Miền cỏ thơm 80 3.2.1 Từ chỉ quan hệ so sánh mang tính tình thái 80 3.2.2 Nghệ thuật so sánh kết hợp với nghệ thuật nhân hóa 82

Trang 4

mà còn giúp chúng ta thấy đ-ợc những đặc tr-ng thể loại

1.2 Nguyễn Tuân và Hoàng Phủ Ngọc T-ờng là hai nhà văn xuất sắc của

ký Việt Nam hiện đại Tác phẩm của hai ông đ-ợc đánh giá rất cao trên cả hai ph-ơng diện nội dung t- t-ởng và hình thức nghệ thuật Về ph-ơng diện hình thức nghệ thuật, ngôn ngữ nghệ thuật, đặc biệt là nghệ thuật sử dụng các biện pháp tu từ trong tác phẩm của Nguyễn Tuân và Hoàng Phủ Ngọc T-ờng là điểm thu hút nhiều ng-ời quan tâm, tìm hiểu Tuy nhiên đến nay ch-a có công trình riêng biệt nào khảo sát, tìm hiểu những biện pháp nghệ thuật cụ thể trong từng tác phẩm của hai nhà văn một cách toàn diện và mang tính hệ thống

1.3 Nghệ thuật so sánh trong ký Sông Đà và Miền cỏ thơm có những điểm

t-ơng đồng và những nét khác biệt rất độc đáo nh-ng đến nay ch-a có công trình nào thực hiện đối sánh câu văn so sánh trong tác phẩm của Nguyễn Tuân và Hoàng Phủ Ngọc T-ờng So sánh nghệ thuật sử dụng biện pháp tu từ so sánh của hai tác giả, có thể góp phần tìm hiểu đặc tr-ng của ngôn ngữ thể ký nói chung,

ký Sông Đà và Miền cỏ thơm nói riêng Từ đó thấy đ-ợc nét độc đáo trong ngôn

ngữ nghệ thuật của từng tác giả, đồng thời thấy đ-ợc những đóng góp của hai nhà văn trên tiến trình văn học Việt Nam hiện đại

1.4 Tác Phẩm của Nguyễn Tuân và Hoàng Phủ Ngọc T-ờng đều đ-ợc lựa chọn giảng dạy ở tr-ờng phổ thông Nghiên cứu tác phẩm của Nguyễn Tuân và

Trang 5

Hoàng Phủ Ngọc T-ờng không những nâng cao tầm hiểu biết về tác phẩm của hai tác gia có vị trí quan trọng trong nhà tr-ờng mà còn có những nhận xét ích lợi, thiết thực trong đánh giá khả năng cảm thụ văn học của học sinh ở các cấp học Vì thế, việc tìm hiểu các biểu hiện cụ thể về ngôn ngữ nghệ thuật của Nguyễn Tuân và Hoàng Phủ Ngọc T-ờng trở nên thật cần thiết cả về lí luận lẫn thực tiễn

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Lịch sử nghiên cứu Nguyễn Tuân và tác phẩm Sông Đà

2.1.1 Những nghiên cứu chung về tác giả và tác phẩm

Nguyễn Tuân là một trong những tác gia lớn của văn học Việt Nam hiện

đại Ông có một khối l-ợng tác phẩm rất đồ sộ Các tác phẩm của Nguyễn Tuân ngay từ khi mới ra đời đã thu hút đ-ợc sự quan tâm của đông đảo bạn đọc Đã có khá nhiều bài viết và công trình nghiên cứu về Nguyễn Tuân và tác phẩm của

ông

-Tr-ớc hết là những nghiên cứu về phong cách tác giả:

Đọc tác phẩm Nguyễn Tuân, nhiều nhà nghiên cứu khẳng định ông thuộc vào số ít những nhà văn có phong cách nghệ thuật độc đáo Đó là nhận xét của những nhà nghiên cứu nh-: Tr-ơng Chính (1957), Phong Lê (1977), Phan Cự Đệ (1983), V-ơng Trí Nhàn (1988), Nguyễn Đăng Mạnh (1992)

Trong bài viết Nguyễn Tuân, Tr-ơng Chính đã đi vào những đánh giá

khách quan về phong cách Nguyễn Tuân Tác giả thẳng thắn chỉ ra hạn chế trong văn phong Nguyễn Tuân là "dài dòng lê thê, chẻ sợi tóc làm t-" [7, tr.83] và phê phán cả lối xê dịch có lúc trụy lạc của ông: "Tác phẩm của Nguyễn Tuân là bằng chứng còn lại của sự trụy lạc hoành hành d-ới thời phong kiến đế quốc đ-ợc bọn thống trị dung túng và khuyến khích" [7, tr.85] Nh-ng tác giả cũng thừa nhận Nguyễn Tuân có một phong cách nghệ thuật: "độc đáo về hành văn cũng nh- về mặt t- t-ởng" [7, tr.83]

Trang 6

Các tác giả: Phong Lê (1977), Phan Cự Đệ (1983), Nguyễn Đăng Mạnh (1992) đi vào phân tích những biểu hiện cụ thể trong phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân:

Phong Lê trong bài viết Nguyễn Tuân trong tuỳ bút phát hiện Nguyễn

Tuân là nhà văn ham thích đ-ợc săn tìm những cảnh lạ Và trong tác phẩm của

ông "nhân vật chỉ là điểm tựa cho nhà văn lồng vào đó mà phô bày lạc thú vật chất vốn đã đ-ợc nâng lên nh- một biểu t-ợng của thẩm mĩ, của cái đẹp" [32, tr.149]

Nguyễn Đăng Mạnh lại nhấn mạnh cái nhìn sự vật ở góc độ thẩm mỹ của Nguyễn Tuân: "Nguyễn Tuân mỗi khi cầm bút lại tự đặt cho mình yêu cầu này: phải chứng tỏ cho cái tài hoa uyên bác hơn đời của mình Ông có thói quen nhìn

sự vật ở mặt mỹ thuật của nó, cố làm cho ra ở đấy những gì nên hoạ nên thơ

Đồng thời mỗi điểm quan sát của ông là một đối t-ợng khảo cứu đến kì cùng" [43, tr.66]

Phan Cự Đệ ở bài viết Nguyễn Tuân - một phong cách nghệ thuật độc đáo

không chỉ thấy đ-ợc nét độc đáo mà còn thấy đ-ợc tính thống nhất trong phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân tr-ớc và sau Cách mạng: "Vẫn là một Nguyễn Tuân ngày tr-ớc, nhạy cảm với cái đẹp và nhìn sự vật nghiêng về góc độ thẩm mĩ" [13, tr.93] Nh-ng cũng nh- Nguyễn Đăng Mạnh, tác giả phát hiện thấy ở Nguyễn Tuân một ngòi bút khảo cứu xuất sắc vì bản thân Nguyễn Tuân vốn là

"một con ng-ời tỉ mỉ và kĩ tính" [13, tr.105]

Phóng túng, tài hoa và uyên bác là những đặc điểm nổi bật trong phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân Những đặc điểm ấy chính là tiền đề quan trọng để Nguyễn Tuân thành công với thể ký, đặc biệt là tuỳ bút Chính vì vậy

mà nhiều nhà nghiên cứu cho rằng sở tr-ờng của Nguyễn Tuân là ở thể loại tuỳ

bút Trong bài viết Nguyễn Tuân và thể tuỳ bút, V-ơng Trí Nhàn cho rằng:

"Tr-ớc sau Nguyễn Tuân sống chết với thể tuỳ bút Một ng-ời đọc bình th-ờng cũng dễ dàng nhận thấy rằng những tuỳ bút của ông có một "khí hậu riêng", ở đó

Trang 7

có một giọng điệu bao trùm Trong sự hình thành và cái cách tồn tại riêng của

nó, tuỳ bút in dấu con ng-ời Nguyễn Tuân" [59, tr.28] Đây cũng là nhận xét của Nguyễn Đăng Mạnh: "Cá tính và phong cách Nguyễn Tuân tự tìm đến thể loại tuỳ bút nh- một tất yếu" [42, tr.23]

Ký của Nguyễn Tuân có sức hấp dẫn ng-ời đọc rất mãnh liệt Nhiều bài viết đã cắt nghĩa nguyên nhân tạo nên sức hấp dẫn trong các tác phẩm ký ông

Hà Văn Đức cắt nghĩa: "Đặc sắc trong tuỳ bút của Nguyễn Tuân còn ở cái tài kể chuyện rất vui, rất hóm và có duyên " hay "Văn tuỳ bút của Nguyễn Tuân biến

đổi rất linh hoạt Mạch văn tuôn chảy theo dòng cảm xúc hết sức thoải mái, chuyện này chồng chéo lên chuyện kia không theo một trình tự nào, và cũng không bị ràng buộc hạn chế bởi không gian, thời gian" [16, tr.187] Còn tác giả

Vũ Đức Phúc lại cho rằng sức hấp dẫn ký của Nguyễn Tuân là "đ-ợc viết trên cơ

sở t- liệu rất chính xác và tỉ mỉ" [63, tr.35] Nh-ng tác giả cũng thừa nhận ký Nguyễn Tuân mặc dù hấp dẫn song khó đọc Theo tác giả: "đọc nhiều ký Nguyễn Tuân, đọc liên tiếp thì có phần hơi nhọc nhằn, có lẽ ít ng-ời có thể say s-a đọc một mạch ( ) Nh-ng mỗi lúc đọc kĩ một trang mới thấy hết đặc sắc của Nguyễn Tuân" [63, tr.35]

Nhà văn Vũ Ngọc Phan trong bài viết Nhà văn Nguyễn Tuân cũng nhận

xét lối văn của Nguyễn Tuân là lối văn rất thú vị nh-ng kén ng-ời đọc: "Chỉ ng-ời -a suy xét mới thấy đ-ợc thú vị, vì văn Nguyễn Tuân là thứ văn không phải để ng-ời nông nổi th-ởng thức Một ngày không xa khi mà văn ch-ơng Việt Nam đ-ợc ng-ời Việt Nam chuộng hơn bay giờ, tôi dám chắc văn phẩm của Nguyễn Tuân sẽ còn có một địa vị xứng đáng hơn nữa" [60, tr.44]

Từ thực tế lao động nghệ thuật của Nguyễn Tuân, nhiều ng-ời ngợi ca ông

là một nhà văn hết mình về nghệ thuật: "Dù thích hay không thích phong cách riêng của Nguyễn Tuân thì những ng-ời nghiên cứu văn ch-ơng ông vẫn th-ờng nhấn mạnh đây là một ngòi bút hết lòng với nghề và trải qua nhiều khổ hạnh trong việc rèn nghề" [54, tr.44]

Trang 8

Nguyễn Đăng Mạnh trong Đọc lại Chùa Đàn cũng thấy nh- vậy Tác giả

viết: "Điều ng-ời ta kính trọng Nguyễn Tuân chính là vì ông thuộc hạng nhà văn ném cả cuộc đời mình cho văn ch-ơng đích thực, cho nghệ thuật chân chính" [44, tr.269]

Nhận xét về văn phong Nguyễn Tuân, Tr-ơng Chính trong Nguyễn Tuân

và vang bóng một thời có cái nhìn đối sánh văn Nguyễn Tuân với các tác giả khác để rồi khẳng định: "Văn Nguyễn Tuân trái lại thuần thục, điều hoà, mạch

lạc, chải chuốt, nhà văn có ý thức về giá trị văn ch-ơng của mình Nguyễn Tuân sửa bản thảo thật kĩ, nhiều trang sửa đi sửa lại ba bốn lần nh-ng dù thêm bớt nh- thế nào đi nữa, nhà văn vẫn giữ y nguyên đặc chất trầm tĩnh của nó" [9, tr.239]

-Nghiên cứu về nội dung t- t-ởng trong tác phẩm Nguyễn Tuân

Ngoài những nghiên cứu về phong cách tác giả, nhiều bài viết đi vào tìm hiểu nội dung t- t-ởng, đặc biệt là quá trình chuyển biến t- t-ởng trong các sáng tác của Nguyễn Tuân

Nh- nhiều nhà văn lãng mạn cùng thời, sau Cách mạng, Nguyễn Tuân cũng có một cuộc "lột xác" về t- t-ởng Hoài Anh nhận xét "Từ sau Cách mạng tháng tám, Nguyễn Tuân đã xác định đ-ợc h-ớng đời và h-ớng đi Vẫn là ng-ời say mê khao khát cái đẹp nh-ng đã biết tìm kiếm và khai thác cái đẹp trong cuộc sống mãnh liệt của dân tộc" [1, tr.218] Phong Lê cũng cùng ý kiến nh- thế: "Sau cách mạng, căn bản đã hết rồi cái say s-a tự nhấm nháp mình, Nguyễn Tuân còn phấn đấu đi xa hơn thế, trong sáng tác của anh đã dần dần xuất hiện những con ng-ời kháng chiến mà anh yêu mến, khâm phục" [32, tr.55]

-Nghiên cứu ngôn ngữ nghệ thuật trong tác phẩm của Nguyễn Tuân:

Bên cạnh những bài nghiên cứu đi sâu vào phong cách nghệ thuật, nội dung t- t-ởng, một số tác giả đã đ-a ra những đánh giá rất cao về ngôn ngữ nghệ thuật trong tác phẩm Nguyễn Tuân, khẳng định tài năng Nguyễn Tuân trong dùng chữ, đặt câu:

Trang 9

Nguyễn Đình Thi đã có những nhận xét khái quát về tài năng của Nguyễn Tuân ở ph-ơng diện ngôn ngữ: "Nguyễn Tuân là một bậc thầy của tiếng Việt Nam Và ông làm công việc tạo ra những cái ch-a có, sự sáng tạo ấy do tự học, tự tìm trong tr-ờng đời, trong ngay nội tâm và trong văn hoá của dân tộc ta và các dân tộc khác" [68, tr.20]

Vũ Đức Phúc trong Nghệ thuật Nguyễn Tuân thì khẳng định: "Văn

Nguyễn Tuân viết rất kĩ, chọn từ nh- mấy bà nội trợ đảm đang chọn quả", "Mỗi trang đều có những từ lạ tai, những kiểu ghép từ mới, những từ đ-ợc dùng với nghĩa mới nh-ng rất Việt Nam và rất chính xác" [63, tr.35]

Nguyễn Đăng Mạnh là tác giả quan tâm nhiều đến ngôn ngữ nghệ thuật Nguyễn Tuân Đọc tuỳ bút của Nguyễn Tuân, ông nhận xét: "Nói đến tuỳ bút Nguyễn Tuân phải nói đến giá trị của nó về mặt văn ch-ơng chữ nghĩa hiểu theo nghĩa hẹp, nghĩa là những tìm tòi sáng tạo trong cách diễn ý, tả cảnh, trong cách

đặt câu, dùng từ Nguyễn Tuân thuộc vào số những nhà văn yêu tha thiết và hiểu sâu sắc tiếng mẹ đẻ Ông sống với từng hình ảnh khắc hoạ, từng câu viết, từng từ

đặt trên trang giấy" [43, tr.78] ở một chỗ khác, nhà nghiên cứu lại gợi ý: "Đọc Nguyễn Tuân, nhà tu từ học kiếm đ-ợc nhiều bằng chứng thú vị về những phép ví von, so sánh, ẩn dụ, hoán dụ, tượng trưng”, để rồi đi đến kết luận: "Câu văn Nguyễn Tuân cũng có nhiều kiến trúc đa dạng Ông là một nhà nghệ sĩ ngôn từ biết chú trọng tới âm điệu, nhịp điệu của văn xuôi" [43, tr.78]

Trong bài viết Quá trình chuyển biến của một phong cách, Phan Ngọc ca

ngợi: "Anh biểu hiện cùng lúc hai biệt tài trái ng-ợc nhau không ai làm đ-ợc: Biến ngôn ngữ kĩ thuật thành ngôn ngữ nghệ thuật và vẽ lên một bức tranh kì ảo, mông lung, trong đó từng chi tiết đều chính xác lại có kết thúc tung bay đ-ợc" [55]

Quan tâm đến ngôn ngữ nghệ thuật của Nguyễn Tuân còn có nhiều tác giả khác Có thể tìm thấy vấn đề này trong bài viết: "Nh- một ông lão thợ đấu" [6] của Nguyễn Minh Châu (1972); "Nguyễn Tuân và phép lạ hoá trong văn" [70]

Trang 10

của Đỗ Ngọc Thống (1993) và công trình "Ngôn ngữ tác giả trong truyện Nguyễn Tuân" [37] của Đặng L-u (2006)

2.1.2.Những nghiên cứu về từng tác phẩm của Nguyễn Tuân

Bên cạnh những nghiên cứu chung về tác giả và tác phẩm Nguyễn Tuân, một số nhà nghiên cứu đi vào tìm hiểu từng tác phẩm cụ thể của ông

Nhà văn Thạch Lam rất tâm đắc với Vang bóng một thời, ông cho rằng:

"Vang bóng một thời là một sản phẩm quý, đánh dấu b-ớc đ-ờng trở lại tìm

những cái đẹp x-a mà các nhà văn ta th-ờng xao nhãng" [29, tr.229] Còn Tr-ơng Chính tỏ ra hơi cực đoan khi đánh giá tác phẩm này của Nguyễn Tuân, theo tác giả: "Về văn phong, phải nói Nguyễn Tuân trong tác phẩm đầu đời này

đã đạt đến đỉnh cao mà về sau ông không đạt tới nữa" [9, tr.238]

Tác giả Hoàng Nh- Mai hứng thú với tác phẩm Chùa Đàn của Nguyễn Tuân vì cái chất bác học và chất thơ chứa đựng trong nó: ''Nguyễn Tuân còn tung

phong cái vốn kiến thức và cái tài dẫn truyện ở mức cao hơn Những trang tả tứ thời tiết phong cảnh đến nghệ thuật đánh đàn, hát ả đào, đến phong tục tín ng-ỡng khiến độc giả say mê về chất bác học và chất thơ chứa đựng trong từng

câu, từng chữ" [41, tr.264] Nguyễn Đăng Mạnh thì nhận xét khái quát: "Chùa

Đàn là một hiện t-ợng độc đáo và phức tạp" [44, tr.269]

Tác giả Hoài Anh đi vào phân tích tri thức uyên bác của Nguyễn Tuân

trong Hà Nội ta đánh Mĩ giỏi Hoài Anh cho rằng sức hấp dẫn của tác phẩm

chính là ở chỗ tri thức uyên bác mà tác giả thể hiện trong đó: "Ông hiểu từng góc phố, từng ngôi đền từng trái cây, từng hàng quán Ông không nói thì thôi đã nói

là thấu đáo, cặn kẽ" [2, tr.293]

Vũ Ngọc Phan tổng hợp, nhận xét các tác phẩm nh-: Chiếc l- đồng mắt cua, Ngọn đèn dầu lạc, Tàn đèn dầu lạc của Nguyễn Tuân để rồi kết luận: "Ông

là một nhà văn đặc Việt Nam, có tính hào hoa và có cái giọng khinh bạc đệ nhất trong văn giới Việt Nam hiện đại" [60, tr.24-45]

Trang 11

Riêng tr-ờng hợp Sông Đà, vì liên quan trực tiếp tới đề tài nghiên cứu nên

chúng tôi sẽ dành riêng một tiểu mục để nói rõ hơn về thực trạng nghiên cứu

Sông Đà

Nh- vậy, tổng quan những nghiên cứu về Nguyễn Tuân và tác phẩm của

ông, chúng tôi nhận thấy có ba h-ớng tiếp cận vấn đề: h-ớng nghiên cứu phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân; h-ớng nghiên cứu nội dung t- t-ởng trong sáng tác của Nguyễn Tuân và h-ớng tiếp cận ngôn ngữ nghệ thuật của Nguyễn Tuân Trong ba h-ớng trên, hai h-ớng đầu đã đ-ợc nhiều nhà nghiên cứu đào sâu và thu

đ-ợc khá nhiều thành tựu Riêng h-ớng thứ ba: tiếp cận ngôn ngữ nghệ thuật của Nguyễn Tuân thì chủ yếu mang tính chất phát hiện d-ới dạng những nhận xét khái quát nh-ng còn tản mạn và nằm trong những nghiên cứu về phong cách tác giả hay nội dung t- t-ởng Mặc dù vậy đấy là những gợi ý cực kì quan trọng để chúng tôi thực hiện đề tài

2.1.3 Lịch sử nghiên cứu ký Sông Đà

Tác phẩm Sông Đà có một vị trí đặc biệt trong sự nghiệp văn học của

Nguyễn Tuân sau Cách mạng Nó trở thành một cột mốc quan trọng trong tiến trình sáng tác của Nguyễn Tuân

Một trong những bài viết đầu tiên về Sông Đà có thể kể đến là Cảm t-ởng

đọc Sông Đà của Nguyễn Tuân của tác giả Nguyên Ngọc Ông phát biểu: "Tôi thấy trong Sông Đà, anh Nguyễn Tuân có cái náo nức, sôi nổi của một ng-ời vừa

thấy bày ra tr-ớc mắt mình một cuộc sống cuồn cuộn những con ng-ời mới rất

đẹp, ào ạt đi tới, anh vội bắt quen với ng-ời này, anh theo gót ng-ời kia, anh tâm

sự với ng-ời thứ ba, anh náo nức đi tới cùng họ Rồi anh tìm hiểu họ, anh nói đến

họ, anh cố gắng giải quyết những vấn đề còn v-ớng mắc ở họ và anh tha thiết muốn dạy họ những điều mà anh hiểu biết hơn" [54, tr.280] Đây có thể xem là ý

kiến khái quát nhất dành cho Sông Đà

Sau bài viết của Nguyên Ngọc, Tr-ơng Chính có bài Đọc Sông Đà của Nguyễn Tuân Tác giả thổ lộ: "Đọc Sông Đà, tôi có cảm t-ởng nh- là đọc một tập

Trang 12

du kí của một nhà thơ đi tìm lòng ng-ời giữa một khu vực nhỏ trên non sông tổ

quốc rộng lớn của chúng ta đang đ-ợc cấu tạo tiến lên chủ nghĩa xã hội" [8, tr.270] Cũng nh- Nguyên Ngọc, Tr-ơng Chính đã nêu lên những nét khái

quát về nội dung của Sông Đà Đặc biệt cả hai tác giả đều xoáy vào sự đổi mới

của Nguyễn Tuân từ sau Cách mạng: "Nguyễn Tuân là ng-ời có tâm hồn phong

phú, có một t- t-ởng dồi dào, một hiểu biết sâu sắc về con ng-ời, về cuộc đời, về

một ngòi bút trữ tình lai láng Những đức tính này ngày tr-ớc Nguyễn Tuân đã có

rồi nh-ng với ''Sông Đà", những đức tính này đ-ợc phát triển một cách đầy đủ,

không bị một số khuyết điểm, nh-ợc điểm khác của ông nh- giọng khinh bạc,

ích kỷ, tính lãng mạn đồi trụy làm cho lu mờ đi" [8, tr.274]

Với bài viết Nguyễn Tuân và Sông Đà, Nam Mộc bày tỏ quan điểm: "Nội

dung, hình thức, t- t-ởng của Sông Đà nói chung là lành mạnh Nội dung đó

đ-ợc thể hiện d-ới hình thức sở tr-ờng của một nhà văn giàu kinh nghiệm, nắm

vững kĩ thuật, có một ngôn ngữ t-ơng đối nghiêm chỉnh về mặt ngữ pháp, phong

phú về từ vựng, chính xác, tinh tế về dùng từ, sinh động về đặt câu" [51, tr.1]

Nh- vậy, ở bài viết này, Nam Mộc không chỉ chú ý đến nội dung của Sông Đà

mà tác giả đã bắt đầu chú ý đến mặt hình thức của nó, biểu hiện rõ nhất là vấn đề

ngôn ngữ trong Sông Đà Mặc dù đánh giá cao Sông Đà nh-ng tác giả cũng băn

khoăn: "Trong Sông Đà, Nguyễn Tuân ch-a làm chủ đ-ợc tài liệu Anh tham

lam, dài dòng chẻ sợi tóc làm t-, làm cho nội dung của tác phẩm phản ánh trong

Sông Đà còn tản mạn, thiếu tập trung Do đó, giá trị nhận thức của tác phẩm bị

hạn chế" [51, tr.1]

Cảm nhận về tác phẩm Sông Đà, Hà Văn Đức trong Tuỳ bút Nguyễn Tuân

sau Cách mạng tháng tám, viết: "Đọc tuỳ bút Sông Đà, ng-ời đọc không chỉ

đ-ợc đắm mình trong cảnh sắc thiên nhiên vừa dữ dội, vừa hoang sơ, vừa trữ tình

thơ mộng mà còn có thêm những hiểu biết lịch sử một vùng đất đầy đau th-ơng

đang chuyển mình lên cuộc sống mới" [17, tr.180]

Trang 13

Trong Nghĩ từ công việc dạy văn, Đỗ Kim Hồi phát hiện phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân trong Sông Đà: "Càng đọc Nguyễn Tuân càng nghiệm ra

rằng: nhà văn độc đáo ấy luôn luôn độc đáo trong sự uyên bác, là con ng-ời luôn luôn có sự hiểu biết khôn l-ờng khôn sánh với những gì đ-ợc nói tới trong văn

của mình Tr-ờng hợp Sông Đà là nh- vậy" [24]

Với bài viết Nguyễn Tuân, Nguyễn Đăng Mạnh không những cảm nhận vẻ

đẹp của thiên nhiên và con ng-ời Tây Bắc đ-ợc phản ánh trong Sông Đà mà hơn

hết ông còn thừa nhận sự kế thừa của phong cách Nguyễn Tuân: "Chỗ kế thừa rõ

nhất của Sông Đà đối với phong cách Nguyễn Tuân là ở cách nhìn nghiêng về

mặt mỹ thuật Qua tác phẩm, Tây Bắc và sông Đà hiện lên nh- một công trình thiên tạo ( ) Nh-ng nếu cái đẹp ngày x-a là cái đẹp nặng về hình thức và có tính kiêu kì đài các thì ngày nay là cái đẹp gắn với nhân dân lao động, với cuộc sống đi lên " [43, tr.82]

Điểm qua các công trình nghiên cứu trên về tác phẩm Sông Đà, chúng tôi

nhận thấy: nhìn chung các công trình nghiên cứu chủ yếu đi vào những đánh giá

về ph-ơng diện nội dung của tác phẩm Ai cũng thấy đối t-ợng đ-ợc phản ánh là cuộc sống và con ng-ời mới trên quê h-ơng Tây Bắc Tuy nhiên, giá trị của một tác phẩm nghệ thuật không đơn thuần nằm ở mặt nội dung mà nó còn nằm ở phần hình thức nghệ thuật Trong số các tác giả với những công trình nghiên cứu

mà chúng tôi đã điểm trên có tác giả Nam Mộc là ng-ời chú ý đến mặt hình thức

của tác phẩm Sông Đà, cụ thể là ngôn ngữ trong tác phẩm này [51, tr.1] Tuy vậy,

tác giả mới chỉ đề cập chung chung đến vấn đề ngôn ngữ mà ch-a đi vào những biểu hiện cụ thể của nó

2.2 Lịch sử nghiên cứu Hoàng Phủ Ngọc T-ờng và ký Miền cỏ thơm

2.2.1 Những nghiên cứu chung về ký Hoàng Phủ Ngọc T-ờng

Hoàng Phủ Ngọc T-ờng viết nhiều thể loại nh-ng những công trình nghiên cứu về ông lại chủ yếu nói về thể ký

-Nghiên cứu phong cách ký của Hoàng Phủ Ngọc T-ờng

Trang 14

Tr-ớc hết, Hoàng Phủ Ngọc T-ờng đ-ợc xem là một nhà văn viết ký rất

đặc sắc Đó là nhận xét của nhiều nhà nghiên cứu:

Tiến sĩ Lê Trà Mi đánh giá rất cao vị trí của Hoàng Phủ Ngọc T-ờng trên văn đàn Việt Nam hiện đại Theo tác giả: "Sau 1975, trong những b-ớc đi mới của ký, một g-ơng mặt mới nh- một "ánh lửa" cháy sáng bền bỉ, đạt tới những

đỉnh cao của ký trong những thập kỷ cuối cùng của thế kỷ XX- đó là Hoàng Phủ Ngọc T-ờng" [47, tr.238] Còn nhà thơ Ngô Minh thì khẳng định: "Không giống nh- một số ng-ời nói khác, làm khác, viết khác, họ luôn đeo một cái mặt nạ ngăn cách tâm trạng mình với xã hội, Hoàng Phủ Ngọc T-ờng khi nói chơi hay nói bốc

đồng trong cuộc r-ợu cũng giống y chang những điều anh viết thành văn, thành thơ trên trang sách Anh th-ờng nói đến tận cùng, vì anh đang nói, vì anh đang viết, vì cái tâm đỏ thắm của mình, vì con ng-ời, vì tổ quốc" [48, tr.293]

Các tác giả khác nh- Hà Minh Đức (1985), Hoàng Sĩ Nguyên (2001), Nguyễn Trọng Tạo (2002), Hoàng Ngọc Hiến (2003) đều khẳng định Hoàng Phủ Ngọc T-ờng là một ng-ời viết ký thành công và là tác giả có quan niệm rất

đúng đắn về thể ký

Một số nhà nghiên cứu chỉ ra sự thành công về ký của Hoàng Phủ Ngọc T-ờng là xuất phát từ vốn sống, vốn văn hoá, vốn tri thức lịch lãm của nhà văn Nguyễn Đăng Mạnh khẳng định: "Sự đóng góp của Hoàng Phủ Ngọc T-ờng về thể văn này bắt nguồn từ vốn sống và tri thức chắc chắn" [45] Hoàng Cát cho rằng thế mạnh của Hoàng Phủ Ngọc T-ờng là: "Tri thức văn hoá, lịch sử, địa lí sâu và rộng" [5, tr.243]

Hoàng Phủ Ngọc T-ờng có kiến thức rất uyên thâm về mọi lĩnh vực Đây

là điểm làm cho những bút ký của ông thực sự hấp dẫn ng-ời đọc Trần Đình Sử

trong Ai đã đặt tên cho dòng sông- Bút ký sử thi của Hoàng Phủ Ngọc T-ờng đã

viết: ''Bút ký của Hoàng Phủ Ngọc T-ờng là một cuộc đi tìm cội nguồn, một sự

phát triển bề dày văn hoá và lịch sử của hiện t-ợng đời sống Các chi tiết thực tế

cũng khá phong phú, nh-ng ngoài giá trị "phản ánh'', chúng còn đóng vai trò

Trang 15

"xúc tác" để xâm nhập vào đáy sâu đất n-ớc Văn anh giàu những t- liệu lấy từ

sử sách, tri thức khoa học, huyền thoại và kí ức cá nhân làm cho hình t-ợng loé lên" [64, tr.253] Lê Trà Mi cũng có chung nhận xét nh- vậy khi đọc ký Hoàng Phủ Ngọc T-ờng: ''ở ký Hoàng Phủ Ngọc T-ờng, những xúc cảm lớn lao của ng-ời viết khiến tác phẩm không phải là những trang ghi chép đơn thuần; ng-ời

đọc thấy một cái tôi tác giả vừa tài hoa, gắn bó máu thịt với quê h-ơng xứ sở, đầy

ắp những xúc động về tổ quốc, về nhân dân, vừa uyên bác, vốn sống, vốn hiểu biết dồi dào, phong phú, t- duy biện chứng sắc sảo " [47, tr.239] Còn Hoàng Sĩ Nguyên thì nhận thấy ở Hoàng Phủ Ngọc T-ờng: "Cái tâm của một con ng-ời đạt

đạo, là tấm lòng yêu mến văn hoá dân tộc, yêu quê h-ơng, đất n-ớc, là trái tim luôn cùng nhịp đập với nhân dân, đồng loại" [56]

Phong cách ký của Hoàng Phủ Ngọc T-ờng là điểm quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Ng-ời ta thấy ký của Hoàng Phủ Ngọc T-ờng có rất nhiều điểm riêng không lẫn với ai Ngọc Trai phát hiện đặc điểm riêng của ký Hoàng Phủ Ngọc T-ờng là "những cảm xúc có tính chất hoài cổ" [72] Phạm Xuân Nguyên thì xem ký của Hoàng Phủ Ngọc T-ờng là "phần ký tâm hồn" [57] Lê Viết Thọ cho rằng: "Hành trang của Hoàng Phủ Ngọc T-ờng nặng một chữ hoài" [69]

Trần Đình Sử rất tinh tế khi phát hiện ở Hoàng Phủ Ngọc T-ờng: "Tính thích giao du, tình yêu lịch sử, triết học, nhu cầu trầm t- nội tâm, thích chiêm nghiệm, quan sát, tất cả đều là kích th-ớc khác nhau của bút ký Hoàng Phủ Ngọc T-ờng" [64, tr.253]

Tác giả Dạ Ngân tiếp cận ký Hoàng Phủ Ngọc T-ờng trong cái nhìn đối sánh với nhà văn Nguyên Ngọc: "Bên cạnh mạch văn sôi sục của Nguyễn Trung Thành, những bài văn của nhà văn xứ Huế ấy mảnh dẻ nh- tiếng đệm của một thứ nhạc cụ thâm trầm" [52, tr.226]

Nh- vậy, các tác giả trên đều có chung nhận định về tính chất hoài cổ là

đặc điểm nổi bật trong phong cách ký của Hoàng Phủ Ngọc T-ờng

-Nghiên cứu ký của Hoàng Phủ Ngọc T-ờng d-ới góc nhìn văn hoá

Trang 16

Nhiều tác giả nghiên cứu ký của Hoàng Phủ Ngọc T-ờng d-ới góc nhìn văn hoá, đặc biệt là văn hoá Huế Theo h-ớng này có các tác giả: Phạm Phú Phong (1986), Trần Thuỳ Mai (2002), Lê Thị H-ờng (2002), Hoàng Bình Thi (2005),

Nhà văn Trần Thuỳ Mai khẳng định ký của Hoàng Phủ Ngọc T-ờng là dạng ký văn hoá: "Huế trong ký văn hoá của Hoàng Phủ Ngọc T-ờng không giới hạn ở những thành quách, lăng mộ, sông núi ( ); là một nhà văn, điều anh quan tâm là con ng-ời với sự hiểu biết khoa học của mình đã dựng lại một diện mạo tâm hồn Huế x-a- điều mà không một nhà Huế học nào làm đ-ợc" [40, tr.243]

Lê Thị H-ờng nhấn mạnh: "Là thi sĩ của thiên nhiên, những trang ký của Hoàng Phủ Ngọc T-ờng mang đến cho ng-ời đọc những miền không gian xanh,

ẩn chìm những vết trầm tích văn hoá từ thiên nhiên Những trang ký viết về Huế

là những trang thơ văn xuôi, góp phần khẳng định sự thành công của anh về thể

ký, đồng thời bộc lộ một phong cách riêng Đó là "chất Huế" bàng bạc khắp những trang viết của anh Hoàng Phủ Ngọc T-ờng là cây bút gắn bó với cội nguồn, truyền thống văn hoá Huế" [25]

Tác giả Hoàng Bình Thi trong bài viết Chiêm cảm Huế di tích và con ng-ời, nhận xét: "Hoàng Phủ Ngọc T-ờng viết nhiều về Huế Mỗi trang viết của

ông chuyển tải một cái nhìn, một cảm giác, một góc độ cảm nhận mới mẻ Cứ nh- Huế là một kho tàng vô giá và nhà văn- ng-ời thợ mỏ chuyên cần, bằng cây cuốc chim, đã lật xới cõi lòng để dâng tặng cho cuộc sống những hạt bụi vàng" [67, tr.236] Phạm Phú Phong nhận thấy: "Huế trong sáng tác của anh còn là cái thầm lặng, thâm trầm những tình cảm h-ớng nội cô độc, sâu lắng, đậm đà tinh thần Á Đông" [61]

Đáng chú ý là đánh giá của Nguyễn Đăng Mạnh: "Những trang văn của

ông viết về Huế đã chứa đựng những đặc sắc của văn phong ông: trầm tĩnh, lắng

đọng trong giọng điệu, phong phú dày dặn trong vốn liếng và kĩ l-ỡng mà tự nhiên trong ngôn từ cú pháp" [45]

Trang 17

Một vài tác giả xuất phát d-ới góc độ đời t- đã nhìn thấy ở Hoàng Phủ

Ngọc T-ờng một nghị lực, một sức sống bền bỉ Lê Đức Dục trong Ng-ời lễ độ với thiên nhiên, nhận thấy: "Một năm r-ỡi rồi phải ngồi trên xe lăn, khao khát

một lần hoà b-ớc chân mình vào dòng đời xuôi ng-ợc và bày tỏ niềm biết ơn với thiên nhiên bằng sự lễ độ của một con ng-ời qua những trang bút ký tài hoa có một Ng-ời ấy là Hoàng Phủ Ngọc T-ờng" [11, tr.241]

Nguyễn Xuân Hoàng trong bài viết Hoàng Phủ Ngọc T-ờng trong mắt tôi

thể hiện niềm trân trọng, ng-ỡng mộ nghị lực phi th-ờng của nhà văn bằng cách nói hình ảnh: "Bốn năm trên gi-ờng bệnh Hoàng Phủ Ngọc T-ờng đã cố gắng đi qua con sông lớn nhất và cũng là con sông cuối đời mình mà ông phải v-ợt qua Sông rộng lắm, nhiều ghềnh thác và m-a gió, nh-ng tay chèo Hoàng Phủ Ngọc T-ờng vẫn can tr-ờng đ-a con đò đời mình nhẹ thênh nh- đã từng đi trên một

đoá cỏ lau" [23]

Hạnh Lê khẳng định: "Bây giờ thì Hoàng Phủ Ngọc T-ờng đi bằng cái tâm, đi bằng trí nhớ những cuộc đi đã qua Phải nói là ông có một trí nhớ siêu hạng D-ờng nh- bệnh tật không có gì làm dừng lại những cuộc đi của ông, không có cách gì ngăn cản những nơi mà ông muốn đến, bởi ông là ng-ời theo

"chủ nghĩa" mê đi" [31, tr.234]

2.2.2 Những nghiên cứu về từng tác phẩm ký của Hoàng Phủ Ngọc T-ờng

Bên cạnh những nghiên cứu chung về ký của Hoàng Phủ Ngọc T-ờng còn một số bài nghiên cứu về từng tác phẩm ký của Hoàng Phủ Ngọc T-ờng Đáng chú ý là các bài viết sau:

Phạm Phú Phong, Trần Đình Sử rất tâm đắc với tập Ai đã đặt tên cho dòng sông Với Ai đã đặt tên cho dòng sông, Phạm Phú Phong khẳng đinh: "Hoàng

Phủ Ngọc T-ờng may mắn nằm trong số những nhà văn ở n-ớc ta hiện nay, mỗi khi nhắc đến thể ký không thể không nhắc đến tên anh" [61] Trần Đình Sử chỉ

ra: "Ai đã đặt tên cho dòng sông có nhiều sự phát hiện về lịch sử và văn hoá xứ

Trang 18

Huế Huế từ lâu đã chiếm chỗ sâu bền trong tâm hồn ng-ời Việt, là nỗi -ớc mong của trí thức bao đời " [64, tr.250]

Nguyễn Tuân, Ngọc Trai, Lê Xuân Việt (1981), Nguyễn Văn Bổng (1982)

h-ớng ngòi bút vào tập ký Rất nhiều ánh lửa Đọc tập ký này của Hoàng Phủ

Ngọc T-ờng, Nguyễn Tuân nhận xét: "Ký Hoàng Phủ Ngọc T-ờng có rất nhiều

ánh lửa" [74] Lê Xuân Việt nhận xét về nghệ thuật viết ký của Hoàng Phủ Ngọc

T-ờng trong Rất nhiều ánh lửa: "Sử dụng thành công các thủ pháp nghệ thuật

sinh động, đa dạng" và sử dụng: "thủ pháp dùng những đoạn văn trữ tính giàu xúc cảm để miêu tả thiên nhiên" [76, tr.143]

Lê Viết Thọ (2000), Hoàng Cát (1999), Lê Đức Dục (2000) rất yêu thích

Ngọn núi ảo ảnh Hoàng Cát trong bài viết Đọc"Ngọn núi ảo ảnh" của Hoàng Phủ Ngọc T-ờng, thổ lộ: "Lâu rồi, bây giờ tôi mới đọc một tập văn xuôi hay đến

thế, bổ ích đến thế Đó là tập bút ký văn học "Ngọn núi ảo ảnh" của nhà văn Hoàng Phủ Ngọc T-ờng Chỉ có 14 bài bút ký, tuỳ bút ch-a đến 250 trang in, mà

đọc xong (không chỉ một lần) tôi có cảm t-ởng vừa đ-ợc "nhập siêu" một l-ợng tri thức về văn ch-ơng, về lịch sử, về cuộc đời vô cùng quí giá" [5] Hoàng Cát còn chú ý đến khả năng liên t-ởng mạnh mẽ, độc đáo của Hoàng Phủ Ngọc T-ờng trong ký, đó là: "biệt tài móc xích và xâu chuỗi các hiện t-ợng và sự kiện lại trong mối t-ơng quan và biện chứng tạo thành cái duyên hấp dẫn riêng" [5] trong các trang viết của Hoàng Phủ Ngọc T-ờng

Nguyên Ngọc thì hứng thú với R-ợu hồng đào ch-a nhắm đã say Tác giả

nhận thấy: ''Anh T-ờng vốn là ng-ời lãng mạn, ngòi bút của anh là một ngòi bút trữ tình" [53]

Đó là những nhận xét, đánh giá tiêu biểu về ký của Hoàng Phủ Ngọc T-ờng

Có thể thấy những đánh giá khái quát cũng nh- những nhận định về từng tác phẩm ký của Hoàng Phủ Ngọc T-ờng đều thiên về cảm hứng ngợi ca, khẳng

định vị trí, vai trò và đóng góp của Hoàng Phủ Ngọc T-ờng đối với văn học Việt

Trang 19

Nam hiện đại Các bài nghiên cứu chủ yếu đi vào phân tích nội dung ký của Hoàng Phủ Ngọc T-ờng d-ới cái nhìn văn húa Một số bài nghiên cứu đã chỉ ra phong cách ký của Hoàng Phủ Ngọc T-ờng ở ph-ơng diện cảm hứng t- t-ởng Các nghiên cứu ch-a đề cập đến đặc điểm ngôn ngữ trong sáng tác của Hoàng Phủ Ngọc T-ờng Đấy là một chỗ trống cần phải bổ cứu vì tìm hiểu ngôn ngữ nghệ thuật sẽ là một tiêu chí để đánh giá tài năng của Hoàng Phủ Ngọc T-ờng

2.2.3 Lịch sử nghiên cứu ký Miền cỏ thơm

Miền cỏ thơm là tập bút ký mới nhất của Hoàng Phủ Ngọc T-ờng, xuất bản

êm chảy", hay "Miền cỏ thơm đã dẫn dụ Hoàng Phủ Ngọc T-ờng đi qua những

miền mộng khác của tâm hồn" [3]

Nhìn chung những nhận xét trên cũng mới chỉ là những cảm nhận ban đầu

về nội dung tác phẩm Nh- vậy, đến nay ch-a có công trình nào đi vào nghiên

cứu sâu tác phẩm Miền cỏ thơm cả ở hai mặt nội dung t- t-ởng và hình thức nghệ

thuật

2.3 Nghiên cứu so sánh Nguyễn Tuân và Hoàng Phủ Ngọc T-ờng

Nghiên cứu so sánh tác giả, tác phẩm là một xu h-ớng nổi bật trong nghiên cứu văn học, ngôn ngữ học hiện nay Nguyễn Tuân và Hoàng Phủ Ngọc T-ờng

Trang 20

đ-ợc xem là hai cây bút nổi bật về thể ký Ký của hai ông rất hấp dẫn ng-ời đọc

Đã có một số bài viết đề cập đối sánh Nguyễn Tuân và Hoàng Phủ Ngọc T-ờng:

Tr-ớc hết là nhận xét của Trần Đình Sử Trần Đình Sử nhận định về sự đối lập trong phong cách của Nguyễn Tuân và Hoàng Phủ Ngọc T-ờng nh- sau: ''Khác với phong cách Nguyễn Tuân đầy chất văn xuôi x-ơng xẩu, gồ ghề với cái nhìn hóm hỉnh, bút ký của Hoàng Phủ Ngọc T-ờng nghiêng hẳn về chất thơ thi

vị, ngọt ngào" [65, tr.254]

Tiến sĩ Lê Trà Mi nhìn ký Hoàng Phủ Ngọc T-ờng nh- sự phát triển dòng mạch ký của Nguyễn Tuân: "Có thể nói, riêng về ký, sau Nguyễn Tuân, Hoàng Phủ Ngọc T-ờng nh- một sự tiếp nối vừa có sự kế thừa, vừa đầy sáng tạo" [47, tr.238]

Với t- cách là một ng-ời cầm bút, Nhà văn Dạ Ngân cũng đánh giá:

"Trong m-ơi tác giả để lớp thanh niên trong cứ nhớ đ-ợc, có Hoàng Phủ Ngọc T-ờng và ngay lúc đó tôi xếp anh song song với Nguyễn Tuân" [52, tr.227]

Tuy nhiên những ý kiến trên cũng mới chỉ là những cảm nhận b-ớc đầu về

điểm t-ơng đồng và khác biệt của hai nhà văn, hơn nữa cái nhìn đối sánh chủ yếu với mục đích ngợi ca cá nhân từng nhà văn, hoặc Nguyễn Tuân hoặc Hoàng Phủ Ngọc T-ờng Mặc dù vậy đó là những gợi ý hết sức quan trọng để chúng tôi tiến hành so sánh Nguyễn Tuân và Hoàng Phủ Ngọc T-ờng ở ph-ơng diện ngôn từ nghệ thuật mà cụ thể là nghệ thuật sử dụng biện pháp tu từ trong tác phẩm của hai ông

Trang 21

3 Đối t-ợng và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Đối t-ợng nghiên cứu

Biện pháp nghệ thuật so sánh trong ký Sông Đà của Nguyễn Tuân và Miền

cỏ thơm của Hoàng Phủ Ngọc T-ờng

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Tìm hiểu những điểm t-ơng đồng và nét khác biệt về nghệ thuật so

sánh trong ký Sông Đà của Nguyễn Tuân và Miền cỏ thơm của Hoàng Phủ Ngọc

tr-ng nổi bật trong phong cách nghệ thuật từng tác giả Trên cơ sở đó, luận văn

có thể giúp cho giáo viên giảng dạy văn học ở tr-ờng phổ thông có điều kiện hiểu sâu hơn ngôn ngữ thể ký, đánh giá đúng hơn đóng góp của hai nhà văn trên tiến trình văn học Việt Nam hiện đại Đồng thời, kết quả của luận văn còn là tài liệu tham khảo hữu dụng cho những ng-ời quan tâm nghiên cứu, tìm hiểu về phong cách học, về đặc điểm tu từ Tiếng Việt

Trang 22

6 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phần phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn đ-ợc triển khai thành ba ch-ơng:

Ch-ơng 1 Giới thuyết một số vấn đề liên quan đến đề tài

Ch-ơng 2 Những điểm t-ơng đồng về nghệ thuật so sánh trong ký Sông

Đà và Miền cỏ Thơm

Ch-ơng 3 Những điểm khác biệt về nghệ thuật so sánh trong ký Sông Đà

và Miền cỏ Thơm

Trang 23

CHƯƠNG 1 GIớI THUYếT MộT Số VấN Đề LIêN QUAN ĐếN Đề TàI

1.1 Ngôn ngữ nghệ thuật

1.1.1 Khái niệm

Ngôn ngữ là ph-ơng tiện giao tiếp quan trọng nhất của con ng-ời Ngôn ngữ đồng thời là chất liệu thứ nhất của văn học Mỗi loại hình nghệ thuật đều

đ-ợc đặc tr-ng bởi một chất liệu làm cơ sở cho nghệ thuật đó Nói nh- những

nhà nghiên cứu Lí luận văn học: "Nhà điêu khắc t- duy bằng khối, mảng, đ-ờng

nét; nhà hoạ sĩ t- duy bằng màu sắc; nhà nhạc sĩ t- duy bằng giai điệu và âm sắc của các nhạc cụ Cũng nh- thế, nhà văn không thể t- duy nghệ thuật bên ngoài các khả năng của ngôn từ" [39, tr.183] Văn học chính là nghệ thuật ngôn từ Hay nói cụ thể hơn văn học là nghệ thuật sử dụng câu văn, lời văn vào mục đích nghệ thuật

Theo Đinh Trọng Lạc, ngôn ngữ nghệ thuật "là một mã phức tạp đ-ợc cấu tạo nên từ hệ thống tín hiệu thứ nhất (Từ ngôn ngữ tự nhiên)" [28, tr.127] Nh- vậy, ngôn ngữ nghệ thuật tr-ớc hết bắt nguồn từ ngôn ngữ tự nhiên, ngôn ngữ

đ-ợc dùng giao tiếp trong cuộc sống th-ờng ngày Tuy nhiên, quan hệ giữa ngôn ngữ tự nhiên và ngôn ngữ nghệ thuật có một sự phân biệt khá rõ, đó là quan hệ giữa một bên là "tiếng nói nguyên liệu" và một bên là "tiếng nói đã đ-ợc bàn tay thợ nhào luyện" Nh- vậy, khi đi vào văn học nghệ thuật, ngôn ngữ không tồn tại

ở dạng "thô" nữa mà nó là thứ ngôn ngữ đã đ-ợc nghệ sĩ chọn lọc, gọt rũa và sáng tạo tuỳ thuộc vào chủ quan của ng-ời nghệ sĩ Ngôn ngữ là của chung nh-ng vận dụng ngôn ngữ lại là cái riêng của mỗi ng-ời, nó bị qui định bởi sở tr-ờng, tập quán, công phu rèn luyện ở mỗi ng-ời

Trong tác phẩm văn học, ngôn ngữ có một vai trò hết sức quan trọng, xét

về mọi ph-ơng diện của tác phẩm văn học: từ đề tài, chủ đề, cốt truyện, nhân vật cho đến t- t-ởng, phong cách nhà văn Vì thế, muốn hiểu các ph-ơng diện

Trang 24

của tác phẩm văn học phải hiểu ngôn từ mà nhà văn sử dụng Đó là thứ ngôn ngữ mang chức năng thẩm mỹ Chức năng thẩm mỹ của ngôn ngữ trong các văn bản nghệ thuật đ-ợc thể hiện ở chỗ tín hiệu ngôn ngữ trở thành yếu tố tạo nên hình t-ợng Muốn thực hiện chức năng thẩm mỹ, ngôn ngữ nghệ thuật phải có các đặc tr-ng: tính hình t-ợng, tính cá thể hoá, tính cụ thể hoá, tính cấu trúc

1.1.2 Đặc tr-ng của ngôn ngữ nghệ thuật

1.1.2.1 Tính hình t-ợng

Tính hình t-ợng là thuộc tính của ngôn ngữ nói chung, bởi vì từ vốn gắn với khái niệm mà khái niệm thực chất là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan Mác cũng từng khẳng định điều đó khi ông nêu luận đề: "Ngôn ngữ là hiện thực trực tiếp của t- duy" Luận điểm đó cho chúng ta hiểu rằng "hiện thực ấy không có gì khác hơn là một hình t-ợng của hiện thực" [39, tr.184]

Nhà văn sáng tạo ra tác phẩm để nhận thức hiện thực Nh-ng khác với nhà khoa học, nhà văn không thể hiện những hiểu biết của mình bằng công thức, định

lí mà bằng hình t-ợng nghệ thuật, nghĩa là làm sống lại hiện thực một cách cụ thể, sống động và biểu cảm Nh-ng để xây dựng đ-ợc hình t-ợng nghệ thuật, nhà văn cần phải dùng ngôn ngữ hình t-ợng Tính hình t-ợng của ngôn ngữ nghệ thuật đ-ợc hiểu là khả năng gợi lên những cảm xúc, những suy t-ởng mà ngôn ngữ thông th-ờng khó đạt đ-ợc

Đinh Trọng Lạc xác lập một cách hiểu về tính hính t-ợng của ngôn ngữ nghệ thuật: "Tính hình t-ợng, theo nghĩa rộng nhất có thể xác định là thuộc tính của lời nói thơ (lời nói nghệ thuật) truyền đạt không chỉ thông tin lô gích mà còn cả thông tin đ-ợc tri giác một cách cảm tính nhờ hệ thống hình t-ợng ngôn từ" [28, tr.134], hay nói một cách ngắn gọn hơn, tính hình t-ợng của ngôn ngữ nghệ thuật là "một tín hiệu phức tạp xuất hiện với t- cách là bình diện nội dung, có sự biểu đạt mới, không bị rút gọn bởi cái biểu đạt tr-ớc đó" [28, tr.136] Điểm này giúp chúng ta phân biệt rõ hơn ngôn ngữ nghệ thuật và ngôn ngữ tự nhiên

Trang 25

Vấn đề đặt ra là làm thế nào để ngôn ngữ nghệ thuật có tính hình t-ợng Thực ra toàn bộ lập luận đã trình bày ở trên là một căn cứ vững chắc để ng-ời viết đi tới kết luận: tính hình t-ợng của ngôn ngữ nghệ thuật nảy sinh do kết quả của sự đối chiếu hai khái niệm hoặc do kết quả của của sự thay thế khái niệm này bằng khái niệm khác Có thể minh chứng bằng câu ca dao sau:

"Thuyền về có nhớ bến chăng Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền"

(Ca dao)

Đọc câu ca dao trên không ai hiểu "thuyền" và "bến" với nghĩa định danh

sự vật (ph-ơng tiện giao thông đ-ờng thuỷ) mà ở đây nó đ-ợc dùng để chỉ ng-ời con trai và ng-ời con gái Nh- vậy, ở đây đã có sự thay thế khái niệm này bằng khái niệm khác Đó là biểu hiện tính hình t-ợng của ngôn ngữ nghệ thuật

Tính hình t-ợng của ngôn ngữ nghệ thuật đ-ợc thể hiện trên nhiều mặt Tr-ớc hết là ở các loạt từ t-ợng hình, t-ợng thanh tiếp đến là các ph-ơng tiện chuyển nghĩa nh- các biện pháp tu từ ẩn dụ, hoán dụ Đinh Trọng Lạc cũng cho rằng những ph-ơng tiện của tính hình t-ợng trong nghĩa hẹp là những ph-ơng tiện và biện pháp tu từ 28

Tính hình t-ợng là một trong những điều kiện cần yếu để ngôn ngữ trở thành ngôn ngữ nghệ thuật Nói nh- vậy không có nghĩa tính hình t-ợng là "đặc quyền" của ngôn ngữ nghệ thuật Chúng ta có thể bắt gặp nó trong ngôn ngữ giao tiếp th-ờng ngày Những từ ngữ thông th-ờng cũng có thể trở thành những từ có tính hình t-ợng khi ng-ời ta phát hiện ra "cá tính của chủ thể" ng-ời nói, khi nó thể hiện một dụng ý nào đó và ng-ời tiếp nhận phải giải mã nó Đó là những tr-ờng hợp mà khi dùng trong ngữ cảnh này thì không có tính hình t-ợng còn khi dùng trong ngữ cảnh khác lại có tính hình t-ợng, vì ng-ời ta đã suy luận một cái gì đó khác nó

Trang 26

1.1.2.2 Tính cá thể hoá

Trong đời sống, ngôn ngữ bao giờ cũng gắn với phát ngôn của một chủ thể nhất định, không có ngôn ngữ chung chung, "vô chủ", không thuộc về ai cả Tính cá thể của ngôn ngữ chính là sự thể hiện chủ thể ng-ời nói qua ngôn ngữ ở đây, ngôn ngữ có khả năng thể hiện nhiều mặt của chủ thể lời nói: giọng điệu, t- t-ởng, tình cảm, văn hoá, địa vị xã hội Đối với nghệ thuật, tính cá thể là một yêu cầu bắt buộc, nh- có ng-ời đã nói "nghệ thuật là tôi, khoa học là chúng ta" Tính cá thể trong nghệ thuật cũng thể hiện ở nhiều bình diện, trong đó có ngôn ngữ

Đinh Trọng Lạc cho rằng "Tính cá thể hoá của ngôn ngữ tác phẩm nghệ thuật ngôn từ đ-ợc hiểu là dấu ấn phong cách tác giả trong ngôn ngữ nghệ thuật" [28, tr.139] Dấu ấn phong cách tác giả là cái thuộc về đặc điểm bản chất, thuộc

về điều kiện bắt buộc của ngôn ngữ nghệ thuật Dấu ấn phong cách tác giả không

đặt ra đối với ngôn ngữ phi nghệ thuật Mặc dù trong một số văn bản chính luận, văn bản khoa học, trong lời nói sinh hoạt hàng ngày, chúng ta có thể nhận thấy một vài dấu ấn của chủ thể ng-ời nói, ng-ời viết, song đó ch-a phải là dấu ấn phong cách tác giả [72, tr.190]

Tính cá thể hoá của ngôn ngữ nghệ thuật đ-ợc cụ thể hoá ở tính cá thể hoá của ngôn ngữ tác giả Mỗi nhà văn có xu h-ớng, sở tr-ờng, thị hiếu, tập quán, tâm lí xã hội mà hình thành giọng nói riêng, cái vẻ riêng của ngôn ngữ tác giả Cho nên chúng ta có thể thấy rất rõ sự khác nhau trong ngôn ngữ trần thuật của từng nhà văn, nhất là những nhà văn có tên tuổi Ví nh- giọng văn nhỏ nhẹ, đôn hậu của Thạch Lam, giọng văn đả kích của Nguyễn Công Hoan và gần đây nhất ng-ời đọc rất ấn t-ợng với giọng văn "giễu nhại" của Hồ Anh Thái Đối với nhà văn, cái giọng nói riêng chính là cái có giá trị quyết định Cái giọng riêng ấy tr-ớc hết thể hiện ở sở tr-ờng ngôn ngữ, ở sự -a thích sử dụng những ph-ơng tiện

và biện pháp tu từ nhất định Xuân Diệu và Nguyễn Bính là hai đỉnh cao của phong trào Thơ Mới, ph-ơng pháp sáng tác giống nhau nh-ng mỗi nhà thơ có

Trang 27

giọng nói riêng, phong cách ngôn ngữ của mỗi ng-ời khác nhau Xuân Diệu là nhà thơ khát khao giao cảm với đời, ngôn ngữ thơ ông thể hiện một tâm hồn khát khao rất mãnh liệt Điều đó thể hiện bằng thói quen sử dụng một loạt động từ

mạnh nh-: cắn, riết, ôm, hôn, bấu, ngoạm Nguyễn Bính, ng-ợc lại là nhà thơ

của "Chân quê" Ngôn ngữ thơ Nguyễn Bính tr-ớc hết là ngôn ngữ của ca dao, thơ ca dân gian nói chung Chúng ta đã bắt gặp trong thơ Nguyễn Bính những thành ngữ, tục ngữ, những cách nói, lối diễn đạt dân gian: "dầu hao bấc gầy",

"chín nhớ m-ời mong", "cách trở đò giang", "một nắng hai s-ơng", "bảy nổi ba chìm", "trăm cay ngàn đắng" Nh- vậy, tính cá thể hoá của ngôn ngữ nghệ thuật

là một ph-ơng diện rất quan trọng để nhận diện diện mạo của nhà văn

Tính cá thể của ngôn ngữ nghệ thuật còn đ-ợc thể hiện ở chỗ khi diễn tả từng sự vật, từng cảnh, từng nhân vật thì ngôn ngữ miêu tả phải phù hợp với từng

đối t-ợng đó Trong tác phẩm, ng-ời, vật, cảnh không trùng nhau thì ngôn ngữ thể hiện chúng cũng không giống nhau Cảnh mùa xuân khác cảnh mùa thu, ng-ời nông dân khác ng-ời trí thức Tái hiện đối t-ợng nào thì ngôn ngữ phải phù hợp với đối t-ợng ấy Khi Nguyễn Bính viết:

"Em nghe họ nói monh manh Hình nh- họ biết chúng mình với nhau"

(Chờ nhau)

Ng-ời đọc có thể hình dung đ-ợc nhân vật trữ tình ở bài thơ là một cô thôn nữ rất tế nhị và kín đáo Chữ "với nhau" ở đây đ-ợc sử dụng rất hay, rất chính xác với đối t-ợng Thôn nữ không dám nói "yêu nhau" vì dù sao chữ yêu ấy có phần hiện đại quá và nó chỉ phù hợp với những lứa đôi thành thị

Tính cá thể hoá là cái độc đáo, đặc sắc, cái riêng của tất cả các yếu tố trong sáng tác, từ lối nghĩ, lối cảm, lối thể hiện đến những đặc điểm riêng trong

sử dụng từ ngữ, ngữ pháp, kết cấu đoạn mạch, biện pháp tu từ

Trang 28

1.1.2.3 Tính cụ thể hoá

Ngôn ngữ nghệ thuật có một thuộc tính chung, "một thuộc tính rộng nhất

là sự cụ thể hoá nghệ thuật hình t-ợng" [28, tr.143] Sự cụ thể hoá của ngôn ngữ nghệ thuật đ-ợc hiểu là việc sử dụng những ph-ơng tiện diễn đạt riêng di chuyển

từ bình diện khái niệm của ngôn ngữ sang bình diện hình t-ợng Ngôn ngữ phi nghệ thuật không có thuộc tính này Chúng ta biết rằng từ ngữ trong từ điển chỉ diễn đạt khái niệm, nó xuất hiện trong lời nói khoa học và lời nói hành chính Trong lời nói hàng ngày, từ ngữ không chỉ diễn đạt khái niệm mà còn diễn đạt biểu t-ợng, tức theo một nghĩa nào đó nó đã đ-ợc cụ thể hoá Tuy nhiên, sự cụ thể hoá của ngôn ngữ ở tr-ờng hợp này chủ yếu có đ-ợc do tự phát, nói tự phát vì

nó xuất hiện trong những điều kiện giao tiếp nhất định Trong sự cụ thể hoá này,

đóng vai trò quan trọng là những đại từ chỉ định đi với các yếu tố kèm ngôn ngữ (cử chỉ, vẻ mặt) Ví dụ: "Anh nên đứng chỗ này, tránh xa chỗ đó ra, chỗ đó rất nguy hiểm" ở đây đại từ chỉ định: "này", "đó" đã gọi tên những sự vật cụ thể

mà cả ng-ời nói và cả ng-ời nghe đều đã biết, do đó, những danh từ định danh sự vật không nhất thiết phải xuất hiện Nh- vậy đại từ thay thế diễn đạt không gian

ở câu trên đúng là biểu t-ợng, chứ không phải là khái niệm

Trong ngôn ngữ nghệ thuật, tính cụ thể hoá thể hiện ở chỗ từ ngữ không chỉ diễn đạt biểu t-ợng mà còn diễn đạt hình t-ợng nghệ thuật Sự cụ thể hoá của ngôn ngữ nghệ thuật để chuyển từ "từ- khái niệm" thành" từ- hình t-ợng" đ-ợc thực hiện nhờ cách lựa chọn và tổ chức các ph-ơng tiện ngôn ngữ Tham gia vào việc chuyển từ bình diện khái niệm sang bình diện hình t-ợng của tác phẩm có thể là những đơn vị của tất cả các cấp độ ngôn ngữ Từ láy là lớp từ có khả năng diễn đạt những ý nghĩa rất cụ thể, có sức gợi hình lớn và có sự phân biệt nghĩa hết sức tinh tế, ví dụ loạt từ láy trong bài thơ "Thơ duyên" của Xuân Diệu:

"Con đ-ờng nhỏ nhỏ gió xiêu xiêu Lả lả cành hoang nắng trở chiều Buổi ấy lòng ta nghe ý bạn

Trang 29

Lần đầu rung động nỗi th-ơng yêu"

(Xuân Diệu, Thơ duyên)

Nhân vật trữ tình trong đoạn thơ trên mang tâm trạng, cảm xúc của ng-ời

đang yêu, đang say men tình Vì mang tâm trạng ấy nên nhìn cảnh vật cũng có chiều lâng lâng, mờ nhạt, không rõ ràng Những từ láy "nho nhỏ", "xiêu xiêu",

"lả lả" đã góp phần thể hiện thành công những xúc cảm, những sắc thái rung

và hỗ trợ cho nhau để đạt tới hiệu quả diễn đạt Tất cả các yếu tố với những mối quan hệ nh- thế làm cho văn bản trở thành một "bản hoà tấu" có một tổng hợp lực mạnh mẽ tác động đến ng-ời đọc Chỉ cần bỏ đi một từ hay thay bằng một từ khác là đủ làm hỏng cả một câu thơ, phá tan cái nhạc điệu của nó, xoá sạch mối quan hệ của nó với hoàn cảnh xung quanh

Ngôn ngữ nghệ thuật có tính tổ chức rất cao Có thể lấy câu thơ của Nguyễn Đình Thi chứng minh cho điều đó:

"Buổi chiều ứa máu Ngổn ngang những vũng bom"

Từ" vũng" ở câu thơ trên đ-ợc dùng rất hay Từ "vũng" đồng nghĩa với từ

"hố" Nh-ng nếu ta thay từ "vũng" bằng từ" hố", ý nghĩa thẩm mĩ của câu thơ

Trang 30

giảm đi rất nhiều Từ "vũng" có nét nghĩa th-ờng trực là "có n-ớc'' mà từ "hố" không nhất thiết phải có Chính nét nghĩa "có n-ớc" tạo nên sự cộng h-ởng với từ

"máu" ở trên Sự cộng h-ởng ấy đ-a đến ý nghĩa tố cáo sâu sắc: những vũng bom

Mĩ đã trút xuống làng quê Việt Nam chính là những vũng máu!

Tính cấu trúc là điều kiện của cái đẹp Một yếu tố ngôn ngữ chỉ có đ-ợc ý nghĩa thẩm mĩ khi nằm trong tác phẩm

Nh- trên đã nói ngôn ngữ nghệ thuật bắt nguồn từ ngôn ngữ tự nhiên nh-ng để ngôn ngữ tự nhiên có thể trở thành ngôn ngữ nghệ thuật thì phải có các ph-ơng tiện và biện pháp tổ chức Đó là các ph-ơng tiện tu từ và biện pháp tu từ

ở tất cả các cấp độ: ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp

Tóm lại, sự thành bại của một tác phẩm văn học phụ thuộc vào nhiều yếu

tố, trong đó có hình thức biểu đạt ngôn từ Thực tế sáng tác văn học chứng minh rằng những nhà văn lớn đều là những nhà nghệ sĩ ngôn từ Họ đã vận dụng ngôn ngữ một cách có nghệ thuật để tái hiện đời sống và để thể hiện thái độ, cảm xúc của mình tr-ớc đối t-ợng miêu tả Bản thân ngôn ngữ nghệ thuật trực tiếp mang thái độ, t- t-ởng của nhà văn bởi không một hình thức nào nằm ngoài nội dung

và ng-ợc lại không có nội dung nào không đ-ợc biểu hiện bằng những hình thức nhất định Ngôn từ nghệ thuật còn gắn bó chặt chẽ với phong cách tác giả Qua việc sử dụng ngôn từ trong tác phẩm, chúng ta có thể thấy đ-ợc cá tính và năng lực xử lí ngôn ngữ của ng-ời nghệ sĩ Nhà văn Nga A.Psê khốp từng nói: "Nếu tác giả nào không có cách diễn đạt riêng, không có ngôn ngừ riêng thì ng-ời đó

sẽ không bao giờ trở thành nhà văn, nhà thơ cả" Nh- vậy, ngôn từ trong tác phẩm văn học là biểu hiện cao nhất sự sáng tạo của nhà văn

Trang 31

1.2 Phong cách tác giả

1.2.1 Khái niệm phong cách nghệ thuật và phong cách ngôn ngữ nghệ thuật

Phong cách là khái niệm rộng, dùng để chỉ cái riêng, cái độc đáo của một

sự vật, hiện t-ợng Khái niệm phong cách đ-ợc dùng trong nhiều lĩnh vực khác nhau: phong cách làm việc, phong cách sống, phong cách biểu diễn

Phong cách nghệ thuật là khái niệm đ-ợc dùng trong nghệ thuật Nói đến phong cách nghệ thuật là nói đến chủ thể sáng tạo nghệ thuật Trong nghệ thuật, phong cách là vấn đề đ-ợc quan tâm hàng đầu vì bản chất của nghệ thuật là sáng tạo Nghệ thuật rất kị điều bắt ch-ớc, "nghệ thuật sẽ vô vị nếu cất công đi mở cánh cửa ng-ời ta đã mở rồi" hay nói nh- Vônte "Ng-ời đầu tiên ví thiếu nữ với hoa hồng là một thiên tài nh-ng ng-ời thứ hai nói nh- vậy đã là kẻ bất tài" Vì vậy, đi tìm cái mới để khẳng định phong cách là -ớc mơ của ng-ời cầm bút

Trong cuốn Lí luận văn học do Ph-ơng Lựu chủ biên, phong cách nhà văn

đ-ợc định nghĩa nh- sau: "Phong cách là chỗ độc đáo về t- t-ởng cũng nh- nghệ thuật, có phẩm chất thẩm mỹ thể hiện trong sáng tác của những nhà văn -u tú

Nó đòi hỏi nhà văn phải đem đến một tiếng nói cho văn học" [39, tr.428]

Phong cách nghệ thuật là sự sáng tạo, sự mới mẻ làm nên vẻ riêng biệt ít thấy ở các tác giả văn học khác nhau nh-ng lại nhất quán ở từng tác giả cụ thể: ''Cần hiểu rằng sự bền vững, nhất quán ở đây là nói từ cái cốt lõi, cái trong bản chất, còn trong quá trình triển khai thì phong cách lại đòi hỏi sự đa dạng và đổi mới" [39, tr.429] Đó là lập luận để lí giải vì sao phong cách Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Nguyễn Tuân và nhiều tác giả khác mặc dù ổn định nh-ng có sự vận động trong mỗi thời kì sáng tác

Phong cách nghệ thuật biểu hiện trên nhiều ph-ơng diện Có bao nhiều yếu

tố trong tác phẩm thì có bấy nhiều yếu tố cho phong cách nhà văn thể hiện Phong cách có thể biểu hiện ở việc lựa chọn đề tài, cảm hứng t- t-ởng, xây dựng nhân vật, lựa chọn thể loại, sử dụng ngôn ngữ Khi nghiên cứu phong cách nghệ

Trang 32

thuật của các nhà văn, các nhà nghiên cứu đặc biệt đi sâu vào cách sử dụng ngôn ngữ của nhà văn, xem nó nh- một ph-ơng diện để thấy cái độc đáo của nhà văn

đó Vì văn học là nghệ thuật ngôn từ nên phong cách ngôn ngữ trong tác phẩm văn học là phong cách ngôn ngữ nghệ thuật

Ngôn ngữ do đ-ợc sử dụng trong những tập đoàn xã hội hoặc giới nghề nghiệp khác nhau mà hình thành những phong cách ngôn ngữ khác nhau: Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt, Phong cách ngôn ngữ khoa học, phong cách ngôn ngữ hành chính, phong cách ngôn ngữ báo chí và phong cách ngôn ngữ nghệ thuật Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật tồn tại trong tác phẩm nghệ thuật, nó qui định việc sáng tác của nhà văn phải đảm bảo đúng đặc tr-ng của ngôn ngữ nghệ thuật, nh-ng nghệ thuật thuộc về sáng tạo của nghệ sĩ nên phong cách ngôn ngữ nghệ thuật lại bị chi phối bởi phong cách nhà văn Nh- vậy, có thể nói phong cách nhà văn có nét riêng độc đáo nh-ng lại thống nhất trong phong cách ngôn ngữ nghệ thuật

1.2.2 Phong cách Nguyễn Tuân

Phong cách là sản phẩm của tài năng Ng-ời làm thơ, viết văn rất nhiều nh-ng không phải ai cũng tạo cho mình đ-ợc một phong cách Trong văn học Việt Nam hiện đại, Nguyễn Tuân đ-ợc xem là một nhà văn có phong cách độc

đáo, độc đáo trên nhiều ph-ơng diện, đặc biệt là ph-ơng diện sử dụng ngôn ngữ nghệ thuật Ông đã đ-ợc các nhà văn cùng thời khâm phục mệnh danh là "Nhà nghệ sĩ ngôn từ" (Hoài Anh) hay "Ng-ời thợ kim hoàn của chữ" (Tố Hữu)

Nguyễn Tuân sinh năm 1910 tại phố Hàng Bạc Quê ông ở xã Nhân Mục, nay thuộc ph-ờng Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội Tuy sinh ra ở Hà Nội nh-ng từ bé cho đến lúc tr-ởng thành, Nguyễn Tuân đã sống cùng với gia đình ở nhiều địa ph-ơng của mảnh đất miền Trung: Thanh Hoá, Quảng Nam, Đà Nẵng, Phú Yên và Khánh Hoà Đ-ơng thời, Nguyễn Tuân luôn là ng-ời có ý thức khẳng

định cá tính Ông từng bị đuổi học vì tham gia bãi khoá phản đối mấy giáo viên Pháp nói xấu ng-ời Việt Nam Từ đó, ông không theo học nữa mà chủ yếu tự học

Trang 33

từ sách vở và từ chính cuộc đời Ưa lối sống tự do, phóng túng, ham du lịch, ông

tự gán cho mình chứng bệnh gọi là "chủ nghĩa xê dịch" Nguyễn Tuân cũng là một ng-ời rất mực tài hoa, ngoài viết văn ông còn am hiểu nhiều bộ môn nghệ thuật khác nh- hội hoạ, âm nhạc, sân khấu, điện ảnh Những kiến thức này in

đậm dấu ấn trong văn phong Nguyễn Tuân Một con ng-ời tài hoa, uyên bác, có cá tính phóng túng tự do nh- thế đ-ơng nhiên sẽ tạo ra một dấu ấn riêng trong nghệ thuật

Sự nghiệp văn học của Nguyễn Tuân chia làm hai thời kì: Tr-ớc và sau Cách mạng Với những nhà văn khác, để hình thành một phong cách phải trải qua thời gian khá dài thì tr-ờng hợp Nguyễn Tuân lại hoàn toàn ng-ợc lại Ngay từ

khi mới xuất hiện trên văn đàn với những tác phẩm đầu tiên nh-: Một chuyến đi, Vang bóng một thời Nguyễn Tuân đã thực sự tạo một lối đi riêng cho mình

Ng-ời đọc nhận thấy rằng có một điểm nổi bật trong phong cách Nguyễn Tuân tr-ớc Cách mạng là ở chỗ: ông là nhà văn -a thể hiện đối t-ợng ở khía cạnh thẩm mĩ, văn hoá D-ới ngòi bút của ông đối t-ợng miêu tả bao giờ cũng đ-ợc khai thác ở góc độ thẩm mĩ Đồng thời, ông còn là nhà văn có thói quen quan sát, xem xét đối t-ợng rất cặn kẽ, tỉ mỉ, mà nh- có nhà nghiên cứu gọi đó là thói quen

"khảo cứu đối t-ợng" [43, tr.66]

Sau Cách mạng, phong cách Nguyễn Tuân tiếp tục đ-ợc phát huy Những nhân vật của ông vẫn là những con ng-ời mang phong thái tài hoa Cái chất uyên bác từ tr-ớc Cách mạng lại càng có dịp thể hiện rõ hơn Thói quen "khảo cứu"

đối t-ợng càng bộc lộ sắc nét hơn khi ông h-ớng ngòi bút miêu tả hiện thực rộng lớn của đời sống nhân dân và đất n-ớc với tầm hiểu biết sâu, rộng

Tóm lại, tài hoa và uyên bác là hai nét nổi bật trong phong cách Nguyễn Tuân Đó là điểm ổn định của phong cách Nguyễn Tuân cả tr-ớc và sau Cách mạng Nh-ng nói nh- thế không có nghĩa là phong cách Nguyễn Tuân không có

sự vận động Tr-ớc Cách mạng tháng tám, cái tôi Nguyễn Tuân về căn bản là cái tôi cá nhân chủ nghĩa đối lập với xã hội Nguyễn Tuân th-ờng đi tìm cái đẹp

Trang 34

trong quá khứ mà thoát li với cuộc đời Sau Cách mạng, Nguyễn Tuân hồi sinh trong niềm vui lớn của đất n-ớc

Đọc tác phẩm của ông, ta thấy ngôn ngữ lời văn của ông rất trau chuốt,

độc đáo Lối văn ấy không dung nạp những ng-ời l-ời suy nghĩ Nguyễn Tuân rất

có ý thức tìm tòi diễn đạt riêng cho văn của mình Ông yêu tha thiết tiếng Việt,

có lẽ vì thế mà trong bản tự khai lí lịch để giữ trong phòng tổ chức của cơ quan, ở mục trình độ chuyên môn, ông đã ghi "Chuyên viên tiếng Việt Nam" Yêu Tiếng Việt, Nguyễn Tuân không ngừng sáng tạo trên cơ sở vốn từ tiếng Việt vốn có Ta thấy văn Nguyễn Tuân xuất hiện nhiều từ lạ, nhiều kết hợp từ ngữ mới mẻ Ông

định nghĩa: "nghề văn là nghề của chữ" Nguyễn Tuân quan niệm đối với nhà văn, khổ nhất là nghèo chữ, thiếu chữ: "Cái thảm kịch ghê gớm nhất của ng-ời viết văn chuyên nghiệp là khi tả đến chỗ tình cảm thật dữ dội nh-ng chữ không ra

đã đ-ợc nhiều ng-ời thừa nhận Nhà nghiên cứu V-ơng Trí Nhàn đã nhận xét:

"Vốn chữ của ông không bị thu hẹp vào một khu vực nào mà nó luôn luôn mở ra những khu vực mới, ở chỗ ng-ời ta thích chữ Hán Việt, ông lại chêm vào một chữ Nôm thật chỉnh, để rồi đến một chữ khác ng-ời ta dùng chữ Nôm thì ông lại trịnh trọng đ-a ra một chữ Hán Việt, và đúng chính xác đặt vào vị trí thật đắc địa, không ai bẻ nổi" [58, tr.120] Còn Hoài Anh thì khẳng định: "Nguyễn Tuân, nhà nghệ sĩ ngôn từ đã đ-a cái đẹp thăng hoa" [1, tr.215]

Trên đây là những tiền đề quan trọng giúp chúng ta có cơ sở lý giải những

độc đáo của Nguyễn Tuân ở ph-ơng diện ngôn ngữ

Trang 35

1.2.3 Phong cách Hoàng Phủ Ngọc T-ờng

Hoàng Phủ Ngọc T-ờng sinh năm 1937 tại tại thành phố Huế, quê gốc của

ông ở làng Bích Khê, xã Triệu Long, Huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị

Hoàng Phủ Ngọc T-ờng viết văn từ năm 1957, với cuộc thử sức đầu tiên bằng truyện ngắn, kế đến là tiểu thuyết và thơ Nh-ng nhìn nhận một cách khách quan có thể thấy rằng ở các thể loại ấy, Hoàng Phủ Ngọc T-ờng ch-a thực sự tạo

ra một phong cách riêng cho mình Phải đến khi gắn bó với thể ký mà bắt đầu từ bút ký "Ngôi sao trên đỉnh Phu Văn Lâu" (1971), Hoàng Phủ Ngọc T-ờng mới thực sự đ-ợc biết đến với t- cách là một nhà văn có phong cách Hơn 30 năm gắn

bó với thể ký, Hoàng Phủ Ngọc T-ờng đã để lại một khối l-ợng tác phẩm đồ sộ

và hơn hết là đã tự hoạ đ-ợc chân dung của mình trong ký Ký Hoàng Phủ Ngọc T-ờng phong phú, đa dạng về đề tài: ký về đề tài kháng chiến chống ngoại xâm:

''Tuyệt tình cốc", "Hành lang ng-ời và gió" ; Về những ngày kháng chiến gian khổ và anh dũng: "Diễm và tôi", "Bản di chúc cỏ lau" ; Về không khí chiến đấu

ở mọi miền đất n-ớc: "Châu thổ ngàn năm", "Đất mũi", "Đứa con phù sa" Ký

về các vấn đề xã hội nh- vấn đề bảo vệ môi tr-ờng, giáo dục, báo chí: "Đêm chong đèn nhớ lại", "Báo động về môi tr-ờng Huế d-ới góc nhìn văn hoá" Đặc biệt là đề tài về thiên nhiên, về văn hoá lịch sử của nhiều vùng đất, nhất là Huế:

"Ai đã đặt tên cho dòng sông", "Hoa trái quanh tôi", "Chuyện cơm hến"

Dù viết về đề tài gì đi nữa thì chúng ta cũng dễ dàng nhận ra có một điểm nhất quán trong phong cách ký Hoàng Phủ Ngọc T-ờng là chất trữ tình sâu lắng,

đậm xu h-ớng tâm linh và bản sắc Huế, nói nh- Trần Đình Sử: "Nét đặc sắc trong sáng tác của ông là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất trí tuệ và chất trữ tình, giữa nghị luận sắc bén và với suy nghĩ đa chiều đ-ợc tổng hợp từ vốn tri thức phong phú về triết học, văn hoá, lịch sử, địa lí Tất cả đ-ợc thể hiện qua lối hành văn h-ớng nội, súc tích, mê đắm và tài hoa" [65, tr.253] Tác phẩm ký của Hoàng Phủ Ngọc T-ờng cũng có tính chất "khảo cứu" khá đậm nét, thể hiện vốn

Trang 36

hiểu biết về sự vật rất tỉ mỉ và t-ờng tận Đây chính là điểm kế thừa của phong cách ký của Hoàng Phủ Ngọc T-ờng với Nguyễn Tuân

Nếu phong cách của Nguyễn Tuân đ-ợc tóm l-ợc trong hai nét tài hoa và uyên bác thì phong cách của Hoàng Phủ Ngọc T-ờng có thể tóm gọn trong hai từ h-ớng nội và hoài cổ, thích trầm t- suy nghĩ hơn là đối thoại Đọc các tác phẩm của Hoàng Phủ Ngọc T-ờng sẽ thấy rõ hơn điều đó Nhiều ng-ời đã khẳng định:

"Ngòi bút nhà văn đẫm đầy chất thơ, chất trừ tình sâu lắng, làm cho bài bút ký trở thành một essay (tiểu luận) với những trang văn triết luận" [21], "những cảm xúc

Tr-ớc hết cần phải phân biệt ký văn học với ký báo chí để từ đó giới hạn

đ-ợc phạm vi nghiên cứu Ký văn học và ký báo chí đều giống nhau ở chỗ tôn trọng tính xác thực của sự kiện Nh-ng ở ký báo chí tính xác thực và tính thời sự phải đ-ợc đảm bảo ở mức tuyệt đối Ký văn học không đòi hỏi nh- vậy, nó đề ra yêu cầu cao hơn về suy nghĩ và tình cảm của chủ thể Những vấn đề mà chúng tôi trình bày sau đây là những vấn đề thuộc thể loại ký văn học

Ký là thể loại ra đời rất sớm trong lịch sử văn học nhân loại: "Trong cái sản phẩm của trí tuệ con ng-ời đ-ợc gọi là văn học, tuổi của ký xem ra cũng đã

Trang 37

già gần bằng thi ca và cũng giống nh- thi ca, cho đến tận bây giờ, nó vẫn giữ

đ-ợc sức trẻ trung khoẻ mạnh " (Hoàng Phủ Ngọc T-ờng)

Tác phẩm ký văn học thịnh hành ở ph-ơng Tây từ Chủ nghĩa khai sáng với

"Những bức tranh Pari" của Maxie, "Tự thú" của Rút Xô ở Việt Nam, các tác

phẩm ký nổi tiếng đã xuất hiện từ sớm nh-: "Th-ợng kinh ký sự" của Lê Hữu Trác, "Vũ trung tuỳ bút" của Phạm Đình Hổ Sau Cách mạng tháng tám, ký giữ một vai trò đặc biệt quan trọng Nhiều tác phẩm ký đã lần l-ợt ra đời: "Truyện và

ký" của Trần Đăng, "Ký sự Cao Lạng" của Nguyễn Huy T-ởng, "Họ đã sống và

chiến đấu" của Nguyễn Khải

Về khái niệm thể loại ký văn học, trong lịch sử nghiên cứu văn học có các

ý kiến khác nhau:

Các tác giả Lí luận văn học cho rằng ký là thể loại văn học rất phức tạp:

"Đúng nh- Gulaiep cho rằng ký là một biến thể của loại tự sự Tr-ớc hết cần phải giới thuyết nh- vậy mới tìm ra đ-ợc định nghĩa t-ơng đối nhất quán về thể loại văn học đặc biệt phức tạp này" và ''Xét từ gốc gác bản chất thì ký không nhằm thông tin thẩm mỹ mà là thông tin sự thật" [39, tr 424]

Tô Hoài cũng cho rằng: "Ký cũng nh- truyện ngắn, truyện dài hoặc thơ hình thù nó đấy nh-ng vóc dáng nó luôn luôn đổi mới, đòi hỏi sáng tạo và thích ứng Cho nên càng chẳng nên trói nó vào một cái khuôn" [dẫn theo 39, tr 422]

Hoàng Ngọc Hiến trong Năm bài giảng về thể loại khẳng định: "Trong

nghiên cứu văn học Việt Nam đ-ơng đại, ký là một thuật ngữ dùng để gọi tên một thể loại văn học bao trùm nhiều thể hoặc tiểu loại: bút ký, hồi ký, du ký, ký chính luận " [21]

Các tác giả Từ điển thuật ngữ văn học xác lập một cách hiểu về ký: "Ký là

một loại hình văn học trung gian nằm giữa báo chí và văn học, gồm nhiều thể, chủ yếu là văn xuôi tự sự nh-: bút ký, hồi ký, du ký, phóng sự, ký sự, nhật ký, tuỳ bút Khác với truyện ngắn và truyện vừa, đặc biệt là tiểu thuyết, ký có quan

Trang 38

điểm thể loại là tôn trọng tính sự thật khách quan của đời sống, không h- cấu" [19, tr.137]

Nh- vậy, mỗi tác giả có một cái nhìn riêng về thể loại ký Các ý kiến tranh luận chủ yếu xoay quanh hai vấn đề: xác định tiểu loại của ký và mức độ của tính h- cấu trong thể loại ký

Về vấn đề thứ nhất, có điểm t-ơng đồng khi xác định tiểu loại của ký ở chỗ các tác giả đều cho rằng ký là thể loại bao gồm nhiều thể Về cơ bản, ký gồm: phóng sự, bút ký, hồi ký, ký sự Các ý kiến khác biệt nhau ở chỗ có nên xếp

tuỳ bút vào ký không? Các tác giả Lí luận văn học cho rằng tuỳ bút không thuộc

thể ký vì viết tuỳ bút không nhằm thông tin sự thật mà là thông tin tâm trạng Trong tuỳ bút, sự thật chỉ là cái cớ để bộc lộ nội tâm, cho nên "dứt khoát phải xếp vào loại trữ tình" [39, tr.422] Trong khi đó phần lớn các ý kiến khác lại cho rằng tuỳ bút thuộc ký vì tuỳ bút tuy chú trọng bộc lộ cảm xúc suy t- và nhận thức

đánh giá về con ng-ời và cuộc sống hiện tại nh-ng nó cũng không xa rời cái mảng hiện thực

Về tính h- cấu trong tác phẩm ký chúng tôi sẽ trình bày rõ hơn ở phần đặc tr-ng của thể ký

Tiếp thu các quan niệm về thể ký, chú ý điểm t-ơng đồng trong các quan niệm trên, chúng tôi đi đến một nhận định sơ bộ về thể ký nh- sau: Ký là thể loại văn học ghi chép những sự kiện và con ng-ời có thật với nguyên tắc tôn trọng tính xác thực của đối t-ợng đ-ợc miêu tả nh-ng vẫn không loại bỏ trong ký tính h- cấu, t-ởng t-ợng Ký bao gồm nhiều tiểu loại: bút ký, hồi ký, nhật ký, phóng

sự, du ký, tuỳ bút

1.3.1.2 Đặc tr-ng của thể ký

Ký đề cao tính xác thực của sự kiện Điều đó đòi hỏi ng-ời viết ký phải đi nhiều, hiểu biết nhiều và có vốn sống rộng Nhiệm vụ thông báo là lí do tồn tại thiết yếu của ký Chính điều này đã tạo cho ký khả năng cung cấp l-ợng thông tin, kiến thức phong phú nhiều mặt và "mở ra cho thể ký một khả năng tháo vát

Trang 39

hiếm có so với những thể loại văn xuôi khác" [39] Nh-ng l-ợng thông tin trong

ký không phải là chung chung, mập mờ mà phải có thực và phải đ-ợc "đảm bảo bằng thực chứng"

Bàn về đặc tr-ng của thể ký, các tác giả quan tâm nhiều đến tính h- cấu

Ký mặc dù tôn trọng tính khách quan của sự kiện nh-ng không phải vì thế mà không đ-ợc phép h- cấu "H- cấu là một quá trình tất yếu của mọi hoạt động sáng tạo nghệ thuật" Nếu ký muốn v-ơn đến chỗ có giá trị văn học thì không thể nằm ngoài qui luật của nghệ thuật, mà nghệ thuật thì không đặt ra vấn đề chính xác Thực tế cho thấy, tác phẩm ký không thể nào viết đ-ợc sự thật đã xẩy ra một cách tuyệt đối Đa số tác phẩm ký đã chứng minh "phần nhiều là do nghe, kể lại " hay "Sự thật là bất cứ một tác giả nào khi đặt bút xuống trang sơ thảo đầu tiên cũng chỉ mới tập hợp đ-ợc một số t- liệu còn nhiều lỗ hỏng, lộn xộn, ch-a móc nối đ-ợc bằng các móc xích hữu cơ" hay "Nhà văn phải sử dụng các giác quan gián cách và tổng hợp, đó là sự t-ởng t-ợng và h- cấu" [39, tr.229] Nh- vậy, ký không phải là thể loại có sự ràng buộc, khắt khe cao Điều này lí giải vì sao trong tác phẩm ký, các biện pháp tu từ cấu tạo theo quan hệ liên t-ởng đ-ợc

sử dụng rất nhiều

Trong ký có hai tiểu loại thể hiện tính h- cấu cao nhất là tuỳ bút và bút ký,

là những thể loại rất phóng túng của thể ký Tuỳ bút Sông Đà và bút ký Miền cỏ thơm là những sáng tác nh- thế

1.3.2 Ký Sông Đà

Nguyễn Tuân có nhiều tác phẩm ký đặc sắc nh-ng ký Sông Đà có vị trí

đặc biệt trong sáng tác của Nguyễn Tuân Đây cũng là tác phẩm ký mà Nguyễn Tuân thể hiện khá nhiều sự sáng tạo của mình

Tập ký Sông Đà in năm 1960 gồm 15 bài tuỳ bút và một bài thơ phác thảo

Tác phẩm là những cảm xúc, suy t- của Nguyễn Tuân về thiên nhiên và con ng-ời Tây Bắc trên b-ớc đ-ờng cải tạo, dựng xây Hoàn cảnh ra đời của tác phẩm cũng có nét đáng chú ý Đầu năm 1958, Đảng tổ chức lớp học chính trị cho văn

Trang 40

nghệ sĩ và sau đó phát động một chuyến đi thực tế dài ngày cho anh chị em nghệ

sĩ Tây Bắc là điểm đến của nhiều nhà văn lúc bấy giờ Nguyễn Tuân cũng đi thực tế lên Tây Bắc, sống với bộ đội, công nhân cầu đ-ờng, thanh niên xung

phong, đồng bào miền núi Tập ký Sông Đà là kết quả của chuyến đi này

Nguyễn Đăng Mạnh và nhiều nhà nghiên cứu thống nhất xem tác phẩm

Sông Đà đánh dấu một cái mốc quan trọng trong quá trình sáng tác của Nguyễn

Tuân

Chúng ta đều biết sau Cách mạng, không chỉ Nguyễn Tuân mà nhiều nhà văn thuộc khuynh h-ớng lãng mạn đều có một sự "lột xác" về t- t-ởng Nếu nh- tr-ớc cách mạng, Nguyễn Tuân là nhà văn của cái "tôi" cá nhân thoát li hẳn với cuộc đời, "quay về quá khứ để nhặt những cánh hoa tàn rụng" và xem quá khứ là cái duy nhất còn có ý nghĩa thì sau Cách mạng, Nguyễn Tuân đã có sự chuyển biến tích cực về t- t-ởng, về quan niệm thẩm mĩ Cách mạng tháng tám đã thực

sự làm hồi sinh một thế hệ nghệ sĩ trong đó có Nguyễn Tuân Đến Sông Đà,

Nguyễn Tuân thực chuyển biến t- t-ởng, ông thực sự hoà nhập với cuộc sống, với nhân dân, thanh toán với căn bệnh thoát li cuộc sống của giai đoạn tr-ớc Cách mạng cũng nh- bệnh tả khuynh một vài năm sau Cách mạng Chuyển biến nh-ng Nguyễn Tuân vẫn giữ đ-ợc nét tài hoa, uyên bác trong phong cách nghệ thuật của

mình khi viết về thiên nhiên và con ng-ời Tây Bắc

Có thể nói Sông Đà là kết tinh những đặc sắc nghệ thuật của Nguyễn Tuân sau Cách mạng Đọc Sông Đà, ta không chỉ thấy "Tổ quốc ta thật là giàu đẹp" mà

hơn thế ta còn thấy tài năng của Nguyễn Tuân trong dùng từ, đặt câu, sử dụng các biện pháp tu từ

1.3.3 Ký Miền cỏ thơm

Cùng với Nguyễn Tuân, nhà văn suốt đời thuỷ chung gắn bó với thể ký, Hoàng Phủ Ngọc T-ờng cũng dồn nhiều tâm huyết và đạt đ-ợc nhiều thành tựu trong thể ký Khi Nguyễn Tuân qua đời, ngỡ rằng ng-ời đọc chắc hẳn sẽ không còn đ-ợc th-ởng thức những trang ký cực kì hấp dẫn nh-ng văn học cũng nh-

Ngày đăng: 16/10/2021, 22:24

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1 số l-ợng và tỉ lệ câu văn so sánh trong Sông Đà - Nghệ thuật so sánh trong ký sông đà và miền cỏ thơm
Bảng 2.1 số l-ợng và tỉ lệ câu văn so sánh trong Sông Đà (Trang 49)
Quan sát bảng thống kê tỉ lệ câu văn so sánh trong Sông Đà, chúng tôi - Nghệ thuật so sánh trong ký sông đà và miền cỏ thơm
uan sát bảng thống kê tỉ lệ câu văn so sánh trong Sông Đà, chúng tôi (Trang 50)
Bảng 2.2 số l-ợng và tỉ lệ câu văn so sánh trong Miền cỏ thơm - Nghệ thuật so sánh trong ký sông đà và miền cỏ thơm
Bảng 2.2 số l-ợng và tỉ lệ câu văn so sánh trong Miền cỏ thơm (Trang 50)
Qua bảng thống kê, chúng tôi nhận thấy Miền cỏ thơm có 37 bài ký nh-ng duy chỉ có một tr-ờng hợp Hoàng Phủ Ngọc T-ờng không sử dụng phép tu từ so  sánh (Con gái) - Nghệ thuật so sánh trong ký sông đà và miền cỏ thơm
ua bảng thống kê, chúng tôi nhận thấy Miền cỏ thơm có 37 bài ký nh-ng duy chỉ có một tr-ờng hợp Hoàng Phủ Ngọc T-ờng không sử dụng phép tu từ so sánh (Con gái) (Trang 52)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w